Pháp hội
vua ƯU ĐÀ DIÊN
Đức
Phật khi còn ở nước Câu Viêm Di, vua nước ấy tên là Ưu
Đà Diên. Đệ nhất phu nhân của vua tên Xá Ma, là một tín
nữ trung thành của Phật và hàng Thánh chúng. Bà thường hay
thân cận dúng dường đức Như Lai và ca ngợi công đức của
ngài hết mực. Ngược lại, đệ nhị phu nhân, vì thiếu trí
tuệ và hay có lòng ganh ghét nên thường tâu với vua rằng,
đức Như Lai và hàng đệ tử có chỗ không chánh đối với
đại phu nhân. Câu chuyện bắt đầu từ đó ...
Nhà
vua nghe xong giận lắm, lấy cung tên bắn phu nhân Xá Ma. Vì
thương xót vua, phu nhân Xá Ma nhập từ tam muội. Mũi tên bắn
ra quay trở lại dừng ngay trên trán vua. Mũi tên ấy cháy đỏ
như một khối lửa trông rất đáng sợ. Vua bắn ra ba phát,
chúng đều như vậy.
SÂN
GIẬN giống như lửa đỏ thêu rụi mọi công đức, đưa đến
mọi nguy nan tai nạn. TỪ TÂM như nước cam lồ có thể phủi
bỏ mọi nạn tai, ách chướng, làm nguội đi lòng uất hận
của người khác.
TAM
MUỘI là chỉ cho chánh định. Nghe đến tên này là mình nghĩ
ngay đến việc ngồi thiền. Song ngồi thiền là phương tiện
đầu tiên giúp mình có chánh định. Nhưng đó không phải
là tất cả. Như trường hợp tâm từ nói đây.
TỪ
nghĩa chính của nó là BAN VUI. Thấy người nghèo đói khổ
sở, khởi lòng thương xót muốn giúp đỡ, là BI. Muốn người
được an vui, thuộc về TỪ. Không đợi người phải khổ
rồi làm cho người vui mới gọi từ. Người đang vui mà không
muốn làm người mất đi niềm vui ấy, hay muốn làm cho niềm
vui của người được tăng trưởng, đều là dạng của tâm
TỪ nói đây.
Cái
thương xót ban vui ấy, xuất phát từ tình thương bình đẳng
đối với muôn loài. Bất cứ khi nào, dù với người thương
mình hay không, với người tốt với mình hay không, mình đều
không khởi tâm sân hận, chỉ một tình thương bình lặng
muốn mang lại lợi ích an vui cho họ, là mình đang nhập loại
chánh định TỪ TÂM nói đây. Không phải đợi tréo chân lên
ngồi thiền mới có chánh định. Có điều, phần lớn tình
thương của mình đối với người luôn có sự ngã giá. Vì
thế mình phải ngồi thiền, niệm Phật … để đạt được
tâm từ bình đẳng. Nói là đạt, nhưng là thứ ai cũng có
sẵn, dù đó là người, thú vật, hay La sát. Chỉ cần bỏ
đi cái tôi của mình, tâm từ sẽ hiển lộ. Nó là loại TỪ
TAM MUỘI nói đây.
Không
cần tu gì nhiều, chỉ cần một pháp TỪ TÂM này, mình đã
vượt mọi khổ ách tức thì.
Thấy
sự việc xảy ra với ngài Ưu Đà Diên, ai cũng nghĩ phu nhân
có năng lực phù phép thần thông mới làm được điều đó.
Thật ra ai có lòng từ đều có loại thần thông này. Rất
đơn giản nhưng rất mầu nhiệm. Bàng Long Uẩn nói “Thần
thông cùng diệu dụng, gánh nước bửa củi tài”. Tại mình
khoái những thứ cao xa mà không hiểu rằng những cái càng
bình thường, càng giản dị lại chính là thứ thần thông
đắc lực nhất. Lòng từ giúp mình thoát nạn, thoát bệnh
tật, thoát rất nhiều thứ, nhưng không ai thấy được điều
đó. Cứ ngỡ những hình tướng gầm mang trợn mắt mới là
thứ uy hiếp được người. Tại họa chính từ đó mà ra.
Vua
Ưu Đà Diên thấy sự việc ấy, toàn thân lông tóc dựng đứng,
kinh sợ hối hận nói với phu nhân : Khanh là Tiên nữ hay Long
nữ, là Dạ xoa, Càn thát bà nữ, Tỳ xá giá nữ, hay La sát
nữ?
Đây
là tâm trạng chung của những người muốn hãm hại người
khác mà không hãm hại được. Khi mình làm một việc gì xấu
đối với người mà không thành công một lần, hai lần, ba
lần mình liền nghĩ “Tay này có cái gì đây thành không hại
nó được” rồi không dám làm nữa. Hoặc “Chắc ông nội
có long thần hộ pháp phù trợ, nên mới như vậy” rồi rút
lui.
LONG
TÓC DỰNG DỨNG, thì biết anh chàng sợ dữ lắm. Sợ phu nhân
của mình thì ít mà sợ chết thì nhiều. Chính là sợ mũi
tên đang ở ngay trán mình. May nó dừng lại kịp thời không
thì bỏ mạng. HỐI HẬN, vì mình đã làm một việc hại đến
bản thân chứ không phải hại đến người khác. Có tâm hại
người chính là đang hại mình. Đúng là chơi dại! Một phen
hú vía nên nói KINH SỢ HỐI HẬN.
TIÊN
là người cõi trời. LONG là loài rồng. DẠ XOA và LA SÁT đều
là tên của loài quỉ. CÀN THÁT BÀ, chỉ cho thần nhạc. Vị
thần này không ăn thịt uống rượu, chỉ thích mùi hương,
nên còn có tên là Hương thần. Thần này có thể biến hóa
thành lầu gác cho mọi người cùng thấy. TỲ XÁ GIÁ, không
tìm thấy trong tự điển nên không biết là loài gì. Chắc
cũng loanh quanh đâu đó, không trời thì quỉ, không quỉ thì
thần, không thần thì thánh. Nhưng chắc chắn không phải là
người. Bởi nhà vua không thể nào tin được loài người
lại có được thần thông như thế. NỮ đi sau mỗi từ là
để chỉ cho giống cái, khỏi lộn với người nam. Sợ gì
sợ, vẫn còn minh mẫn, chưa lộn đàn bà thành đàn ông.
Phu
Nhân Xá Ma nói : Thiếp không phải Thiên nữ, cũng không phải
La sát nữ. Đại vương nên biết, thiếp nghe đức Phật thuyết
pháp, thọ trì 5 giới làm cư sĩ. Vì thương đại vương, thiếp
nhập từ tam muội. Dầu Đại vương sanh lòng bất thiện với
thiếp, nhưng do bi nguyện nên thiếp không bị tổn hại. Nhơn
đó bà vui mừng nói : May mắn thay! Đại vương nên đối trước
Như Lai qui mạng đảnh lễ, nhất định sẽ được an ổn.
Vua
đưa ra rất nhiều loại, nhưng đây phu nhân chỉ nhắc lại
hai loại, vì chỉ cần đưa ra hai loại tiêu biểu : Thiên nữ
đại diện cho giới đẹp đẽ hiền lành. La sát đại diện
cho giới xấu xí ác ôn.
Tránh
được nạn tai do Đại vương gây ra, còn khiến Đại vương
hồi tâm không phải vì thiếp là tiên hay là quỉ, chỉ vì
thiếp là đệ tử của Phật. Thiếp nghe pháp và giữ gìn
5 giới đầy đủ, nên có được năng lực phi phàm đó. BI
NGUYỆN là một trong hai điều mà một vị Bồ tát phải có.
