VI.
KHAI THỊ NGỘ NHẬP ĐƯỢC DUYÊN TỐT
TRUYỀN
TRAO ẤN CHỨNG
ĐOẠN
1
Một
hôm Sư dạy chúng:
-
Từ khi ta lên trụ chùa Nguyệt Đường, lập Thiền Tịnh Viện
thì đệ tử ở khắp nơi theo về đông đảo để học đạo
quy y, thảy đều ghi tên tất cả để rõ dấu tích.
Chỗ
Ngài lập đề Thiền Tịnh Viện là viện tu Thiền và tu Tịnh.
Tại sao vậy? Bởi vì thời đó hệ thiền yếu đi, các thời
vua Lê trước trọng Nho khinh Phật, cho nên đường lối của
các vị Thiền sư truyền bá không được thông dụng. Thiền
gần với giới trí thức hơn, không hợp với giới bình dân.
Do đó các ngài sau này dạy Tịnh nhiều. Đến đời của Ngài
thiền được khôi phục lại nhưng chưa hoàn bị, vì vậy
phải dung hợp cả thiền cả tịnh gọi là Thiền Tịnh Viện.
Trong
đó đệ tử thượng túc là Hòa thượng Viên Thông tự Chân
Lý Hiển Mật.
Người
tôn túc nhất để được kế thừa Ngài là Thiền sư Viên
Thông tự là Chân Lý Hiển Mật.
Kế
là các vị: Chân Tạng Mật Hạnh, Chân Chiếu Hoa Mỹ, Chân
Tông Quản Trí, Chân Quy Phổ Ứng, Chân Truyền Quang Tán, Chân
Tịch Khổ Hạnh, Chân Thành Bồ Đề, Chân Thường, Chân Cảnh,
Chân Thước, Chân Ýù, Chân Thị, Chân Thuần, Chân Đẳng,
Chân Bình, Chân Pháp, Chân Quản, Chân Trí, Chân Bảo, Chân
Thường, Chân Đông, Chân Dung, Chân Quả, Chân Viên, Chân Kinh,
Chân Tĩnh, Chân Quang. Hàng chữ “Chân” này được bảy mươi
vị, trên đây là tạm ghi những vị lớn tiếp nối truyền
đăng.
Sau
đây là hàng cháu thuộc chữ “Như”:
Thứ
nhất là người tiếp nối hương hỏa, Tăng Lục Ty Hòa thượng
Tăng thống Chánh Tông tự Như Nguyệt hiệu Hoa Quang (trụ trì
chùa).
Kế
là Sơn tăng Như Tông, Tăng phó Như Túc, Như Khoản, Tăng phó
Như Nhật, Nội đàn Như Đài, Như Bảo, Tăng chánh Như Sơn,
Tăng phó Như Thừa, Như Công, Tăng phó Như Thuyên, Hữu công
Như Hiền, Như Nhẫn, Tăng thống Như Toàn, Hữu công Như Biện,
Như Đề, Tăng chánh Như Viên, Như Kiên, Như Lưu, Như Mật,
Tăng phó Như Cảnh, Như Hải, Như Khanh, Như Nghiệm… Khoảng
hai trăm vị, trên đây chỉ tạm ghi hai mươi bốn vị hoặc
có công với chùa, hoặc có sắc mệnh.
Kế
là hàng cháu chắt thuộc chữ “Tánh”.
Thứ
nhất là Chánh Phái Phụng Thị Nội đàn Tăng thống tự Tánh
Thanh, Nội đàn Kiến Liễn, Tánh Kế, Đạm hạnh Tánh Khả,
Nội đàn Tánh Châu, Tánh Duệ, Tánh Thước, Tánh Tường, Tánh
Mẫn, Tánh Nhu, Tánh Định, Tánh Bạch, Tánh Anh, Tánh Trác,
Tánh Đức, Tánh Trí, Tánh Lãng, Tánh Tiếp, Tánh Phụng, Tăng
phó Tánh Xán, Tánh Tuyên, Tăng chánh Tánh Hoàn, Tánh Không…
Hàng
chữ “Hải” gồm có:
Tăng
phó Hải Bồi, Hải Triều, Hải Thường, Hải Nhã, Hải Đồng,
Hải Diên, Hải Lịch, Hải Khoát, Hải Liêm, Hải Trung…
Ni
cô xuất gia từ nhỏ, giới hạnh tinh nghiêm khoảng ba mươi
vị. Cư sĩ nam nữ cả ngàn muôn vị đều quy hướng theo Sư.
Đó
là kể những người thừa kế.
Bây
giờ đến những bài kệ Ngài thường đọc, thường ghi ở
trên vách. Những bài kệ này có khi Ngài hứng Ngài sáng tác,
có khi Ngài đọc lại những bài kệ của Thiền sư Trung Hoa.
