VI.
KHAI THỊ NGỘ NHẬP ĐƯỢC DUYÊN TỐT TRUYỀN TRAO ẤN CHỨNG
ĐOẠN
6
Bài
12
Khô
mộc nham tiền sai lộ đa,
Hành
nhân đáo thử tận tha đà.
Lộ
tư lập tuyết phi đồng sắc,
Minh
nguyệt lô hoa bất tự tha.
Liễu
liễu liễu thời vô sở liễu,
Huyền
huyền huyền xứ diệc tu ha.
Ân
cần vị xướng huyền trung khúc,
Không
lý thiềm quang yết đắc ma?
Dịch:
Cây
khô trước núi dễ lạc đàng,
Người
đi đến đó thảy mơ màng.
Tuyết
trong cò trắng đâu cùng sắc,
Trăng
sáng hoa lau màu chẳng đồng.
Liễu
liễu, khi liễu không chỗ liễu,
Huyền
huyền, chỗ huyền cũng phải buông.
Ân
cần hát khúc huyền trung ấy,
Ánh
trăng giữa trời nắm được không?
Tuyết
trong cò trắng đâu cùng sắc. Tuyết đóng trên cây trên lá
trắng phau phau, với con cò trắng, cả hai đều trắng hết,
nhưng tuyết là vô tri, cò trắng là hữu tri. Hai thứ dường
như không khác mà khác. Đứng về màu trắng thì như nhau,
nhưng một bên vô tri một bên hữu tri.
Trăng
sáng hoa lau màu chẳng đồng. Hoa lau và trăng cũng sáng cũng
trắng nhưng hai cái khác. Trăng là cái sáng trùm cả bầu trời.
Còn cái sáng của hoa lau chỉ một cành nhỏ. Như vậy chúng
ta đừng lầm, tới chỗ yên tưởng đó là cùng tột, giống
như là lầm tuyết trắng với cò trắng, hoa lau với trăng
sáng. Như vậy thì phải còn cái gì nữa?
Liễu
liễu, khi liễu không chỗ liễu. Mình phải liễu liễu, mà
khi liễu không có cái gì để liễu.
Huyền
huyền, chỗ huyền cũng phải buông. Ngộ tức là liễu ngộ
tuy thâm thúy sâu xa, nhưng chỗ huyền đó cũng cần quở trách.
Ân
cần hát khúc trong huyền ấy, Ánh trăng giữa trời nắm được
không. Tới chỗ cứu kính thì mình mới hát khúc mầu nhiệm,
nhưng chỗ đó như ánh trăng trong hư không, không nắm bắt
được. Người tu phải đến nơi đến chốn đừng có mắc
kẹt, được một chút chớ tưởng đó là xong, mà phải tiến
tới chỗ cuối cùng. Liễu liễu, liễu tức là liễu ngộ
mà rốt cuộc không còn sở liễu. Huyền huyền tức là mầu
nhiệm, huyền diệu được một lần, hai lần, nhưng rồi cũng
dẹp huyền diệu đó đi, vì còn có ngộ còn có nhiệm mầu,
thì chưa phải là chỗ cứu kính chân thật. Cứu kính chân
thật là chỗ tự tại, trong sáng trùm khắp không có giới
hạn. Bài kệ này là cảnh tỉnh những người tu được ít
cho là đủ, rồi hài lòng thỏa mãn, cho nên bị kẹt.
Bài
13
Nhàn
tọa yến nhiên thánh mạc tri,
Túng
ngôn vô vật tỉ phương y.
Thạch
nhân bã bảng vân trung phách,
Mộc
nữ hàm sanh thủy để xuy.
Nhược
đạo bất văn cừ vị hiểu,
Dục
tầm kỳ hưởng nhĩ hoàn nghi.
Giáo
quân xướng họa nhưng tu họa,
Hưu
vấn cung thương trúc dữ ti.
Dịch:
Thảnh
thơi ngồi lặng Thánh biết chi,
Dẫu
rằng không vật so sánh y.
Trong
mây người đá cầm phách gõ,
Đáy
nước nàng gỗ miệng thổi sênh.
Nếu
bảo chẳng nghe, y chưa hiểu,
Muốn
tìm vang đó, anh lại nghi.
Cho
anh xướng họa thì cứ họa,
Chớ
hỏi cung, thương, trúc với ti.
Thảnh
thơi ngồi lặng Thánh biết chi. Khi
mình đến chỗ chân thật rồi thì ngồi thảnh thơi yên lặng
dù chư Thánh cũng không biết được. Tại sao vậy? Bởi vì
tâm của người đã sống với thể chân thật thì tự mình
biết, không ai khác biết được, vì tâm thể không có tướng,
không có hình cho nên đâu ai biết được.
Dẫu
rằng không vật so sánh y.
Nghĩa là không có thể đem vật gì để so sánh, bởi vậy
“Bản lai vô nhất vật”. Đến chỗ đó là diệu dụng.
