Đồng nữ
DIỆU HUỆ
Diệu
Huệ là một bé gái 8 tuổi. Dung mạo đoan chánh xinh đẹp,
ai thấy đều vui thích. Tương truyền trong quá khứ, cô đã
từng thân cận cúng dường, gieo trồng căn lành nơi vô lượng
chư Phật. Khi Phật ở tại thành Xá Vệ, cô đã đến lễ
dưới chân Phật, xin Phật trả lời những thắc mắc của
mình bằng bài kệ sau :
Làm
sao được thân đẹp
Đại
phú và tôn quí
Và
do nhân duyên gì
Quyến
thuộc lại tan tác
Điều
cô bé muốn hỏi đầu tiên là làm sao để có được thân
tướng đẹp đẽ, đại phú và tôn quí. Nghĩa là, con phải
gieo nhân gì để có được quả báo giàu sang, thân tướng
đẹp đẽ ai nhìn vào cũng thấy thích, lại được mọi người
tôn quí. Tôn quí là kính trọng mà thương yêu.
Việc
thứ hai, cô bé muốn hỏi nguyên do vì đâu quyến thuộc lại
tan tác. TAN TÁC có hai nghĩa : Hoặc là quyến thuộc tranh dành
ghét bỏ lẫn nhau. Hoặc là gặp hoàn cảnh ly tán mà xa lìa
nhau. Nói chung, không đoàn tụ hạnh phúc … gọi là tan tác.
Làm
sao để thân mình
Được
thọ nơi hóa sanh
Ngồi
hoa sen ngàn cánh
Diện
phụng Phật Thế Tôn
Đây
hỏi tu hạnh gì để có thể ngồi nơi tòa sen và thấy Phật.
HÓA SANH đây, chỉ cho việc được hóa sanh vào cõi Phật.
Như chư vị tu pháp Niệm Phật để được vãng sanh Tịnh
độ. DIỆN PHỤNG là diện kiến và phụng sự chư Phật.
Thế
nào chứng nhập được
Tự
tại thắng thần thông
Đến
khắp vô lượng cõi
Kính
lễ lạy chư Phật
TỰ
TẠI THẮNG THẦN THÔNG là chỉ cho địa vị bất động, là
địa vị đã chứng nhập được tánh bình đẳng của pháp
thân, đã thấy được cảnh giới như huyễn. Được địa
vị này liền có thần thông dạo chơi tất cả cõi nước.
Làm
sao được không oán
Lời
nói được người tin
Trừ
sạch các pháp chướng
Lìa
hẳn các ma nghiệp
KHÔNG
OÁN là không ai oán ghét căm thù mình. Lời nói được người
tin nhận. PHÁP CHƯỚNG là chỉ cho những pháp làm chướng
ngại cho sự tu hành. MA NGHIỆP là chỉ cho các thứ làm não
loạn thân mạng cũng như tuệ mạng của người tu.
Thế
nào lúc mạng chung
Được
thấy chư Phật hiện
Nghe
thuyết pháp thanh tịnh
Không
bị khổ não bức
Đây
hỏi, phải gầy tạo điều gì để khi chết được thấy
Phật hiện trước ra trước mặt và nghe Phật thuyết pháp?
Được như vậy thì chắc chắn sẽ tránh được sự bức
não đau khổ khi ngũ uẩn tan rã.
Đấng
đại bi vô thượng
Xin
vì con giải nói
Đây
là chấm dứt lời thỉnh cầu. ĐẤNG ĐẠI BI VÔ THƯỢNG là
chỉ cho đức Phật. Gọi là ĐẠI BI vì cái bi của đức Phật
đối với người đời rất trí tuệ và bình đẳng. TRÍ TUỆ,
vì thấu được qui luật chi phối thế gian và có cái thấy
không ngăn ngại suốt từ quá khứ đến vị lai, nên đức
Phật mang lại lợi ích thiết thực cho muôn loài. BÌNH ĐẲNG,
vì sự cứu khổ ấy không có biên giới, không bị những
thứ như của tôi, ghét, thương v.v… chi phối. VÔ THƯỢNG
vì không có lòng bi nào bằng lòng bi ấy. Đây là lý do để
đồng nữ Diệu Huệ nêu lên những thắc mắc của mình.
Đức
Phật trả lời :
1.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì có thân hình
đoan chánh. Thế nào là 4? Một, nơi bạn ác không khởi lòng
giận hờn. Hai, trụ nơi đại từ. Ba, rất thích chánh pháp.
Bốn, tạo hình tượng Phật.
Muốn
có thân hình đoan chánh thì cần phải thực hành 4 điều sau
:
Nơi
bạn ác không khởi lòng giận hờn. BẠN ÁC là chỉ cho người
không cư xử tốt với mình, người luôn làm mình bực mình,
gây khó khăn cho mình, hãm hại mình, nói xấu mình, làm mình
đau khổ v.v… Với những người như vậy mà mình không giận
hờn, thì mình sẽ có thân tướng đoan chính đẹp đẽ. Muốn
vậy thì phải có tâm thương người. Tâm thương người đó
gọi là TỪ. Song TỪ ở đây không phải chỉ có TỪ thôi
mà còn có ĐẠI nữa. Vì sao gọi là ĐẠI TỪ? Từ nghĩa chính
của nó là ban vui. Muốn người an vui là do có tình thương
rộng lớn đối với người. Nó xuất phát từ chân thể bình
đẳng, là thương mà không kể thân hay sơ, tốt với mình
hay không tốt với mình. Người đối với mình thế nào cũng
được, còn mình làm được gì cho người thì làm, không phải
ghét thì cho ra rìa, thương thì làm sống làm chết. Do cái
bình đẳng đó mà gọi là ĐẠI. Phải có tâm bình đẳng
đó thì mới thương được bạn ác của mình. Việc này không
phải dễ làm, nhưng làm được thì có được thân tướng
đẹp đẽ, ai thấy cũng có thiện cảm.
RẤT
THÍCH CHÁNH PHÁP là ưa thích chánh pháp hết mực. Chánh pháp
là chỉ cho những pháp mà thực hành nó mình sẽ có quả báo
tốt đẹp. Theo kinh Thắng Man, chánh pháp chia làm 4 loại từ
thô đến tế như sau :
1/
Các pháp thuộc Nhân Thiên thừa, như 5 giới của người
tại gia hay Thập thiện của cõi trời.
2/
Pháp Thanh văn.
3/
Pháp Duyên giác.
4/
Vô thượng thừa. Pháp vô thượng này gồm có Đại thừa
và Nhất thừa.
Thích
chánh pháp thì sẽ sống thiện và làm thiện. Đó là điều
kiện để có một tâm thần an ổn thoải mái. Cái an ổn thoải
mái đó là một phần giúp thân tướng của mình đẹp đẽ
trong hiện tại. Hoặc trong giới của người Phật tử tại
gia và xuất gia đều có giới không sát sanh. Không sát sanh
thì không bị chết yểu hoặc không bị bệnh hoạn. Khỏe
mạnh tươi tốt cũng là một thứ góp phần cho thân tướng
của mình được đẹp đẽ.
TẠO
HÌNH TƯỢNG PHẬT là dùng công sức hay dùng tài vật để
đúc hình tượng của Phật.
Thực
hiện được 4 việc này, mình sẽ có được thân tướng mà
ai nhìn cũng thấy tôn quí và thương yêu.
2.
Nầy Diệu Huệ ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì được thân
phú quí. Thế nào là 4? Một, bố thí đúng thời. Hai, không
có tâm khinh mạn. Ba, vui mừng mà cho. Bốn, không mong quả
báo.
PHÚ
QUÍ là giàu sang danh giá. Muốn giàu sang thì phải nói đến
việc bố thí. Không có bố thí thì không bao giờ có sự giàu
sang. 4 pháp nói đây đều liên quan đến việc bố thí. Bố
thí thế nào? Đầu tiên là BỐ THÍ ĐÚNG THỜI, là bố thí
đúng khi người ta đang cần. Người đói cơm thì cho ăn. Người
đói pháp thì cho pháp. Người đang sợ hãi thì làm cho họ
hết sợ hãi. Người cần một lời an ủi thì nói một lời
an ủi. Đó là đúng thời. Người đói không cho, lại đem
cho chỗ thừa mứa, là không đúng thời. Người đói cơm lại
không cho ăn mà đem cho sách là không đúng thời v.v…
Cho
được đúng thời rồi còn phải cẩn trọng về thái độ
của mình nữa. Cho mà KHÔNG CÓ TÂM KHINH MẠN, kiêu ngạo. Điều
này cũng đúng. Người cần đến mình mà mình cho với thái
độ khinh khỉnh thì quả là tàn nhẫn. Chưa nói gì về mặt
quả báo, chỉ nói về mặt tình người thôi, đã thấy không
nên. Vả lại, đã cho rồi, tức tài vật cũng ra rồi, vì
sao không là một nụ cười hay một khuôn mặt rạng rỡ để
mọi người cùng vui vẻ, quả báo được tốt đẹp mà phải
là một thái độ khinh khỉnh làm đau lòng người? Phần vi
tế của tướng khinh mạn kiêu ngạo này rất nhiều dạng,
khó mà lường hết.
VUI
MỪNG MÀ CHO, vì phải thấy rằng nhờ cái cho ấy mình mới
có điều kiện để tạo cái nhân giàu sang trong tương lai.