Sư
thường đọc lại những bài kệ để dạy chúng:
Kệ
ngộ liễu
Bài
1
Giác
không không giác, không không giác,
Giác
dĩ không không không bất không.
Dục
thức vô cùng hảo tiêu tức,
Đô
lô chỉ tại thử hiên trung.
Dịch:
Giác
không, không giác, không không giác,
Giác
đã không không, không chẳng không.
Muốn
biết vô cùng tin tức tốt,
Thảy
đều chỉ ở trong hiên này.
Giác
không, không giác, không không giác. Giác
không là giác làm sao? Người tu thiền chặng đầu thì phải
giác ngộ tất cả pháp tánh là không, thấy tất cả các pháp
tự tánh là không gọi là giác không. Không giác là sao? Là
không cái giác, vì còn biết các pháp tánh không thì cái biết
đó chỉ là cái dụng của giác chớ không phải thể, cái
dụng của giác đó cũng phải lặng nữa, cho nên là không
giác. Giác được cái không rồi dẹp luôn cả cái giác đó
là không giác. Không không giác là sao? Là đã không cái giác
không rồi, thì cái không giác này cũng phải dẹp luôn. Ngày
nay chúng ta quán các pháp nhân duyên sanh tự tánh là không,
cái quán đó chưa phải là trí tuệ chân thực. Nó chỉ là
dụng của trí quán sát, là tướng sanh diệt vì quán là tướng
sanh diệt. Cho nên đầu tiên bước vào đạo, bước vào cửa
thiền, phải dùng trí sanh diệt để quán sát tất cả các
pháp. Quán các pháp không tự tánh là giác không, giống như
câu nói của một Thiền sư: “Ba mươi năm trước khi chưa
tu, thấy núi sông là núi sông. Sau khi tu gặp thiện tri thức
chỉ dạy thấy núi sông không phải là núi sông”. Đó là
giác không. “Rồi sau ba mươi năm thấy núi sông trở lại
là núi sông” tức là không cái giác đó nữa, không còn quán
không nữa. Khi chúng ta chưa biết tu thấy cái gì cũng thậät
hết, nhà cửa thật, cây cảnh thật, chùa chiền thật, cái
gì cũng thật, cho nên thấy núi sông là núi sông. Bây giờ
được Thầy được bạn chỉ cho biết, người tu phải quán
các pháp là duyên hợp không có tự tánh, là tánh không. Vì
vậy mà thấy các pháp không có tự tánh, là không. Đó là
bước đầu giác không. Như vậy giác không cho tới ba mươi
năm sau, phải bỏ luôn cái giác không đó nữa, tức là cái
giác đó cũng trở thành không, đó là không giác. Bỏ luôn
cái không giác này thì trí quán lặng là không không giác.
Giác
đã không không, không chẳng không. Cái giác đầu và cái giác
kế đã không rồi, nhưng nó không mà chẳng không, nó vẫn
hiện tiền cho nên không chẳng không. Chừng đó mới thấy
núi sông là núi sông tức không giác. Nhưng không phải tới
đó không còn gì hết. Tuy không giác mà liễu liễu thường
tri.
Muốn
biết vô cùng tin tức tốt, Thảy đều chỉ ở trong hiêân
này. Muốn biết được tin tức
tốt, tin tức quí vô cùng đó thì tại nơi đây thôi, hiện
tiền ngay chỗ chúng ta đứng chớ không có đâu khác. Như
vậy, cuối cùng chúng ta phải đi tới chỗ hiện tiền thấy
các pháp như như.
Tóm
lại, chặng thứ nhất bước chân vào đạo thì phải dùng
trí quán các pháp duyên hợp như huyễn hay là tánh không, vì
vậy nói gặp thiện hữu tri thức chỉ
dạy thấy núi sông không phải núi sông. Chặng thứ hai, trí
quán chiếu đó cũng phải lặng luôn cho nên gọi là
không giác, không giác tức là không còn quán chiếu nữa. Chặng
thứ ba là thấy núi sông là núi sông, tức là mọi sự mọi
vật đều từ tâm hiện tiền của mình hằng tri hằng giác
mà không có khởi chiếu soi, khởi quán sát. Đó là tâm hiện
tiền, mà tâm hiện tiền thì cảnh cũng như như, cho nên núi
sông trở lại là núi sông. Đó là bài kệ rất hay.
Bài
2
Sư
tử quật trung sư tử,
Chiên
đàn lâm lý chiên đàn.
Nhất
thân hữu lại càn khôn khoát,
Vạn
sự vô ưu nhật nguyệt trường.
Dịch:
Sư
tử trong hang sư tử,
Chiên
đàn trong rừng chiên đàn.
Một
thân nhờ có trời đất rộng,
Muôn
việc không lo ngày tháng dài.
Sư
tử trong hang sư tử, Chiên đàn trong rừng chiên đàn. Nói
một cách nhẹ nhàng hơn là người quyết tâm tu thì ở chốn
quyết tâm tu, người thanh tịnh thì ở nơi thanh tịnh vậy
thôi. Nói sư tử với chiên đàn nghe quan trọng.