Xá Ma hiện thân làm phu nhân của nhà vua, là để thực hành
bi nguyện của mình. Vua Ưu Đà Diên tuy dễ sân giận, vợ
thì đến 2 bà, nhưng thiện căn không phải không có. Chính
nhờ thiện căn này mà Xá Ma mới hiện thân làm phu nhân để
giúp Đại vương qui hướng Phật pháp. Bồ tát ra đời cách
ấm còn mê, tật lớn hơn tuổi, thành ra đời quên hết mọi
thứ công hạnh tu hành đời trước. Nhờ có các hóa thân
như phu nhân Xá Ma, mình mới nhớ mà quay về với Phật pháp.
Vua
Ưu Đà Diên liền nghĩ như vầy “Phu nhân chỉ nghe chánh pháp
làm cư sĩ thôi, đã có lực oai thần dường ấy, huống là
đức Như Lai Chánh Đẳng Giác”. Nghĩ vậy rồi, nhà vua liền
đến chỗ Phật, nhiễu quanh 3 vòng, trình bày sự việc trên
xong, bạch với Phật rằng : Chỉ mong đức Như Lai và hàng
Thánh chúng hoan hỉ cho con sám hối, khiến tội lỗi ấy sớm
được tiêu trừ.
Muốn
nhiếp hóa người thì tự bản thân mình phải có năng lực.
Nói nhiều mà làm không bao nhiêu thì khó mà nhiếp hóa người.
Năng lực của phu nhân chính là từ tâm. Từ tâm của bà khiến
nhà vua phải nể phục mà qui hướng Phật. Đệ tử Phật
mà còn vậy, huống là đức Phật, làm sao không qui hướng?
Vì thế ông đến sám hối với Phật. SÁM HỐI, nghĩa như
từ XIN LỖI mà mình hay dùng ngày nay. Thấy mình có lỗi và
mong được tha thứ gọi là sám hối.
Cách
sống của một Phật tử, dù xuất gia hay tại gia là rất
quan trọng. Nó là thứ quyết định Phật pháp trường tồn
lâu dài ở đời, không phải cho đông cho nhiều mà toàn là
vỏ với vỏ, trâu với trấu, còn ruột thì không có.
Việc
đầu tiên của đức vua là sám hối. Chỉ một việc nhỏ
thôi, đã làm ông kinh hồn hết vía như thế, huống là đọa
địa ngục. Chắc chắn phải kinh hãi rùng rợn hơn nhiều.
Vì thế sám hối để mong thoát tội là chính, các việc khác
để đó tính sau.
Đức
Phật nói : Theo lời ông nói, đã coi Như Lai và hàng Thánh
chúng như những phàm phu ngu si có lỗi. Cho nên, nơi ruộng
phước mà vọng sanh oán hận. Nay ông có thể y theo luật giáo
của chư Thánh, tự hối lấy lỗi, không có tâm che giấu,
cho đến tận đời vị lai cũng không tái phạm, thì ta sẽ
nhiếp thọ để ông được tăng trưởng thiện pháp.
RUỘNG
PHƯỚC là chỉ cho Như Lai và hàng Thánh chúng. Sanh oán giận
mà gọi là VỌNG vì cái sanh đó không có chất thật. Do duyên
thì khởi. Hết duyên thì mất. Trước đó vua không hề sân
giận. Có duyên là lời nói của đệ nhị vua nhân, cơn sân
giận mới sanh. Được từ tâm của đệ nhất phu nhân rưới
mát, cơn giận dập tắt. Không trường tồn, không gốc gác,
chỉ vì một chút không tỉnh mà hiện diện, nên gọi là VỌNG.
Nhờ chúng là vọng mình mới tu hành, thành Phật được. Không
thì muôn kiếp cứ ôm mớ đó mà làm chúng sanh.
LUẬT
GIÁO CỦA CHƯ THÁNH là những giáo dạy về uy nghi giới luật
của các bậc Thánh. Học những thứ đó tương lai mình cũng
làm Thánh. Ngoài thì học giáo pháp, trong thì tự hối lỗi
và không bao giờ tái phạm thì sẽ được Phật nhiếp thọ.
NHIẾP
THOï là thu vào và giữ đó. Như học trò đi học, trong giờ
học thì phải ngồi học đàng hoàng, không được ra khỏi
trường đi liêu biêu, đó là quí Thầy Cô đang nhiếp thọ
học trò.
Tương
tự, một khi giáo pháp của Phật được thực hành liên tục,
các thói xấu không tái phạm, thiện nghiệp sẽ có năng lực
giữ cho cái thiện tồn tại mà cái ác không thể xâm phạm.
Như 5 giới của người tại gia, trong đó có giới không nói
dối. Giữ giới quen rồi giờ nói dối, lập tức lòng thấy
bất an, mặt mày đỏ kè. Đó là do cái không nói dối đã
thành thói quen. Chính cái bất an ấy là thứ khiến mình không
nói dối nữa. Thiện nghiệp đang nhiếp thọ mình. Thiện thì
thuận với tánh Phật. Đó là chư Phật đang nhiếp hóa mình.
Bởi tánh Phật của mình với chư Phật bên ngoài không khác.
Không khác nhưng không một.
Đó
là lý do vì sao Phật nói vua Ưu Đà Diên phải học luật giáo
của Phật, phải tự hối lỗi và nhất quyết đừng phạm
thì Phật mới nhiếp hóa được ông. Không có mấy thứ đó,
Phật không thể nhiếp hóa ông được. Trước mắt ông hướng
về Phật pháp, chính là cái nhân để có sự nhiếp hóa về
sau. Nếu cái nhân ấy không được vun trồng thì Phật cũng
chịu, không làm gì được. Vì thế, phải thêm cái duyên là
KHÔNG TÁI PHẠM. Không tái phạm thì cái thiện mới thành thói
quen, mới có năng lực nhiếp thọ. Phạm hoài, thì vẫn được
nhiếp thọ, nhưng là ma Ba Tuần nhiếp thọ, không phải Phật.
Đến
với đạo Phật hời hợt, mình cứ tưởng Phật pháp thần
bí ban phước giáng họa như các đạo giáo khác. Thần bí
thì có, nhưng ban phước giáng họa thì không, bởi cái thần
bí ấy không phải là cái thần bí vô căn cứ. Mọi thứ điều
có qui tắc, điều kiện và mang tính logic. Rất khoa học! Phật
dù đa năng, nhưng nghiệp lực của chúng sanh phải do tự chúng
sanh quyết định. Phật chỉ là bậc thầy dẫn đường. Nhất
cử nhất động, phước hay không phước phải tự mình trước.
Chư Phật chỉ là cái duyên nhắc nhở phù trợ mà thôi.
Vua
lại thưa : Bạch Thế Tôn! Vì con bị nữ nhân mê hoặc nên
cuồng loạn không hiểu biết, nhơn đó mà phát sanh giận dữ,
tội nghiệp chắc đọa địa ngục. Ngưỡng mong Như Lai vì
sự lợi ích và an lạc của chúng sanh, từ bi khai thị lỗi
họa siểm khúc hư cuống của nữ nhân để bọn con không
gần gũi nữ nhân, tránh được các khổ lụy dài lâu.
Xém
chết chỉ vì nghe lời đệ nhị phu nhân, Ưu Đà Diên thỉnh
cầu Phật chỉ dạy lỗi họa của nó, để biết mà tránh.
