VI.
KHAI THỊ NGỘ NHẬP ĐƯỢC DUYÊN TỐT TRUYỀN TRAO ẤN CHỨNG
ĐOẠN
7
Bài
22
Vọng
tình ký bất khởi,
Chân
tâm nhậm biến tri.
Niệm
tưởng do lai huyễn,
Chân
tánh vô chung thủy.
Nhược
đắc thử trung ý,
Trường
ba đương tự chỉ.
Dịch:
Vọng
tình đã chẳng sanh,
Chân
tâm mặc biết khắp.
Niệm
tưởng xưa nay huyễn,
Chân
tánh không thủy chung.
Nếu
đạt ý trong ấy,
Sóng
dài sẽ tự dừng.
Vọng
tình đã chẳng sanh, Chân tâm mặc biết khắp.
Biến tri là biết khắp. Như vậy khi vọng tình chưa khởi,
thì chân tâm biết trùm khắp, không phải biết một nơi một
chỗ.
Niệm
tưởng xưa nay huyễn, Chân
tánh không thủy chung.
Niệm tưởng là tâm suy nghĩ của mình xưa nay là huyễn hóa,
không thật. Chân tánh không có trước sau, không có chỗ cùng,
không có chỗ khởi. Khởi là thủy, cùng là chung, niệm tưởng
lăng xăng nơi mình là huyễn hóa, khi huyễn hóa lặng thì chân
tánh hiện tiền.
Nếu
đạt ý trong ấy, Sóng dài sẽ tự dừng.
Nếu đạt được ý này rồi thì sóng dài tức là lượn sóng
sanh tử sẽ tự dừng lặng, không còn tiếp tục nữa.
Bài
23
Kiến
đạo phương tu đạo,
Bất
kiến phục hà tu?
Đạo
tánh như hư không,
Hư
không hà sở hữu?
Biến
quán tu đạo giả,
Bát
hỏa mích phù âu.
Đản
khán lộng ổi lỗi,
Tuyến
đoạn nhất tề hưu.
Dịch:
Thấy
đạo mới tu đạo,
Không
thấy lấy gì tu?
Tánh
đạo như hư không,
Hư
không tu chỗ nào?
Khắp
xem người tu đạo,
Vạch
lửa tìm bọt trôi.
Chỉ
xem người gỗ máy,
Đứt
dây một loạt dừng.
Thấy
đạo mới tu đạo, Không thấy lấy gì tu? Người
thấy đạo mới gọi là tu, chưa thấy thì không biết tu như
thế nào. Biết đạo sau đó tu thì mới biết đường đi,
mới là người thật tu.
Tánh
đạo như hư không, Hư không tu chỗ nào?
Đạo là chỉ cho tâm thể thanh tịnh, giống như hư không,
rỗng lặng. Đã rỗng lặng thì tu gì?
Khắp
xem người tu đạo tức
là thấy người tu hiện giờ.
Vạch
lửa tìm bọt trôi.
Bọt trôi dưới nước, mà vạch lửa tìm bọt thì chừng nào
được? Bởi vậy tu phải biết gốc ở đâu, nếu không giống
như người tìm bọt nước lại vạch lửa thì rất khờ dại.
Chỉ
xem người gỗ máy, Đứt dây một loạt dừng. Ngày
xưa chưa có rô-bô nên người ta làm người giả bằng gỗ,
ở trong có sợi dây, muốn cho hoạt động múa may thì giật
dây. Vậy sợi dây là gốc, nếu dây đứt thì hoạt động
múa may đều dừng. Cũng vậy tu hành nắm được chỗ chính,
chỗ gốc, thì mọi thứ bên ngoài và mọi thứ phụ thuộc
mới dừng được. Như vậy thấy đạo rồi mới biết hướng
tu chỗ nào cho đúng. Người sau này, nhất là giới Phật tử
rất đáng thương, vì ham tu nên nghe nói ở đâu dạy tu thì
tới học. Nhưng có chỗ dạy chân thật, có chỗ dạy phương
tiện. Cứ bám vào phương tiện cho đó là chân thật, công
phu rất nhọc mà không có kết quả.
Bài
24
Suy
chân chân vô tướng,
Cùng
vọng vọng vô hình.
Phản
quán suy cùng tâm,
Tri
tâm diệc giả danh.
Dịch:
Xét
chân, chân không tướng,
Tìm
vọng, vọng không hình.
Quán
lại tâm tìm xét,
Biết
tâm cũng giả danh.
Xét
chân, chân không tướng, Tìm vọng, vọng không hình. Cái
gì có tướng trạng đều do duyên hợp,
là tạm bợ hư giả, thể thật thì không tướng, cho
nên chân không tướng. Vọng không hình vì cũng là hư dối.