Một
thân nhờ có trời đất rộng,
Muôn việc không lo ngày tháng dài. Một thân này đã sẵn có
trời đất rộng. Muôn việc mình bỏ hết thì mặc cho ngày
tháng cứ trôi đi. Vậy mà lâu lâu cũng tính coi năm nay mình
ở đây được mấy năm rồi! Nếu muôn việc mình không nghĩ,
không bàn, thì bao nhiêu ngày tháng cứ trôi đâu có cần tính,
bao lâu cũng được, không nghĩ không lo. Ở đây có người
nào không nghĩ không lo? Có người hỏi: Thầy ở Thiền viện
Trúc Lâm được bao lâu rồi? Nói: Tôi thấy ngày nào cũng
có mấy cây thông xanh thôi. Được vậy là tốt lắm, chứ
đừng ngồi đếm tay, coi năm tôi lên là năm mấy, giờ là
năm mấy, cộng lại là mấy năm. Đó là chưa thấy thông xanh
mà chỉ thấy ngày tháng, chờ trông cho qua hết ngày hết tháng.
Bài
3
Long
đắc thủy thời thiêm ý khí,
Hổ
phùng sơn sắc trưởng uy nanh.
Nhân
quy Đại quốc phương tri quý,
Thủy
đáo Tiêu Tương nhất dạng thanh.
Dịch:
Được
nước rồng càng thêm ý khí,
Gặp
non cọp mới trổ oai hùng.
Người
về Đại quốc thành cao quý,
Nước
đến Tiêu Tương một sắc trong.
Ngài
Hương Hải khi còn ở Đàng Trong bị chúa Nguyễn nghi ngờ,
không được an, nên trốn ra Đàng Ngoài. Ở Đàng Ngoài, gặp
vua, gặp chúa đều quí trọng đạo Phật, cho nên Ngài đọc
bài kệ này để nói lên niềm vui của mình.
Được
nước rồng càng thêm ý khí, Gặp non cọp mới trổ oai hùng.
Về tới đây rồi giống như rồng gặp nước, cọp về núi.
Người
về Đại quốc thành cao quý. Trong này chúa Nguyễn có một
phần đất nhỏ, ngoài kia vua Lê chúa Trịnh là chính cho nên
gọi là Đại quốc, thành cao quý tức là người ta biết dùng
mình.
Nước
đến Tiêu Tương một sắc trong.
Ở Trung Hoa, sông Tiêu Tương là dòng nước sâu cho nên các
dòng sông ở trên thì đục mà chảy về đây thì trong hết.
Người ở chỗ kia thì vô dụng nhưng về tới đây rồi là
hữu dụng, là tốt. Đó là ý Ngài được hài lòng khi trở
về Bắc.
Bài
4
Thiên
thượng hữu tinh giai cung Bắc,
Nhân
gian vô thủy bất triều Đông.
Quát
quy mao ư thiết ngưu bối thượng,
Tiệt
thố giác ư thạch nữ yêu trung.
Dạ
xoa La sát tài khể thủ,
Ngục
tốt ngưu đầu tiện kình quyền.
Dịch:
Sao
ở trên trời đều chầu Bắc,
Nước
dưới nhân gian thảy về Đông.
Giữa
eo gái đá cắt sừng thỏ,
Trên
lưng trâu sắt nhổ lông rùa.
Dạ
xoa La sát đầu vừa cúi,
Ngục
tốt ngưu đầu giơ sẵn thoi.
Sao
ở trên trời đều chầu Bắc, Nước dướiû nhân gian thảy
về Đông. Ở trên trời
thì các ngôi sao đều hướng về phương Bắc và ở dưới
các dòng sông đều chảy về Đông. Đây là nói theo địa
lý Trung Quốc và ở miền Bắc. Nếu ở miền Tây Việt Nam
từ Cà Mau lên Hà Tiên thì nước chảy ra Tây. Về mặt địa
lý thì sông Trung Hoa đều hướng ra biển Đông. Nhưng ở Việt
Nam thì từ Vũng Tàu trở ra sông chảy về Đông, còn sông
Cửu Long thì chảy về hướng Nam, các sông dưới kia thì ra
hướng Tây, nên không phải là luật cố định. Đây chịu
ảnh hưởng văn chương Trung Quốc, ý nói mọi sự vật như
sao trời không có tâm, không có ý mà đều xoay về hướng
Bắc, nước không có tâm, không có ý mà đều chảy về phương
Đông, hành động đủ duyên thì hiện. Đây muốn nói lên
chỗ không tâm không ý mà vẫn có hoạt động chớ không phải
là chỗ chết. Vì vậy mà đến hai câu này:
Giữa
eo gái đá cắt sừng thỏ, Trên lưng trâu sắt nhổ lông rùa.
