Hội Ưu
bà di HẰNG HÀ THƯỢNG
Hằng
Hà Thượng là một tín nữ, lúc Phật ở tại thành Xá Vệ
trong vườn Cấp Cô Độc, cô đã đến đảnh lễ đức Phật.
Sau là phần đối đáp giữ cô và đức Phật.
Đức
Thế Tôn hỏi “Tín nữ từ đâu đến?”
Đức
Phật hỏi thăm người mới đến.
Ưu
bà di ấy liền bạch với Phật “Bạch Thế Tôn! Nếu hỏi
hóa nhân ngươi từ đâu đến, hỏi như vậy thì phải đáp
thế nào?”
ƯU
BÀ DI là tín nữ. Chỉ cho người nữ đã thọ tam qui ngũ giới,
có lòng tin thanh tịnh đối với giáo pháp của đức Phật
nhưng chưa xuất gia. HÓA NHÂN là người được biến hóa ra,
không có chất thật.
Tín
nữ này không trả lời “Con từ thành phố Hồ Chí Minh về”
hay “Từ Lâm Đồng xuống” mà hỏi ngược lại đức Phật
“Nếu hỏi hóa nhân ngươi từ đâu đến, hỏi như vậy thì
phải đáp thế nào?”, vì cái thấy của cô không phải như
cái thấy của mình hiện nay. Mình thấy có chỗ nơi, có khoảng
cách, có thời gian v.v… Vì thế thấy có đến đi. Còn cô
không ở trong tình trạng như mình, nên không trả lời như
mình.
-
Nầy tín nữ, là hóa nhân thì không có đến đi, cũng không
có sanh diệt, làm sao nói có chỗ đến đi.
HÓA
NHÂN, khi được phù phép thì hiện, khi không thì mất, không
từ đâu đến cũng không đi về đâu. Nên nói KHÔNG CÓ ĐẾN
ĐI. Thấy có mặt thì gọi là sanh, không có mặt thì gọi
là diệt. Song cái sanh và diệt ấy không có chất thật, nói
KHÔNG CÓ SANH DIỆT.
Phật
trả lời cho Hằng Hà Thượng : Hóa nhân, hô biến thì nó
xuất hiện hoặc mất đi, không có việc đi từ đâu hay đến
từ đâu. Song cái biến ra đó cũng không có chất thật, như
huyễn như hóa.
-
Bạch Thế Tôn! Các pháp há không phải đều như hóa nhân
ư? Các pháp vốn từ tâm lưu xuất, chỉ do mê chân tâm
mà thấy nhà lầu, xe hơi, con người, thế giới v.v… với
mọi thứ sai biệt như hiện nay. Việc này như ngủ rồi mộng,
trong mộng thấy có đi, đứng, với mọi cảnh vật, thật
ra vẫn ở trên giường không có đến đi. Như mộng, nên nói
KHÔNG NHƯ HUYỄN HÓA SAO.
- Đúng
vậy! Đúng vậy! Như lời tín nữ đã nói. Phật xác nhận
điều Hằng Hà Thượng nói.
-
Nếu các pháp đều như hóa nhân, vì sao Thế Tôn còn hỏi
con từ đâu đến?
Mê
thì thấy vạn pháp sai biệt, có đến, có đi. Tỉnh thì biết
mọi thứ như huyễn như hóa, không thể nắm bắt, không có
chỗ nơi. Thân tướng con cũng là một pháp, cũng huyễn hóa
không có chỗ nơi, vì sao còn hỏi con từ đâu đến?
Đây
nói lên cảnh giới tâm thức mà Hằng Hà Thượng đã đạt,
khi đến với đức Phật. Cô đã sống được với tâm chân
thật của mình, nên thân và cảnh như huyễn như hóa.
-
Người huyễn hóa thì không đến đường ác, không sanh lên
trời, không chứng niết bàn, Hằng Hà Thượng, cô cũng vậy
sao?
Sống
được với cái chân thật thì quả tình vạn pháp không có
chỗ nơi, không có đến đi, chỉ như ngủ rồi mộng mà thấy
có cảnh giới, có đến đi, nhưng thật là không có đến
đi. Song có thật là cô đã được vậy chưa? Việc này tương
tự như ngày xưa, chư vị thiền sư dò tâm thiền khách. Câu
đầu nếu học lóm, câu hai sẽ bày đuôi.