Quán
lại tâm tìm xét,Biết tâm
cũng giả danh. Xét lại tâm suy
tìm, tư duy của mình, thì tâm đó cũng là giả danh. Như vậy
tất cả đều không thật.
Bài
25
Thiện
ký tùng tâm sanh,
Ác
khởi ly tâm hữu?
Thiện
ác thị ngoại duyên,
Ư
tâm thật bất hữu.
Xả
ác tống hà xứ,
Thủ
thiện linh thùy thủ?
Thương
ta nhị kiến nhân,
Phan
duyên lưỡng đầu tẩu.
Nhược
ngộ bản vô tâm,
Thủy
hối tùng tiền cửu.
Dịch:
Thiện
đã từ tâm sanh,
Ác
đâu rời tâm có?
Thiện
ác là duyên ngoài,
Nơi
tâm thật chẳng có.
Bỏ
ác đẩy chỗ nào?
Lấy
thiện bảo ai giữ?
Than
ôi! Người thấy hai,
Bám
víu hai đầu chạy.
Nếu
ngộ vốn không tâm,
Mới
hối lỗi từ trước.
Bài
này cũng của Thiền sư Bổn Tịnh để trả lời câu hỏi
của Thiền sư Đạt Tánh.
Thiện
đã từ tâm sanh, Ác đâu rời tâm có?
Tâm là giả danh thì thiện ác không có thật.
Thiện
ác là duyên ngoài, Nơi tâm thật chẳng có. Thiện
ác là duyên ngoài. Thí dụ mình bình thản an nhiên như vầy,
bất thần có người đến chọc tức vài câu, mình nổi sân
trả lời thô lỗ. Những lời thô lỗ thốt ra đó thiện hay
ác? Ác! Như vậy cái ác từ đâu mà có? Từ duyên bên ngoài.
Nếu không có người chọc tức thì làm gì có nói bậy? Như
vậy nói bậy chính gốc là từ duyên bên ngoài.
Lại
ví dụ như mình cũng đang bình thường thản nhiên như vậy,
bất thần có một người nào đó đi tới than: Tôi khổ quá!
Hỏi: Vì sao khổ? - Tôi đi đường có đem theo một số tiền,
bây giờ bị người ta móc túi lấy hết, không mua được
gạo, được cơm ăn! Chúng ta thấy xót xa, có năm mười ngàn
móc ra cho, thì thiện hay ác? Thiện. Thiện từ đâu ra? Cũng
từ ngoài mà tới. Vậy thì từ ngoài đến có thiện, có ác,
nơi tâm thật chẳng có. Tâm bình thản thì có chuyện thiện,
ác không? Tâm đâu khởi thiện ác, thiện ác do cảnh bên ngoài
mà có.
Bỏ
ác đẩy chỗ nào? Lấy thiện bảo ai giữ?
Nếu nói bỏ ác thì đưa ai đây? Đẩy ra đâu? Có cái thùng
nào để bỏ những đồ ác của mình không? Đâu có. Như vậy
cái ác ở bên ngoài tới. Nếu biết ngừa thì không có ác,
chớ thật chẳng phải có cái ác sẵn. Bây giờ nói giữ cái
thiện, vốn thật đâu có cái thiện thì làm sao mà giữ? Ai
giữ cho mình?
Than
ôi! Người thấy hai, Bám víu hai đầu chạy. Nếu
còn thấy thiện là thiện, ác là ác, đó là người thấy
hai, là nắm đầu bên này, đầu bên kia mà chạy.
Nếu
ngộ vốn không tâm, Mới hối lỗi từ trước. Nếu
ngộ rồi thì đối với tất cả thiện ác, tâm mình không
dấy động. Chừng đó mới biết niệm thiện niệm ác lâu
nay mình cố giữ, cố đuổi là sai lầm, mới hối lỗi từ
trước.
Ba
bài sau đây của Phó Đại sĩ ở đời nhà Lương Trung Hoa.
Người ta nói Ngài là Phật Di Lặc tái thế.
Bài
26
Hữu
vật tiên thiên địa,
Vô
hình bổn tịch liêu.
Năng
vi vạn tượng chủ,
Bất
trục tứ thời điêu.
Dịch:
Có
vật trước trời đất,
Không
hình vốn lặng yên.
Hay
làm chủ muôn vật,
Chẳng
theo bốn mùa tàn.
Có
vật trước trời đất. Trời đất
chưa có, vật đó đã có sẵn rồi.
Không
hình vốn lặng yên. Vật đó
không hình tướng, vốn yên tĩnh, lặng lẽ.
Hay
làm chủ muôn vật, Chẳng theo bốn mùa tàn.