Siểm khúc hư cuống là âm Hán. SIỂM thì trong lòng và ngoài
mặt không giống nhau. Trong bụng thì ghét người ghê ghớm
mà ngoài thì có vẻ thân thiết ngọt ngào. Trong bụng ghét
mà biết cái ghét ấy là lỗi nên thân thiện để phá bỏ
cái ghét ấy thì không rơi vào trướng hợp này. Đây muốn
nói đến sự cố tình xảo quyệt đen tối. KHÚC là quanh co.
Nói sao đó để có lợi cho mình, đổ tội cho người nhưng
lại bằng một giọng rất dịu hiền vô tư hết mức, là
một dạng của KHÚC. Người đời dùng mấy từ KHẨU PHẬT
TÂM XÀ để chỉ cho hai từ siểm khúc này. HƯ CUỐNG là hư
dối. Tâm xà khẩu Phật thì chắc chắn không thể ngay thẳng
mà phải là hư cuống.
KHỔ
LỤY là đã khổ mà khổ nhất là vì cái LỤY này. Biết là
khổ đó mà dứt không ra, thiếu không được. Cái dứt không
ra, thiếu không được đó gọi là LỤY. Biết nó yêu, nó
quỉ, nó xảo quyệt, nó làm mình khổ mà rồi cũng tha thứ,
cũng yêu thương … Đó mới là cái khổ nhất trong tất cả
các cái khổ của ái dục. Chính vì vậy mà nhà vua phải cầu
cứu đến đức Phật. Ngoài ra tuy có những biểu hiện không
tốt, nhưng tâm lượng Bồ tát thì nhà vua đầy đủ. Một
khi gặp nạn thì biết quay đầu, lại còn vì những đấng
mày râu khác xin Phật khai thị để tránh lỗi họa cho tất
cả. Việc khai thị đây vừa nhắm vào những kẻ cùng hoàn
cảnh, vừa nhắm cho những kẻ vướng phải tà mỵ của những
vị đệ nhất phu nhân quá quắc không có đạo nghĩa.
Phật
nói : Để việc ấy lại! Sao ông phải hỏi việc đó mà không
hỏi việc khác?
ĐỂ
VIỆC ẤY LẠI, là bấm gân coi nhà vua đã thật sợ hãi, đã
quyết tâm cầu sự giải thích để thoát nạn chưa. Có quyết
tâm, có tha thiết thì lời chỉ dạy mới có giá trị.
VIỆC
ĐÓ là chỉ cho lỗi họa nữ nhân. LỖI HỌA là từ cái lỗi
đó mà đưa đến tai họa. LỖI HỌA CỦA NỮ NHÂN là cái
họa do lỗi của người nữ mà ra.
Nhà
vua thưa : Con không hỏi việc khác. Nữ nhân khiến con tạo
tội địa ngục. Nay con chỉ muốn biết lỗi họa siểm khúc
hư cuống tà mỵ của nữ nhân. Xin vì con mà khai thị. Vua
Ưu Đà Diên thỉnh hỏi như vậy đến 3 lần.
Ông
trả lời ông chỉ hỏi việc đó, vì ông xém chết bởi nữ
nhân, lại xém đọa địa ngục vì họ, thành lúc này với
ông không có gì quan trọng hơn việc đó. Trên chỉ đưa ra
2 từ siểm khúc, hư cuống, đây còn thêm hai từ TÀ MỴ. Có
lẽ để Phật hiểu, nguy cấp lắm, không đơn giản chút nào
với lũ nữ nhi kinh khủng này.
TÀ
là không chánh. Cái gì có khuynh hướng mang lại quả báo không
tốt, gọi là tà. MỴ là nịnh nọt, cũng có nghĩa là nhu mì,
đáng yêu. Nhìn con mèo cọ tới cọ lui đầu nó vào chân chủ
nhân, rồi xà vào lòng chủ, mình sẽ hình dung được cái
tà mị nói đây. Đó là mèo không biết nói biết cười. Người
còn thêm hai thứ đó nữa, nên cái tà mỵ càng tăng gấp bội.
Ưu
Đà Diên cầu cứu đức Phật đến 3 lần, chỉ một chuyện
đó. Mới thấy năng lực của người nữ là ghê ghớm. Không
có nữ nhi, chưa chắc nam nhi đã thành Phật. Không ai đủ
sức làm họ khiếp đảm như thế.
Phật
nói : Đại vương trước nên biết lỗi họa của trượng
phu, rồi sau sẽ quán sát lỗi họa của nữ nhân.
Người
trí tuệ trả lời có khác. Nhà vua chỉ thấy cái DUYÊN bên
ngoài làm mình khổ mà không thấy cái NHÂN bên trong làm mình
khổ. DUYÊN chỉ là phụ, NHÂN mới là chính. Nhân ấy ở đâu?
Trong chính nhà vua. DUYÊN chỉ là thứ giúp cho NHÂN phát khởi,
chứ DUYÊN không phải là thứ quyết định vấn đề. DUYÊN
nhiều bao nhiêu mà NHÂN không có thì cũng không có chuyện
xảy ra. Lòng anh không động thì SẮC dễ thương tà mị bao
nhiêu, cũng không làm gì anh được. Song tại lòng anh còn động.
Động nên anh mới vướng, khổ mới đến. Không, thì có chuyện
gì xảy ra?
Nói
vậy, cũng chỉ mới nói một chiều. Vì dù NHÂN còn động
mà nếu không có DUYÊN sắc bên ngoài thì cái động ấy cũng
không thể khởi. Quả tình, DUYÊN cũng có một phần trách
nhiệm. Nhưng điều đó không có nghĩa DUYÊN mới là lỗi.
Bởi anh vẫn còn một khả năng để tự vệ : Tránh duyên.
Trong cả hai trường hợp, SẮC chỉ là phụ không phải là
thứ quyết định. Cái quyết định chính là ở anh.
Trong
thư gởi cho bạn đang ở núi, ngài Huyền Giác nói “Người
thấy đạo quên núi ở chốn nhân gian vẫn lặng. Người thấy
núi quên đạo ở trong núi vẫn ồn ào”. Nhân mới là cái
quyết định chứ không phải duyên. Vì thế, Phật nói TRƯỚC
HÃY NÊN BIẾT LỖI HỌA CỦA TRƯỢNG PHU. Tìm lỗi trong chính
mình trước rồi hãy tìm lỗi ở người khác sau.
Nhà
vua thưa : Vâng, kính xin Thế Tôn, con muốn được nghe. Nhà
vua rất thiết tha. Giờ nói gì cũng nghe. Thất kinh quá rồi!
Phật
nói : Tất cả trượng phu đều do 4 thứ lỗi bất thiện,
nên bị nữ nhân làm mê loạn.
NHÂN
phải có, DUYÊN mới tác yêu tác quái được. Anh không thích
lời ngọt ngào nhẹ nhàng thì không lời ngọt ngào nhẹ nhàng
nào có thể làm mềm lòng anh được. Vì thế, Phật vạch
ra 4 lỗi mà đấng mày râu vướng phải, từ đó mới sinh
khổ.
Thế
nào là 4?
1.
Mê mải nơi các dục nhiễm, thích nhìn nữ nhân không chán,
rồi tự buông lung. Không biết gần gũi Sa môn và Bà la môn,
là người đầy đủ tịnh giới và tu phước nghiệp. Vì không
thân cận những bậc như vậy, nên những thứ như tịnh tín,
tịnh giới, đa văn, thí, tuệ … đều thối thất. Do không
có tín, giới, đa văn, thí, tuệ … nên người ấy không phải
là bậc thiện trượng phu, tạo nhiều ác nghiệp, không có
trí tuệ, đam mê phóng dật. Bị dục bắt, bị dục trói,
lấy dục làm mạng sống, gần kẻ ngu, xa người trí, làm
bạn với kẻ ác, tạo các điều lỗi.