Trong
mây người đá cầm phách gõ, Đáy nước nàng gỗ miệng thổi
sênh. Vì diệu
dụng nên người đá trong mây cũng biết cầm phách, nàng gỗ
đáy nước cũng biết thổi sênh. Như vậy bốn câu trên nói
lên chỗ cuối cùng, hay chỗ tột cùng của người tu, đến
đó rồi thì diệu dụng không thể nghĩ bàn.
Nếu
bảo chẳng nghe, y chưa hiểu, Muốn tìm vang đó, anh lại nghi.
Nghĩa là người nghe muốn nghe muốn biết cũng không thể hiểu
được; muốn tìm tiếng vang cũng tìm không ra, cho nên nghi
ngờ; vì chỗ đó không cho hiểu, không cho biết.
Cho
anh xướng họa thì cứ họa.
Bây giờ anh cần xướng cần họa thì cứ xướng họa đi.
Chớ
hỏi cung, thương, trúc với ti. Như
vậy bài kệ này cho chúng ta thấy, người tu đến chỗ chân
thật rồi, như “người uống nước nóng lạnh tự biết”,
không ai biết cho mình được, Thánh cũng không biết, tuy vẫn
có diệu dụng, như người đá biết cầm phách gõ, người
gỗ biết thổi sênh. Tất cả âm vận đều có thể diễn
bày một cách mầu nhiệm mà không ai có thể hiểu, không ai
có thể biết, không ai có thể họa được, bởi vì âm thanh
kia vượt ngoài tất cả dụng cụ đàn sáo cung, thương, trúc,
ti, thứ đó không thể sử dụng được.
Bài
14
Vũ
tẩy đạm hồng đào ngạc nộn,
Phong
xuy thiển bích liễu ti khinh.
Bạch
vân ảnh lý quái thạch lộ,
Lục
thủy quang trung khô mộc thanh.
Dịch:
Mưa
rửa nhạt hồng đào nhụ mởn,
Gió
đùa bớt biếc liễu tơ bay.
Dưới
bóng mây trắng đá lạ hiện,
Trong
ánh nước trong cây khô xanh.
Bài
15:
Nhất
dước dước phiên tứ đại hải,
Nhất
quyền quyền đảo Tu Di sơn.
Phật
Tổ vị trung lưu bất trụ,
Hựu
xuy ngư địch bạc La Loan.
Dịch:
Một
nhảy nhảy khỏi bốn bể cả,
Một
đấm đấm nhào núi Tu Di.
Trong
ngôi Phật Tổ mời chẳng ở,
Lại
thổi sáo chài thẳng La Loan.
Bài
này nói lên rằng người tu khi đến nơi đến chốn rồi,
thì diệu dụng của các ngài là:
Một
nhảy nhảy khỏi bốn bể cả, Một đấm đấm nhào núi Tu
Di. Mấy
chú bữa nào đấm thử núi Voi Phục xem nó có nhào không.
Ai đấm nhào thì giỏi lắm! Nhưng ở đây không phải là chuyện
quá đáng. Người ngoài nghe thì nghĩ đây là chuyện tưởng tượng.
Thật sự người tu không tưởng tượng, khi nhận ra thể chân
thật rồi, thì thấy tất cả thế gian này không một pháp
thật. Cho nên nói: “Bổn lai vô nhất vật”. Dù lớn như
quả đất cũng là trò chơi, biển cả mênh mông cũng là trò
chơi, trò ảo hóa không thật. Khi mình đứng trong cái thật
rồi, nhìn các pháp như trò chơi trò đùa không giá trị gì
hết. Còn mình đang mê thì thấy có lớn có nhỏ, nên không
bao giờ nghĩ là sẽ làm được. Nhưng khi ngộ rồi thấy được
các pháp tướng giả dối nên chỉ là một phần nhỏ, vì
vậy trong kinh Lăng Nghiêm nói: Phật nhìn thấy các thế gian
như là bao nhiêu quả núi, hay là bao nhiêu biển cả… kể
cả quả đất của mình chỉ như là những hòn bọt nổi ngoài
biển khơi. Trong khi thể chân thật thì thênh thang như biển
cả. Nhập được thể thênh thang rồi thì thấy cả vũ trụ,
cả thế gian chỉ là trò chơi, một tay búng cũng bay, hay là
một cái đấm cũng tan nát. Đó là ý nghĩa “đấm một đấm,
hay nhảy một nhảy vượt qua”.Cũng vậy ai đọc kinh Duy Ma
Cật mới thấy chuyện nắm quả đất ném ra ngoài thế giới
khác v.v… Đó là lối diễn tả sự diệu dụng khi thể nhập
được cái chân thật thênh thang, chỉ cần một lượn sóng
nhỏ trong biển cũng làm cho hòn bọt tan, huống nữa là cả
mặt biển.