Vật đó làm chủ muôn vật, không bị thời tiết tàn phá
đi. Vật đó là vật gì? Đó là chỉ cái tâm thể không sanh
không diệt của mỗi người. Tâm thể đó có trước trời
đất chớ không phải mới có đây, mãi mãi không hoại không
tàn, mà chúng ta không biết sống, không biết giữ. Cái không
hoại, không mất là cái thật của chúng ta, mà lại quên.
Bây giờ ôm lấy cái giả, cái tạm bợ, thân bảy tám mươi
tuổi bại hoại này, cho là thật mình rồi cố bám giữ, đó
là rất dại khờ. Cho nên Ngài nói bốn câu trên để chỉ
cho thấy tất cả chúng ta có một cái thật, mà lại quên
đi. Cái thật đó trước không sanh là có trước trời đất,
sau không diệt là bốn mùa đều không làm hư hoại.
Bài
27
Không
thủ bả sừ đầu,
Bộ
hành kỵ thủy ngưu.
Nhân
tùng kiều thượng quá,
Kiều
lưu thủy bất lưu.
Dịch:
Tay
không cầm cán cuốc,
Đi
bộ ngồi lưng trâu.
Người
đi qua trên cầu,
Cầu
trôi nước chẳng trôi
Tay
không cầm cán cuốc, Đi
bộ ngồi lưng trâu. Tay không
mà cầm cán cuốc được không? Tay không, là không cầm gì
hết. Nói đi bộ, tức là tự mình đi dưới đất; ở đây
nói ngồi lưng trâu đi bộ, đâu gọi là đi bộ được.
Người
đi qua trên cầu, Cầu trôi nước không trôi.
Vậy là cầu chảy, nước không chảy, giống như nói vần
ngược phải không? Như vậy bốn câu kệ này có ý nghĩa gì?
Bốn câu kệ này nói lên cái phi lý mà lại là chân lý. Tại
sao vậy? Bởi vì chân lý là cái chúng ta không thể suy nghĩ,
nắm bắt được. Các Thiền sư trả lời các câu hỏi khiến
hành giả không suy nghĩ gì được hết. Đó là hoạt ngữ.
Ví dụ như: Thế nào là Phật? - Ba cân gai. Chúng ta nghĩ ra
sao? Không có một lý gì để mình suy gẫm được hết, gọi
là phi lý. Ngay cái phi lý, dừng bặt suy nghĩ, là chân lý.
Đặc biệt như vậy nên gọi là câu sống. Vì càng suy nghĩ
thì càng phi lý hơn. Mình tưởng suy nghĩ là có lý, tìm ra
lẽ phải, tìm ra lý đúng, nhưng càng tìm lại càng sai chân
lý. Vì vậy chân lý là ở chỗ dừng suy nghĩ. Nói câu nào
mà không còn nghĩ được, đó là chân lý, là hoạt ngữ (câu
sống). “Tay không cầm
cán cuốc”, có phi lý không? Rồi đi bộ, mà ngồi lưng
trâu? Toàn là phi lý, một bề phi lý như vậy để chúng ta
hết suy gẫm, nên là chân lý. Hiểu vậy thì biết cái ý này,
nếu không chẳng biết nói cái gì, không thể nào nghĩ ra hết.
Bài
28
Dạ
dạ bão Phật miên,
Triêu
triêu hoàn cộng khởi.
Khởi
tọa trấn tương tùy.
Ngữ
mặc đồng cư chỉ.
Tiêm
hào bất tương ly,
Như
hình ảnh tương tự.
Dục
thức Phật khứ xứ,
Chỉ
giá ngữ thanh thị.
Dịch:
Đêm
đêm ôm Phật ngủ,
Ngày
ngày cùng Phật dậy.
Ngồi
đứng mãi theo nhau,
Nói
nín đồng chung ở.
Mảy
may không tách rời,
Như
hình cùng với bóng.
Muốn
biết chỗ Phật đi,
Chỉ
cái nói năng ấy!
Ngài
chỉ cho thấy mình sẵn có ông Phật rất là chân tình, gần
gũi.
Đêm
đêm ôm Phật ngủ, Ngày ngày cùng Phật dậy.
Mình với Phật ở chung một nhà. Mình ngủ Phật cũng ngủ,
mình dậy Phật cũng dậy, Phật không có rời mình.
Ngồi
đứng mãi theo nhau, Nói
nín đồng chung ở.
Mọi cử chỉ của mình đều có ông Phật ở trong đó hết.