-
Bạch Thế Tôn! Nếu con thấy thân khác với huyễn hóa mới
có thể nói đến đường ác, sanh đường thiện và chứng
niết bàn. Con không thấy thân khác huyễn hóa, vì sao lại
nói đến đường ác cho đến chứng niết bàn? Lại nữa,
bạch Thế Tôn! Như tánh niết bàn, rốt ráo không thể sanh
thiện ác đạo cùng bát niết bàn. Con thấy thân con cũng như
vậy.
Con
không thấy có ranh giới giữa thiên đường, địa ngục và
niết bàn, vì sao lại hỏi có đến đi?
Không
thấy có ranh giới vì đã sống được với tâm chân thật.
Sống được với tâm chân thật thì thân tâm thế giới này
đồng huyễn hóa, nên nói KHÔNG THẤY THÂN KHÁC HUYỄN HÓA.
BÁT
NIẾT BÀN là chỉ cho cảnh giới Phật.
TÁNH
NIẾT BÀN là chỉ cho cội nguồn chân thật nhất tâm. Do một
niệm bất giác mà sinh cái thấy hư vọng cùng cảnh giới
hư vọng. Cái thấy mình đang sử dụng để nhận định về
thế giới chung quanh hiện nay, gọi là cái thấy hư vọng.
Cảnh giới hư vọng là thân căn thế giới mình đang sống
đây. Nói hư vọng vì chỉ như ngủ rồi mộng, cảnh giới
không thật. Hư vọng nhưng không biết hư vọng, nên trên cái
hư vọng ấy lại sinh tâm phân biệt, mới xuất hiện hạnh
phúc và khổ đau, sanh tử và niết bàn. Cái sanh tử và niết
bàn đó do mê mà có. Đây là hiện trạng của ta cũng như
chư vị La Hán, Bích Chi và Bồ tát, thấy có sanh tử, có niết
bàn, có tu hành, có thực chứng. Một khi trở lại được
với TÂM THỂ vi diệu kia, tức trí phân biệt hết, thì sanh
tử hay niết bàn đều không. Chỉ là một thể toàn nhất.
Như vậy, mê mới có sanh tử. Có sanh tử mới có niết bàn
và bát niết bàn. Hết mê thì hết sanh tử. Không sanh tử
thì cũng không lập niết bàn và bát niết bàn. Hết mê là
chỉ cho việc thể nhập TÁNH NIẾT BÀN đó.
Thể
nhập được tánh niết bàn, tức đã hết mê. Hết mê thì
thế giới, thân căn cùng với cái thấy hư vọng không còn
xuất hiện. Trường hợp này giống như người ngủ mà thức
dậy, không ngủ thì không còn mộng. Không mộng thì những
thứ thấy trong mộng cũng biến mất. Nên nói “Như tánh niết
bàn rốt ráo, không thể sanh thiện ác đạo cùng bát niết
bàn”.
Trong
kinh Lăng Nghiêm ngài Phú Lâu Na hỏi đức Phật “Nếu Tánh
Diệu Giác này cùng với tâm Như Lai không thêm không bớt,
bỗng nhiên sanh ra núi sông đất liền cùng các tướng hữu
vi. Vậy Đức Như Lai hiện nay đã chứng được tánh diệu
không, đến khi nào lại sanh ra núi sông đất liền và các
tập lậu hữu vi?”.
Phật
trả lời “Thí như người đang mê lầm hướng nam của
một xóm làng cho là hướng Bắc … Người mê kia chính khi
họ đang mê, có người chỉ cho họ được ngộ. Phú Lâu Na,
ý ông nghĩ sao? Người ấy đối với xóm làng kia còn sanh
mê nữa chăng?”. Ngài Phú Lâu Na trả lời “Bạch
Thế Tôn không vậy”.
Phật
nói “Cũng như người bị bệnh mắt, thấy hoa đốm trong
hư không, mắt bệnh nếu lành, hoa đốm trong hư không cũng
diệt. Bỗng có người ngu đối với chỗ hoa đốm diệt đó
mà đợi cho hoa đốm sanh lại. Ông xét người ấy ngu hay là
trí?”.
Tương
tự, do mê mà thấy có sanh tử, niết bàn và bát niết bàn.
Khi thể nhập được tánh niết bàn, tức hết mê thì không
còn sanh trở lại mấy thứ đó nữa, nên nói “Tánh niết
bàn rốt ráo không thể sanh thiện ác đạo cùng bát niết
bàn”. KHÔNG THỂ, là chỉ cho việc làm sao còn sanh lại
mấy thứ đó khi đã thể nhập được tánh thể ấy, tức
đã hết mê.