Đây
là kể ra nguyên nhân dẫn đến cái quả bị nữ nhân trói
buộc, bị những cái cọ đầu của con mèo làm mất hồn.
Nguyên nhân thứ nhất để sự việc xảy ra là buông lung.
BUÔNG LUNG là tới đâu hay tới đó, không hề có ý ngăn chận,
kiềm hãm. Lúc đầu chỉ là một nụ cười, một câu chuyện
vui vẻ, một cái dáng hay hay, một đôi mắt to tròn … rồi
tình cảm phát sinh. Tình cảm phát sinh là do thiếu sự tỉnh
thức. Không tỉnh nên thay vì biết SẮC là vọng, buông đi!
Mình lại … tới luôn. Nên đây Phật nói “Mê mải nơi các
dục nhiễm””. DỤC NHIỄM là chỉ cho những thứ tồn động
trong mình thuộc về ái dục. Vì cái dục nhiễm này mà với
những SẮC phù hợp với quan niệm của mình, mình rớt đài
không gượng dậy nỗi, nên nói THÍCH NHÌN KHÔNG CHÁN. Đây
là thói thường của chúng sanh. Thích cái gì thì cứ muốn
nghe muốn thấy cái đó hoài, nên nói không chán. Đó là quá
trình của sự BUÔNG LUNG.
Trường
hợp vua Ưu Đà Diên, cái buông lung của vua bắt nguồn từ
một phu nhân rồi đến phu nhân thứ hai. Vì sao có việc này?
Vì ít thân gần Sa môn và Bà la môn đầy đủ tịnh giới
và tu phước nghiệp.
SA
MÔN là chỉ cho Tỷ kheo của Phật. BÀ LA MÔN là một trong
4 dòng họ ở Thiên Trúc, thờ Phạm thiên, tu phạm hạnh để
được quả báo ở cõi trời. TU PHƯỚC NGHIỆP là chỉ cho
hàng Bà la môn. THÍ là bố thí, cúng dường. GIỚI là 5 giới,
10 giới, 250 giới v.v… Nếu thân cận Sa môn thì sẽ biết
trong 5 giới có giới không tà dâm. Nói theo quan niệm thời
nay là một vợ một chồng, không được có bà thứ hai, nếu
bà thứ nhất chưa li dị hoặc chưa chết. Nếu theo Bà la môn
tu phạm hạnh, thì có khi không có vợ là đằng khác. Bởi
muốn đắc quả tiên thì thân phải thanh tịnh. Người tu phạm
hạnh tự nguyện sống đời phạm hạnh để lên được cõi
trời. Có lẽ, trên đó tiên nữ phi phàm gấp mấy lần tiên
dưới trần gian nên họ không thích vướng mắc với tiên
ở cõi này.
Đó
là về mặt giới luật, về mặt trí tuệ, nếu gần Phật
và hàng Thánh chúng thì sẽ được Phật dạy cho phép QUÁN
BẤT TỊNH để thấu được thực tướng của những hình
thức ma mị mềm mại kia. Phần sau có đề cập, nên đây
không giải thích kỹ.
GẦN
KẺ NGU, XA NGƯỜI TRÍ v.v… là nói lên tình trạng “Đồng
thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, là “Nồi nào úp
vun nấy”.
Do
tham ưa cảnh bất tịnh với nữ nhân nên bị nữ nhân chế
phục như tôi đòi. Lệ thuộc đọa lạc nơi chỗ nữ
nhân, không biết xấu hổ, gần gũi chơi bời nơi ổ bệnh
hoạn máu mủ tanh hôi, mũi dãi thường chảy như cảnh dơ
bẩn ở bãi tha ma. Đến nỗi trái bỏ cha mẹ, quên ân dưỡng
dục, lìa bỏ Sa môn Bà la môn, không biết tôn trọng cung kính
cúng dường. Tập quen với hạnh súc sanh. Không có lòng tin
thanh tịnh với Phật, Pháp và Tăng. Cảnh giới niết bàn mãi
mãi thối thất.
Đây
là cái quả của việc buông lung trên. Niệm đầu không tỉnh
sẽ có niệm thứ hai, thứ ba, thứ tư … Niệm thứ tư cũng
không tỉnh nữa thì … THAM ƯA CẢNH BẤT TỊNH VỚI NỮ NHÂN.
Tham ưa thứ gì thì đương nhiên bị thứ đó trói buộc. Như
người mê ăn, thì những thứ khác không quyến dụ được
mình, nhưng nghe đến mùi đồ ăn mà nhất là những thứ hợp
khẩu vị thì coi như xong. Nắm được tật của người thì
làm chủ người là vì vậy. Đó là qui luật tất yếu. Thành
tu, chính là dừng đi những cái tham này. Không bị thứ gì
dẫn dắt thì mới không bị ai trói buộc, mới có khả năng
tự tại.
Từ
Ổ BỆNH HOẠN cho đến MŨI DÃI THƯỜNG CHẢY là Phật diễn
tả về THỰC TƯỚNG của người nữ cho các đấng mày râu
tỉnh được chút nào hay chút đó, không phải là Phật phỉ
báng người nữ. MŨI DÃI THƯỜNG CHẢY thì mình ít thấy,
bởi thứ đó chỉ có thiền sư ăn khoai lang mới dám bày ra,
còn phụ nữ hay nam giới thường tình đây, không ai dám để
chuyện đó xảy ra. Mất hết công năng quyến rủ. Song Ổ
BỆNH HOẠN thì đầy dẫy không sai một chữ. Bệnh hoạn,
giang mai, sì ke, ma túy mà nhất là bệnh sida hiện nay thì không
ai không biết. Nổi tiếng trên toàn thế giới. Thân xác của
con người khi còn bị buộc ràng trong tham dục là vậy.
Song
do có sự chấp thủ tham dục của người nam mà người nữ
trở thành ĐAËC SẮC như thế trong lời dạy của đức Phật.
Vì sao? Vì đây là pháp quán để trị bệnh. Đã là pháp thì
có duyên mới có pháp. Không duyên pháp không lập. Nó không
phải là thứ bất di bất dịch áp đặt cho mọi trường hợp.
Không có tham dục thì không có bài pháp này. Vì có chấp thủ
tham dục nên có bài pháp này. Nếu đối tượng bị đau khổ
đây không phải là Đại vương Ưu Đà Diên mà là một phu
nhân nào đó thì những thứ này sẽ được dùng để diễn
tả cho thân của một bậc trượng phu, dù đó là một vị
đại đức uy nghi chăng nữa. Cho nên, đừng nghĩ Phật chê
trách người nữ. Đây Phật đang dạy về lỗi họa của nam
giới, không phải lỗi họa của nữ giới.
Với
Phật tử tại gia không tu giải thoát, thọ trì 5 giới thì
ngoại trừ vợ nhà ra, tất cả những liên hệ tình cảm yêu
đương khác, sẽ được lên danh sách cho quán máu mũ tanh hôi,
ổ bệnh hoạn giang mai như ở đây. Với Sa môn Bà la môn thì
ngoài mẹ mình ra, tất cả đều có thể là đối tượng để
quán một khi có sự dính mắc. Không có sự dính mắc thì
người nữ là người nữ, không xấu cũng không tốt, không
dơ cũng không sạch. Như thiền sư nhìn cây gậy : Cây gậy
là cây gậy, không thêm cũng không bớt. Không thêm cũng không
bớt, là thấy chứ không đui, nhưng không khởi nghĩ đó là
cây gậy. Khởi lên thứ gì bỏ liền thứ đó.