Cái VUI MỪNG MÀ CHO này trị cái bệnh kiêu ngạo khinh khỉnh
trên. Cho trong sự biết ơn thì không ai dám khinh khỉnh. Nói
vậy nhưng cũng không nên có tâm muốn nhận lãnh của người
vì nghĩ rằng đó là mình tạo phước cho người. Cái tâm
muốn nhận lãnh vì người đó là tốt, nhưng chỉ sợ nó
là trá hình của tâm tham một khi trí tuệ mình chưa đủ.
Tham thì mạt đời, ngóc đầu không lên.
Umezu
là một thương gia giàu có ở Edo, ông quyết định cúng năm
trăm đồng ryo để đại sư Seisetsu xây một trường học
rộng rãi hơn. Đại sư trả lời bình thản “Được rồi,
tôi sẽ nhận”. Umezu không bằng lòng về thái độ không
biết ơn ấy. Với ba ryo người ta đã có thể sống trọn
một năm, đây đến năm trăm ryo. Không dấu được điều
bất mãn đó, Umezu chỉ túi vàng nói “Trong túi đó là năm
trăm ryo”. Đại sư nói “Ông đã nói với tôi rồi”. Umezu
nói “Mặc dù tôi là một thương gia nhưng số tiền ấy không
phải nhỏ”. Đại sư hỏi “Ông muốn tôi cảm ơn ư?”
Umezu gật đầu. Đại sư lên tiếng “Vì sao lại là
tôi? Người cho phải cảm ơn chứ”. Người cho luôn phải
là người cảm ơn. Nên đây đức Phật dạy VUI MỪNG MÀ CHO
là vậy.
Việc
cuối cùng, cho nhưng đừng mong cầu quả báo. Sống thiện
là để có một đời sống an lành. Dù không mong cầu quả
việc làm ấy cũng nói lên sự mong cầu. Nhưng thật ra, trong
đời sống mình đây, có những lúc mình cho hoặc cúng dường
không hẳn vì muốn được quả báo giàu sang sung sướng, mà
chỉ là một hành động rất tự nhiên của tâm thức, nó
là một nhu cầu hơn là một mong cầu. Như thấy người đói,
người khổ, tâm tự nhiên muốn cho. Thấy người gặp nạn
rồi giúp, muốn Tam bảo trường tồn v.v… Nó xuất phát từ
tình thương thật sự của mình đối với người, không vì
cầu sự sung sướng cho mình. Những hình thức đó mang lại
quả báo tốt đẹp hơn là bố thí mà có mong cầu. Nhưng dù
có tâm mong cầu thì quả báo phú quí vẫn có, không phải
không, song không bằng cho mà không mong cầu.
Ở
đây Phật dạy không mong cầu quả báo, chủ ý là để tránh
tình trạng sân giận khi làm thiện hoặc khi bố thí. Vì một
khi bố thí mà có tâm mong cầu, thì khi mong cầu không được
đáp ứng mình sẽ nổi sân. Giúp người mà người không mang
ơn còn chơi ngược lại mình mà mình bất mãn, là mình đã
bị tâm mong cầu chi phối. Mong cầu gì? Mong cầu sự biết
ơn của người đó, mong cầu tình thương của người đó.
Ngoài
ra, bố thí chỉ mới là nhân chứ chưa phải là quả. Phải
đủ duyên quả mới xuất hiện. Nếu chưa đủ duyên thì sự
giàu sang cũng chưa xuất hiện. Vì thế không phải bố thí
là giàu sang liền. Đủ duyên thì ngay trước mắt. Chưa đủ
duyên thì có khi kiếp sau hay vài chục kiếp nữa chưa biết
chừng. Nếu tâm mong cầu quá mạnh, mà báo quả chưa đủ
duyên để ra, mình dễ sinh sân giận, dễ chán nản và thất
vọng với những điều mong muốn đó. Việc thiện có khi thành
thối thất. Đó là điều tối kiên kỵ. Vì thế không phải
chỉ có Phật dạy đừng mong cầu quả báo mà chư Tổ và
các vị Thiện tri thức đời sau cũng dạy như vậy.
3.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì được quyến
thuộc không tan hoại. Thế nào là 4? Một, khéo xả bỏ lời
ly gián. Hai, làm cho chúng sanh tà kiến an trụ chánh kiến.
Ba, với chánh pháp muốn diệt, hộ trì cho trường tồn. Bốn,
dạy chúng sanh xu hướng bồ đề Phật.
Đây
là trả lời câu hỏi con phải làm những việc gì để quyến
thuộc không bị chia lìa tan tác? Phật dạy có 4 điều phải
thực hiện. Thực hiện được thì phá bỏ được cái quả
không tốt kia.
1.
Khéo xả bỏ lời ly gián : Đây là việc nhân quả dễ hiểu
nhất. Mình chuyên đi xúc siểm, dùng tài ăn nói của mình
để chia rẽ người khác thì đương nhiên mình phải bị quả
báo tương tợ. Giờ muốn hết thì đầu tiên là phải ngưng
cái nhân quyết định của sự việc này. Không nói lời ly
gián là để không tạo tiếp nhân xấu. Đó là việc cần
làm trước tiên. Còn cứ gây, rồi lại chữa cháy thì biết
đời nào mới hết cái quả đó? KHÉO là chưa làm được
liền thì từ từ. Dừng được chút nào hay chút đó.
Với
những nhân đã gây trước đây, để cái quả có ra cũng nhẹ
bớt, Phật dạy làm các việc sau :
2.
Làm cho chúng sanh tà kiến an trụ chánh kiến : Chúng sanh là
chỉ chung cho tất cả mọi loài từ người đến thú vật.
Chánh kiến là cái thấy đúng đắn. Nay ta hay dùng từ QUAN
NIỆM để chỉ cho chữ KIẾN này. Có quan niệm đúng đắn
thì hành động mới đúng đắn. Thế nào là chánh kiến? Sống
trong xã hội thì phải có trách nhiệm với bản thân, gia đình
và xã hội, là một loại chánh kiến. Không có thứ gì trên
cuộc đời này mà không bị nhân quả chi phối, là một chánh
kiến. Phật chính là trí tuệ rỗng rang sáng suốt của chính
mình, là một chánh kiến v.v… Người đời khổ vì có cái
nhìn không đúng với qui luật chi phối ở thế gian, gieo lộn
nhân thành gặt cái quả không như ý. Cứ vậy mà quây cuồng
trong mớ bòng bong của nghiệp lực.
Bằng
cách nào đó, mình có thể giúp người có được cái nhìn
đúng đắn về thân tâm và thế giới họ đang sống là đang
giúp họ an trụ trong chánh kiến. TRỤ là tồn tại đứng
vững. AN là yên lòng vững vàng. Vững vàng và an bình trong
chánh kiến chứ không phải nay tin nhân quả mai lại đi tin
bà Chúa Xứ. Vậy chưa gọi là an trụ chánh kiến.
Không
phải chỉ có con người mới có khả năng biết chánh kiến
và thực hiện chánh kiến. Con vật cũng có thể dạy nó chánh
kiến. Ăn vụng, ăn những thứ người không cho, dành ăn với
đồng loại là thiếu chánh kiến. Bằng cách nào đó dạy
cho nó không phạm những thứ đó chính là dạy nó sống có
chánh kiến. Một con vật với tánh tình hiền hòa chắc chắc
sẽ có một quả báo tốt đẹp cho đời sau của nó.
Muốn
giúp người an trụ chánh kiến thì đầu tiên mình cũng phải
có chánh kiến. Còn bản thân mình cũng thích cúng sao, giải
hạn, đi Châu Đốc vay tiền làm ăn, thì chắc chắn mình cũng
dẫn người ta đi cúng sao giải hạn và Châu Đốc mà thôi.
Vì thế tuy nói giúp chúng sanh tà kiến an trụ chánh kiến
mà chính là an trụ chúng sanh tâm của mình trụ vào chánh
kiến trước.
3.
Với chánh pháp muốn diệt, hộ trì cho trường tồn : Có chánh
kiến thì chắc chắn không bao giờ dùng tài ăn nói của mình
vào những chỗ không đúng như ly gián, gieo họa cho người.
Có chánh kiến và giúp người sống chánh kiến chính là đang
góp tay giữ vững chánh pháp. Không hẳn phải có chùa chiền
Tăng Ni chánh pháp mới tồn tại. Thứ khiến chánh pháp tồn
tại chính là con người biết sống đúng chánh pháp. Chùa
chiền, Tăng Ni, sách báo nhiều bao nhiêu mà chỉ tập trung
dạy người cầu sao giải hạn, phá hủy nhân quả, bói toán
rùm ben, chỉ khiến người rơi vào mê tín dị đoan thì chánh
pháp vẫn bị diệt đọa.
Cho
nên, tuy dạy 4 pháp mà thật không ngoài một, là GIÚP NGƯỜI
AN TRỤ TRONG CHÁNH KIẾN.
4.
Dạy chúng sanh xu hướng bồ đề Phật : Là giúp người hướng
về Phật đạo. Đó là việc tất yếu của quá trình an trụ
trong chánh kiến. Chánh kiến càng vững thì trí tuệ hướng
về đạo Phật chính thống càng mạnh. Nhà bác học Einsten,
người cả đời chỉ tập trung cho việc nghiên cứu khoa học
đã phải thốt lên lời nói “Nếu có một tôn giáo nào ứng
phó được với các nhu cầu của nền khoa học hiện đại,
đó chính là Phật giáo”. Khoa học là thứ mà ai cũng tưởng
nghịch lại với đời sống tôn giáo. Song với đạo Phật
thì điều đó không hẳn. Đáng để ta phải suy gẫm.