-
Cô không đang hướng đến niết bàn giới sao? Đức
Phật hỏi tiếp : Không phải là cô đang tu để được niết
bàn Phật đó sao? Đã có chỗ hướng về tức đã có đến
đi.
- Nếu
đem lời hỏi này hỏi chỗ vô sanh thì nên đáp thế nào?
Hằng
Hà Thượng không trả lời trực tiếp câu hỏi của đức
Phật mà hỏi ngược lại : Hỏi chỗ vô sanh thì nên trả
lời thế nào? Tuy là câu hỏi, nhưng thật là đang trả lời
câu hỏi của đức Phật : Con đã được vô sanh thưa đức
Phật.
- Vô
sanh là niết bàn.
Đức
Phật không trả lời câu hỏi của Hằng Hà Thượng mà trả
lời vô sanh là niết bàn. Vì đức Phật chưa hài lòng liền
với câu kiến giải ấy. Vì dù chứng được tâm vô sanh,
vẫn còn ngõ ngách để nghi ngại.
VÔ
SANH tuy đều là niết bàn của người tu, nhưng vô sanh của
Nhị thừa không phải là vô sanh của Đại thừa. Vô sanh của
Nhị thừa là không còn sanh trong tam giới. Chư vị an trú trong
niết bàn tịch tĩnh, không làm lợi ích chúng sanh. Đó là
do chưa nhận ra được thực tướng của vạn pháp. VÔ SANH
của Đại thừa là SANH MÀ VÔ SANH. Tuy vẫn sanh mà hằng sống
với cái vô sanh. Chính nhờ SANH MÀ VÔ SANH nên Bồ tát tuy
cư trần, vẫn không nhiễm bụi trần, vẫn làm lợi ích cho
chúng sanh. Chứng được niết bàn đó, chính là nhận ra được
thực tướng của vạn pháp : Ta với tất cả, tuy có sai khác
mà thật là đồng cội đồng nguồn. Ngay sanh tử tức niết
bàn. Như Trung Luận nói “Sanh tử và niết bàn, không hào
ly sai biệt”. Thể nhập thực tướng của vạn pháp chính
là đắc niết bàn. Đây là lý do vì sao nói niết bàn của
La Hán là hóa thành chưa phải bảo sở. Cũng là chỗ để
Phật chưa thể gật đầu với câu trả lời của Hằng Hà
Thượng. Đại khái là, ngươi được vô sanh, nhưng liệu có
phải là vô sanh của Đại thừa không, hay lại rơi vào vô
sanh của Tiểu thừa?
- Các
pháp không phải đều đồng niết bàn sao? Con được vô
sanh, không phải chỉ mình con vô sanh, mà tất cả pháp cũng
vô sanh. ĐỒNG NIẾT BÀN là chỉ cho việc đồng vô sanh. Con
không rơi vào Nhân vô sanh của Nhị thừa, mà là nhận ra được
cội nguồn chân thật của tất cả pháp, thấy tất cả đều
từ tâm lưu xuất. Vì thế con thấy con vô sanh cũng là lúc
vạn pháp đồng vô sanh. Vô sanh, là sanh mà không sanh, không
sanh mà sanh. Không phải là vô sanh của hàng Nhị thừa.
-
Đúng vậy! Đúng vậy!
Phật
gật đầu xác nhận.
Vào
trình kiến giải với Tổ Thầy, mà thấy Tổ Thầy phát ra
một câu không dính gì đến câu trình của mình, hoặc gật
đầu xác nhận mà nói “Về y đó mà tu” thì phải hiểu,
cái thấy của mình chưa dính dáng, hoặc có dính dáng thì
cũng chưa bao nhiêu. Bởi nếu là chính nó, thì chư vị chắc
cũng nói như Phật : Đúng vậy! Thành không nên tự mãn mà
phải cố gắng …
- Bạch
Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đồng niết bàn, sao Thế Tôn
còn hỏi “Cô không thú hướng niết bàn giới sao?”.
Để
Phật tự xác minh rõ ràng mọi thứ rồi, Hằng Hà Thượng
mới trả lời câu hỏi của Phật : Tất cả đang trong niết
bàn, sao còn hỏi con hướng đến?
- Lại
nữa, bạch Thế Tôn! Thí như hóa nhân nói với hóa nhân “Ngươi
không thú hướng niết bàn giới sao?”, với câu hỏi đó
hóa nhân kia nên trả lời thế nào?
