VI.
KHAI THỊNGỘ NHẬP ĐƯỢC DUYÊN TỐT TRUYỀN TRAO ẤN CHỨNG
ĐOẠN
5
Rảnh
rang Sư thường ngâm lại những bài kệ dạy chúng:
Ngài
đọc lại những bài kệ của người xưa. Trong nhà thiền
thường có câu: “Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới”. Dù
bài kệ đó là của vị nào, của người xưa, nếu chúng ta
đọc bài kệ đó có tâm đắc thì nó liền có ý nghĩa mới,
không phải bài kệ có nghĩa mới, mà chính là người nhắc
lại gởi gắm tâm tư mình trong đó nên gọi là mới. Những
bài kệ của Ngài đọc trong lúc rảnh rang này, không phải
của Ngài mà là của các vị Tổ sư trước và gần Ngài,
nhưng vì thích nên Ngài rảnh rang ngâm nga lại để dạy chúng.
Bài
1:
Nhất
thiết vô tâm tự tánh Giới,
Nhất
thiết vô ngại tự tánh Tuệ.
Bất
tăng bất giảm tự Kim Cang,
Thân
khứ thân lai bổn Tam-muội.
Dịch:
Tất
cả không tâm tự tánh Giới,
Tất
cả không ngại tự tánh Tuệ.
Chẳng
thêm chẳng bớt tự Kim Cang,
Thân
đi thân lại gốc Tam-muội.
Bài
kệ này là bài kệ của Lục Tổ trả lời sư Chí Thành ở
trong Pháp Bảo Đàn hỏi về Giới - Định - Tuệ.
Tất
cả không tâm tự tánh Giới. Khi tâm chúng ta không có dấy
niệm đuổi theo ngoại cảnh là chúng ta giữ giới, giới ngay
trong tự tánh. Tại sao nói tự tánh? Bởi vì giới không có
hình tướng. Thường thường ở trong nhà Phật nói tới giới
tướng. Những hành động, những ngôn ngữ chúng ta có khi
sai trái, giữ không cho hành động, ngôn ngữ sai trái gọi
là giới tướng. Trong tâm mình không dấy niệm, đó là tự
tánh giới. Tại sao? Bởi vì tâm vừa dấy niệm, nó biến
ra hình tướng, chớ niệm lặng lẽ, đâu có phạm lỗi. Đó
là giữ giới ngay trong tự tánh của mình chớ không phải
ở đâu.
Tất
cả không ngại tự tánh Tuệ.
Ở đây dạy giới trước, tuệ sau. Tuệ là gì? Tuệ là tất
cả không ngại. Trí tuệ giúp cho chúng ta đối với mọi người,
mọi cảnh không dính, không kẹt, không có cái gì trói buộc,
tự tại vô ngại. Như vậy là tuệ. Nói tuệ mà dường như
không có tuệ gì hết. Thường người ta nói tuệ là ánh sáng,
là thông minh, những hiểu biết cao xa, ở đây nói không có
ngại thì gọi là tuệ. Tại sao? Vì trong nhà thiền, người
ngu thì cho việc này, việc nọ, việc kia là đúng là sai cho
nên mắc kẹt. Còn người trí tuệ thì không chấp, cho nên
được vô ngại. Chấp là ngu, ngược lại là trí tuệ. Tóm
lại ai chấp nhiều thì đó là ngu hay là thiếu tuệ. Người
nói ra hay chấp phải, chấp quấy, chấp hơn, chấp thua, chấp
được, chấp mất thì không có sáng. Còn nếu tất cả đều
không dính, không kẹt gì hết là trí tuệ.
Chẳng
thêm chẳng bớt tự Kim Cang.
Đây nói đủ là Kim Cang Tam-muội là sức định vững chắc
như Kim Cang không có gì phá hoại được. Muốn được cái
định đó phải chẳng thêm chẳng bớt. Bất tăng, bất giảm
mà trong kinh Bát-nhã chúng ta thường đọc đó. Chúng ta ở
trên thế gian này luôn luôn thấy cái này là được, cái kia
là mất. Có được có mất là có thêm bớt. Được, mất,
thêm, bớt làm cho tâm mình loạn động. Vì vậy không thấy
có thêm, không thấy có bớt, đó là Kim Cang.
Thân
đi thân lại gốc Tam-muội. Nếu mọi cái thêm bớt, được
mất không bận lòng thì thân mình có đến, có đi vẫn là
ở trong chánh định. Như vậy ở đây giới, định, tuệ khác
với sách Phật nói về giới định tuệ. Kinh nói Giới là
giới tướng, Định là định tâm, Tuệ là mở sáng tâm. Ở
đây nói Giới là tự tánh, không có tất cả niệm, Tuệ là
tự tánh không tất cả chướng, Định là không có tăng, không
có giảm, không có đi lại… Như vậy phần này Lục Tổ giảng
cho Thiền sư Chí Thành về giới, định, tuệ.