4.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau, sẽ được ở
trước Phật hóa thân ngồi tòa sen. Thế nào là 4? Một, mang
hoa quả và hương thơm đến dâng cúng chư Phật cùng các chùa
tháp. Hai, không nói lời càn bậy khiến người thêm tổn hại.
Ba, tạo tượng Như Lai trên tòa sen. Bốn, sanh lòng tin thanh
tịnh với bồ đề Như Lai.
Hai
việc mang hoa quả hương thơm cúng dường chư Phật và chùa
tháp, cũng như tạo hình tượng đức Phật ngồi trên tòa
sen đều là những việc dễ làm. Chưa tu vẫn làm được.
Hướng lòng tin và sự kính ngưỡng vào Tam bảo như vậy là
đang gieo duyên với Phật pháp. Có duyên thì mới gặp được
Tam bảo. Riêng việc tạo hình tượng Phật, như hiện nay chùa
nào cũng nhiều tượng quá, mà cứ tạo hoài thì có khi phải
để Phật ngoài đường, mưa nắng dãi dầu, rất tội cho
đức Phật của mình. Hoặc với người không có tiền, không
có điều kiện đúc tượng Phật ngồi trên tòa liên hoa, không
lý không được gặp Phật?
Phật
là đấng đại bi vô thượng, chắc chắn không bao giờ để
tình trạng thiếu xót ấy xảy ra, nên trong 4 điều đây, có
một điều không cần điều kiện vật chất mà vẫn có thể
tạo hình tượng Như Lai, đó là sanh niềm tin thanh tịnh với
bồ đề Như Lai. SANH NIỀM TIN THANH TỊNH chính là có niềm
tin với ông Phật của chính mình, là có lòng tin với chân
tâm của mình. Đức Phật đó không hình tướng, ngồi trên
tòa sen cũng không hình tướng, nên bao trùm tất cả các đức
Phật ngồi tòa sen mà có hình tướng. Tạo được đức Phật
đó là tạo được vô vàn đức Phật không gì sánh được.
Đi đâu, làm gì mình cũng nhớ mình có cái chân tâm thường
hằng bất biến không tham, không sân, không si, không thương,
không ghét, rỗng rang, sáng suốt. Đó chính là tạo hình tượng
Như Lai trên tòa sen. Tạo hình tượng như vậy chính là ta
đang trực diện Phật ngay bây giờ chứ không đợi đâu xa.
Sống
được với ông Phật của mình thì không bao giờ nói lời
xằng bậy khiến người bị tổn hại. Thứ này các đấng
không râu của mình dễ vướng hơn đấng mày râu. Bởi phụ
nữ là mệnh danh cho thói nhiều chuyện. Nói vậy không có
nghĩa quí ông đã hoàn toàn vô tội. Có ông còn nhiều chuyện
gấp mấy lần quí bà. Song số nhiều vẫn thuộc quí bà nên
nói quí bà. Không vừa lòng chuyện gì là tìm cách nói ra nói
vào sao cho thiên hạ bay khỏi cư xứ của mình mới vừa lòng.
Đó là nói xằng bậy khiến làm tổn hại đến người. Tội
lỗi vô vàn. Không thể thấy Phật. Vì sao? Vì thiếu tâm từ
thì không thể gặp một người đầy đủ lòng từ như đức
Phật. Đồng thanh mới ứng nhau, đồng khí mới tìm nhau.
Có lòng từ và không lòng từ không thể gặp nhau.
5.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp thì được thần
thông thù thắng từ một Phật độ đến một Phật độ.
Thế nào là 4? Một, thấy người khác tu thiện chẳng làm
chướng não. Hai, khi người thuyết pháp, chưa từng cản trở.
Ba, đốt đèn cúng dường tháp Như Lai. Bốn, đối với các
thiền định thường chuyên cần tu tập.
Trả
lời câu hỏi làm sao chứng nhập được thần thông tự tại
thù thắng, để có thể đi từ Phật độ này đến Phật
độ khác của đồng tử Diệu Huệ. Cũng có 4 pháp.
1.
Thấy người khác tu thiện thì không làm chướng não họ :
TU THIỆN là chỉ cho các việc làm lợi ích cho người, hoặc
niệm Phật, ăn chay, tụng kinh, thiền định v.v… Người uống
rượu say sưa quên ngày quên tháng bỗng dưng tập bỏ uống
rượu cũng là một dạng tu thiện. Thứ gì khiến con người
hướng thiện, khiến gia đình êm ấm, xã hội tốt đẹp,
đều gọi là tu thiện.
LÀM CHƯỚNG NÃO là gây sự cản trở và buồn phiền cho người.
Như thấy người thân của mình đi làm việc phước thiện,
rồi sợ tiền của tan tác, công việc nhà không ai lo, thành
cấm cửa cho yên. Đó là một dạng chướng não nói đây.
Khuyên người gắng lo chuyện nhà cho xong rồi hãy điø, hoặc
tự mình giúp đỡ thanh toán việc nhà trong ngày đó cho yên
thì tốt hơn là cấm cửa người làm chuyện phước thiện.
Bởi cấm cửa như vậy là mình đang đánh mất cái phúc của
mình mà cả cái phúc của người nữa.
2.
Gặp người thuyết pháp thì đừng cản trở : Thuyết pháp
nói đây là thuyết về chánh pháp chứ không phải tà pháp.
Tà pháp thì cũng cần góp tay phá bỏ chứ không nên im lặng
khuyến khích. Chính yếu là phải biết thứ gì là chánh, thứ
gì là tà. Cái biết đó là trí tuệ. Vì thế có phần 3 sau.
3.
Đốt đèn cúng dường Như Lai : Là soi sáng Như Lai của chính
mình, là phát huy trí tuệ của chính mình. Đó là nghĩa sâu
xa. Còn hình thức đốt đèn cúng dường Như Lai là cái nhân
để mình có nhân duyên gặp được Phật pháp, học hỏi,
tu hành để ông Phật của mình được soi tỏ. Nó là cái
nhân gián tiếp mang đến trí tuệ sau này cho mình, không phải
là không mang đến quả báo nào cho trí tuệ.
4.
Đối với các thiền định thường chuyên cần tu tập : Muốn
có thần thông du hí thì nhất định phải có thiền định
mới nói đến chuyện thần thông. Không có phần thiền định
này thì khỏi nói đến chuyện thần thông du hí. Ngay với
ngoại đạo, muốn xuất hồn du phương cũng phải có thiền
định. Có điều, thiền định của họ không giống thiền
định của đức Phật.
Bạn
tôi có người mẹ tu theo phái thiền xuất hồn. Bà ta có thể
nhịn đói mười lăm ngày hoặc một tháng mà dung nhan vẫn
tươi tắn trẻ đẹp. Mỗi lần ngồi thiền, là mỗi lần
bà được một người gọi là ông Tám dẫn đi chu du khắp
nơi. Một lần bà ngồi đến ba ngày mà không thấy trở lại
như thường lệ. Trong nhà phải hạ bà xuống cho vào hòm đóng
nắp. Không ai hiểu nguyên do vì sao. Nhưng chắc có dấu hiệu
gì đó của sự thối rữa nên gia đình không thể để lâu
hơn nữa. Đi chơi đâu đó vui quá thành quên mất đường
về … Thôi thì tu thiền của Phật cho chắc. Không mầu nhiệm
theo kiểu ăn liền dễ chết như thế. Thực tế và logic. An
tâm hơn.
THIỀN
ĐỊNH CỦA PHẬT là loại thiền định giúp ta dứt bỏ tham,
sân, si … Không bị những thứ đó quấy rầy thì đương
nhiên thân tâm được tự tại. Không bị ràng buộc trong bất
cứ điều kiện nào, gọi là TỰ TẠI. Sự tự tại càng thâm
sâu thì khả năng du hí của mình càng lớn. Muốn biết mình
tu thiền có đúng là thiền của Phật không, chỉ cần xem
lòng mình đối với những thứ như tình cảm, danh lợi, ngủ
nghỉ, ăn uống thế nào thì biết. Cứ ít dính mắc với những
thứ bên ngoài nhiều chừng nào là mình biết mình gần Phật
nhiều chừng nấy. Khi tâm không còn chấp thủ thì mình sẽ
có được cái dụng nói đây. Điều này cần sự chăm chỉ
chuyên cần dài lâu.
6.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì trong việc
xử thế không có kẻ thù. Thế nào là 4? Một, dùng tâm không
gian dối mà gần gũi bạn lành. Hai, nơi pháp thù thắng của
người không sinh tâm tật đố. Ba, thấy người có danh dự
thì tâm thường vui mừng. Bốn, đối với hạnh Bồ tát, không
có tâm khinh hủy.
BẠN
LÀNH là chỉ cho những người thật tâm với mình, những người
đối xử tốt với mình.
PHÁP
THÙ THẮNG là chỉ cho những gì thuộc về hạnh phúc, may mắn
v.v… là những quả báo tốt đẹp của người. Thấy người
giàu có mà ghét, thấy người giỏi giang trí tuệ thì không
ưa, thấy người khác được thương hơn mình v.v… mà trong
lòng khởi sinh bực bội, khó chịu là mình đang rơi vào thứ
gọi là tật đố. TẬT ĐỐ nghĩa là ganh tỵ, ghen ghét, cành
nanh, ghen tuông.