Đây
đặt vấn đề hóa nhân hỏi hóa nhân. Nếu cái bóng này hỏi
cái bóng kia “Ngươi không hướng đến niết bàn giới
sao” thì con phải trả lời thế nào cho phải, thưa đức
Phật?
- Cái
hỏi đó không có phan duyên.
PHAN
DUYÊN là vin vào một cái gì đó, duyên với cái đó mà sinh
ra. Như mắt thấy sắc khởi lên sự vui mừng, là mắt phan
duyên với sắc. Vì thế, nói đến phan duyên là nói đến
thức tình. Nhìn pháp theo cái nhìn của thức tình thì thấy
thứ gì cũng thật. Vì thấy thật mới có phan duyên. Không
phải là người tỉnh với cái nhìn của trí tuệ. Nếu thật
người huyễn hỏi kẻ huyễn thì kẻ huyễn không có dính
mắc. Nếu thật là kẻ đã giác ngộ thì đi, đứng, nằm,
ngồi, hỏi han đều không dính mắc.
-
Như Lai có vì chút phan duyên nào mà đưa đến câu hỏi đó
không?
Còn
Như Lai thì sao? Không do phan duyên mà hỏi hay là do động tâm
mà hỏi?
-
Ta hỏi cũng không có phan duyên. Chỉ vì trong chúng hội đây,
có nam thiện nữ lành đáng được thành thục, nên mới có
câu hỏi đó. Vì sao? Vì Như Lai đối với pháp đó, danh tự
còn bất khả đắc, sao có các pháp cùng kẻ hướng đến
bát niết bàn?
Ta
hỏi cô cũng như người huyễn hỏi kẻ huyễn kia, không có
phan duyên. Chỉ vì trong pháp hội này có hạng đủ căn khí
để lãnh hội những điều nói đây, nên ta mượn những điều
hỏi đó để họ được sáng tỏ cho chính họ. Với ta, không
có gì để sở đắc, sao có thể phan duyên? Ngay cả cái tên
pháp và niết bàn còn không có, huống là những thứ ấy.
BẤT
KHẢ ĐẮC là không thể được, không thể nắm bắt. Như
hư không hoặc như giấc mộng, mình không thể nắm bắt được
chúng. Giấc mộng còn hiện diện trong mình, chẳng qua vì mình
còn lưu nó trong tâm thức, không phải nó thực hiện diện
trong thực tế để có thể nắm bắt. Đó là ý nghĩa của
từ BẤT KHẢ ĐẮC.
-
Nếu vậy, sao lại vì bồ đề mà tích tập thiện căn, khi
chư Bồ tát và thiện căn của họ đều bất khả đắc?
NẾU
VẬY, là nếu không có gì để sở đắc. Nếu không có gì
để sở đắc thì tích tập thiện căn làm gì? Hằng Hà Thượng
đặt vấn đề, để đại chúng hiểu hơn về việc tu hành.
Đây là dùng SỰ để rõ LÝ. Để thấy mối liên hệ khắn
khích giữa lý thuyết và thực hành. Đứng trên mặt lý luận,
đây là dùng SỰ để bẽ LÝ, lấy VIỆC THỰC bẽ LÝ THUYẾT.
-
Nầy tín nữ! Khi tích tập, vô tâm. Khi không tích tập cũng
như vậy.
Tuy
tích tập mà vô tâm. Khi không tích tập cũng như vậy. Phần
này được kinh giải thích rõ ở các đoạn sau. TÍCH TẬP
là chỉ cho việc gom góp. Từ việc tu hành cho đến việc làm
lợi ích cho mọi người, gom hết các thứ đó lại, gọi là
tích tập. Nó tương đương với từ BÒN CÔNG ĐỨC mình hay
sử dụng hiện nay.
-
Vô tâm là muốn nói nghĩa gì?
Hỏi
về nghĩa vô tâm.
-
Pháp đó không phải là chỗ mà suy nghĩ có thể biết được,
cũng không phải là chỗ mà suy nghĩ có thể đến được.
Vì sao? Vì chỗ đó, tâm còn bất khả đắc huống là tâm
sở sanh pháp. Vì tâm bất khả đắc nên gọi tên là “Cảnh
giới không thể nghĩ bàn”. Cảnh giới không thể nghĩ bàn
ấy không đắc, không chứng, không nhiễm, không tịnh. Vì
sao? Vì Như Lai thường nói tất cả pháp như hư không, không
có chướng ngại.