Mảy
may không tách rời, Như hình cùng với bóng. Tóm
lại mọi cử chỉ, hành động của mình đều không rời Phật,
Ngài ở đâu? Phật của ai? Có ai than “Số phận tôi tu không
được!” không? Nếu không có Phật thì tu không được, còn
ai cũng có Phật hết, đi đâu cũng có Phật theo bên mà tu
không được nghĩa là sao? Chỉ vì mình bội bạc. Tất cả
chúng ta ai cũng có Phật, Phật theo sát bên mình mà không đoái
hoài tới. Bây giờ muốn đoái hoài tới ông Phật của mình
thì phải làm sao? Không cần tìm đâu xa, ở ngay nơi mình.
Chỉ cần chúng ta khéo nhìn, khéo nhận thì thấy ông Phật.
Muốn
biết chỗ Phật đi, Chỉ cái nói năng ấy!
Khi ông mở miệng thì có Phật ở đó rồi; khi ông đưa cánh
tay lên, thì có Phật ở đó rồi; nhướng cặp chân mày lên,
thì có Phật đó rồi. Như vậy thì Ngài thấy Phật là chính
Phật của mình, ai cũng có sẵn mà quên. Nên Ngài nhắc mình
muốn biết Phật thì cứ nhìn cử chỉ, hành động, nói năng
ắt thấy Phật hiển lộ, chớ không có đâu xa hết. Như vậy
thì ai mà không tu được? Ai mà không có Phật? Vậy mà có
nhiều người lại thưa: “Thầy xem thử coi con có căn tu không?”
Có Phật không đoái hoài tới, lại hỏi người khác. Quý
vị có chịu nhìn, chịu nhớ ông Phật của mình không? Hay
nhiều khi chỉ nhớ thiên hạ chẳng nhớ tới ông Phật của
mình! Vậy cho nên người nào nếu khéo thì khi đi, đứng,
nằm, ngồi đều thấy ông Phật hiển bày. Thấy được vậy
chắc cười hoài, không có phiền não. Còn nếu người nào
đi, đứng, nằm, ngồi nhớ chuyện thế gian, thì Phật ẩn
mất. Như vậy tu là nhớ lại. Chữ nhớ là tỉnh, chữ quên
là mê. Quên mình có ông Phật là mê, nhớ mình có ông Phật
là tỉnh.
Bài
29
Nhãn
quang tùy sắc tận,
Nhĩ
thức trục thanh tiêu.
Hoàn
nguyên vô biệt chỉ,
Tạc
nhật dữ kim triêu.
Dịch:
Nhãn
quang theo sắc hết,
Nhĩ
thức tùy tiếng tiêu.
Về
nguồn không ý khác,
Hôm
qua với sáng nay.
Nhãn
quang theo sắc hết,Nhĩ thức
tùy tiếng tiêu.
Bởi vì tất cả cái thấy của chúng ta đều đuổi theo hình
sắc, cái nghe của chúng ta đều đuổi theo âm thanh; bây giờ
ngay nơi sắc, ngay nơi âm thanh chúng ta không dính, không đuổi
theo.
Về
nguồn không ý khác. Nếu là người
trở về nguồn, về gốc của mình thì không ý khác.
Hôm
qua với sáng nay. Những chuyện
hiện tiền ngay bây giờ và ngày mai, nó hiện như vậy chớ
không có gì lạ. Đối với sắc đối với thanh không dính
không kẹt, đó là người biết trở về nguồn.
Bài
30
Phiến
nguyệt xâm hàn đàm,
Vi
vân ánh bích không.
Nhược
ư đạt đạo nhân,
Hảo
cá chân tiêu tức.
Dịch:
Mảnh
trăng ngâm đầm lạnh,
Mây
mỏng ánh trời xanh.
Nếu
với người đạt đạo,
Đấy
là tin tức thật.
Mảnh
trăng ngâm đầm lạnh, Mây mỏng ánh trời xanh. Một
mảnh trăng hiện bóng ở dưới đầm nước lạnh, một đám
mây mỏng che lấp bầu trời xanh. Hai hình ảnh đó để chỉ
rằng, khi chúng ta nhìn trăng ít khi nhìn trăng trên trời, chỉ
thấy trăng dưới nước; ngó bầu trời xanh không nhớ bầu
trời xanh, chỉ thấy làn mây mỏng. Vị nào chịu khó ngồi
ở ngoài trời trong, nhìn lên một hồi mà không thấy đám
mây nào hết. Lúc đó quý vị thích hay không thích? Có mây
bay, thấy vui vui phải không? Không có mây, trời trong thì buồn.
Nhìn lên trời thấy mặt trăng trên hư không không thích bằng
ngó mặt trăng dưới đáy nước, có gợn sóng lăn tăn thấy
vui. Như vậy là người ta vui với cái bóng, thích nhìn những
thứ tạm bợ như đám mây, còn cái chân thật không chú tâm
đến.
Nếu
với người đạt đạo, Đấy là tin tức thật.