Trong
ngôi Phật Tổ mời chẳng ở, Lại thổi sáo chài thẳng La
Loan. La Loan là quê hương
của quỷ La Sát. Tại sao mình tu đến chỗ Phật mà không
chịu ở lại đi chơi với quỷ, tới xứ quỷ? Tông Tào Động
thường nói “đi trong dị loại” nghĩa là khi người tu đạt
đến chỗ đó rồi, nếu mình hài lòng và an trụ thì đâu
có vuông tròn hạnh Bồ-tát. Cho nên mục chăn trâu thứ mười
của nhà Thiền, là hình ảnh ông già cầm cây gậy, quảy
con cá chép, xách bầu rượu, tức đi vào đường quỷ La Sát.
Xứ Phật mời cũng không ở mà cầm gậy đi vào trong xóm
nhậu với mấy chú nhà quê. Khi mình đạt đến chỗ cứu
kính rồi, không bao giờ bằng lòng an hưởng. Phải làm sao
cảnh giác, đánh thức những người còn mê muội, dù đến
chỗ xấu xa hay xóm nhà quê uống rượu ăn thịt cũng phải
lao mình tới, như vậy mới đủ công hạnh của Bồ-tát.
Bài
16
Hảo
sự đôi đôi điệp điệp lai,
Bất
tu tạo tác dữ an bài.
Lạc
lâm hoàng diệp thủy suy khứ,
Hoành
cốc bạch vân phong quyển hồi.
Hàn
nhạn nhất thanh tình niệm đoạn,
Sương
chung tài động ngã sơn thôi.
Bạch
dương cánh hữu quá nhân xứ,
Tận
dạ hàn lô bát nguyên khôi.
Dịch:
Việc
tới dập dồn cũng tốt luôn,
Chẳng
cần sắp đặt với lo toan.
Gió
cuốn mây tan bày cửa động.
Nước
trôi lá rụng sạch vườn rừng,
Chuông
sương vừa dộng núi “ngã” sập.
Nhạn
lạnh kêu lên tình niệm ngưng,
Bạch
Dương lại có người qua đấy,
Đêm
trọn lò tàn bới tro hừng.
Việc
tới dập dồn cũng tốt luôn.
Người tu đã đến chỗ chân thật thì việc nào bên ngoài
xảy đến cũng tốt hết. Ví dụ như mình tu, đạo lý được
thâm sâu, có người đến tán dương: “Đạo lý thầy rất
tốt, lợi ích cho chúng sanh” đó là việc tốt. Có người
lại phỉ báng: “Thầy tu ăn không ngồi rồi vô tích sự,
không có ích lợi gì cho quê hương xứ sở”. Thì
sao? Cũng là việc tốt thôi. Việc gì tới cũng tốt bởi vì
không làm cho tâm mình phải động, không làm cho tâm mình dấy
khởi vui buồn. Nếu có niệm vui buồn thì có việc tốt việc
xấu, nếu tâm không dấy động không vui buồn thì việc nào
cũng tốt hết, không có việc nào xấu. Bởi vậy tu tới đây
thì việc tới chồng chập, hết cái này tới cái kia đều
tốt hết. Cả ngày tốt hết, thì có gì buồn không?
Chẳng
cần sắp đặt với lo toan. Không
cần tạo tác hay sắp đặt, chúng ta không phải mình chọn
lựa cái xấu bỏ ra, cái tốt tới với mình. Mọi việc xảy
ra đều tốt hết. Đó là cái thảnh thơi nhất trên đời
tu.
Gió
cuốn mây tan bày cửa động, nước trôi lá rụng sạch vườn
rừng. Mây
trắng đang đóng ngang hang gặp luồng gió mạnh thổi qua cuốn
đi mất. Lá úa trên cây rừng rơi xuống thì nước mưa cuốn
đi, khỏi cần phải quét dọn. Cũng như mọi sự mọi vật
tự tiêu hoại chớ mình khỏi dụng công. Tới chỗ an nhiên
tự tại, không còn có niệm khen chê, tốt xấu, cái gì đến
cũng tốt, tự nó giải quyết, tự nó làm đẹp chớ không
phải dụng công gì.
Chuông
sương vừa dộng núi “ngã” sập. Nhạn lạnh kêu lên tình
niệm ngưng. Nghe tiếng chim nhạn
kêu buổi khuya, bao nhiêu tình niệm không còn nữa. Khuya vừa
nghe dộng chuông thì núi “ngã” tan nát. Nghe tiếng nhạn
kêu thì tình niệm không còn. Tu như vậy mới thật là an ổn.
Bạch
Dương lại có người qua đấy, Đêm trọn lò tàn bới tro
hừng. Ở
quán Bạch Dương lại có người qua, lò hương suốt đêm đã
tàn lạnh vẫn bới ra được than hồng. Tình niệm đã dứt
ngã chấp đã tan. Tưởng như lò hương miếu cổ. Ai biết
đâu trong tro tàn đó lại có than hồng. Bản tâm sẵn có của
chúng ta lúc nào cũng hiện diện, đầy đủ diệu dụng tròn
sáng.