TÂM
là chỉ cho tâm vương. TÂM SỞ SANH PHÁP là chỉ cho những
pháp thuộc tâm sở. Chỗ đó, tâm còn không thể nắm bắt,
huống là những thứ như phân biệt, vui, buồn, nhớ, nghĩ
v.v… thuộc tâm sở sanh pháp. Nên nói “Tâm còn bất khả
đắc huống là tâm sở sanh pháp”.
Chỗ
vô tâm đó không thể dùng lời nói mà nói được, cũng không
thể dùng tâm sanh diệt đây suy lường được. Cảnh giới
chứng nào còn rơi vào năng sở, dù là loại năng sở chưa
phân hai, cũng chưa phải nó. Vì thế, nó được mệnh danh
là CẢNH GIỚI KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN. Đã không thể nghĩ bàn
thì chỉ khi bặt ngôn thuyết và sự suy lường tìm tòi của
tâm thức, mình mới tương ưng được với nó. Đây, Phật
mượn hư không để nói về cảnh giới đó. Không phải không
có mà chỉ như hư không, không hình tướng, không chỗ nơi.
KHÔNG ĐẮC, KHÔNG CHỨNG vì nó vốn sẵn. KHÔNG TỊNH, KHÔNG
NHIỄM vì nó không phải là đối tượng của trí phân biệt.
-
Nếu tất cả pháp như hư không, vì sao Thế Tôn nói có sắc,
thọ, tưởng, hành, thức cùng các giới, xứ và Thập nhị
nhân duyên, hữu lậu cùng vô lậu? Rồi còn nhiễm, tịnh,
sanh tử cùng niết bàn?
Dựa
vào câu trả lời của đức Phật, Hằng Hà Thượng hỏi tiếp
: Vạn pháp nếu như hư không, vì sao trước đây Thế Tôn
lại nói có sắc, thọ, tưởng, hành, thức v.v… Có lẽ cũng
là chỗ thắc mắc của nhiều người. Nêu ra, là để phá
chỗ chấp pháp của hàng Nhị thừa.
-
Thí như nói ta, tuy có ngôn thuyết mà thật không tướng ta
có thể được. Ta nói các sắc, thật cũng không có sắc tướng
có thể được. Cho đến niết bàn cũng lại như vậy. Chỉ
như dương diệm, không nước có thể được. Ta nói các sắc
cho đến niết bàn cũng lại như vậy.
Nói
nhiều, nhưng tất cả không có thứ nào có tánh. Tuy có hình
có tướng nhưng không thứ nào có chất thật, chỉ do mê mà
hiện ra mọi cảnh giới. Đây lấy chính cái TA của đức
Phật ra để giải thích. Tuy đức Phật nói ta, nhưng không
hề có một cái ta nào để có thể nắm bắt. Những thứ
khác cũng như vậy. Tuy thấy nhà lầu, xe hơi, chùa chiền,
con người, nhưng không thứ nào có chất thật. DƯƠNG DIỆM
là điển tích con hươu khát nước, thấy ráng nắng mà tưởng
là nước. Nước vốn không có. Sắc, thọ, tưởng v.v… cũng
vậy, đều do mê mà sanh khởi, vốn không có tánh thật. Hết
mê thì nhận ra được thực tánh không của chúng, nên nói
NHƯ HƯ KHÔNG.
Nầy
Hằng Hà Thượng! Với pháp của ta, người tu phạm hạnh thấy
các pháp đều không sở đắc, mới có thể gọi là chân tu
phạm hạnh. Kẻ tăng thượng mạn nói có sở đắc, nên không
gọi là an trụ chân phạm hạnh. Ta nói như vầy, kẻ tăng
thượng mạn nghe thâm pháp này sẽ sinh nghi hãi, không thể
thoát khỏi sanh lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ não.
TĂNG
THƯỢNG MẠN là chỉ cho những kẻ coi trời bằng vung, chỉ
thấy có mình là đúng. Đây là lời dạy của đức Phật
đối với người tu : Từ việc phước thiện cho đến việc
tu hành, mọi thứ đều là phương tiện. Gọi là phương tiện,
vì do mình bị cái tật đó thành phải dùng pháp đó trị
cho hết cái tật đó. Tật hết rồi thì pháp cũng bỏ. Như
muốn đi Long Thành thì phải dùng xe hơi để đi. Xe hơi là
phương tiện giúp mình đến Long Thành, không phải xe hơi là
Long Thành. Tăng thượng mạn là chỉ cho những vị vừa lên
xe, lại tưởng xe chính là chỗ đến. Tưởng như thế nên
ngồi luôn trên đó, không chịu xuống cũng không đi tiếp.