DANH
DỰ là một trong những pháp được gọi là thù thắng. Nói
chung, với những gì mà người hơn mình thì mình phải mừng
cho người, đừng ganh ghét khó chịu. Vậy mới tránh được
quả báo oán thù.
HẠNH
BỒ TÁT là chỉ cho những hành động mang tính vì người.
Chẳng hạn ra đường nhìn thấy một người đuổi theo bọn
cướp, ngăn chặn sự cướp bóc. Không may người ấy gặp
nạn. Có người thán phục nhưng cũng có người bĩu môi “Thiếu
trí tuệ, không biết lượng sức mình”. Hành động đó gọi
là khinh hủy. KHINH HỦY là khinh khi và chê bai. Dù người có
thiếu trí tuệ, nhưng cái đáng quí là tinh thần và tấm lòng
của người đó. Nhờ có những con người quên mình như vậy,
xã hội mới tốt đẹp hơn. Vì thế, dù người ta thật sự
thiếu trí tuệ chăng nữa, vẫn có thứ để mình tôn kính.
Tôn kính thứ mà mình không dám làm và chưa làm được. Một
lời tán thán đáng hơn là một câu phỉ báng. Mọi trường
hợp đều như vậy.
HẠNH
BỒ TÁT còn chỉ cho những thứ như ăn chay, niệm Phật, bố
thí, cúng dường v.v… những thứ đó dù không hợp ý mình,
mình cũng không nên chê bai, hủy báng. Đó là giúp mình tránh
được quả báo oán thù trong hiện đời và mai sau.
7.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tựu thành tựu 4 pháp sau thì lời nói
được người tin nhận. Thế nào là 4? Một, lời nói thường
tương ưng với việc tu hành. Hai, chẳng giấu diếm tội lỗi
với bạn lành. Ba, nơi pháp được nghe không tìm lỗi dở.
Bốn, với người thuyết pháp không được sanh ác tâm.
Làm
sao để lời nói của mình có trọng lượng? Cũng có 4 việc
để làm :
1.
Lời nói thường tương ưng với việc tu hành : Nói được
thì phải làm cho được, TƯƠNG ƯNG là như vậy. Nói nhiều
mà làm không bao nhiêu thì người ta nói mình sạo là chuyện
đương nhiên. Sạo thì không ai tin mình nữa. Có nói đúng
người ta cũng không tin. Thôi thì làm đi rồi nói. Thiền sư
Động Sơn nói “Nói cái làm chẳng được không bằng làm
cái nói chẳng được”. Đại Từ Hoàn Trung thì “Nói được
một trượng chẳng bằng làm được một thước. Nói được
một thước chẳng bằng làm được một tấc”.
2.
Chẳng giấu diếm tội lỗi với bạn lành : Bạn lành là người
tốt với mình. Người tốt với mình mà mình còn giấu cái
này cái kia, đến khi nó lòi ra đương nhiên người ta hụt
hẫn. Làm sao còn tin mình nữa.
3.
Nơi pháp được nghe không tìm lỗi dở, là khi mình đi nghe
pháp thì không nên khen chê. Đây là bệnh rất dễ vướng.
Xuôi tai, hợp ý, mát lòng thì khen, nghịch thì chê. Đây dạy
đừng chê để khỏi bị quả báo. Đừng chê cũng có nghĩa
là khỏi khen. Bởi đã có khen thì thế nào cũng có lúc chê.
Đó là qui luật tất yếu của cuộc đời. Không chê không
khen để lời nói của mình được người tín thọ. Vì sao?
Vì khen chê là tùy duyên. Người hiểu được khen chê là tùy
lúc, tùy trường hợp, chỉ vì lợi ích của người mà mình
khen hay chê, không phải khen chê có tánh thật của nó, thì
mình khen hay chê không sao. Nhưng với người không hiểu, người
ta sẽ cho mình có thói bốc đồng, khen đó rồi chê đó, không
thể tin con này. Đó là cái quả không tin gần nhất trong hiện
tại.
Ngoài
ra, nghe pháp không nên chê khen vì pháp sư giảng hay hoặc dở
là tùy cái duyên của mình với vị pháp sư đó. Có duyên
thì thấy hay, không đủ duyên thì nghe như nước đổ đầu
vịt. Mình như vậy thì người cũng như vậy. Mình nghe không
hay nhưng người khác nghe hay. Không lợi ích gì cho mình nhưng
lợi ích cho người khác. Tranh cãi khen chê trở thành không
đúng. Cho nên, nói trúng tật trúng bệnh của mình thì mình
nghe. Nghe mà tâm thần phới phới, máu huyết lưu thông thì
tiếp tục. Không thì thôi, khỏi khen cũng khỏi chê. Cũng là
phá bớt trí phân biệt.
4.
Với người thuyết pháp không sanh ác tâm : Ác tâm là chỉ
cho tâm ganh tỵ, tâm ghen ghét v.v… Tâm chê bai trên cũng là
một loại ác tâm. Có bao giờ bạn nghe người giảng pháp
mà thấy lùng bùng đáng ghét chưa? Có, thì chính là ác tâm.
Không hiểu do nhân duyên gì trong quá khứ mà vừa nghe người
đó mở miệng là lòng mình đã bực bội. Cái bực bội ấy
là một dạng của ác tâm. Biết rồi thì buông! Làm hoài sẽ
thành quen. Một lúc nào đó sẽ không còn ghét hay bực bội
nữa. Người tu hành thì chắc chỉ vướng mấy thứ ác tâm
đó. Không ai nghe pháp bực đến nổi thuê người chém pháp
sư hay thuốc cho pháp sư chết. Nên đây không nhắc đến những
loại ác tâm đó.
8.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì có thể xa
lìa pháp chướng mau được thanh tịnh. Thế nào là 4? Một,
thâm ý ưa thích nhiếp trì tam luật nghi. Hai, nghe kinh thậm
thâm chẳng sanh hủy báng. Ba, thấy Bồ tát mới phát tâm thì
sanh tất cả tâm trí. Bốn, đối với tất cả hữu tình sanh
tâm đại từ bình đẳng.
9.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì hay rời lìa
các ma. Thế nào là 4? Một, Liễu đạt pháp tánh bình đẳng.
Hai, phát khởi tinh tấn. Ba, thường siêng niệm Phật. Bốn,
tất cả thiện căn đều hồi hướng.
Phần
đầu là trị CHƯỚNG. Phần sau là trị MA. Chướng là chỉ
cho phiền não chướng. Ma chỉ cho phiền não ma, nghiệp ma,
thiên ma, tử ma v.v… Nói chung thứ gì khiến việc tu hành
của mình bị đình trệ thì nó không thuộc CHƯỚNG cũng thuộc
MA.
Để
trị loại ma chướng này có 8 pháp tất cả :
1.
Ưa thích nhiếp trì tam luật nghi : Tam luật nghi là chỉ cho
Giới pháp luật nghi, Tĩnh lự luật nghi và Vô lậu luật nghi.
GIỚI là chỉ cho giới luật như 5 giới, 10 giới v.v… TĨNH
LƯï là chỉ cho thiền định. VÔ LẬU là chỉ cho trí
vô lậu của bậc thánh giả. NHIẾP là thu vào giữ lấy, TRÌ
là nắm giữ hành trì.
2.
Nghe kinh thậm thâm chẳng sanh hủy báng : KINH THẬM THÂM là
chỉ cho kinh Đại thừa hay Nhất thừa. Kinh nào nói về Phật
tánh, tánh không, Như Lai tạng, chân như … đều là chỉ cho
pháp thậm thâm nói đây. Nghe mà không hủy báng thì mới tránh
được loại pháp chướng này. HỦY BÁNG là chê bai. Như nói
“Kinh Đại thừa không phải của Phật nói, chỉ là thứ
ma mị” là một loại hủy báng.
3.
Thấy Bồ tát mới phát tâm thì sanh tất cả tâm trí
[5]: Bài kệ thuộc phần này ghi “Kính sơ phát tâm như tưởng
đến Phật”. Vậy SANH TẤT CẢ TÂM TRÍ nói đây là hết
lòng kính cẩn với những vị Bồ tát sơ phát tâm, đối với
họ phải có lòng trân trọng, thấy họ như thấy Phật. Bồ
tát sơ phát tâm là những người mới phát tâm tu hạnh Bồ
tát. Trên thì cầu Phật quả. Dưới hóa độ chúng sanh không
nhàm mỏi.
4.
Sanh tâm đại từ đối với tất cả chúng sanh : TỪ thì không
sát hại, không sân giận, không đố kỵ v.v… mà mang sự
an vui đến cho người.
5.
Liễu đạt pháp tánh bình đẳng : LIỄU ĐẠT là thấu được
rõ ràng, chính là thâm nhập pháp tánh bình đẳng. Biết rõ
pháp tánh bình đẳng này trị được rất nhiều thứ.
6.
Khởi tinh tấn : Môn này trị cả chướng lẫn ma. Bởi khó
khăn chướng ngại bao nhiêu mà tinh tấn thì sẽ vượt được
tất cả. Giải đãi thì chịu.
7.