Quí vị nghĩ sao? Gái thì gái đá, mà cắt sừng thỏ, gái
đá có tri giác không? Thỏ có sừng không? Gái đá, sừng thỏ
chỉ có danh từ, không có
thực. Cô gái đá thực ra chỉ là cái tượng thôi, không
có tri giác, còn sừng thỏ đâu có ai tìm ra? Nghĩa là trên
hình thức vô tình và một vật chỉ có tên rỗng, mình đều
không mắc kẹt, đều dẹp hết, cắt tức là dẹp hết. Trâu
sắt có biết động đậy gì không? Mà trên lưng nó lại nhổ
lông rùa. Quí vị ra hồ rùa kiếm xem có cái lông nào không?
Lông rùa cũng là danh từ rỗng, không có thực chất. Hai câu
này để chỉ chúng ta làm mọi việc mà vô tâm như gái đá,
trâu sắt, xem như huyễn không thực như cắt sừng thỏ, nhổ
lông rùa, thì lúc đó:
Dạ
xoa La sát đầu vừa cúi, ngục tốt ngưu đầu giơ sẵn thoi.
Dạ xoa và La sát đều cúi đầu kính phục, còn ngục tốt
ngưu đầu đưa tay lên, chớ không dám thoi, không dám đánh
ai hết. Nghĩa là hết hình phạt. Người ta khi đã được
diệu dụng, làm những việc không có dụng ý, không có dụng
tâm, chỉ là duyên đến thì hành, duyên đến thì nói, duyên
đến hoạt động mà không có tâm, không có nghĩ. Đó là như
cắt sừng thỏ ở eo cô gái đá và nhổ lông rùa trên lưng
con trâu sắt vậy, không có gì là thật. Được như vậy thì
Dạ xoa La sát, các loài quỷ dữ, ngưu đầu ngục tốt đều
phải bó tay cung kính hết. Ai tu đến được chỗ đó rồi,
mọi hiểm nguy mọi điều hung dữ đều phải đầu hàng. Đó
là bài kệ nói cái hùng của người đạt đạo.
Bài
5
Hoặc
thị hoặc phi nhân mạc thức,
Nghịch
hạnh thuận hạnh thiên mạc trắc.
Cách
sơn nhân xướng Chá-cô từ,
Thác
nhận Hồ gia thập bát phách.
Dịch:
Hoặc
phải hoặc quấy nào ai biết,
Nghịch
hạnh thuận hạnh trời khó xét.
Cách
núi người ca khúc Chá-cô,
Lầm
nhận kèn Hồ mười tám nhịp.
Nếu
người nào không mắc không kẹt thị phi phải quấy thì hạnh
thuận, hạnh nghịch của người đó trời cũng không thể
biết được.
Cách
núi người ca khúc Chá-cô, Lầm nhận kèn Hồ mười tám nhịp.
Có người ở cách núi - thiên hạ không thấy - hát khúc Chá-cô,
người nghe tưởng là đang thổi kèn của người Hồ có mười
tám nhịp. Nghĩa là khi thấy được đạo rồi nói một lời,
một câu kinh, một lời giải thích nào đó đúng với đạo
lý, nhưng mà người không biết thì dễ lầm tưởng cái này
thành cái khác không hiểu được.
Tóm
lại bài kệ này cũng nói đến chỗ thâm sâu của đạo lý,
nếu người nào không còn kẹt phải quấy thì khi làm lợi
ích chúng sanh, có lúc thuận có lúc nghịch, không ai lường
nổi hạnh của người đó, chẳng khác nào như đứng bên
núi hát khúc Chá-cô, người khác nghe tưởng lầm như là bản
nhạc của người Hồ. Ý nghĩa rõ ràng như vậy.
Sư
thăng tòa dạy chúng:
-
Có một người một đời làm lành. Có một người một đời
làm dữ. Người làm lành một sớm phạm giới không cho mà
lấy. Người làm dữ một niệm liễu ngộ tự tâm. Người
lành phạm giới không cho mà lấy, tức gọi là giặc. Người
dữ liễu ngộ tự tâm, tức gọi là Phật. Hai người đồng
đến Vân Môn hỏi chấp nhận người nào đúng. Nếu
chấp nhận người lành bỏ người dữ thì là nhận giặc
mà bỏ Phật. Nhận người dữ bỏ người lành, thì là sợ
ác mà khinh thiện. Nếu chấp nhận cả hai người thì Phật
và giặc chẳng phân. Nếu cả hai người đều không nhận
thì lành dữ chẳng rõ. Nếu quyết định chỉ Phật là người
ác thì chuốc tội chê bai Phật, vào địa ngục như tên bắn.
Nếu chỉ giặc là người lành thì chưa có người lành nào
mà đi làm giặc.
Tôi
phân tích từng đoạn cho dễ hiểu.