Vì thế, trong việc tu hành, không thể chấp giữ bất cứ
thứ gì, dù đó là pháp Tiểu thừa, Đại thừa hay Nhất thừa.
Chưa đến nơi thì phải nương pháp mà đến. Nhưng không nên
lầm pháp môn với cứu kính, lầm hóa thành với bảo sở.
Lầm thì như kẻ ngồi xe đi Long Thành mà tưởng xe là Long
Thành.
Cái
lầm này có rất nhiều dạng : Kinh luận là phương tiện để
giúp mình tu hành. Tu hành là để giúp mình nhận ra trí tuệ
chân thật của chính mình. Nhưng học kinh học luận rồi lấy
những thứ trong kinh luận đó làm kiến giải của mình. Đi
đâu cũng ôm khư khư chừng đó làm sự nghiệp, không thiền
định, không buông bỏ, cũng không có ý chí tiến thủ, tức
đang tưởng xe là Long Thành. Là lấy phương tiện làm cứu
kính.
Tu
hành thì tùy năng lực của mình mà người tụng kinh, người
công quả, người thiền định, người giáo hóa v.v… Cứ
tùy lực mà làm. Sức mình tới đâu mình làm tới đó. Thứ
gì chưa đủ thì để đó tính sau. Nhưng dù làm bất cứ gì
cũng phải nhớ, tất cả chỉ là phương tiện, chưa phải
là chỗ cuối cùng. Bởi việc cuối cùng của người tu là
phải làm sao phát huy lại trí Phật của chính mình và giáo
hóa chúng sanh không nhàm mõi. Quên mất chỗ cuối cùng đó
mà lấy những thứ tụng kinh, công quả v.v… hiện đời cho
là rốt ráo, là mình đang ngồi xe mà tưởng đến Long Thành.
Thứ gì là tưởng, thứ đó có lỗi.
THÂM
PHÁP là chỉ cho pháp không có sở đắc. Người đang muốn
có cái gì để sở đắc, mà giờ nghe không có gì để được
thì đâm hoảng, đó gọi là HÃI. Trước Phật nói có niết
bàn để được, giờ lại nói không có gì để được. Thụt
lui thụt tới như thế, không khỏi khiến mình nghi ngại. Ông
nội có gì không ổn đây, thành lúc nói thế này lúc nói
thế kia. Nghi Phật, nghi pháp đều thuộc về NGHI. Hai thứ
HÃI và NGHI đó cộng lại, nên nói SINH NGHI HÃI.
Vì
không sở đắc nên trên nói TÍCH TẬP MÀ VÔ TÂM. Ngay khi tích
tập đó, vô tâm! Không có phần tích tập công đức thì rơi
vào ngoan không, không xóa bỏ được bản ngã thâm căn
cố đế của người tu. Không có SỰ để tương ưng với
LÝ. Nhưng nếu thấy thật có tích tập thì rơi vào sở đắc,
thành kẻ tăng thường mạn. Vì thế, ngay tích tập đó mà
vô tâm. Đó là chân tu phạm hạnh, là người có đức hạnh
chân thật. Vì sao gọi là chân thật? Vì thuận với cái không
sở đắc của pháp tánh chân như.
Hằng
Hà Thượng! Sau khi ta diệt độ, có người sẽ tuyên thuyết
về pháp dứt lưu chuyển thậm thâm này. Kẻ ngu si vì ác kiến
nên đối với pháp sư đó sanh tâm não hại. Do nhân duyên
đó mà đọa các địa ngục.
DIỆT
ĐỘ là nhập niết bàn, nói đơn giản là chết.
DỨT
LƯU CHUYỂN là không còn lưu chuyển. Ngoài pháp tánh chân như,
mọi thứ đều sanh diệt lưu chuyển. Nên PHÁP DỨT LƯU CHUYỂN
dùng để chỉ cho pháp tánh chân như, Phật tánh, pháp tánh,
Như Lai, Vô sanh v.v… Có đến hàng ngàn tên [1] để chỉ cho
pháp dứt lưu chuyển. Chính là cảnh giới không thể nghĩ
bàn đã nói trên. Pháp đó là cội nguồn tối cùng của vạn
pháp, nên nói THẬM THÂM.
TUYÊN
THUYẾT là tuyên nói, giảng thuyết. Như hiện nay pháp sư nào
nhắc cho mình nhớ mình có Phật tánh, chân như, chân tâm v.v…
Pháp sư ấy đang tuyên thuyết pháp dứt lưu chuyển nói đây.