Bài
17
Liễu
vọng quy chân vạn lụy không,
Hà
sa phàm thánh bổn lai đồng.
Mê
lai tận thị nga đầu diệm,
Ngộ
khứ phương tri hạc khứ lung.
Phiến
nguyệt ảnh phân thiên giản thủy,
Cô
tùng thanh nhậm tứ thời phong.
Trực
tu mật khế tâm tâm địa,
Thủy
ngộ sanh bình thùy mộng trung.
Dịch:
Bỏ
vọng về chân muôn lụy không,
Thánh
phàm ức triệu xưa nay đồng.
Mê
đi cả thảy ngài vào lửa,
Ngộ
lại mới hay hạc xổ lồng.
Một
mảnh bóng trăng phân ngàn suối,
Thông
côi reo mãi bốn mùa rung.
Cần
phải thầm thông tâm địa ấn,
Mới
ngộ bình sanh một giấc nồng.
Bỏ
vọng về chân muôn lụy không, tức
là ai tu mà bỏ tâm hư dối điên đảo, sống được với
tâm chân thật, thì mọi khổ lụy của trần gian đều tan
biến không còn. Bởi vậy ai tu mà mặt nhăn nhăn nhó nhó thì
biết khổ lụy còn. Tức là chưa bỏ vọng về chơn.
Thánh
phàm ức triệu xưa nay đồng.
Dù phàm dù thánh nhiều cả ức triệu cũng đồng có một
tâm chân thật không khác,
mà tại sao bây giờ thành khác?
Mê
đi cả thảy ngài vào lửa. Ngài
là con thiêu thân. Nếu tánh chân thật bị mê mờ thì tất
cả đều như là con thiêu thân lao mình vào lửa. Đáng thương
thay chúng ta! Công chuyện gì cũng ôm vô để mà khổ. Thí
dụ hai người đang nói chuyện vui vẻ, không biết có phải
họ nói mỉa mình hay không, sao nghe cái gì na ná như liên hệ
tới mình, liền chen vô nói: “Mấy người muốn nói xấu
tui hả?” Rồi khổ, rồi cự nhau làm phiền lụy. Tất cả
đều từ mê mà ra.
Ngộ
lại mới hay hạc xổ lồng.
Người ngộ rồi như con hạc đang nhốt trong lồng được
thả ra, bay thẳng lên trời thong dong biết mấy. Quý vị muốn
làm con hạc xổ lồng hay muốn làm con ngài, con thiêu thân
bay vào lửa? Giữa hai hình ảnh liều mình vô lý, và thảnh
thơi vô cùng, chọn cái nào? Phải chọn một trong hai chớ
không chần chừ nữa, sẽ không kịp vì thời gian không cho
phép mình kéo dài.
Một
mảnh bóng trăng phân ngàn suối, Thông côi reo mãi bốn mùa
rung.
Nhìn trên trời chỉ thấy một mặt trăng, nhưng ngó xuống
suối, xuống hồ, xuống ao, thì có bao nhiêu bóng trăng? Bóng
trăng thiên vạn ức mà mặt trăng thì không hai. Thể chân
thật không rối rắm, không có nhiều, cái nhiều là hư ảo
chớ không phải thật. Bóng trăng là hư ảo, mặt trăng là
thật. Cho nên khi mê chúng ta đuổi theo bóng trăng, nếu tỉnh
nhìn lên thì thấy chỉ có một mặt trăng. Cũng vậy, một
cây thông reo tùy theo bốn mùa, mùa gió đông thổi thì rung
theo gió đông, mùa gió tây thổi thì rung theo gió tây. Tùy
theo gió, tùy theo mùa cây thông rung khác nhau, nhưng chỉ có
một cây thông thôi. Cái chân thật không có hai, sở dĩ có
nhiều là bởi hư giả, chớ không phải chân thật.
Cần
phải thầm thông tâm địa ấn,
Mới ngộ bình sanh một giấc nồng. Chúng ta phải thầm nhận
và thông suốt được ấn tâm địa, tức là nhận ra đất
tâm của mình. Ngài Vô Ngôn Thông ngộ qua câu “Tâm địa
nhược không, huệ nhật tự chiếu”. Nhận được tâm địa
thì không bị vật gì che đậy nữa, gọi là “tâm địa ấn”.
Khi đó mình mới biết cuộc sống này chỉ là một giấc mơ
thôi, có thật gì đâu. Nhận ra được cái kia rồi thì mới
thấy cái này là giả, còn chưa nhận được thì ai cũng tưởng
là thật hết.
Bài
18
Tâm
pháp song vong du cách vọng,
Sắc
trần bất nhị thượng dư trần.
Bách
điểu bất lai xuân hựu quá,
Bất
tri thùy thị trụ am nhân.
Dịch:
Tâm,
pháp đều quên còn cách vọng,
Sắc,
trần như một vẫn thừa trần.
Trăm
chim chẳng đến Xuân cứ đến,
Nào
biết ai là người trụ am?