Có
một người một đời làm lành. Có một người một đời
làm dữ. Một bên lành một
bên dữ rành rõ rồi. Bây giờ người làm lành một sớm phạm
giới lấy của không cho tức là phạm giới ăn trộm. Còn
người làm dữ một hôm nào đó, nghe một câu kinh liền tỏ
ngộ tự tâm.
Người
làm lành một sớm phạm giới không cho mà lấy. Người dữ
một niệm liễu ngộ tự tâm.
Đây giải thích: Người lành phạm giới không cho mà lấy
tức gọi là giặc. Người dữ liễu ngộ tự tâm tức gọi
là Phật. Hai người đồng đến Vân Môn hỏi chấp nhận người
nào đúng. Đây không dẫn câu trả lời của ngài Vân Môn
mà Ngài tự nói: Chấp nhận người lành bỏ người dữ thì
là nhận giặc mà bỏ Phật, vì người lành đang là giặc,
người ác ngộ tự tâm là Phật. Nhận người dữ bỏ người
lành, thì sợ ác mà khinh thiện, tức là sợ dữ mà coi thường
người lành. Phải làm sao? Nếu chấp nhận hai người thì
Phật và giặc chẳng phân. Ông kia làm lành bây giờ phạm
giới ăn trộm thì là trộm. Còn ông kia dữ bây giờ ngộ
tâm thì là Phật. Ăn trộm và Phật hai người đều trúng
hết, thì ăn trộm và Phật giống nhau. Nếu cả hai người
đều không nhận, thì lành dữ chẳng rõ, thiện ác mù mờ.
Nếu
nhất quyết chỉ Phật là người ác thì chuốc tội chê bai
Phật. Nếu mình nói ông ngộ tự tâm tức là Phật mà ông
này là dữ, thì như vậy chê bai Phật là dữ sẽ vào địa
ngục như tên bắn. Nếu chỉ giặc là người lành thì chưa
có người lành nào mà làm giặc. Làm giặc sao gọi là người
lành được. Đây gợi cho chúng ta thấy trên đường tu có
việc kỳ đặc mà chúng ta khó giản trạch được. Bởi vì
đa số nói tới tu thì quí những người hiền, ai ăn hiền
ở lành từ bé đến lớn thì người đó dễ tu, nhưng biết
đâu gặp cơ hội nào đó họ làm dữ. Như vậy cái hiền
đó có phải thật là hiền chưa? Còn người dữ nhưng có
thể sáng, bởi họ sáng nên nghe câu kinh bất thần họ ngộ.
Ngộ tự tâm thì thấy được Phật tánh, gọi đó là Phật
như câu: “Hôm qua tâm Dạ xoa, hôm nay mặt Bồ-tát”. Mới
vác dao làm hàng thịt, bữa nay là Bồ-tát, thì cái dữ có
thật không? Bao nhiêu năm làm điều tội lỗi, nhưng bây giờ
họ bừng ngộ thì họ là Phật, Bồ-tát. Như vậy trong cái
lành không khéo trở thành dữ, trong cái mê mà khéo sẽ trở
thành giác. Thiện ác, lành dữ không có tính chất cố định,
không nên chấp chặt, đúng sai đều chẳng quản. Chỉ có
trở về với bản tánh thanh tịnh sẵn có của mình, đó mới
là cái chân thật.
Đến
bài tụng:
Bài
1
Tân
phụ kỵ lư a gia khiên,
Bộ
bộ tương tùy bất trước tiên.
Quy
đáo tận đường nhân bất thức,
Tùng
kim lãn cánh xuất môn tiền.
Dịch:
Cô
dâu cỡi lừa mẹ chồng dẫn,
Từng
bước theo nhau chẳng cần roi.
Về
đến tận nhà người chẳng biết,
Từ
nay ra cửa cũng biếng lười.
Cô
dâu cỡi lừa mẹ chồng dẫn, Từng bước theo nhau chẳng cần
roi. Cô dâu cỡi lừa mà mẹ
chồng lại dẫn. Dẫn đi một cách tự nhiên chứ không cần
roi gì hết.
Về
đến tận nhà người chẳng biết, Từ nay ra cửa cũng biếng
lười. Khi về tới nhà rồi mà ai cũng không biết. Giờ lười
bước chân ra cửa. Như vậy là ý nói cái gì?
Bởi
vì chúng ta lâu nay quen bàn luận, mà bàn luận thì căn cứ
trên lý lẽ để lý giải đúng sai, nhưng mà trên chỗ chân
thật không có lý giải. Dùng lý giải tức là bị ý thức
duyên, theo nó phân biệt. Như vậy ở đây nêu một hình ảnh
phi lý. Trong cái phi lý đó lại là cái lý chân thật. Bởi
vì ngày xưa theo Nho không bao giờ có cô dâu phách lối ngồi
trên lưng lừa cho mẹ chồng dẫn. Đó là một cái phi lý.