Cho nên người đạt đạo không kẹt trăng dưới đầm và
đám mây mỏng, mà ngay đó nhận ra tin tức thật là bầu trời
và mặt trăng.
Bài
31
Kiến
vật tiện kiến tâm,
Vô
vật tâm bất hiện.
Thập
phần thông tắc trung,
Chân
tâm vô bất biến.
Nhược
sanh tri thức giải,
Khước
thành điên đảo kiến.
Đổ
cảnh năng vô tâm,
Thủy
kiến Bồ-đề diện.
Dịch:
Thấy
vật liền thấy tâm,
Không
vật tâm chẳng hiện.
Mười
phần trong bít thông,
Chân
tâm thảy biến khắp.
Nếu
sanh tình thức hiểu,
Lại
thành thấy điên đảo.
Đối
cảnh hay không tâm,
Mới
giáp mặt Bồ-đề.
Thấy
vật liền thấy tâm.
Ví dụ quý vị nhìn cái này, quý vị thấy tâm không? Thấy
lá môn là thấy tâm chưa? Thật ra nói thấy vật liền thấy
tâm mà ngỡ tâm mình ở ngoài thì không phải. Nhưng nếu tâm
không có thì làm sao thấy vật. Cho nên thấy vật là biết
mình đang có tâm, gọi là thấy tâm. Hiểu vậy thì nhìn ngược
lại chớ không phải nhìn ra.
Không
vật tâm chẳng hiện.
Nếu không có vật thì tâm mình đâu khởi cái biết thấy,
biết nghe. Biết thấy, biết nghe tức nhờ vật bên ngoài.
Mười
phần trong bít thông, Chân tâm thảy biến khắp.
Nơi này bít, nơi kia thông… khắp cả mười phần chân tâm
đều trùm hết.
Nếu
sanh tình thức hiểu, Lại thành thấy điên đảo.
Nếu khởi tình thức phân biệt hiểu biết là trở thành điên
đảo rồi. Thấy thì cứ thấy, nghe thì cứ nghe, chân tâm
bủa khắp cõi. Nếu thấy mà phân biệt đẹp xấu, hay dở
thì đó là điên đảo.
Đối
cảnh hay không tâm, Mới giáp mặt Bồ-đề.
Đối cảnh mà tâm không dấy niệm phân biệt, đó là giáp
mặt với Bồ-đề. Bồ-đề ngay đó.
Bài
32
Phật
vị vô tâm ngộ,
Tâm
nhân hữu Phật mê.
Phật
tâm thanh tịnh xứ,
Vân
ngoại dã viên đề.
Phong
động tâm diêu thọ,
Vân
sanh tánh khởi trần.
Nhược
minh kim nhật sự,
Muội
khước bổn lai nhân.
Dịch:
Phật
do không tâm ngộ,
Tâm
nhân có Phật mê.
Chỗ
Phật tâm thanh tịnh,
Vượn
hoang hú ngàn mây.
Gió
động tâm lay cây,
Mây
sanh tánh dấy bụi. (trần)
Nếu
sáng việc hiện tại,
Quên
mất người xưa nay.
Phật
do không tâm ngộ. Không tâm
thì nhớ Phật, là thấy được Phật.
Tâm
nhân có Phật mê. Nếu
có tâm thì mê Phật, tức là quên Phật. Ngộ là nhớ, mê
là quên, chớ không phải Phật mê Phật ngộ. Như vậy khởi niệm
là mất Phật, không khởi niệm thì Phật hiện tiền.
Chỗ
Phật tâm thanh tịnh, Vượn hoang hú ngàn mây. Chỗ
Phật và tâm được thanh tịnh giống như con vượn hú ngoài
ngàn mây. Đây muốn nói rằng
khi tâm mình đã là tâm Phật thanh tịnh rồi, thì những
hiện tượng có không ở thế gian đều không dính dáng gì
hết, đều là cái hư ảo không thật.
Gió
động tâm lay cây, Mây sanh tánh dấy bụi.
Khi gió động, thì cây tâm mình bị lung lay, khi mây sanh thì
tánh dấy bụi. Gió động là gió gì? Thường ở trong nhà
Thiền gọi bát phong là tám gió. Bình thường tâm an, nhưng
gặp gió khổ lạc v.v… là cảnh vui cảnh khổ thì cây tâm
bị lung lay. Mây sanh tức là dấy niệm lên thì tánh mình bị
phủ, bị dơ, nên gọi là tánh dấy bụi.
Nếu
sáng việc hiện tại, Quên mất người xưa nay. Dính
mắc với những hình ảnh, những sự việc hiện tại thì
quên mất người lâu nay sẵn có của mình rồi. Khi chúng ta
có động tâm, có dấy niệm theo hiện tại thì đã mất người
chân thật muôn đời.