Bài
này của Am chủ Diệu Phổ Tánh Không (Đệ tử của Thiền
sư Tử Tâm).
Tâm,
pháp đều quên còn cách vọng.
Luôn luôn con người hoặc là chấp pháp bên ngoài, hoặc là
chấp tâm bên trong. Bây giờ cả trong lẫn ngoài đều quên
mà còn cách vọng.
Sắc,
trần như một vẫn thừa trần. Tất
cả hình tướng cụ thể là sắc, và những nguyên nhân tụ
họp thành sắc là trần, cả hai là một mà vẫn thừa trần.
Tại sao vậy? Tâm quên, pháp quên nhưng còn chưa thấy được
ông chủ, vì vậy mà còn cách vọng. Sắc và trần là một
nhưng vẫn thừa trần, vì sắc và trần hai thứ đều thuộc
về trần hết, tuy là một nhưng vẫn còn trần. Hai câu trên
xác nhận rằng người tu chúng ta tọa thiền cho dù quên cả
tâm, quên cả pháp, nhưng nếu chưa nhận ra được chính ông
chủ của mình thì cũng còn là vọng, chưa phải chân. Tuy thấy
trần và sắc là một, nhưng vẫn còn thuộc về trần chớ
chưa phải đến chân.
Trăm
chim chẳng đến Xuân cứ đến, Nào biết ai là người trụ
am? Thường
thường mùa Xuân thì chim nhạn, chim én bay về. Nếu trăm chim
không bay về, mùa Xuân có đến không? Chẳng phải đợi chim
về Xuân mới đến, dù chim không về, tới thời tiết nhân
duyên Xuân vẫn đến như thường. Người tu chúng ta cứ ngỡ
rằng tâm mình muốn đạt đến chỗ giác ngộ sẽ có những
triệu chứng, những hiện tượng gì trước, rồi mới tới
giác ngộ, nhưng sự thật không phải như vậy. Thường thường
người ta nói giác ngộ là một đột biến bất thường không
ngờ, như đang ngồi, bất chợt mình thấy cái gì, nghe cái
gì bỗng sáng ra, không báo hiệu trước mà nó đến, chớ
không phải đợi có hiện tượng đến trước báo tin. Ngoài
kia chim nhạn và mùa xuân đến, nhưng điều quan trọng không
phải ở nhạn ở xuân, mà phải biết ông chủ trong am là
ai, là người nào. Nếu có thấy chim bay về báo trước mùa
xuân đến cũng là thấy tướng ở bên ngoài. Trọng tâm của
người tu là phải biết người đang trụ trong am. Bây giờ
quý vị biết người đang trụ am chưa? Người đó tên gì?
Người đó không tên. Tóm lại bốn câu này diễn tả người
tu tâm thanh tịnh, quên hết tất cả ngoại cảnh bên ngoài,
hay đối với sắc trần không còn thấy hai nữa. Được như
vậy tuy là tốt nhưng chưa phải chỗ quan trọng mà chủ yếu
là phải nhận được người trụ trong am tức ông chủ của
chính mình.
Bài
19
Tàng
thân vô tích cánh vô tàng,
Thoát
thể vô y tiện xí đương.
Cổ
cảnh bất ma hoàn tự chiếu,
Đạm
yên hòa vụ thấp thu quang.
Dịch:
Tàng
thân không dấu lại không tàng,
Thoát
thể không nương liền đảm đang.
Gương
xưa tự chiếu lau chùi khỏi,
Khói
nhạt sương mờ nhuận thu quang.
Tàng
thân không dấu lại không tàng. “Tàng
thân” tức là ẩn thân không dấu vết, nhưng sự thật không
có ẩn gì hết, nên “không tàng”. Đối với người tu
dù phân tích, chia chẻ cái thân này cho tới chỗ cuối
cùng, không còn một hình dáng, một dấu vết gì, cũng chưa
phải là chỗ quan trọng. Chỗ quan trọng là:
Thoát
thể không nương liền đảm đang.
“Thoát thể” là vượt khỏi thân này, siêu vượt hình tướng,
sắc thể này, không còn nương tựa một nơi nào, một chỗ
nào. Người tu đến đây mới xứng đáng đảm đang việc
lớn. Chỗ “thoát thể vô y” ngài Lâm Tế thường hay nói
là “vô vị chân nhân”, là người chân thật không có chỗ
nơi. Nếu có chỗ nơi thì không phải là người chân thật.
Như ông vua ngự trên ngai hay đền rồng, mỗi người hễ có
chức vụ đều có ngôi có vị để tựa. Nhưng với người
chân thật này không có ngôi vị. Quý vị thấy người chân
thật của mình đang ở đâu? Tựa chỗ nào? Không chỗ tựa
nên “thoát thể”, vượt khỏi hay siêu vượt thân này để
đạt đến chỗ cứu kính là con người chân thật, là con
người không nương tựa. Bởi vì con người không nương tựa
mới là người đảm đang được việc lớn của mình. Còn
mọi sự như tàng thân không dấu hay là không tàng… chưa
phải là chỗ đáng trông cậy.