ÁC
KIẾN là chỉ cho những suy nghĩ hay cái thấy không đúng với
qui luật đang chi phối thế gian này. Pháp dứt lưu chuyển
thuận với thiện tâm và thiện sự. Nên nó nghịch với ác
kiến và ác nhân. Chính vì thế, đối với pháp sư giảng
nói về pháp dứt lưu chuyển, những kẻ có ác kiến sẽ sinh
tâm thù nghịch đối đầu. NÃO HẠI có nhiều cách : Chê bai,
nói xấu, tìm cách hãm hại, hoặc phá rối không cho giảng
thuyết v.v…
CÁC
ĐỊA NGỤC vì địa ngục không phải chỉ có một mà nhiều
vô số. Muốn biết thì lật kinh Địa Tạng ra. Có vô số
loại địa ngục với đầy đủ tên gọi …
Những
gì mình thấy trong hiện tại đều do mê mà có. Do mê nên
cái thấy đó không phải là cái thấy đúng đắn. Muốn thấy
đúng thì phải có trí tuệ. Muốn có trí tuệ, tâm phải lắng
động thanh tịnh, không chạy theo tham dục, sân nhuế v.v…
Song thân tâm mình lại chất đầy tham dục sân nhuế và quan
niệm, nên không thấu hết được những gì kinh nói. Như con
nít lớp bốn, không thể hiểu nỗi toán lớp sáu. Vì thế
những gì kinh nói mà trí mình chưa thấu được thì để đó
suy gẫm, không nên phỉ báng. Phỉ báng tức là mình đang xa
rời chân lý. Chân lý thì thuần thiện. Rời càng xa chân lý
thì càng nghịch với thiện. Đó là nhân duyên để đọa địa
ngục. Nói não hại pháp sư mà đọa địa ngục là vì lý
do đó. Ngoài ra với người giảng pháp thậm thâm, công đức
của người đó rất lớn. Làm hại người có công đức,
tự hành động đó đã có quả báo đọa địa ngục.
Thành
thứ gì vượt quá tâm thức của mình mà mình chưa thấu được
thì có quyền nghi. Nghi để tu mà dứt cái nghi đó. Nhưng không
đủ trình độ để hiểu, hay do lòng đố kỵ mà phỉ báng,
thì không tránh khỏi báo xấu. Đây Phật nói đọa địa ngục.
Có thể có người không tin có địa ngục. Nhưng không cần
địa ngục xuất hiện, mình mới thấy có địa ngục. Ngay
thân mình đây, chỉ cần lỡ loét đau đớn một chỗ nào
đó, nếu không có định lực bình thản được với nó, là
đủ để mình cảm nhận địa ngục thế nào. Chuyện đó
không khó xảy ra với thời đại hóa chất ô nhiễm như ngày
nay. Vì thế, cần quãn ý niệm và miệng lưỡi của mình cho
kỹ là vậy.
-
Bạch Thế Tôn! Như pháp dứt lưu chuyển mà Thế Tôn nói đó,
vì nghĩa gì mà gọi là dứt lưu chuyển? Hỏi về pháp dứt
lưu chuyển.
-
Dứt lưu chuyển là cảnh giới thật tế không thể nghĩ bàn.
Pháp này không thể xuyên thủng phá hoại, nên gọi là pháp
dứt lưu chuyển.
THẬT
TẾ là bờ mé chân thật, chỉ cho cội nguồn mà từ đó có
thân, tâm, thế giới hiện nay. Tuy nói cội nguồn, nhưng không
có hình tướng, bờ mé, giới hạn. Chỉ là nhất chân pháp
giới. Vì là pháp không lưu chuyển nên nó không có hình tướng,
không bị chi phối bởi không gian và thời gian, nên nói KHÔNG
THỂ XUYÊN THỦNG PHÁ HOẠI. Đây là một dạng định nghĩa
khác về pháp dứt lưu chuyển, là chỉ cho pháp tánh chân như
Phật tánh của chúng ta.
Bấy
giờ, đức Phật vui vẻ mỉm cười, từ diện môn phóng ra
đủ thứ quang minh xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía, pha lê,
chiếu khắp vô lượng quốc độ lên đến Phạm thế, rồi
nhập lại vào đảnh Như Lai. DIỆN MÔN, trong Hoa Nghiêm Thám
Huyền Ký, ngài Hiền Thủ giải thích “Giải thích từ tiếng
Phạn ra, Diện môn chỉ chung cho cả mặt lẫn miệng”. A Nan
thấy việc ấy, tự nghĩ “Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác,
không thể không có nhân duyên mà mỉm cười”. Suy nghĩ xong,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên phải, quì
gối phải xuống đất, chấp tay hướng về Phật thưa rằng
“Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà Thế Tôn mỉm cười?”.