Bài
33
Ngại
xứ phi tường bích,
Thông
xứ một hư không.
Nhược
nhân như thị giải,
Tâm
sắc bổn lai đồng.
Dịch:
Chỗ
ngại chẳng tường vách,
Chỗ
thông đâu hư không.
Nếu
người rõ như thế,
Tâm
sắc xưa nay đồng.
Bài
này của Trường Sa Cảnh Sầm (Nối pháp Nam Tuyền Phổ Nguyện).
Chỗ
ngại chẳng tường vách, Chỗ thông đâu hư không.
Chỗ ngại tức là chỗ chướng ngại mà không phải do tường
vách. Chỗ trống cũng chẳng phải là hư không. Thường người
ta nói tường vách là chỗ chướng ngại, còn hư không trống
rỗng thì nói là thông. Nhưng mà thật ra không phải như vậy.
Tại sao? Mình ngồi trong nhà giữa bốn vách tường kín bít
mà tâm có thể nghĩ tới bên Tây bên Tàu. Vậy thì tường
vách có ngăn ngại được tâm không? Cái thông suốt không
chướng ngại đó không phải là hư không, mà chính là cái
tâm thể thanh tịnh rỗng suốt mênh mông còn hơn là hư không
nữa. Ở đây nói lên cái tâm thể của mình không bị tường
vách ngăn ngại, không bị hư không làm giới hạn. Hiểu được
vậy thì sao?
Nếu
người rõ như thế, Tâm sắc xưa nay đồng.
Người nhận được điều đó thì tâm, sắc đều không hai.
Bài
34
Mỹ
ngọc tàng ngoan thạch,
Liên
hoa xuất ứ nê.
Tu
tri phiền não xứ,[1]
Ngộ
tức thị Bồ-đề.
Dịch:
Ngọc
đẹp ẩn đá cứng,
Hoa
sen mọc bùn lầy.
Nên
biết ngay phiền não,
Ngộ
tức đó Bồ-đề.
Bài
này của Thiền Sư Minh Lương.
Ngọc
đẹp ẩn đá cứng. Hoa
sen mọc bùn lầy. Ngọc
quý tốt thường nằm trong đá rắn chắc, còn hoa sen mọc
ở dưới bùn lầy. Quý vị thấy hai câu này là hai câu chỉ
dẫn cho chúng ta tu. Muốn tìm ngọc quý phải nhọc nhằn đục
đẽo trong đá cứng, muốn được hoa sen thơm phải chịu khó
lội dưới bùn lầy. Như vậy là để nói lên ý gì? Người
tu muốn đạt tới được chỗ cao siêu, chỗ cứu cánh thì
phải chấp nhận mọi khó khăn, mọi cực nhọc, chớ không
thể nào muốn đạt được cái cao đẹp mà lại thong thả
nhàn rỗi. Vậy mà có nhiều vị tu hay than: “Tu gì mà nhọc
quá! Thảnh thơi đi du lịch chỗ này chỗ kia, về ngủ cho
khá khá một chút…”. Phải đục những tảng đá cứng mới
có những viên ngọc quý, câu đó quý vị nhớ cho kỹ một
chút. Ngọc quý nằm trong đá cứng chớ không nằm trong chỗ
đất bùn đất bụi đâu. Phải chịu khó xăn quần lội xuống
bùn mới cắt được sen thơm.
Như
vậy tu hành phải chấp nhận những cái khó,
cái nhọc nhằn mới có thể có kết quả tốt đẹp được.
Nên
biết ngay phiền não, Ngộ tức đó Bồ-đề. Nên
biết ngay phiền não này mà ngộ tức là Bồ-đề, khỏi cần
tìm kiếm đâu hết, chẳng phải ở trên mây trên trời.
Bài
35
Nhật
dụng vô phi đạo,
Tâm
an tức thị thiền.
U
thê vân hác để,
Mộng
mị tuyết bồng biên.
Dịch:
Đạo
tức hằng ngày dụng,
Tâm
an đó là thiền.
Dừng
nghỉ đáy hang mây,
Nằm
mơ bên lều tuyết.
Đạo
tức hằng ngày dụng, Tâm an đó là thiền.
Đạo ở đâu? Ngay trong cuộc sống hằng ngày của mình. Vậy
thì trị nhật, nấu cơm có đạo không? Hay là chỉ có rau,
có củi, có lửa, có nồi niêu? Ngay lúc mình nấu cơm, đạo
ở chỗ đó chớ không phải ở đâu xa. Vậy ở trong bếp,
ra rẫy mà tâm mình an thì đâu cũng là thiền. Nhưng bệnh
của chúng sanh là vào bếp thì nói chuyện trong bếp, ra đồng
thì nói chuyện ngoài đồng, chớ không chịu an. Bởi vậy
nên mất thiền. Thiền không ở xa, ở tất cả chỗ, nếu
tại một vị trí nào, làm một công tác gì mà tâm luôn luôn
an nhiên, thì chúng ta đang thiền rồi.