Gương
xưa tự chiếu lau chùi khỏi, Khói
nhạt sương mờ nhuận thu quang. Gương xưa tự nó sáng khỏi
cần phải lau chùi. Khi gương bị bụi phủ mình lau gương
hay lau bụi? Thường thường người ta nói gương dơ phải
lấy khăn lau cho sạch, nhưng sự thật không phải lau gương
mà lau bụi. Vì sao? Gương tự nó trong, tự nó sáng, vì bụi
đóng thành ra tối. Bây giờ muốn gương sáng thì chịu khó
lau sạch bụi, không có làm thêm gì cho gương. Vì gương sẵn
sáng, nên chúng ta lau bụi chớ chẳng phải lau gương, mà đa
số quen cứ nói là lau gương. Như vậy mình tu là để cho
chân tâm được sáng suốt, được thanh tịnh, nhưng chân tâm
nguyên sáng suốt thanh tịnh như mặt gương trong vậy, mà bị
phiền não vô minh che phủ, nên tính sáng suốt thanh tịnh không
hiện. Bây giờ tu là dẹp vô minh, dẹp phiền não. Vô minh
phiền não sạch thì chân tâm tự sáng suốt, tự thanh tịnh.
Nếu nói tu để cho trí vô sư hiện, để cho chân tâm thanh
tịnh là sai, nói cho đúng là tu cho tất cả phiền não tiêu
diệt, tu cho tất cả vô minh trong sạch, thì gương thanh tịnh
sáng suốt của mình là bản tâm sáng trong sẽ hiện, nó tự
sáng trong rồi không do tu. Bởi vậy nói tu để cho tâm thanh
tịnh giống như lau gương để cho sạch vậy. Mới nghe thì
thấy na ná như nhau, nhưng sự thật thì ý nghĩa khác một
trời một vực. Nếu chúng ta không dẹp sạch tất cả phiền
não, tất cả vô minh thì dù cho nói chân tâm, nói Phật tánh
sẵn có cũng không bao giờ chúng ta thấy. Như vậy tu với
vô minh phiền não, chớ không phải tu với chân tâm Phật tánh.
Bởi vậy các Thiền sư nói “Tôi không có tu”, vì cái chân
thật không cần tu. Tuy nhiên nếu nói theo kinh thì “tu vô
tu”. Tại sao tu mà vô tu? Vì tu với phiền não, chớ cái chân
thật thì không tu. Ý nghĩa này rất thâm sâu, hết sức chính
xác, không phải chuyện mơ hồ.
Bài
20
Quang
minh tịch chiếu biến hà sa,
Phàm
thánh hàm linh cọng ngã gia.
Nhất
niệm bất sanh toàn thể hiện,
Lục
căn tài động bị vân già.
Đoạn
trừ phiền não trùng tăng bệnh,
Thú
hướng chân như tổng thị tà.
Tùy
thuận chúng duyên vô quái ngại,
Niết-bàn
sanh tử đẳng không hoa.
Dịch:
Quang
minh tịch chiếu khắp hà sa,
Phàm
thánh, hàm linh chung nhà ta.
Một
niệm chẳng sanh toàn thể hiện,
Sáu
căn vừa động bị mây lòa.
Dứt
trừ phiền não càng thêm bệnh,
Hướng
đến chân như cũng là tà.
Tùy
thuận các duyên không chướng ngại,
Niết-bàn,
sanh tử thảy không hoa.
Bài
kệ này của tú tài Trương Chuyết. Khi ông đến hỏi đạo
với Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư, bị Ngài hỏi lại:
Ông tên gì? Thưa: Con tên là Trương Chuyết. Ngài liền nói:
Trong đây cái xảo còn không có huống là chuyết. Bởi vì
chữ “chuyết” là vụng, “xảo” là khéo. Ở đây xảo
cũng không, làm gì có vụng. Nghe câu đó ông liền ngộ làm
bài kệ này, nổi tiếng từ xưa tới giờ các nơi đều dẫn.
Quang
minh tịch chiếu khắp hà sa.
“Quang minh” là ánh sáng, sáng mà lặng, lặng mà soi, cái
đó khắp hà sa, chỗ nào cũng soi khắp.
Phàm
thánh, hàm linh chung nhà ta.
Người thánh kẻ phàm tất cả chúng sanh đều cùng một nhà.
Nơi chúng ta dù thánh hay phàm ai cũng sẵn có tánh giác, sáng
suốt mà yên lặng.
Một
niệm chẳng sanh toàn thể hiện, Sáu căn vừa động bị mây
lòa. Nếu
nơi tâm không dấy một niệm, thì tánh giác hiện đầy đủ.
Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý vừa dấy động chạy
theo cảnh thì mây bủa giăng bao phủ che mờ tánh giác rồi.
Hai câu này nói lên công dụng tu hành và không biết tu hành.
Đó là yếu chỉ của sự tu.