Nếu
sắc dục không phải là thứ quan trọng với mình, ta có thể
dùng phương tiện này để trừ bỏ : Chỉ cần biết SẮC
là vọng, không theo. Biết vài lần thì SẮC đúng là vọng,
không có gì để dính mắc.[7] Đơn giản như vậy. Nhưng
với người mà bệnh ái dục nặng, thì phải cần đến cái
quán Phật dạy đây. Không quán tanh hôi máu mủ khó mà buông
được.
Song
ái dục không phải là thứ có thể coi thường. Vì sao? Trong
kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật nói “Với ái dục không
gì hơn là sắc. Ham muốn sắc, ngoài nó không gì lớn bằng.
Cũng may chỉ có mình nó, nếu có cái thứ hai bằng nó, người
trong thiên hạ không ai có thể hành đạo”. Ái dục không
phải là thứ đơn giản, nhất là thứ ái dục thuộc về
sắc. SẮC là chỉ cho đối tượng của người nam hoặc người
nữ. Có vị dịch chữ SẮC này thành sắc đẹp. SẮC nhưng
không hẳn là sắc đẹp. Bởi có những tình cảm không hình
thành từ sắc đẹp. Sắc đẹp chỉ là thứ hỗ trợ chứ
không phải chính yếu. Có nhiều thứ để hình thành nên một
SẮC hợp ý : Tài năng, trí tuệ, sắc đẹp, tánh nết v.v…
Tùy quan niệm của từng người mà một hay tất cả những
thứ trên trở thành sự lôi cuốn đối với mình.
Tôi
đã từng đọc thấy trên báo, một người thanh niên chỉ
mới 17 tuổi, nhưng lại đem lòng yêu thương một người đàn
bà 60 cùng làm thợ nung gạch với mình. Đàn bà 60 ở miền
quê, lại lao động cực nhọc nên da thì nhăn sạm, áo quần
lam lũ, tóc bới lọn trong như 70, lại rất quê mùa. Nhìn hình
tướng to lớn vạm vỡ bảnh trai của chàng thanh niên bên
cạnh người đàn bà xấu xí đen đua ấy, không ai tin có thể
có một tình yêu giữa họ. Nhưng họ đã tự tử cả đôi
để thoát sự cản ngăn của gia đình và dư luận. Thành SẮC
nói đây không chỉ dựa trên tiêu chuẩn sắc đẹp mà nói
được. Chỉ có hai chữ duyên nghiệp mới giải thích xong.
SẮC là bóng dáng tập nghiệp của chính mình.
SÚC
SANH là chỉ cho loài vật. Loài vật thì nó chỉ sống theo
bản năng tính dục chứ không có lý trí như con người. Như
con chó thấy mất miếng ăn thì ngay với mẹ nó nó cũng gầm
gừ, không phải như con người biết cái gì cần trân trọng,
cái gì không. Những việc làm như theo vợ bỏ cha mẹ, hoặc
nghe lời vợ mà nghĩ xấu cho Tăng đoàn thanh tịnh của Phật
v.v… đây Phật gọi là hành hạnh súc sanh. Bởi chỉ biết
nghe theo cái dục của mình mà không biết cái gì nên nghe,
cái gì không nên làm. Với những hạnh bình thường đó mình
làm còn không nỗi, làm sao có thể bỏ phu thê để tu hạnh
thanh tịnh mà có niết bàn. Nên nói, cảnh giới niết bàn
MÃI MÃI THỐI THẤT.
Những
hạng này sẽ vào các đại địa ngục như A Tỷ, Chúng Hiệp
cùng ngạ quỉ, súc sanh, không ai cứu được. Dầu nghe ta dạy,
nhưng vẫn tưởng nhớ nữ nhân ca đùa múa hát không biết
chán lìa. Người này quen thói ngu ác không thích tu tập các
việc của thiện trượng phu. Nầy Đại vương! Phải biết
lúc trượng phu thân cận nữ nhân chính là thân cận pháp
ác đạo. Đây là lỗi họa thứ nhất của bậc trượng phu.
Cái
quả nói ở phần trên, chính là cái nhân đưa đến cái quả
địa ngục nói đây. Pháp thế gian là pháp Duyên khởi, nên
một thứ sanh thì vô vàn thứ khác khởi theo. Trùng trùng vô
tận không thể nói. Một cái nhân xuất hiện, đủ duyên sẽ
cho ra một cái quả. Cái quả ấy đủ duyên sẽ tiếp tục
cho ra một quả khác. Từ chỗ ưa thích nữ nhi, đưa đến
cái quả là bất hiếu xa dần người trí. Bất hiếu, xa người
trí đưa đến cái quả vào 3 đường dữ. CHÚNG HIỆP và A
TỶ là 2 loại địa ngục chuyên chứa mấy ông mấy bà có
dính lứu trầm trọng đến sắc dục. THÂN CẬN NỮ NHÂN nói
đây là chỉ cho việc thân cận nữ nhân với tâm dính mắc.
Dính mắc, đương nhiên có chuyện xảy ra. Đó gọi là pháp
ác đạo. Pháp áo đạo là pháp khiến mình lọt vào 3 đường
ác. Còn thân cận mà không có tâm dính mắc hoặc thân cận
với những nữ nhân như Hằng Hà Thượng, đồng nữ Diệu
Huệ thì không phải là thân cận pháp ác. Đó là mặt nhân
duyên của pháp. Đọc kinh đọc luận phải nhớ đến mặt
nhân duyên này. Không thì nữ nhân mình không dám tới chùa,
mà quí thầy trong chùa thấy người nữ chắc cũng tránh cho
lẹ. Việc giáo hóa sẽ vỡ bờ. Cho nên, Phật dạy là dạy
để phá bỏ sự dính mắc, không phải để tẩy chay người
nữ.
Tại
một chùa ở miền tỉnh. Có hai vị sư. Một buổi đẹp trời
nọ bỗng một trong hai vị vướng phải một bà lão sồn sồn,
khiến tăng chúng náo động, Phật tử mất lòng tin. Rồi mọi
chuyện qua đi, mọi thứ cũng đâu vào đó. Nhưng kể từ ngày
ấy, vị sư còn lại sinh tâm kinh hãi và không muốn người
nữ nào bước chân vào chùa. Thấy người nữ nào thân cận
với vị kia, sư đều có cái nhìn không tốt về người đó.
Giúp
đồng đạo mình tránh bớt duyên khi đạo hạnh của bạn
chưa vững là rất phải. Nhưng nhìn người nữ như những
giống chuyên đi gây họa cho người thì không nên. Nhìn như
thế là thiếu trí tuệ. Bởi lỗi không phải do người nữ.
Người nữ chỉ là cái duyên phụ trợ bên ngoài. Duyên đầy
ra đó mà nhân không có thì duyên làm gì được? Tâm tịnh
thì cõi độ tịnh. Đủ đạo hạnh, thì ma vương ác quỉ
đều thành Bồ tát, huống chỉ vài người nữ yếu đuối
đang cần một chỗ nương tựa?