Dừng
nghỉ đáy hang mây, Nằm mơ bên lều tuyết.
Chúng ta có cái bệnh lúc nào cũng mơ ước chuyện đâu đâu,
chẳng khác nào người dừng nghỉ ở dưới đáy hang mây và
nằm mơ bên lều tuyết, nghĩa là chỉ tưởng tượng thôi,
không nhìn không thấy được lẽ thật. Chúng ta mơ ước tu
để ngày mai được về đâu đó hưởng an lạc vui tươi,
đi chơi chỗ này du lịch chỗ kia, thích tưởng tượng những
chuyện không thật như lều tuyết hang mây, còn cái chân thật
cái cứu kính hằng ngày mình không quan trọng. Đó là quở
trách người tu.
Bài
36
Cảnh
lập tâm hiện hữu,
Tâm
vô cảnh bất sanh.
Cảnh
hư tâm tịch tịch,
Tâm
chiếu cảnh linh linh.
Dịch:
Cảnh
lập tâm liền có,
Tâm
không cảnh chẳng sanh.
Cảnh
hư tâm lặng lẽ,
Tâm
chiếu cảnh vắng im.
Cảnh
lập tâm liền có, Tâm không cảnh chẳng sanh.
Tức là mình nhìn cảnh, thấy đẹp xấu thì tâm đã dấy
niệm rồi. Nếu cảnh đó đẹp xấu mà tâm không dấy niệm,
không khởi tâm thì cảnh có cũng như không, cho nên nói cảnh
chẳng sanh.
Cảnh
hư tâm lặng lẽ, Tâm chiếu cảnh vắng im.
Cảnh hư là cảnh rỗng, tâm lặng. Tâm mình nó bủa khắp,
nó sáng soi mà cảnh vẫn im lặng không dấy động.
Bài
37
Y
pháp bất y nhân,
Y
nghĩa bất y ngữ.
Y
trí bất y thức,
Y
liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa kinh.
Dịch:
Y
pháp chẳng y nhân,
Y
nghĩa chẳng y ngữ.
Y
trí chẳng y thức,
Y
kinh liễu nghĩa chẳng y kinh bất liễu nghĩa.
Y
pháp chẳng y nhân.
Nghĩa là chúng ta học đạo lý là y theo pháp Phật dạy chớ
không nên y cứ nơi người. Tại sao nói câu này? Vì lời Phật
dạy là chân lý. Người thầy hoặc người thiện tri thức
nhắc lại câu đó là câu của Phật, chúng ta nhớ lời Phật
để ứng dụng, đừng nhìn ông thầy. Ví dụ như Phật dạy
“Người tu không nhiễm trước tất cả sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp”. Chúng ta nghe cứ y đó mà tu, chớ đừng
nhìn ông thầy, lỡ ông thầy dạy câu đó mà
ổng hút thuốc, rồi mình nói thôi không được đâu,
ông thầy còn dính hương, rồi mình chán hết muốn tu. Đó
là sai lầm. Người lặp lại cho mình nghe, người đó chưa
phải là Phật, chưa phải là Phật thì họ cũng phải còn
những tập khí tốt xấu chút ít.
Y
nghĩa chẳng y ngữ.
Tức là lời nói của người xưa, của Phật Tổ, chúng ta
phải thấu suốt được nghĩa chớ đừng chấp ngôn từ.
Y
trí chẳng y thức.
Chữ “trí” ở đây là trí theo kinh Lăng Già. Bởi vì trí
là cái bất sanh bất diệt, thức là cái phân biệt sanh diệt.
Cho nên bảo đừng theo thức phân biệt, phải sống với trí
bất sanh bất diệt đó.
Y
kinh liễu nghĩa chẳng y kinh bất liễu nghĩa.
Tức là phải y theo các kinh liễu nghĩa – liễu nghĩa tức
là những kinh Phật nói cùng tột lẽ thật chân lý; còn không
theo các kinh Phật nói phương tiện để dẫn dắt người tu
tạm trong thời gian nào đó, đó gọi là kinh bất liễu nghĩa.
Như vậy là chúng ta phải theo những quyển kinh Phật nói đến
chỗ cứu kính chân thật, mà không nên theo những kinh Phật
nói phương tiện để dìu dắt những người sơ cơ. Đó là
ý nghĩa của bài này. Đây không phải là bài kệ mà là một
đoạn trong kinh Niết Bàn.
Bài
38
Nhất
đóa hàm đán liên,
Lưỡng
chu thanh sấu bách.