Thường siêng niệm Phật : Niệm là âm Hán. Nó không chỉ
mang nghĩa tụng niệm như mình vẫn nghĩ mà chính nghĩa của
nó là nhớ nghĩ. Đọc tụng danh hiệu Phật là một cách giúp
mình nhớ đến Phật. Dùng lâu, mình cứ tưởng niệm Phật
là nhẫm danh hiệu Phật. Không hẳn vậy. Pháp nào khiến mình
nhớ nghĩ đến Phật, đều gọi là niệm Phật. Quán hình
ảnh Phật, trì chú của Phật v.v… đều là hình thức của
niệm Phật. Ngoài ra, Phật còn chỉ cho chân tâm, tánh giác
của mình. Pháp nào giúp tánh giác chân tâm của mình hiện
tiền, đều gọi niệm Phật. Vì thế niệm Phật nói đây
chỉ chung cho việc nhiếp tâm. Siêng nhiếp tâm thì chướng
nghiệp tiêu trừ. Nhiếp tâm là không để tâm dong duỗi theo
cảnh bên ngoài. Không để cảnh bên ngoài làm tâm mình động.
Đó gọi là nhiếp tâm.
8.
Hồi hướng tất cả thiện căn : Những công đức nào đã
làm được đều hồi hướng cho đường Phật đạo và cho
tất cả chúng sanh trong 3 cõi. Xưa, sư bà TQ mỗi lần chườm
một chiếc nón, hay làm bất cứ một công việc nào, đều
hồi hướng đến tất cả mọi người. Hoặc như ngày nay
mình ngồi thiền, mỗi lần xả thiền, mình đều tụng bài
kệ “Nguyện đem công đức này, hồi hướng đến tất cả,
đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo”. Đều
là hình thức hồi hướng nói đây. Đây để trị tử ma cũng
như phiền não ma.
10.
Nầy Diệu Huệ! Bồ tát thành tựu 4 pháp sau thì lúc lâm chung,
chư Phật hiện tiền. Thế nào là 4? Một, người có cầu
muốn gì thì bố thí cho đầy đủ. Hai, nơi pháp lành sinh
lòng tin và sự hiểu biết sâu xa. Ba, với chư vị Bồ tát
thí đồ trang nghiêm. Bốn, ở nơi Tam bảo siêng tu cúng dường.
Đây
là 4 pháp khiến khi lâm chung mình được an lành sáng suốt,
thấy Phật.
1.
Theo chỗ mong cầu của người mà cho đầy đủ : Việc này
nghe thì đơn giản, nhưng thực hành không phải dễ. Niệm
Phật hay buông niệm miên mật, đến lúc lâm chung thấy Phật,
coi vậy mà có khi dễ hơn việc bố thí theo mong cầu của
người nói đây. Bởi thời nay người biết đủ và có tâm
tàm quí khá hiếm. Thích nhận hơn thích cho. Không đủ đại
tâm khó mà hoàn thành được việc này.
2.
Với pháp thậm thâm của chư Phật vừa tin mà phải vừa hiểu
: Tin mà không hiểu, dễ sinh mê tín. Hiểu mà không tin, dễ
sinh tà kiến. Vì thế phải vừa tin mà vừa hiểu. Tin là tin
những gì Phật dạy. Hiểu là ứng dụng những điều đã
tin vào thực tế. Chỉ có sự thực nghiệm, mình mới có thể
hiểu những gì Như Lai đã nói. Nhất là chỗ thâm sâu của
Phật pháp. Nhờ cái hiểu đó, lòng tin thêm kiên cố. Tin đưa
đến hiểu. Hiểu lại đưa đến tin. Hai thứ đó làm duyên
cho nhau để tồn tại. Hai thứ đó tồn tại, Phật pháp trong
mình mới tồn tại.
3.
Với chư Bồ tát thí đồ trang nghiêm : THÍ tức là bố thí.
Bố thí hay cúng dường đều chỉ cho hành động trao tặng.
Song theo cách dùng của thế gian thì bố thí mang ý nghĩa kẻ
trên cho kẻ dưới hoặc cho với thái độ không kính trọng.
Còn cúng dường mang vẻ kính trọng. Nên khi dùng với chư
vị Bồ tát hay Tam bảo mình hay dùng từ cúng dường không
dùng từ bố thí. Thật ra, với ai cũng vậy, dù là bố thí
hay cúng dường, thì cũng phải bằng tâm trân trọng. Thành
bố thí hay cúng dường, nghĩa của chúng không khác, chỉ vì
tâm mình có khác mà chúng thành khác.
4.
Ở nơi Tam bảo siêng tu cúng dường : Cúng mà phải SIÊNG chứ
không phải lâu lâu mới cúng. Vì chuyên cần nên nói TU. Siêng
cúng dường nói lên lòng thiết tha của mình với Tam bảo.
Đó là một cách giúp mình thân cận Phật pháp khi chưa đủ
trí tuệ. Đủ trí tuệ rồi sẽ thấy cúng dường Tam bảo
càng có ý nghĩa, càng quan trọng. Vì thế, có trí tuệ hay
chưa có trí tuệ, hết thảy đều cúng. Gọi là chuyên cần.
Nghe
xong những lời dạy đó, Diệu Huệ đồng nữ bạch với
Phật : Bạch đức Thế Tôn! Như lời đức Phật dạy về
hạnh Bồ tát, con sẽ phụng hành. Trong 40 hạnh ấy, nếu con
thiếu một hạnh không tu, thì trái với lời Phật dạy, là
khi dối đức Như Lai.
Chí
nguyện cao cả, lời nói kiên cường dứt khoát. Đáng mặt
trượng phu.
Tôn
giả Mục Kiền Liên bảo đồng nữ Diệu Huệ : Hạnh Bồ
tát rất khó làm, nay con phát nguyện rộng lớn như vậy, có
phải vì con đã được tự tại nơi nguyện ấy không?
Những
hạnh đó đã khó làm với một người bình thường, huống
là với một đứa trẻ lên 8, vì thế Mục Kiền Liên nghi
ngờ đồng nữ phải có sẵn gì đó trong tâm mới dám phát
nguyện như thế. ĐƯỢC TỰ TẠI NƠI NGUYỆN ẤY là đối
với những nguyện ấy, Diệu Huệ đã sẵn đầy từ bao kiếp
trước.
Diệu
Huệ bạch với Tôn giả : Nếu hoằng nguyện của con chân
thật không dối, có thể làm cho các hạnh Bồ tát được
viên mãn, thì xin cõi Tam thiên đại thiên chấn động sáu
cách, trời rải mưa hoa, trống trời vang dội.
Đồng
nữ không trả lời thẳng ngài Mục Kiền Liên là đã được
tự tại chưa, mà chỉ xin hoa trời rơi, trống trời vang để
chứng minh cho lời hứa của mình. Nghĩa là, đã được tự
tại với nguyện ấy chưa, không quan trọng. Quan trọng là
lời hứa ấy có thành tựu hay không. Lời nguyện vừa dứt,
thì hư không tuôn hoa như mưa, khắp trời vang đầy tiếng
trống. Cả đại thiên thế giới chấn động theo sáu cách
như lời đồng nữ đã nói.
CHẤN
ĐỘNG SÁU CÁCH có hai loại : 1/ Chấn động sáu phương : Đông
vọt lên tây chìm xuống, tây vọt lên đông chìm xuống, bốn
phía vọt lên, giữa chìm xuống v.v… 2/ Chấn động theo sáu
cách : 3 thứ thuộc mắt thấy là rung chuyển, nổi lên và
vọt lên. 3 thứ thuộc âm thanh là tiếng khua, tiếng gầm rống,
tiếng nổ. Đại khái như động đất, sóng thần, sấm sét
v.v… Cứ tạm nhìn những hình tượng đó mà hình dung
đến 6 thứ đây. Chỉ khác, những thứ đó làm chết người,
còn những thứ nói đây không làm chết người, mà khiến
niềm tin của người đối với Phật pháp thêm sâu đậm.
Diệu
Huệ lại bạch với Tôn giả : Do lời phát nguyện chân thật
ấy, đời vị lai con sẽ thành Phật như đức Thích Ca Như
Lai hiện nay. Cõi nước con không có các ma sự và tên ác thú
lẫn
nữ nhân. Nếu lời con nói đây không hư vọng thì nguyện
cho thân thể đại chúng đều có sắc vàng.
Niềm tin vững chắc, lòng thành rộng lớn, thực hiện các
hạnh đầy đủ, chắc chắn sẽ đưa đến cái quả thành
Phật trong tương lai. Vì thế, đồng nữ tự ấn chứng cho
mình sẽ thành Phật trong tương lai, không cần đợi Phật
ấn chứng. SẮC VÀNG là thân thể sáng chói ánh kim.
Thấy
oai nghi của đồng nữ, ngài Mục Kiền Liên đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi bạch Phật rằng “Bạch Thế Tôn! Nay con
kính lạy Bồ tát sơ phát tâm và chúng Đại Bồ tát”.
Không phải nương vào oai lực hay thân thế của đức Phật
mà có sự tôn kính ấy. Ngài Mục Kiền Liên đảnh lễ vì
thán phục niềm tin và lòng thành của đồng nữ Diệu Huệ,
đại diện cho những vị Bồ tát sơ phát tâm cũng như chư
vị Đại Bồ tát. Nếu mình có niềm tin, lòng thành và cũng
có tâm thực hành bằng được những gì đức Phật đã dạy
như đồng nữ, mình cũng được các thánh nhân ở mười phương
đảnh lễ như vậy. Công đức của một vị Bồ tát, dù chỉ
mới sơ phát tâm, vẫn là lớn lao. Có điều, mình tu càng
lâu thì chư thánh ngày càng dang. Thành Diệu Huệ đồng nữ
thì thành Phật mà mình thì làm chúng sanh. Đó là chỗ khác
nhau giữa mình với người xưa.