Nhưng mà bà mẹ chồng dẫn con dâu về tới nhà, nghĩa là
nếu trong cái phi lý đó mà chúng ta nhận ra được thì từ
đó hiện ra cái chân thật. Như hiện giờ chúng ta nói một
câu, hay làm một hành động đều suy lý: cái đó là phải
hay quấy, cái đó đúng hay là sai. Còn phải quấy, đúng sai
thì chưa phải là chỗ cứu
kính. Muốn thấy cứu kính thì phải nhận ra được cái chân
thật. Cho nên trở về đến nhà mà không ai biết hết. Từ
chỗ phi lý không có nghĩa mà hiện ra cái nghĩa chân thật
là về đến nhà. Về đến nhà rồi thì từ đó về sau không
muốn bước ra cửa nữa. Không bước ra cửa nữa là
sao? Là tâm không chạy theo cảnh nữa, chớ đâu có gì lạ.
Cho nên từ cái phi lý đó mà chúng ta nhận chân được rồi
thì sống ngay trong đó, không chạy, không đi, không duyên trần
cảnh nữa.
Từ
nay ra cửa cũng biếng lười, lười biếng bước ra cửa. Nếu
mà một tâm hồn còn xao xuyến, thì ngồi trong nhà, trong thất,
muốn ngồi hoài không? Hay là ngồi một chút thì muốn chạy
đầu này chạy đầu kia, xem cái này xem cái nọ? Nếu ngồi
ngay trong nhà mà lười bước ra cửa thì biết họ an ổn rồi,
họ không bận bịu cái gì nữa. Cái phi lý là cái vô tâm,
có lý là có tâm. Nếu chúng ta nhận ra cái này có lý hay,
lý dở thì đó đều là hữu tâm, còn nói mà không có ý nghĩa
gì hết đó là phi lý, phi lý nên vô tâm. Thí dụ hỏi “Thế
nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?”, nói “Cây bá trước
sân”. Nói một cách phi lý vậy đó, mà từ phi lý nhận ra
thì ngộâ, không nhận ra thì không ngộ. Cho nên hiểu được
lẽ đó rồi thì chúng ta mới thấy được ý nghĩa ở đây.
Đến bài kế cũng tương tự như vậy.
Bài
2
Phu
tử bất thức tự,
Đạt-ma
bất hội thiền.
Huyền
diệu vô ngôn ngữ,
Thiết
mạc vọng lưu truyền.
Dịch:
Khổng
Tử không biết chữ,
Đạt-ma
chẳng hội thiền.
Huyền
diệu không lời nói,
Cốt
đừng dối lưu truyền.
Khổng
Tử không biết chữ, Đạt-ma chẳng hội thiền. Khổng Tử
là ông tổ Nho mà không biết chữ. Còn tổ Đạt-ma là ông
tổ Thiền mà nói không hiểu thiền. Câu đó là hữu lý hay
phi lý? Từ cái phi lý hay vô lý đó mà chúng ta nhận ra, chúng
ta thấy được, thì đó là chỗ chân thật.
Huyền
diệu không lời nói, Cốt đừng dối lưu truyền. Chỗ nhiệm
mầu, huyền diệu dứt bặt nói năng. Đừng có truyền bá
dối hay là truyền bá rỗng. Bài kệ này nêu lên ý nghĩa cái
chân thật, vượt ngoài lý lẽ ngôn từ, phải tự thể nhận.
Bài
3
Tầm
ngưu tu phỏng tích,
Học
đạo quý vô tâm.
Tích
tại ngưu hoàn tại,
Vô
tâm đạo dị tầm.
Dịch:
Tìm
trâu phải noi dấu,
Học
đạo quý vô tâm.
Dấu
còn trâu đâu mất,
Vô
tâm đạo dễ tầm.
Tìm
trâu phải noi dấu, Học đạo quý vô tâm. Chúng ta tìm theo
cái dấu trâu đi, nó đi hướng nào thì mình tìm theo hướng
đó. Như vậy tìm trâu thì phải theo dấu. Còn học đạo thì
quý ở chỗ vô tâm.
Dấu
còn trâu nào mất, Vô tâm đạo dễ tầm. Chúng ta thấy những
người chăn trâu, khi trâu đi lạc thì họ theo cái gì tìm?