Trường
hướng tăng gia đình,
Hà
lao vấn cao cách.
Dịch:
Một
đóa hoa sen búp,
Hai
gốc bách xanh gầy.
Luôn
hướng trước nhà tăng,
Nhọc
chi hỏi cao cách.
Một
đóa hoa sen búp, Hai gốc bách xanh gầy. Nhìn
ngoài vườn có một đóa sen búp và hai cây bách xanh cứng
cỏi gầy ốm.
Luôn
hướng trước nhà tăng, Nhọc chi hỏi cao cách. Luôn
luôn hướng về nhà tăng, bao nhiêu đó đủ rồi, còn hỏi
gì cốt cách thanh cao. Nhìn tất cả những hiện tượng ở
trước mắt, thấu suốt được rồi thì đủ, đừng tìm kiếm
gì xa xôi.
*
*
*
Một
hôm quan Trấn thủ đến chùa Nguyệt Đường vịnh bài thơ:
Lục
trầm thùy thức ngụ thao tàng,
Kim
Nguyệt Đường phi tích Nguyệt Đường.
Tùng
lão cao đê trương thúy cái,
Hà
tiên thứ đệ tiến kỳ hương.
Thiền
trai túc ấn trì băng ngọc,
Khách
xá tân tiêu dẫn phụng hoàng.
Yêu
phước bất tu sùng huyễn huyễn,
Giác
lai nhất niệm thị y vương.
Dịch:
Đất
sâu ai biết chứa kho tàng,
Nguyệt
Đường nay khác Nguyệt Đường xưa.
Tùng
lão thấp cao giương lọng biếc,
Sen
tiên thứ lớp hương lạ dâng.
Luật
thiền ấn nghiêm gìn băng ngọc,
Nhà
khách sáo hay dẫn phụng hoàng.
Cầu
phước cần gì sùng mọi huyễn,
Giác
thì một niệm đó Y vương.
Ông
quan Trấn thủ này cũng hiểu đạo Phật kha khá. Cho nên khi
đến thăm làm bài kệ tặng.
Đất
sâu ai biết chứa kho tàng, Nguyệt Đường nay khác Nguyệt
Đường xưa.
Chữ “lục trầm” lục là đất bằng, trầm là sâu kín,
mà đâu ngờ có chứa kho tàng. Ông quan ca tụng chỗ này không
ai ngờ ngày nay dựng lên được chùa Nguyệt Đường đẹp
đẽ quý báu, khác hơn chùa Nguyệt Đường ngày trước.
Tùng
lão thấp cao giương lọng biếc, Sen tiên thứ lớp hương lạ
dâng.
Bên ngoài có mấy cây tùng giương lọng che, rồi có hoa sen
thơm dâng hương.
Luật
thiền ấn nghiêm gìn băng ngọc, Nhà khách sáo hay dẫn phụng
hoàng. Luật thiền nghiêm chỉnh
giữ gìn nét đẹp như băng ngọc, còn nhà
khách thì như có tiếng sáo véo von rủ chim phụng hoàng đến.
Chùa thì qui củ nghiêm nhặt khiến tăng chúng thanh tịnh,
nhà khách thì có sức hấp dẫn những khách cao quý viếng
thăm như tiếng sáo Tiêu Sử mỗi khi thổi lên có phượng
hoàng bay đến.
Cầu
phước cần gì sùng mọi huyễn, Giác thì một niệm đó Y
vương. Người
cầu phước tu hành đừng ham thích những cái hư dối. Ngay
nơi một niệm
mà mình giác ngộ thì đó là Phật, bậc Y vương.
Một
hôm, Sư hỏi môn nhân:
-Thế
nào là mặt thật xưa nay?
Đại
chúng đáp:
-Đầy
mắt núi xanh không tấc cỏ,
Tột
nhìn nước biếc bặt sóng mòi.
(Mãn
mục thanh sơn vô thốn thảo,
Cực
mục lục thủy tuyệt ba lang)
Ngài
lại hỏi đồ đệ trong nhà: Thế
nào là mặt thật xưa nay? Các
đồ đệ đáp rằng: Đầy mắt núi xanh không tấc
cỏ. Tột nhìn nước
biếc bặt sóng mòi. Tại
sao? Nghĩa là mặt thật xưa nay giống như ngọn núi xanh rờn
không có cỏ mọc lăng xăng, hay dòng
nước biếc không có sóng. Đó là mặt thật xưa nay.
Sư
lại hỏi:
-Thế
nào là Pháp thân chính mình?
Đại
chúng đáp:
-
Năm uẩn không pháp, thể trùm sa giới.
Tức
là ngay nơi năm uẩn không phải Pháp thân mà Pháp thân là
thể bao trùm cả sa giới tức là trần sa giới.
*
*
*