Pháp
vương tử Văn Thù hỏi Diệu Huệ : Cô an trụ pháp gì mà
phát nguyện thành thật ấy?
Mục
Kiền Liên đại diện cho hành Thanh văn La Hán. Văn Thù Sư
Lợi, đại diện cho hàng Đại Bồ tát. Văn Thù là Bồ tát,
tương lai sẽ thành Phật nên gọi là PHÁP VƯƠNG TỬ, là con
của vua pháp. Lời phát nguyện mãnh liệt hùng hồn đến nỗi
ngài Văn Thù phải lên tiếng. Câu hỏi mang ý nghĩa “Ngươi
nương vào gì mà dám phát nguyện như thế?”
Đồng
nữ Diệu Huệ đáp : Bạch Văn Thù Sư Lợi, lời hỏi ấy
không phải. Vì sao? Vì trong pháp giới không có chỗ trụ.
Mê
nên thấy có đi có đến, tức có chỗ nơi. Tỉnh thì biết
vạn pháp chỉ là nhất chân pháp giới, không đến không đi,
không có chỗ nơi. Hỏi an trụ pháp gì tức là muốn nói đến
chỗ nơi. Nên nói LỜI HỎI ẤY KHÔNG PHẢI.
Ngài
Văn Thù hỏi tiếp : Thế nào gọi là bồ đề?
Đáp
: Không phân biệt gọi là bồ đề.
Bồ
đề là chỉ cho giác tâm hay trí tuệ Phật trong mỗi người
chúng ta. Không ý phân biệt, bồ đề mới hiển. Không phân
biệt cái gì? Không phân biệt cái này đẹp, cái kia xấu,
cái này của tôi, cái này không phải của tôi, người đó
thiện, người này ác … Không phân biệt thì không có tâm
chấp thủ. Không chấp thủ thì tâm sẽ trở lại vô trụ.
Cho nên, muốn có trí tuệ, muốn được bồ đề của Phật
thì khi đối cảnh tiếp duyên, vừa khởi niệm thấy đẹp
hay xấu, có hay không v.v… Phải biết đó là vọng, buông
đi!
Lại
hỏi tiếp : Thế nào là Bồ tát?
Đáp
: Tất cả pháp đồng với tướng hư không, gọi là Bồ tát.
Đây
không trả lời Bồ tát là hữu tình giác, hay trên cầu Phật
đạo, dưới hạ hóa chúng sanh v.v… mà trực chỉ TẤT CẢ
PHÁP ĐỒNG VỚI TƯỚNG HƯ KHÔNG. Ai thực sự thấy được
vạn pháp như thế thì có thể vỗ ngực xưng là Bồ tát mà
không sợ phạm húy hay đọa địa ngục.
Lại
hỏi : Thế nào gọi là hạnh bồ đề”.
Đáp
: Giống như dương diệm cốc hưởng là hạnh bồ đề.
Trên
hỏi về bồ đề đây hỏi về hạnh của bồ đề.
HẠNH
BỒ ĐỀ, là những thứ giúp ta đạt được bồ đề, như
thiền định, công hạnh v.v…
Dương
diệm và cốc hưởng là những hình ảnh không thật, chỉ
có hình mà không có tánh thật. Chúng như một loại ảo giác.
DƯƠNG DIỆM là tích chỉ con hươu đang khát, tưởng lầm ráng
nắng là nước. Luận Đại Trí Độ ghi “Ráng nắng là khi
mặt trời chiếu vào bụi trần, do gió thổi động, thấy
như ngựa chạy giữa đồng hoang, người vô trí trông thấy
bảo đó là nước”. Tình trạng này cũng giống như trưa
nắng ngồi trên xe hơi, ánh nắng rọi xuống đường nhựa
thấy như có nước loáng thoáng trên mặt đường. CỐC HƯỞNG
là âm thanh vang trong hang. Luận Đại Trí Độ nói “Ở trong
núi sâu hang hẹp khe cùng mà có tiếng nói thì từ tướng
đó mà có tiếng dội lại, gọi là cốc hưởng”.
Không
có hạnh bồ đề thì không được bồ đề. Song một khi nhận
được bồ đề mới hiểu tất cả đều hư vọng. Vì thế,
làm đến đâu mà chấp giữ đến đó là mình đang cho chúng
là thật. Thấy thật là cái thấy còn mê, không nhập được
bồ đề. Cho nên một khi nói đến hạnh bồ đề thì phải
nhớ làm mà không chấp thủ.
Lại
hỏi : Y vào mật ý nào mà nói như vậy?
MẬT
Ý là ý bí mật. Không hiển lộ ra ngoài, gọi là MẬT. Song
nếu là mật thì không thể biết. Còn đã biết thì không
phải mật. Vậy thứ Bồ tát Văn Thù gọi là MẬT đó, với
các bạn là mật hay không mật? Xin trả lời thử, mật hay
không mật?
Đáp
: Ở đó, con không thấy chút pháp nào là mật hay không mật.
Ở
ĐÓ, chỉ cho chỗ mà ngài Văn Thù gọi là mật ý. “Ở đó
con không thấy có chút nào là mật hay không mật”. Nghĩa
là, thứ mà Tôn giả gọi là mật đó, với cái thấy của
con, nó không thuộc mật hay không mật. Chỗ này không khác
luận Trung Quán đã nói “Không sanh cũng không diệt, không
thường cũng không đoạn …”. Chính vì nó không thuộc mật,
không thuộc không mật, nên tùy duyên mới có mật hay không
mật. Với người chưa thấu được nó, thì nó mật. Với
người đã thấu được nó thì nó không mật. Song chỗ đó
là chỗ nào? Người xưa nói : Tham! Cây phướng trước chùa
đổ! Tiếng vỗ của một bàn tay v.v... Nếu mượn ngôn từ
để hiển về nó thì : Vô sanh, không, chân như, nhất chân
pháp giới, Như Lai v.v…
Lại
hỏi : Nếu vậy, tất cả phàm phu nên là bồ đề.
Đây
là câu hỏi vặn của ngài Văn Thù. Đại khái là, nếu không
có mật và không mật như cô đã nói, thì cũng nên không có
hai thứ phàm phu và bồ đề. Vì sao hỏi vặn như thế? Vì
trên thực tế thấy phàm phu khác bồ đề. Đây là cách lập
luận để bẽ đối phương trong văn nghị luận. Nếu thứ
gì là chân lý phổ quát, thứ ấy phải áp dụng đúng với
mọi trường hợp dù là một cọng cỏ hay một lời nói. Vì
thế, muốn bẽ cái lý ấy, chỉ cần đưa ra một trường
hợp không thuộc cái lý ấy, là đã phá bỏ được lập luận
của đối phương.
Nếu
không phải là người thấu tình đạt lý, sẽ cứng họng
với câu hỏi của ngài Văn Thù.
Đáp
: Ngài cho là bồ đề khác phàm phu sao? Không nên có cái thấy
như vậy. Vì sao? Vì tất cả đều đồng pháp giới nhất
tướng, không thủ, không xả, không có thành hoại.
Câu
trả lời của đồng nữ rất đơn giản : Ngài cho bồ đề
khác phàm phu sao? Nghĩa là, ngài mới thấy được mặt SỰ
mà chưa thấu được mặt LÝ của chúng sao?
ĐỒNG
PHÁP GIỚI NHẤT TƯỚNG, là chỉ cho mặt LÝ THỂ của vạn
pháp. Vì nhất tướng nên không rơi vào phân biệt, không có
hai pháp. Không hai pháp nên KHÔNG THỦ cũng KHÔNG XẢ, KHÔNG
THÀNH cũng KHÔNG HOẠI.
Vì
thấu tình đạt lý nên câu trả lời của đồng nữ khiến
cho câu hỏi của ngài Văn Thù trở thành thảm hại. Hỏi như
vậy thì khác gì anh tự cho mình chỉ mới thấy được mặt
SỰ - là mặt khác nhau giữa phàm phu và bồ đề - mà chưa
thấu được mặt LÝ - là cội nguồn chung của phàm phu và
bồ đề? Mật và không mật cũng như thế.
Nếu
chỉ thấy được mặt SỰ là phàm phu khác bồ đề mà chưa
thấu được mặt LÝ là phàm phu không khác bồ đề, thì trên
LÝ thuyết, ta chưa nắm được thực lý duyên khởi của vạn
pháp. Trên SƯï, cái thấy của ta vẫn còn lòng vòng trong thức
phân biệt. Chính trí phân biệt này khiến ta thấy thứ gì
cũng có phần đoạn ngăn cách tách biệt như hiện nay. Vì
bị cái phân biệt ấy che mờ, mà ta không nhận ra được
cội nguồn chân thật của tất cả pháp. Chưa đạt được
mặt LÝ SỰ không hai, chỉ nhận được mặt SỰ, rồi chấp
cái SỰ ấy làm LÝ, nên chỉ thấy TƯỚNG KHÁC của pháp,
mà không nhận được TÁNH KHÔNG KHÁC của vạn pháp. Một
khi dứt trí phân biệt, ta sẽ nhận được mặt không hai kia.