Phật nói “Ta nhớ xưa kia, cũng tại nơi này, có ngàn Như
Lai thuyết pháp như vậy. Ở trong các chúng hội đó, mỗi
mỗi đều có tín nữ Hằng Hà Thượng làm thượng thủ. Tín
nữ cùng với đại chúng nghe pháp này xong liền xuất gia.
Nơi Niết bàn vô dư mà được diệt độ”.
Là
thế giới Duyên khởi nên không có gì xuất hiện mà không
theo qui luật có nhân, đủ duyên mới có quả, không gì tự
nhiên mà có, tự nhiên mà mất. Vì thế A Nan nói “Như Lai
Ứng Chánh Đẳng Giác, không thể không có nhân duyên mà mỉm
cười như vậy”. Đó là nhân duyên gì? Là nhớ lại tiền
kiếp của Hằng Hà Thượng. Hằng Hà Thượng ngày nay có được
trí tuệ và phong cách như vậy, vì cô đã tu tập nhiều đời
trong quá khứ, từng làm thượng thủ của chúng Đại Bồ
tát trong hàng ngàn kiếp trước. Cô đã từng xuất gia, từng
nhập niết bàn vô dư. Vì thế kiếp này, dưới màu áo tín
nữ bình thường, trí tuệ của cô vẫn sáng ngời vượt bực.
Cô đã đối đáp với đức Phật về cội nguồn tối cùng
của vạn pháp không chút chướng ngại sợ hãi.
Cho
nên, không nên có cái nhìn phân biệt giữa nam và nữ. Không
chừng họ cũng đã từng làm thượng thủ trong những pháp
hội nào đó. Bản thân người nữ cũng không nên mặc cảm
“Người nữ thì không thể có trí tuệ và công hạnh như
người nam”. Phái nào cũng có chỗ mạnh chỗ yếu của nó.
Không kiêu ngạo thách thức nhưng phải có niềm tin vững chắc
với chính mình. Có niềm tin, có tu tập sẽ có trí tuệ. Thiền
sư Đạo Nguyên nói “Không ai không là pháp khí của Phật.
Có tu tập sẽ có trực chứng”.
Cuộc
đối thoại của Phật và cư sĩ Hằng Hà Thượng đến đây
chấm dứt.
Trước
khi pháp hội chấm dứt, A Nan hỏi “Tên kinh là gì? Chúng
con làm sao thọ trì?” . Phật trả lời “Kinh này tên Vô
Cấu Thanh Tịnh. Nên theo tên kinh mà thọ trì”. Lúc đó, có
700 Tỷ kheo và 400 Tỷ kheo ni tâm được giải thoát. Còn chư
Thiên thì đem hoa trời cúng Phật, rồi cùng tán thán Hằng
Hà Thượng rằng “Tín nữ này thật hiếm có! Có thể cùng
đức Như Lai đối đáp không hề sợ hãi. Người này đã
từng thân cận cúng dường vô lượng chư Phật, gieo trồng
các thiện căn”. Rồi mọi người vui vẻ y theo những gì
Phật đã dạy mà tin nhận phụng hành.
Nghe
pháp rồi, về phải nhớ thực hành. Không phải nghe pháp xong
rồi bỏ đó cho ruồi bu kiến đậu. Nghe pháp như vậy, lợi
ích không được bao nhiêu. Mình sẽ không hết khổ. Nghe như
vậy một thời gian rồi cũng chán. Vả lại, không có sự
tu tập, không thể bước vào pháp thậm thâm của Như Lai.
Chỗ thậm thâm đó mới là phần tinh túy tuyệt diệu của
đạo Phật. Không ăn được phần tuyệt diệu đó, không cách
gì thấy được cái hay của đạo Phật. Niềm tin của mình
sẽ lụi tàn mau chóng.
VÔ
CẤU là không nhơ. Không bị bụi trần làm chao đảo động
tâm, chính là vô cấu. Tâm không chao đảo thì sáng trong yên
lắng, nên nói THANH TỊNH. Lấy 4 chữ VÔ CẤU THANH TỊNH này
làm chỗ tu hành, sẽ có trí tuệ và biện tài vô ngại như
tín nữ Hằng Hà Thượng.