Thấy cái dấu đi hướng nào thì nhắm theo hướng đó mà
tìm trâu. Theo dấu thì nhất định gặp trâu, mà chữ “dấu
trâu” ở đây là tượng trưng cho kinh điển Phật. Kinh điển
Phật chúng ta học là những dấu vết để tìm chân lý, chân
lý là dụ cho con trâu. Cái chân lý mà chúng ta đạt được
là nương nơi giáo điển của Phật dạy. Từ giáo điển của
Phật dạy chúng ta phải tìm lần đến chỗ cứu kính thì
thấy được chân lý. Người tu chúng ta nương theo giáo lý
để tu, mà tu đi đến chỗ nào? Đi đến chỗ vô tâm. Cho
nên học đạo quý ở chỗ vô tâm, vô tâm ví dụ như thấy
được con trâu, mà học đạo ví dụ như theo dấu. Nếu cái
dấu nó còn, thì tự nhiên chúng ta biết rằng con trâu còn,
theo hướng đó tìm tới nhất định sẽ gặp nó. Cũng vậy,
người học đạo mà được vô tâm thì đạo hiện tiền khỏi
cần cái gì hết. Bao nhiêu kinh, bao nhiêu sách Phật dạy, đều
cốt làm sao chúng ta tu dẹp bỏ hết những tâm điên đảo
vọng tưởng. Điên đảo vọng tưởng hết gọi là vô tâm,
mà vô tâm thì thấy đạo. Bốn câu kệ này nói rõ
con đường để chúng ta tìm chân lý. Muốn tìm chân
lý thì phải nương kinh điển giống như người chăn trâu
tìm trâu, noi theo dấu thì sẽ gặp. Người học đạo khi nào
tâm sạch được vọng tưởng điên đảo, lúc đó đạo hiện
tiền không phải đi kiếm ở đâu, ở nơi nào.
Bài
4
Sanh
tùng hà xứ lai?
Tử
tùng hà xứ khứ?
Tri
đắc lai khứ xứ,
Phương
danh học đạo nhân.
Dịch:
Sanh
từ chỗ nào đến?
Chết
sẽ đi về đâu?
Biết
được chỗ đi đến,
Mới
gọi người học đạo.
Chúng
ta tu bao nhiêu năm rồi có biết mình sanh từ đâu đến chưa?
Có biết chắc chết mình đi về đâu chưa? Mù mù mịt mịt.
Ở đây nói nếu người học đạo thì phải biết từ đâu
đến, chết đi về đâu. Biết được hai cái này thì trong
Tam minh ít nhất cũng chứng được Túc mạng minh. Chúng ta
tu không phải là làm cho có công đức, có phước đức để
dành đời sau hưởng, mà phải phăng tìm cho ra trước khi đến
đây mình là gì? Ở xứ nào đến đây? Đó là câu hỏi thứ
nhất. Khi chúng ta nhắm mắt đi rồi sẽ về đâu? Đó là
câu hỏi thứ hai. Nếu thấy được như vậy, biết được
như vậy, mới là người học đạo chân thật. Trọng tâm
của người học đạo là phải giải quyết những vấn đề
đó. Tôi đã dẫn khi Thái tử Tất-đạt-đa đi tu, Ngài thắc
mắc những vấn đề đó. Nghĩa là con người từ đâu mà
đến, chết sẽ đi về đâu? Và làm sao giải quyết được
vấn đề sanh tử. Đó là những vấn đề thắc mắc mà mỗi
người tu, ai cũng phải ôm ấp trong lòng, không bao giờ tự
mãn. Không phải tu cất được chùa to, được số bổn đạo
lớn, tự mãn bao nhiêu đó đủ rồi. Đó chỉ là phước đức
hữu lậu thôi, không giải thoát sanh tử được. Muốn giải
thoát sanh tử thì phải biết được chỗ đến chỗ đi, mới
gọi là người học đạo chân chính.
*
*
*
Một
hôm Sư thảnh thơi ngâm hai bài kệ dặn dò người tại gia:
Bài
1
Thành
thị du lai ngụ tự chiền
Tùy
cơ ứng hóa mỗi thời nhiên.
Song
chiêu nguyệt đáo sàng thiền mật,
Tùng
tiếu phong xuy tĩnh khách miên.
Sắc
ánh lâu đài minh sắc diệu,
Thanh
truyền chung cổ diễn thanh huyền.
Nguyên
lai tam giáo đồng nhất thể,
Nhậm
vận hà tằng lý hữu thiên.
Dịch:
Từ
thành thị đến nghỉ chùa chiền,
Tùy
cơ ứng hóa lẽ đương nhiên.
Song
vời trăng đến giường thiền mát,
Gió
thổi thông cười khách ngủ yên.
Lầu
đài rực rỡ, màu huyền diệu,
Chuông
trống vang rền, tiếng thâm uyên.
Ba
giáo nguyên lai đồng một thể,
Hồn
nhiên đâu có lẽ nào thiên.
Từ
thành thị đến nghỉ chùa chiền, Tùy cơ ứng hóa lẽ đương
nhiên. Đây là Ngài nhắc nhở người tại gia, cốt diễn tả
lại cái cảnh người ở thành thị rồi dừng nghỉ lại ở
chùa chiền, tùy cơ mà ứng hóa, đó là lẽ thường.
Song
vời trăng đến giường thiền mát, Gió thổi thông cười
khách ngủ yên. Ban đêm có ánh trăng soi cửa sổ, chiếu vào
giường thiền êm đềm ngọt ngào. Khách là bậc đạo nhân
(tĩnh khách) nằm ngủ dưới tùng reo gió thổi, hình ảnh rất
đẹp.