Dứt
trừ phiền não càng thêm bệnh, Hướng đến chân như cũng
là tà.
Hai câu này nhiều người nghi lắm. Tại sao dứt trừ phiền
não càng thêm bệnh? Nếu không dứt phiền não thì chừng nào
mình được an ổn, được thanh tịnh? Nhưng dứt là thêm bệnh,
mà để nguyên thì tu cái gì? Sự thật buồn, thương, giận,
ghét, oán hờn… là hư ảo. Quý vị nghe ai nói trái ý, nổi
nóng đùng đùng lên, đang lúc đó nếu có người khéo nói
một câu bèn thức tỉnh thì nóng giận lặn đâu mất. Quý
vị chỉ coi nóng giận lặn đi đâu? Chạy vô tim vô phổi
phải không? Khi nóng giận dấy lên thì thấy mạnh, nhưng tới
khi dừng tìm không ra, mất tăm mất dạng, vậy cơn nóng thậät
hay giả? Nóng giận, buồn thương… đều là bóng dáng không
thật, làm sao dẹp bỏ? Nghĩ trừ nghĩ dẹp là sai lầm, vì
dùng cách này cách nọ để trừ dẹp cái giả dối tức mình
tưởng chúng là thật, nên nghĩ trừ dẹp là thêm bệnh. Nhưng
không trừ dẹp thì để cho chúng tự do phát lên hay sao? Đó
là chỗ trọng yếu. Phật dạy chúng ta tu bằng trí tuệ. Nóng
giận, buồn phiền dấy khởi, chỉ cần xét nhìn lại coi thật
hay không. Nếu mình theo nó thì bị phá phách, nhìn lại tìm
kiếm thì nó tự tan mất. Khi chúng ta nổi giận, lúc đó đừng
nói gì hết, thử ngồi lại xem cơn giận đó từ đâu ra.
Tìm chừng mười lăm phút, khỏi cần phải uống nước lạnh
mất công, tìm một hồi tự nhiên hết giận. Có nhiều người
giận quá chạy đi uống nước, vuốt ngực hoặc là tìm cách
này cách kia để dằn xuống… làm như vậy tưởng sẽ hết,
mà có hết đâu. Uống nước vô rồi nhớ lại thì nổi giận
đùng đùng nữa, chẳng lẽ uống chục lần nước cho bể
bụng. Chỉ cần dùng trí nhìn đúng bản chất thật của cơn
giận, hiểu được rồi tự nhiên hết, khỏi phải đè nén.
Như vậy không cần trừ phiền não mà phiền não tự trừ,
nếu cố dẹp cố đè, tức thấy vọng là thật thì thêm bệnh.
Hướng
đến chân như cũng là tà.Tại
sao vậy? Chân như là tâm thanh tịnh, bất sanh bất diệt, đã
sẵn nơi mình, chỉ cần sạch hết phiền não, không còn dấy
động thì sờ sờ ở đó, nếu tìm đến tức chân như không
phải của mình. Tỷ dụ cái nhà của tôi, tới là bước vô,
khỏi cần tìm. Ngồi trong nhà thì không tìm nhà. Còn ngồi
trong nhà mà tìm nhà tức người đó chưa biết nhà mình. Tâm
thể chân như đã sẵn nơi mình, tràn trề bủa khắp mà mình
quên, không nhận ra, nếu phiền não vô minh sạch thì tự hiển
hiện, khỏi tìm kiếm ở đâu. Cho nên người tu nếu đi tìm
đi kiếm chân như là tà, không phải là chánh. Rõ ràng có
hai thứ bệnh: bệnh thấy phiền não thật và bệnh thấy chân
như ở ngoài mình.
Tùy
thuận các duyên không chướng ngại, Niết-bàn, sanh tử thảy
không hoa. Tùy thuận các duyên
là sao? Người ta chọc mình cười cứ cười, người ta chọc
mình giận cứ giận, đó là tùy thuận các duyên phải không?
Thuận các duyên chính là chỗ ngài Điều Ngự Giác Hoàng đã
nói “Cơ tắc xan hề khốn tắc miên”, tức đói thì ăn,
mệt thì ngủ. Nghĩa là gặp duyên đến thì sử dụng, không
có tâm đòi hỏi, phân biệt. Mình cũng đói ăn mệt ngủ như
các ngài, sao các ngài tùy thuận, còn mình bị các duyên chi
phối? Khi bụng đói thèm ăn lắm mà thấy người dọn những
món không vừa ý hết muốn ăn, như vậy có phải tùy thuận
không? Chỉ mộtù câu đơn giản này Tăng Ni Phật tử chúng
ta tu thấy dễ hay khó? Cứ tùy thuận chúng duyên. Duyên tới
ăn thì ăn, tới ngủ thì ngủ. Ăn không đòi ngon dở, ngủ
không suy nghĩ việc quá khứ vị lai là tùy thuận. Còn ăn
mà khen chê ngon dở, ngủ thì gác tay lên trán, nhớ chuyện
năm trên năm dưới thì chưa phải là tùy thuận. Thấy như
là dễ, ai làm cũng được, nhưng thật sự làm không được.