DẪU
NGHE TA DẠY … mới thấy năng lực của người nữ kinh hồn
thế nào. Không hiểu nữ nhân đã gầy tạo được nhân gì
mà có cái quả kinh hồn đó. Tôi có một người bạn. Chị
ta cũng có năng lực đó. Không phải với chồng mà với anh
trai mình. Chị không có chồng. Chị từng nói với tôi về
năng lực đó của chị, đúng hay sai anh trai chị cũng chỉ
nghe lời chị, tiền bạc không phải do vợ nắm mà do chị
nắm tất cả. Sang tới Pháp rồi, bà chị dâu vẫn chưa hết
khổ vì cách đối xử quá mức của chồng với em gái. Bà
chỉ thấy thoát nạn thật sự khi ông chết. Chị ta kể với
tôi trong tâm trạng đắc thắng mà không hề thấy một chút
lỗi lầm nào trong cách cư xử đó. Không biết những dạng
phụ nữ như vậy đã gieo được nhân gì để được quyền
hành như vậy. Nhưng hưởng phước theo kiểu đó là mình đang
hại mình mà hại cả người thương mình nữa. Giá mình biết
dùng năng lực đó để hướng người thương mình vào những
điều tốt đẹp thì hay biết mấy! Không có thứ gì trên
đời không có cái quả của nó. Thành không nên dụng phước
báu của mình theo chiều quá đà. Vừa có cái quả không tốt
ở tương lai, mà cái quả trong hiện đời cũng dễ lụi tàn.
2.
Phàm là cha mẹ, ai cũng muốn cho con mình được lợi lạc,
cho nên hay làm việc khó làm, hay nhẫn việc khó nhẫn, dù
là thứ dơ uế đều chịu đựng được. Luôn muốn thân thể
sắc lực của con mau tăng trưởng, muốn nó thấy những sự
thắng diệu trong Diêm Phù, bú mớm nuôi nấng không biết mệt
mỏi. Vì muốn con mình sung sướng nên kinh doanh cầu tìm tài
vật để con được đầy đủ, rồi đến nhà người cầu
hôn, cưới gã cho con. Hôn thú xong, đứa con luyến ái vợ
quên mất cha mẹ. Thấy cha mẹ dần dà suy yếu, sợ lãng phí
tài vật mà dời cha mẹ đi nơi khác. Đây đều do tham dục
mê hoặc mà điên đảo, với cha mẹ thì vứt bỏ không kính
thương nuôi dưỡng, với con gái nhà người thì trân trọng
cung cấp không biết nhàm chán. Đây là thành tựu gốc địa
ngục, là lỗi họa thứ hai của trượng phu vậy.
Đây
là kể ra công ơn khó nhọc của cha mẹ đối với con cái.
Cũng là kể ra lỗi thứ hai của đấng mày râu. Là kể tội
mấy ông gặp phải mấy bà vợ quá quắc nhưng lại chỉ biết
có vợ mà không biết đến cha mẹ. Đàn bà thì ai cũng có
tâm muốn thủ chặt người đàn ông của mình. Thủ gì đó
thủ, nhưng đừng để tình trạng như trên xảy ra. Vì sao?
Vì cái thủ đó dẫn đến địa ngục. Có nhân thì có quả.
Không ai không cho mình thủ. Nhưng thủ sao cho khéo. Đã thương
thì thương cho trót, đừng để người đàn ông của mình
lọt vào địa ngục mà mình thì chắc cũng không thoát. Đã
lọt vào địa ngục rồi, thì lúc đó chàng có đức độ
tài ba bao nhiêu, mình cũng không còn tâm đâu nghĩ đến việc
chấp thủ.
3.
Do tà kiến, không biết tự thân sẽ chóng hoại diệt, gây
tạo nhiều ác nghiệp rồi tự khi dối. Kẻ ngu si này cứ
theo ngày tháng trôi đi, như gỗ đá đục đẻo thành, tuy có
hình hài như người mà không tri thức. Tập quen với các tham
dục chính là thành tựu nghiệp nhân ác đạo. Đây là lỗi
thứ ba của bậc trượng phu .
TÀ
KIẾN là chỉ cho những quan niệm sai lầm. Không tin nhân quả
là một loại tà kiến. TÀ KIẾN nói đây là không thấy thân
mình rất dễ tan hoại. Như giờ còn sống đây nhưng không
biết 5 phút nữa thế nào. Như trận sóng thần ở Phuket, trước
5 phút và sau 5 phút tất cả đều đổi khác. Trong số những
người nằm xuống đó có ai nghĩ mình chốc nữa đây sẽ
chết? Không ai nghĩ đến điều đó. Ai cũng mãi loanh quanh
với những vui buồn của quá khứ, tính toán thật nhiều cho
tương lai. Tương lai có đến không? Hay sẽ chấm dứt tất
cả vào ngày mai? Nhưng không ai nghĩ đến điều đó. Chỉ
cắm đầu cắm cổ lo cho tương lai để có khi phải gây nghiệp
trong hiện tại. Đó là một dạng tà kiến vi tế.
Vì
không thấy nhân quả, không thấy sự vô thường mau chóng
nên ngày đêm cứ chạy theo những thứ không đâu, để rồi
gây tạo những điều bất chánh. Có thương yêu thì có tranh
dành, có cung phụng. Tranh dành sinh tội đã đành. Cung phụng
cũng sinh tội. Bởi muốn có để cung phụng thì phải bương
chãi dành giựt của người khác. Thói thường ở đời, kẻ
đã không biết cái gì là phải là trái thì lòng tham là vô
bờ. Chuyện mấy ông mấy bà hiện nay ngày nào cũng đăng
trên báo mình thấy rồi.
TỰ
KHI DỐI là muốn nói đến sự biện minh của mình khi làm
điều gì đó không phải. Do không dừng được ham muốn trong
lòng, nên thực hiện bằng được những điều ham muốn đó.
Thực hiện rồi, có khi biết lỗi mà vẫn tìm cách biện minh
cho những hành động đó. Tự khi dối là vậy.
Đức
Phật ví hạng người này như những khúc gỗ hay những tảng
đá được đục khắc thành hình người, chứ không phải
là người. Vì sao? Vì không có tri thức. KHÔNG TRI THỨC là
không có sự hiểu biết, không biết cái gì nên làm, cái gì
không nên làm.
THAM
DỤC thì không ai là không có. Nhưng thánh nhân thì tìm cách
buông đi, mà phàm phu lại tập quen với nó. Đau khổ và tội
lỗi là ở chỗ TẬP QUEN đó. Chẳng qua vì thiếu hiểu biết
mà thôi. Như việc thuốc lắc đang lan tràn hiện nay chẳng
hạn. Kẻ ý thức được đó là họa thì không bao giờ đụng
đến, lỡ đụng đến thì tìm cách dứt bỏ. Nhưng có kẻ
hơn 40 tuổi rồi vẫn chúi mũi vào đó, lắc như mấy đứa
con nít, say sưa từ giờ này qua giờ khác, ngày nay qua ngày
nọ. Cái lặp đi lặp lại đó chính là tai họa. Quen rồi
thì thói quen sai xử mình chứ mình không có tư cách gì sai
xử nó nữa. Như việc đọc báo hằng ngày, ngày nào cũng
đọc, một thời gian sẽ thấy, không có báo chịu không được.
Đó chỉ là chuyện nhỏ. Những chuyện dính đến tham dục,
là cái gốc của sanh tử, lại càng khủng khiếp.
Những
thứ tập quen đó Phật gọi là NGHIỆP. Nó là cái nhân cho
ra một cái quả ở tương lai khi đủ duyên, nên gọi là NGHIỆP
NHÂN. Vì cái nhân ấy chỉ đưa đến quả xấu trong 3 đường
dữ, nên gọi là NGHIỆP NHÂN ÁC ĐẠO.
4.