Như
vậy, nói khác hay không khác là do tự cái thấy của mình,
không phải bản chất của vạn pháp vốn vậy. Pháp vốn không
khác cũng không phải không khác, nên một khi còn thấy phàm
phu khác bồ đề, thấy sanh tử khác niết bàn, thấy đến,
thấy đi thì cũng có nghĩa là mình đang còn … mê! Vì thế
đồng nữ nói KHÔNG NÊN CÓ CÁI THẤY NHƯ VẬY. Đại loại
là, đừng có mê như thế nữa, thưa Tôn giả của con!
Lại
hỏi : Người hiểu rõ được nghĩa ấy, số đó được bao
nhiêu?
Hiểu
được nghĩa ấy là hiểu cái nghĩa KHÔNG KHÁC và ĐỒNG NHẤT
TƯỚNG PHÁP GIỚI nói trên. Có bao nhiêu người hiểu được
như vậy?
Đáp
: Có bao nhiêu tâm tâm sở lượng huyễn hóa thì có bấy nhiêu
chúng sanh huyễn hóa có thể hiểu được nghĩa ấy.
TÂM,
TÂM SỞ là chỉ cho 8 tâm vương và 51 tâm sở. Phần này thuộc
về Duy Thức Học. Muốn hiểu cặn kẽ thì lật Duy Thức Học
ra nghiên cứu. Vài dòng không đủ nói hết những phức tạp
của chúng. Chỉ biết, làm người thì không ai không có 2 loại
tâm, tâm sở này. Tất cả đều biến dạng xoay vòng trong
hai loại tâm tâm sở ấy. Vui, buồn, thương, ghét, không vui
không buồn, nhớ, hối hận, tinh tấn, phân biệt v.v… là
những dạng của nó. Đồng nữ nói ai có tâm và tâm sở,
người ấy có thể hiểu được những nghĩa đã nói đó.
HUYỄN HÓA là cái nhìn của Diệu Huệ đối với tâm, tâm
sở và chúng sanh. Vì sao gọi là huyễn hóa. Vì đủ duyên
thì hiện, hết duyên liền hoại. Ngay khi hiện tánh nó vốn
đã không. Nên nói huyễn hóa.
Mình
cũng có tâm và tâm sở, vậy mình có hiểu và thấy được
vậy không? Nếu không thấy không hiểu là vì mình không chịu
hiểu, cũng không chịu thấy, không phải mình không có khả
năng đó. Như Dược Sơn hỏi Sa di Cao “Ngươi do xem kinh mà
được hay do thưa hỏi mà được?” Sa di Cao trả lời “
Không do xem kinh mà được cũng không do thưa hỏi mà được”.
“Có lắm người không xem kinh cũng không thưa hỏi, sao không
được?” Sa di Cao trả lời “ Đừng nói họ không được.
Chỉ vì không chịu nhận đó thôi”.
Lại
hỏi : Huyễn hóa vốn không, sao lại có tâm tâm sở pháp như
vậy?
HUYỄN
HÓA VỐN KHÔNG, vậy do đâu lại có những thứ tâm tâm sở
pháp huyễn hóa đó?
Đáp
: Pháp giới cũng vậy, không phải có không phải không. Cho
đến Như Lai cũng như vậy.
KHÔNG
PHẢI CÓ KHÔNG PHẢI KHÔNG là mớ từ dùng để chỉ cho thực
tướng của pháp giới, Như Lai, cũng như tất cả vạn pháp
hiện nay trong đó có thân tâm mình. KHÔNG PHẢI CÓ vì tánh
chúng là không. KHÔNG PHẢI KHÔNG vì đủ duyên thì hiện tướng,
không phải không có, đang lúc còn mê không thể nói không.
Trả
lời PHÁP GIỚI CŨNG VẬY cũng là trả lời cho câu hỏi của
Bồ tát Văn Thù “Do đâu có tâm tâm sở” : Đưa tâm về
chỗ vô trụ thì tâm tâm sở đẳng đồng pháp giới. Được
vậy sẽ hiểu về các thứ tâm tâm sở huyễn hóa kia. Tâm,
tâm sở không phải có, cũng không hoàn toàn không. Thực tướng
của chúng là KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG, tùy duyên mà thấy
có thấy không, không phải chỉ có mặt CÓ như Tôn giả đã
hỏi.
Lúc
ấy, Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng : Bạch Thế Tôn! Như
Diệu Huệ đây thật là hiếm có, mới có thể thành tựu
pháp nhẫn như vậy. Sau một số câu hỏi, ngài Văn Thù
phải gật đầu tán thán đồng nữ Diệu Huệ. Đúng là hàng
thật! Phải là người đầy đủ ý chí, tâm hạnh cao cả
và trí tuệ vượt bực như thế, mới có thể chứng đặng
vô sanh pháp nhẫn. NHẪN chỉ cho vô sanh pháp nhẫn. Không phải
chỉ chứng được nhân không, mà còn chứng được pháp không,
gọi là đắc vô sanh pháp nhẫn.
Phật
đáp : Đúng vậy, đúng vậy! Thật như lời ông nói. Đồng
nữ này, trong quá khứ đã phát bồ đề tâm, trải qua 30 kiếp,
ta mới phát tâm hướng về vô thượng bồ đề. Đồng nữ
ấy cũng đã làm cho ông trụ vô sanh nhẫn.
Văn
Thù Sư Lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ, bạch
với Diệu Huệ rằng : Trong vô lượng kiếp trước, ta đã
từng cúng dường cô. Không ngờ nay lại được gần gũi.
Bấy
giờ Phật mới nói thật tiền thân của đồng nữ Diệu Huệ
cho đại chúng nghe. PHÁT BỒ ĐỀ TÂM là phát tâm tu thành
Phật. Phát tâm như vậy tức là phát tâm trên cầu Phật đạo,
dưới giáo hóa chúng sanh.
Trí
tuệ hiển bày không kể tuổi tác, không kể nam nữ, không
kể xuất gia hay tại gia. Văn Thù Sư Lợi cũng thể hiện được
uy nghi của một vị Đại Bồ tát : Sẵn sàng đảnh lễ trí
tuệ của người dù là một đứa bé con.
Diệu
Huệ nói : Bạch ngài Văn Thù Sư Lợi, xin đừng khởi phân
biệt như vậy. Vì sao? Vì vô phân biệt thì được vô sanh
nhẫn.
ĐỪNG
KHỞI PHÂN BIỆT là chỉ cho hành động không đồng nhất trước
sau của ngài Văn Thù Sư Lợi. Khi thấy được trí tuệ của
đồng nữ và nghe Phật tán thán về tiền thân của nàng,
Văn Thù đã đứng dậy làm lễ. Nếu không phải tâm của
một Đại Bồ tát thì khó mà có được hành động thán phục
tùy hỉ công đức trí tuệ của người khác như vậy. Song
hành động đó cũng nói lên TÂM PHÂN BIỆT của ngài. Bồ
tát Thường Bất Khinh không chỉ đảnh lễ người có tài
đức, mà đảnh lễ tất cả mọi chúng sanh, trước sau không
phân biệt. Cho nên, muốn đến được chỗ tột cùng, phải
thoát cho được những lễ nghi ràng buộc thường tình. Vượt
rồi, mới dùng lại những nghi lễ đó giáo hoá chúng sanh.
VÔ
SANH NHẪN nói đây có thể là vô sanh nhẫn mà cũng có thể
là VÔ SANH PHÁP NHẪN. Vô sanh pháp nhẫn là nói đến cảnh
giới khi tâm chứng được pháp vô ngã. Đối duyên xúc cảnh,
không để trí phân biệt làm chủ, sẽ chứng được
loại vô sanh pháp nhẫn này.
Lại
hỏi : Sao vẫn chưa chuyển đổi thân nữ?
Vấn
đề chuyển nữ thành nam này là do Phật nói trong kinh. Đứng
về mặt nghiệp tập mà nói, do nghiệp “đa đoan” hơn nam,
nên mới có thân nữ. Vì thế, với mặt thể chất người
nữ có nhiều bất lợi trong vấn đề tu hành hơn người nam,
như việc hành kinh trong mỗi tháng, sức khoẻ không bằng người
nam v.v… Công phu tu hành theo đó có hạn chế. Về tinh thần,
người nữ có nhiều tật hơn người nam như sợ ma, sợ chuột,
đố kỵ, nhiều chuyện, đa cảm v.v… là những chướng ngại
khá lớn cho việc tu hành. Do những thứ đó mà sinh ra việc
đổi thân nữ thành thân nam để thành chánh quả. Là dựa
vào nghiệp tập mà nói, không phải do phân biệt mà ra. Đổi
nữ thành nam cũng chính là đổi đi nghiệp chướng của chính
mình. Song thế gian này là thế giới tương đối. Tương đối
thì không có gì tuyệt đối. Phật nói là dựa trên cái đa
số mà nói, không phải là tất cả. Không phải người nữ
nào cũng có tất cả những tật xấu đó, cũng như không phải
người nam nào cũng đầy đủ những mặt tốt kia. Một trong
các nguyên do khiến có sự tương đối ấy vì thân tướng
của một con người ngoài nghiệp tập ra, còn được quyết
định bởi CẬN TỬ NGHIỆP hoặc HẠNH NGUYỆN của chư vị
Bồ tát. Vì thế có người nữ, trí tuệ và công hạnh như
người nam. Có người nam, lại bèo nhèo ủ dột hơn người
nữ v.v…
Theo
kinh Đại thừa, hàng Bồ tát Thập địa có thể tùy nguyện
hóa thân đồng sự, để độ chúng sanh. Như lời nguyện 32
thân của Bồ tát Quán Thế Âm. Cho nên, tuy là thân tướng
người nữ nhưng lại không bị những chướng ngại của người
nữ làm ảnh hưởng đến việc tu hành, vẫn đắc quả, trí
tuệ vẫn hiển lộ, hơn hẳn đấng mày râu. Điển hình như
những vị Bồ tát đang nói trong tập truyện này. Bồ tát
Văn Thù nêu câu này ra là muốn phá đi tâm chấp tướng nam
nữ của chúng hội.