Phải chi không muốn ăn mà làm thinh, đây còn cự nự nữa.
Như vậy mới thấy mình không có tùy thuận. Đó là chỉ nói
duyên đói ăn, mệt ngủ, còn duyên khen chê… quý vị có tùy
thuận nổi không? Nếu khen mà tâm mình không vui thích, chê
tâm mình không buồn phiền thì đó là tùy thuận. Như vậy
nếu biết tùy thuận các duyên không chướng ngạithìchừng
đó mới thấy Niết-bàn, sanh tử thảy là hoa đốm trong hư
không. Chúng ta thấy sanh tử là thật, là đau khổ nên mới
cầu Niết-bàn là an vui tịnh lạc. Tránh đau khổ tìm an vui
gọi là tu. Bây giờ nói Niết-bàn và sanh tử tức là đau
khổ và an vui đều là hoa đốm trong hư không thì làm sao?
Mục đích chúng nhắm còn hay không? Thật sự người trụ
am không có tên. Người trụ am không tên thì Niết-bàn tên
gì? Sanh tử tên gì? Đó là hai danh từ đối đãi để dựng
lập, vì thấy sanh tử thật khiến sợ hãi nên thấy Niết-bàn
thật sanh vui thích để mong tìm. Nhưng rõ ràng đến chỗ cứu
kính sanh tử không thật, Niết-bàn cũng không thật, như hoa
đốm ở hư không thì có gì mà dựng lập? Chỗ cứu kính
chỉ có một người là am chủ chứ không có sanh tử, không
có Niết-bàn. Như vậy chúng ta thấy qua bài kệ này, tú tài
Trương Chuyết đã nhìn rất thấu đáo và tận tường đối
với con đường tu hành.
Bài
21
Cảnh
duyên vô hảo xú,
Hảo
xú khởi ư tâm.
Tâm
nhược bất cưỡng danh,
Vọng
tình hà xứ khởi.
Dịch:
Cảnh
duyên không tốt xấu,
Tốt
xấu dấy nơi tâm.
Nếu
tâm chẳng gượng đặt, (tên)
Vọng
tình từ đâu sanh!
Cảnh
duyên không tốt xấu, Tốt xấu dấy nơi tâm. Chúng
ta luôn mắc phải bệnh gán cho cảnh bên ngoài và người bên
ngoài xấu và tốt. Cảnh và người có thật xấu thật tốt
không? Ví dụ hôm nào chúng ta hơi túng thiếu, gặp một người
ủng hộ tiền thì chúng ta cho người đó là người rất tốt.
Rồi thời gian sau gặp lại nhau chào hỏi, họ có những ngôn
ngữ, cử chỉ khinh mình thì mình sẽ nói người đó xấu.
Như vậy người đó tốt hay xấu? Không phải tốt, không phải
xấu, mà tùy theo niệm khởi của chính mình. Tâm mình nghĩ
tốt thì thấy họ tốt, nghĩ xấu thì thấy họ xấu. Thật
ra họ chưa hẳn tốt, chưa hẳn xấu. Cũng vậy, cảnh nào
cũng như nhau, nhưng người thích cảnh tịch mịch tới chỗ
tịch mịch cho là tốt, người thích chỗ ồn náo thì tới
chỗ ồn náo cho là tốt, do niệm ưa thích của mình mà thành
tốt xấu. Cho nên hai câu đầu nói người và cảnh bên ngoài
không cố định tốt xấu, mà tùy theo tâm niệm mình đánh
giá thành tốt thành xấu.
Nếu
tâm chẳng gượng đặt, Vọng tình từ đâu sanh!Sở
dĩ vọng tình sanh vì mình dấy niệm đặt tốt đặt xấu.
Nếu chúng ta dứt được tâm đối với cảnh không khởi niệm
tốt xấu thì cảnh nào cũng tốt, tự nhiên không còn vọng
tình rối loạn nữa, không còn vọng tình sanh phiền não nữa.
Đó là chỗ tu. Có nhiều người tu thấy chín chắn lắm, đi
ngó chăm chăm xuống, sợ ngó lên loạn tâm. Ngó xuống hoài
chịu nổi không? Lâu lâu cũng phải ngó lên, như vậy cũng
chưa phải là thật. Thấy người thấy cảnh liền duyên theo,
nên trở thành dính mắc tu không được. Nếu thấy người
thấy cảnh tâm vẫn tự nhiên không động thì có lỗi lầm
gì. Như vậy mới là tu thật, khỏi trốn đi đâu. Nếu thấy
người thấy cảnh cho là loạn tâm tu không được, thì chỉ
còn cách ở trong rừng tu với khỉ vượn, hết tu với người.
Ý nghĩa tu ở đây trọng tâm là làm sao đối cảnh đối người
không có niệm dính mắc, đó là thật tu.