Có trượng phu, vì thân mạng mình mà tự lao khổ chứa nhóm
tài vật, rồi bị nữ nhân ràng buộc như kẻ tôi đòi cung
phụng chủ nhân. Do nhân duyên đó mà càng tham cầu tích chứa
tài vật của báu, chẳng bố thí cho Sa môn Bà la môn, lại
phải chịu đựng sự trừng trị của vương pháp, chịu mọi
điều khinh khi hủy báng lăng nhục. Có người còn bị nữ
nhân đánh đập quát tháo. Có người sợ làm trái ý, tôn
thờ hết mực, thấy nữ nhân buồn rầu liền tự nghĩ rằng
“Nay ta làm gì để nàng được vui?”. Phải thấy những
kẻ như vậy là tôi tớ của dục. Nơi cảnh bất tịnh thấp
hèn lại tưởng là tịnh rồi sanh lòng ái nhiễm. Lúc kề
nữ nhân như vậy chính là viên mãn nghiệp ác đạo. Đây
là lỗi thứ tư của trượng phu vậy.
Lỗi
thứ tư của cánh mày râu là lao khổ chứa nhóm tài vật.
Muốn có được tiền nhiều thì phải làm lụng cực nhọc.
Thường thì ai cũng muốn có cuộc sống hơn người, không
những cho mình mà cho người thân của mình nữa. Tiền tài
danh vọng chính là bộ áo đáng giá của cánh mày râu, là
hấp lực của giới phụ nữ có nhan sắc. Kẻ có nhan sắc
rất hiếm chọn những chàng đi xe đạp. Tiền đâu để chi
phí cho áo quần, mỹ phẩm, nhà lầu, xe hơi, là những thứ
cần thiết để nhan sắc kia được bảo vệ trường tồn
theo thời gian? Da dẽ trắng bao nhiêu mà không có mỹ phẩm
bảo vệ, cứ đi xe đẹp dưới cái nắng và bụi của thành
phố hiện nay, thì mặt cũng có ngày như Chung Vô Diệm. Chưa
kể sự hãnh diện khi có được một ông chồng giàu có và
danh vọng. Vì thế nó chính là động lực để phụ nữ chiếu
cố, để chư nam nhi bỏ công bỏ sức lao tâm khổ trí đạt
cho bằng được. Trúng phải bà vợ biết đạo thì không nói,
trúng bà vợ thích chơi hơn thích làm, không biết nhân quả,
chỉ thấy cái lợi trước mắt mà quên mất cái hại sau lưng,
thì sự lao tâm lao lực của mấy ông càng nhiều. Trúng cảnh
bà hai bà ba nữa, mới thật đáng tội. Buôn lậu, phá rừng,
tham nhũng, lường gạt làm sao tránh khỏi? Dính vào mấy thứ
đó, trước sau gì cũng phải CHỊU SỰ TRỪNG TRỊ CỦA VƯƠNG
PHÁP. Giờ không còn vua thì gọi là quốc pháp.
BỊ
NỮ NHÂN ĐÁNH ĐẬP QUÁT THÁO nghe thì kinh khủng nhưng đó
là sự thật. Nữ nhân quát tháo có nhiều dạng. Có dạng
quát tháo không phải vì dữ dằn mà vì yếu đuối, vì bị
cánh mày râu đàn áp, căng thẳng quá mức chịu không nỗi
nên … phát thành tiếng. Coi thì dữ dằn nhưng thực chất
của vấn đề thì không đến nỗi. Nhưng có những dạng nữ
nhân, cốt đúng La sát. Khoảng thời gian còn học lớp 12,
tôi đã từng chứng kiến cảnh một ông bị vợ đánh ở
cạnh nhà người bạn. Không phải một lần. Ngày nào ông
cũng ăn mấy cán chổi lông gà của vợ. Ông thì nhỏ nhắn
mà bà thì to như bồ lương tấn gió. Bị đòn, vì ngày nào
cũng nhậu. Bà đánh chồng như đánh con nít. Ông thì vừa
quì vừa lạy như con quì lạy má. Nhưng cái tật lớn hơn
cái tuổi, bị đòn tuy nhục nhã nhưng nhậu thì vẫn nhậu,
để ngày nào cũng bị đòn. Có khi rồi bị đòn cũng đáng.
Nhưng dù có đáng chăng nữa, mình làm vậy là gây quả báo
không tốt cho mình. Cũng phải nghĩ đến mình một chút.
SỢ
TRÁI Ý, THẤY NỮ NHÂN BUỒN RẦU … là thứ mà ai cũng dễ
vướng phải. Người nữ mình có khi vướng còn nhiều hơn
đám mày râu. Cứ thấy người mình thương rầu rầu nét mặt,
hai con mắt ủ nước là ruột mình lên men. Lên men rồi thì
tìm đủ mọi cách để tạo cho được nụ cười, thấy cho
được ánh vui trong mắt người. Cái không đành lòng đó,
đây Phật gọi là LÀM TÔI TỚ CỦA DỤC. Làm tôi tớ của
dục chứ không phải làm tôi tớ cho người mình thương. Vì
sao? Vì không có dục trong lòng thì không có SẮC nào lọt
vào mắt mình được. Không lọt vào thì mình sẽ rất bình
thản với những thứ như thế. Đâu phải khổ lụy như vậy.
TỪ
cũng là một dạng muốn mang đến niềm vui cho người. Vì
sao TỪ thì thuộc tam muội, mà việc làm người vui đây lại
thuộc tôi tớ của dục? Cái khác nhau đó nằm ở hai từ
BÌNH ĐẲNG. Lòng mong muốn an vui của TỪ phát xuất từ trí
tuệ nên cái mong muốn đó được trải rộng tới muôn người,
không kể là thân hay sơ, thích hay không thích. Còn cái làm
cho người vui đây, chỉ dành cho người mình thích mà thôi.
Để phục vụ cho cái thương đó, có khi mình phải đánh đổi
cái khổ của người khác hầu đem đến cái vui cho người
này. Vì chỗ khác nhau đó mà một thứ khiến mình thăng thiêng
đường, một thứ khiến mình đọa địa ngục.
NƠI
CẢNH THẤP HÈN là nơi những tình cảm đó mà tưởng là quí
hóa, nên mới đắm nhiễm vào đó mà trân trọng. Trân trọng
đắm nhiễm như vậy là đang viên mãn ác nghiệp. VIÊN MÃN
là chỉ cho trạng thái vừa tròn mà vừa đầy, cái chưa tròn
đã tròn, cái còn khuyết đã đầy, như trăng mười sáu không
còn đầy hơn được nữa. Tu hành mà nghe hai chữ viên mãn
thì vui. Nhưng viên mãn nói đây là viên mãn để vào địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nạn tai!
Đó
là 4 điều Phật dạy cho Ưu Đà Diên biết về lỗi họa của
mình cũng như của tất cả nam giới.
Sau
khi dạy 4 điều mà bậc trượng phu nên tránh, đức Thế
Tôn làm một bài kệ để tổng kết.[8] Nghe xong, Ưu Bà
Diên bạch với Phật : Những lời được nghe đây thật
hiếm có. Đức Phật khéo nói lỗi họa của sắc dục. Nay
con qui y Tam bảo Phật Pháp Tăng, từ nay đến trọn đời nguyện
làm thân cư sĩ. Ngưỡng mong Thế Tôn nhiếp thọ con”.
Sau khi nghe xong bài pháp, vua Ưu Đà Diên biết tất cả họa
đều do lỗi ở dục, cái dục này dính liền với sắc nên
nói là SẮC DỤC. Không gì không phải là nhân duyên. Không
có NHÂN dục thì sắc chỉ là khúc cây mục bên đường. Không
có DUYÊN sắc thì dục không có cơ hội để bùng phát. NHÂN
vẫn là chính. DUYÊN chỉ là phụ. Nhân duyên đầy đủ mới
có quả. DUYÊN không có, chưa có nghĩa là NHÂN đã hết. Vì
thế kinh Duy Ma nói “Bồ tát trừ chấp chẳng trừ sự”
là vậy. CHẤP thuộc nhân. SỰ thuộc duyên.