Lầu
đài rực rỡ, màu huyền diệu, Chuông trống vang rền, tiếng
thâm uyên. Nhà cửa màu sáng rỡ để biện minh sắc vi diệu,
rồi tiếng chuông trống vang lên diễn bày tiếng nhiệm mầu.
Nương sắc, nương thanh cụ thể để nhận ra sắc thanh vô
tướng.
Ba
giáo nguyên lai đồng một thể, Hồn nhiên đâu có lẽ nào
thiên. Ba giáo tức là Phật – Khổng – Lão. Đây là chủ
trương tam giáo đồng nguyên của Phật giáo đời Trần. Ba
giáo tuy khác, nhưng thể vẫn đồng. Dù cho có giáo này, giáo
kia khác biệt, nhưng không có lệch, không có riêng, chỉ cùng
một thể.
Bài 2
Thượng
sĩ thường du Bát nhã lâm,
Trần
cư bất nhiễm liễu thiền tâm.
Liêm
Khê Trình thị minh cao thức,
Tô
Tử Hàn Văn khế diệu âm.
Vạn
tượng sâm la cao dị hiển,
Nhất
biều tạo hóa mật nan tầm.
Nho
nguyên đãng đãng đăng di khoát,
Pháp
Hải trùng trùng nhập chuyển thâm.
Dịch:
Thượng
sĩ từng chơi cảnh tùng lâm,
Phong
trần không vướng hội thiền tâm.
Liêm
Khê, Trình Hiệu người thông suốt,
Tô
Tử, Hàn Văn hiểu diệu âm.
Muôn
ngàn cảnh vật cao dễ thấy,
Tạo
hóa một bầu kín khó tầm.
Nguồn
Nho thăm thẳm lên càng rộng,
Bể
Thích trùng trùng xuống lại thâm.
Bài
này nói thêm cho rõ ý nghĩa Phật với Khổng không có khác
và cũng đều là cao siêu, rộng rãi.
Thượng
sĩ từng chơi cảnh tùng lâm, Phong trần không vướng hội
thiền tâm. Những hàng thượng sĩ đi dạo những cảnh chùa.
Đến cảnh chùa mà không dính gì với gió bụi - phong trần
tức là gió bụi, thì người đó hiểu được tâm thiền.
Đây Ngài nói về hàng thượng sĩ là các bậc Nho gia đến
viếng cảnh chùa, lòng không vướng bận gió bụi thế tục
thì người đó có thể hội được tinh thần thiền.
Liêm
Khê, Trình Hiệu người thông suốt, Tô Tử, Hàn Văn hiểu
diệu âm. Liêm Khê tên là Chu Đơn Duy, một học giả nổi
tiếng thời Bắc Tống, ở miền sông Liêm Khê cho nên người
ta kêu ngài là Liêm Khê. Còn Trình Hiệu là Trình Y Xuyên. Hai
vị đó đều là nhà Nho nổi tiếng ở thời Tống. Rồi tới
Tô Tử, Hàn Văn. Tô Tử là Tô Thức, tự là Tử Chiêm, hiệu
là Tô Đông Pha, là thi nhân đời Tống làm đến chức Binh
bộ thượng thư. Sau này ngộ lý thiền, ông tu thiền. Còn
Hàn Văn là Hàn Văn Công tức Hàn Dũ, ông này làm quan đời
Đường Hiến Tông, rất ghét Phật giáo sau gặp ngài Đại
Điên, ngộ được lý thiền. Diệu âm là tiếng gì? Như ông
Tô Đông Pha nghe tiếng suối chảy liền ngộ làm bài
thơ có câu: “Khê thinh tiện thị quảng trường thiệt, …”
tức là “Tiếng suối chính là tướng lưỡi rộng dài của
chư Phật”, hay như Tuệ Sĩ dịch: “Suối reo vẫn pháp âm
bất tuyệt”. Còn Hàn Văn Công thì nghe tiếng gõ giường
thiền của thị giả Tam Bình mà biết đường vào. Như vậy
đó là những nhà Nho mà hiểu được đạo Phật, thâm nhập
được lý Thiền.
Muôn
ngàn cảnh vật cao dễ thấy, Tạo hóa một bầu kín khó tầm.
Muôn cảnh muôn vật thì hiện rõ dễ biết dễ thấy. Còn
cái bầu tạo hóa mình tìm không ra, khó mà biết được.
Nguồn
Nho thăm thẳm lên càng rộng, Bể Thích trùng trùng xuống lại
thâm. Hai câu này khen Nho và khen Phật: Nho thì thăm thẳm, Thích
thì trùng trùng, bên nào cũng thênh thang, bên nào cũng cao siêu
hết. Đó là chủ trương tam giáo đồng nguyên không khen bên
nào, không chê bên nào.