Đáp
: Tướng nữ nhân hoàn toàn không thể nắm bắt, nay chuyển
cái gì? Bạch Văn Thù Sư Lợi, con sẽ vì ngài mà trừ đoạn
nghi hoặc.
Sống
được với tâm thể thì tướng nam nữ chỉ là thứ huyễn
hóa. Sanh như đắp chăn bông, tử như cởi áo hạ. KHÔNG THỂ
NẮM BẮT là muốn nói đến tướng huyễn hóa của thân. Giống
như mặc đồ. Đồ chật làm mình không đi đâu được, còn
đồ rộng thì mình đi lại thoải mái. Vì thế, mình muốn
bỏ áo chật, mặc áo rộng. Còn nếu áo chật bao nhiêu mà
mình có năng lực khiến nó không dính vào người, mình vẫn
tự do tự tại đi lại thoải mái, thì việc đổi áo sẽ
không cần thiết. Tướng nữ đối với Diệu Huệ chỉ là
thứ huyễn hóa, không đáng bận tâm, nên đồng nữ đáp “Tướng
nữ nhân hoàn toàn không thể nắm bắt, nay chuyển cái gì?”.
Nói
CON SẼ VÌ NGÀI MÀ GIẢI TRỪ NGHI HOAËC nhưng thật ra là vì
chúng hội và vì những người còn đang còn chấp tướng nam
nữ. Đây là phá đi cái chấp cho đàn ông ngon hơn đàn bà
về cả phước báu lẫn trí tuệ. Không hẳn có cái mark đàn
ông là đã hơn được đàn bà. Chỉ vì lòng bi rộng lớn
mà giữ lấy thân nữ. Muốn có lòng bi rộng lớn, phải có
trí tuệ rộng lớn. Vì thế, không hẳn vì thiếu trí tuệ
và phước đức mà có thân nữ. Giống như Lục Tổ không
hẳn đã thiếu phước báu mà làm gã tiều phu nghèo nàn. Song
cũng không phải người nữ nào cũng là hóa thân của chư
vị Bồ tát, không phải người nghèo hèn nào cũng đầy đủ
công đức như Lục Tổ. Cho nên, việc của thiền sinh là gì?
PHẢN QUAN TỰ KỶ BỔN PHẬN SỰ. Động tâm hướng ngoại
phê phán, có ngày rước họa vào thân. Vì động là nhân của
quả khổ.
Phần
sau là Diệu Huệ chứng tỏ cho Văn thù và chúng hội thấy
điềm lành, để trừ nghi hoặc về tướng nam nữ.
Do
lời nói của con chân thật như vậy nên ở đời vị lai,
khi được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, trong pháp của
con, chư vị Tỷ kheo vâng mệnh hay đến xuất gia nhập đạo.
Trong quốc độ của con, tất cả chúng sanh đều có thân sắc
vàng, y phục đồ dùng đầy đủ như cõi Đệ Lục Thiên,
đồ ăn thức uống dồi dào sung mãn, tùy niệm hiện ra. Không
có ma sự và các đường ác. Cũng không có tên gọi nữ nhân.
Có rừng bảy báu trên giăng lưới báu. Có sen bảy báu trùm
kín màn báu. Đồng với cõi thanh tịnh trang nghiêm mà Văn
Thù Sư Lợi đã được không khác. Nếu lời của con đây
không hư dối thì hãy khiến cho thân của đại chúng đây
đều được sắc vàng, còn thân nữ của con biến thành thân
nam, như Tỷ kheo Tri Pháp 30 tuổi.
Diệu
Huệ nói lời ấy xong, thân của đại chúng đều có sắc
vàng, thân nữ của Diệu Huệ biến thành thân nam như Tỷ
kheo Tri Pháp 30 tuổi. Lúc ấy chúng Địa Cư Thiên truyền nhau
tán thán : Khéo thay! Khéo thay! Đại Bồ tát Diệu Huệ khi
được bồ đề, công đức Phật độ của người lại trang
nghiêm thanh tịnh đến thế!
Đây
diễn tả cõi Phật của đồng nữ Diệu Huệ ở thời đương
lai, với đầy đủ công đức vi diệu nhiệm mầu. Chỉ cần
nghĩ đến là thức ăn y phục đã hiện ra trước mắt, không
cần phải đi chợ nấu nướng, may vá cực nhọc như mình
hiện nay, gọi là TÙY NIỆM HIỆN RA.
Người
xưa, lời nói và việc làm đi đôi với nhau, nên việc giáo
hóa thành công, lời nói được tín nhiệm. Nói tự tại nơi
thân nữ, nói thân nữ đối với mình chỉ là huyễn hóa,
lập tức có thể chuyển nữ thành nam, không chỉ với mình
mà với tất cả đại chúng.
Sau
đó Phật thọ ký cho đồng nữ Diệu Huệ được thành Phật
hiệu là Thù Thắng Công Đức Bảo Tạng Như Lai. Lúc đó có
vô số chúng sanh được bất thối chuyển nơi bồ đề, chứng
trí, được pháp nhãn thanh tịnh. Phật cũng thọ ký cho vô
lượng Tỷ kheo được thành Phật cùng hiệu là Biện Tài
Trang Nghiêm Như Lai. Và căn dặn Bồ tát Văn Thù Sư Lợi như
sau :
Nầy
Văn Thù Sư Lợi! Pháp môn này có đại oai đức hay khiến
các Đại Bồ tát và chư Thanh văn được đại lợi ích. Nầy
Văn Thù Sư Lợi! Có nam thiện, nữ lành nào, vì cầu bồ đề
mà không có phương tiện thiện xảo, phải hành 6 Ba la mật
mãn một ngàn kiếp, so với người trong nửa tháng biên chép
đọc tụng kinh này, công đức ngàn muôn ức lần toán số
thí dụ không thể sánh được. Cho nên, nầy Văn Thù Sư Lợi!
Pháp môn vi diệu này là Khế kinh căn bản của chư Bồ tát.
Nay ta giao phó cho ông. Ở đời vị lai, ông cần thọ trì,
đọc tụng và vì người giải nói.
Đây
là nói về công đức của người thọ trì đọc tụng kinh
này trong vòng nửa tháng. So với người hành 6 Ba la mật đã
được 1000 kiếp vẫn hơn hẳn, không có gì có thể thí dụ.
Thôi thì, chúng ta hiện nay cũng gắng đọc tụng biên chép
và vì người giải nói như vậy, để đỡ đi 1000 kiếp hành
lục độ Ba la mật. Đỡ được kiếp nào hay kiếp đó.
KHẾ
KINH là loại kinh vừa khế cơ lại vừa khế lý. KHẾ CƠ là
hợp với căn cơ của người đời. KHẾ LÝ là tuy hợp với
căn cơ của người đời mà vẫn không trái với lý pháp tánh.
Tùy duyên mà bất biến. Phải y theo những khế kinh như vậy
mà tu thì mới về lại được với pháp tánh của mình, nên
nói, đây là KHẾ KINH CĂN BẢN CỦA CHƯ BỒ TÁT.
Thí
như Chuyển Luân Thánh Vương xuất hiện ở đời thì bảy
báu đều đủ trước mắt. Vương mất thì báu cũng mất theo.
Cũng vậy, pháp môn vi diệu lưu hành ở đời thì pháp nhãn
Thất bồ đề phần v.v… của chư Như Lai không mất. Nếu
không lưu hành, chánh pháp sẽ diệt. Cho nên, nầy Văn Thù
Sư Lợi! nam thiện nữ lành nào vì cầu bồ đề, cần phải
phát khởi tinh tấn biên chép kinh này, thọ trì đọc tụng,
vì người giải nói. Đây là lời dạy của ta, chớ để đời
sau sanh tâm hối hận.
Đây là lời giáo phó của Phật, không chỉ đối với ngài
Văn Thù Sư Lợi mà đối với tất cả những người phát
tâm tu Phật. PHÁP NHÃN là mắt pháp. Mắt không sáng thì không
thấy đường mà đi, nên thường dùng pháp nhãn để chỉ
cho trí tuệ Phật của mình. Pháp nhãn nói đây là chỉ cho
pháp của Phật. Như kinh Đại thừa đang nói đây, 37 phẩm
trợ đạo v.v… THẤT BỒ ĐỀ PHẦN là chỉ cho 7 giác chi
trong 37 phẩm trợ đạo. Các hạnh này đều thuận tới bồ
đề nên gọi là Bồ đề phần. [6]
SANH TÂM HỐI HẬN vì trân bảo mà không biết quí, không biết
giữ để lưu hành giảng nói cho đời sau.