Vậy
làm sao để diệt nhân. Nhân ÁI này chỉ chuyển được chứ
không diệt được. Chuyển được thì xem như đã diệt được.
ÁI chỉ có thể chuyển thành BI. Muốn chuyển thành BI thì
phải có TRÍ TUỆ. Muốn có trí tuệ thì phải tập bỏ lần
TRÍ PHÂN BIỆT. Đối cảnh khởi xấu, đẹp, sạch, dơ thì
biết đó là cái nhân của sự chấp thủ, buông đi! Phải
quán cảnh giới trước mắt là huyễn hóa để buông. Không
chấp thủ thì ÁI chính là BI. Vì thế không ai cấm mình thương
yêu. Nhưng thương theo kiểu đức Phật thì được mà yêu
theo kiểu chúng sanh thì không được. Vì sao? Vì Phật thương
thì bình đẳng không chấp thủ. Chúng sanh yêu là có chọn
lọc, chấp thủ. Chính cái chấp thủ đó khiến mình mê mờ.
Từ đó có tạo nghiệp. Không phải chỉ có tình cảm trai
gái mới có sự chấp thủ, mẹ con, anh em vẫn có sự chấp
thủ.
Người
đàn bà ấy có 3 người con trai, nhưng tất cả tình thương
đều tập trung cho người con đầu. Thương đến mức độ
cậu con đến 40 tuổi rồi mà vẫn chưa có vợ. Dù bà luôn
thúc giục cậu lấy vợ. Nhưng đem cô nào về bà cũng chê.
Cậu con trai vốn chẳng thích lấy vợ, một phần vì đồng
lương ít ỏi, một phần ngày nào cũng nhậu quắc cần câu
nên khả năng làm đàn ông chắc cũng không bao nhiêu, thành
càng lớn tuổi thì càng thấy ngán vợ ngán con. Nhưng rồi
… cũng có một nàng hớt tay trên cậu con trai của bà. Bấy
giờ tất cả những gì về sự chấp thủ mới bộc phát.
Bà tìm mọi cách để cấm đoán, ngăn chận và bán luôn cả
nhà để cậu con trai không thể mang vợ về. Nhưng cô dâu
thật giỏi. Chỉ cần có chàng, nàng sẵn sàng bỏ qua tất
cả và làm mọi thứ vì chàng. Vợ chồng rồi cũng có nhà
riêng, có con … Đó là tình cảnh người bạn học của tôi.
Còn rất nhiều chuyện kinh hồn do sự chấp thủ mà ra. Tạt
ác xít đối thủ, giết cô nàng của mình rồi luộc chín
chặt thành ba khúc v.v... Chấp thủ như vậy là đang tạo nghiệp.
Tạo nghiệp vì có sự chấp thủ. Vì thế, thứ gì có chấp
thủ thứ ấy đều thành bệnh. Không nên chấp thủ.
Phật
dạy bài pháp này cho ngài Ưu Đà Diên nhưng là cho tất cả
đấng mày râu cũng như cho tất cả đám phụ nữ chúng ta.
Đệ nhất phu nhân hay đệ nhị phu nhân tuy là những hình
tướng bên ngoài của một Ưu Đà Diên, nhưng nó chính là
hai mặt tình cảm trong một con người. Tình yêu hướng thương
cao cả rộng mở là thứ tình cảm khiến con người trở nên
thanh thoát, bao dung và tha thứ. Được biểu hiện qua hình
ảnh phu nhân Xá Ma. Ai mang thứ tình cảm ấy trong lòng, không
có tai ương khổ nạn nào có thể xúc chạm đến họ. Tình
yêu vị kỷ hẹp hòi thủ chấp được biểu hiện qua hình
tượng của phu nhân đệ nhị, khiến mình vướng vào những
thứ tệ hại của cuộc đời. Vì sự chấp thủ mà bày đủ
trò gian dối để đạt cho được mục đích của mình. Đó
là cái nhân đưa đến 3 đường khổ.
Không
ai không có Phật tánh. Nó chính là cái nhân Xá Ma sẵn đủ
trong mỗi chúng ta. Chính nhờ chủng nhân đó mà khi ta làm
việc bậy, sợ hãi, đau khổ cũng như khổ nạn liền xuất
hiện. Bạn đừng nghĩ những kẻ giết người hàng loạt như
những hung thần không có sự sợ hãi và đau khổ. Khi tôi
đang viết những dòng này thì trên báo đang đăng tải một
loạt bài về đời sống của một tên giang hồ, sống ngang
nhiên như một ông vua với đầy đủ quyền hành mà chính
quyền địa phương cũng đành bó tay vì thế lực rộng lớn
và sự ra tay tàn độc của y. Một con người như thế vì
sao lại đi coi bói? Vì sâu thẳm đâu đó trong tâm thức, sự
bất an đang le lói mà y không nhận ra. Nó thôi thúc người
ta muốn biết về tương lai của mình thế nào. Một con người
bình an không bao giờ quan tâm đến những điều đó. Sự sợ
hãi, đau khổ và khổ nạn chính là thứ khiến người ta có
ngày quay về đường chánh, như vua Ưu Đà Diên trở về quê
hương của mình.
Chân
Hiền Tâm
1
Kinh Hoa Nghiêm.
2
Bài kệ này không phải chỉ chừng đó. Muốn đọc đầy đủ,
xin đọc phẩm Vô Ðức Úy Bồ Tát, kinh Ðại Bửu Tích, quyển
6.
3
Kinh Lăng Nghiêm.
4
Ðây là một trong các nhân duyên, không phải là tất cả.
5
見新發意菩薩生一切智心. Kệ ghi : 敬初發心如佛想
6
Có thể nghiên cứu phần này trong luận Ðại Trí Ðộ, cuốn
I, trang 734 – Bản dịch của HT Thiện Siêu.
7
Quán này không phải là quán bất tịnh. Bởi quán bất tịnh
là quán chính thân mình. Ðây chỉ là một trong các cách quán
để xa rời nữ nhân.
8
Ðây không ghi vì đa phần bài kệ lập lại những lỗi trên
và nói thêm về quả báo của những việc ấy ở địa ngục
v.v…. Muốn nghiên cứu kỹ xin xem phẩm Ưu Ðà Diên Hội trong
kinh Ðại Bửu Tích quyển 6. Bản dịch của Hòa thượng Thích
Trí Tịnh.
Ấn
tống :
Từ
An
Mỹ
Huệ
Hòa
Tú
Trương
Kim Cương
Chân
Hiền Tâm
HƯƠNG
SEN NGÀN CÁNH
Chân
Hiền Tâm
*
Chịu
trách nhiệm xuất bản
TRẦN
ĐÌNH VIỆT
Biên
tập : Châu Anh Kỳ
Sửa
bản in : Hồng Nguyên
Trình
bày : Chân Hiền Tâm
Bìa
:
*
NHÀ
XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP. HỒ CHÍ MINH
62
Nguyễn Thị Minh Khai Q.1
ĐT
: 8225340 – 8296713 - 8296764 – 8223637- 8222726 - 8220405 –
8221917 - 8250616 - 8277326
Fax
: 84.8.8222726 - Email : nxbtphcm@bdvn.vnd.net
Thực
hiện : Chân Hiền Tâm 8443138
In
2000 cuốn. Khổ 14.5x20.5cm tại Cty TNHH In Khuyến Học Phía Nam
Q.3 TP. HCM. GPXB số : 112-07/CXB/63-01/THTPHCM ngày 7/2/2007. In xong
nộp lưu chiểu tháng 3 năm 2007.