Bài
2
Bất
kiến nhất pháp tồn vô kiến,
Đại
tự phù vân giá nhật diện.
Bất
tri nhất pháp thủ không tri,
Hoàn
như thái hư sanh thiểm điện.
Thử
chi tri kiến miết nhiên hưng,
Thác
nhận hà tằng giải phương tiện.
Nhữ
đương nhất niệm tự tri phi,
Tự
kỷ linh quang thường hiển hiện.
Dịch:
Chẳng
thấy một pháp còn thấy không,
Giống
in mây nổi che mặt nhật.
Chẳng
biết một pháp giữ biết không,
Lại
như hư không sanh điện chớp.
Cái
thấy biết này chợt dấy lên,
Lầm
nhận đâu từng rõ phương tiện.
Ông
nên một niệm tự biết lỗi,
Tự
kỷ linh quang luôn hiển hiện.
Bài
kệ này của Lục Tổ. Ngài giải thích cho Thiền sư Trí Thường
về “không”, trong kinh Pháp Bảo Đàn.
Chẳng
thấy một pháp còn thấy không.
Nếu mình không thấy có một pháp nào, còn thấy có cái không
là thật.
Giống
in mây nổi che mặt nhật. Giống
như là có một cụm mây che mặt trời làm cho mặt trời tối.
Còn chấp một pháp không cũng là còn kẹt, che mờ trí tuệ
của mình.
Chẳng
biết một pháp giữ biết không, Lại như hư không sanh điện
chớp. Nếu mình không thấy
có một pháp nào thật mà còn giữ một pháp không, cho tánh
không là thật, cũng như hư không trong trẻo, bỗng dưng có
lằn điện chớp, mất cái yên tĩnh, trong trẻo của hư không.
Cái
thấy biết này chợt dấy lên,
Lầm nhận đâu từng rõ phương tiện. Còn khởi các niệm
chấp không, là mình đã nhận lầm, không biết được các
phương tiện đầy đủ.
Ông
nên một niệm tự biết lỗi, Tự kỷ linh quang luôn hiển
hiện. Tức là ông bây
giờ một niệm tự nhận lỗi chấp không, thì ánh sáng linh
diệu của chính mình sẽ hiển hiện luôn luôn. Như vậy, tất
cả chúng ta tu, ban đầu chấp tất cả là có, có mình, có
người, có đủ thứ. Qua giai đoạn thứ hai, phá cái chấp
có, cho tất cả tự tánh là không, rồi xoay qua chấp
không. Cái có thật bị phá, song cái chấp không là thật cũng
là kẹt. Vì vậy mà cuối cùng một niệm “chấp không”
không còn thì cái linh quang của chính mình mới luôn luôn sáng
suốt.
Bài
3
Kiến
văn tri giác vô chướng ngại,
Thanh
hương vị xúc thường Tam-muội.
Như
điểu không trung chỉ ma phi,
Vô
thủ vô xả vô tắng ái.
Nhược
hội ứng xứ bổn vô tâm,
Thủy
đắc danh vi Quán Tự Tại.
Dịch:
Thấy
nghe hiểu biết không ngăn ngại,
Thanh
hương vị xúc thường Tam-muội.
Như
chim trong không chỉ thế bay,
Không
lấy, không bỏ không yêu ghét.
Nếu
rõ chỗ hiện vốn không tâm,
Mới
được gọi là Quán Tự Tại.
Bài
này của Thiền sư Bổn Tịnh (?-761) đệ tử Lục Tổ.
Thấy
nghe hiểu biết không ngăn ngại. Ở
đây dạy chúng ta rằng: Thấy, nghe, hiểu, biết không ngăn
ngại, thì đối với Thanh, hương, vị, xúc thường Tam-muội,
được ở trong chánh định. Sở dĩ ngày nay tâm ta loạn, là
vì chúng ta thấy nghe hiểu biết đều dính mắc. Thấy dính
với sắc, nghe dính với thanh, hiểu biết thì dính với cảnh.
Nếu thấy, nghe, hiểu, biết mà không dính mắc đối với
năm trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc thì luôn luôn tâm
được an định. Định đó là tam-muội.
Như
chim trong không chỉ thế bay, Không lấy không bỏ không yêu
ghét. Như chim giương cánh bay
trong hư không thảnh thơi, bởi vì nó không lấy, không bỏ,
không yêu ghét, tự tại trong không, không có chướng ngại.
Còn chúng ta quen thấy cái gì đẹp thì lấy, cái gì xấu thì
bỏ. Cái gì bằng lòng thì yêu, thấy cái gì không bằng lòng
thì ghét rồi bay không được, giống như con chim bị rụng
cánh, có vỗ cách mấy bay cũng không nổi. Đó là bệnh.
Nếu
rõ chỗ hiện vốn không tâm, Mới được gọi là Quán Tự
Tại. Nếu đối với tất
cả sự vật hiện tiền nơi nào, chốn nào mình cũng không
niệm dính kẹt, đó là không tâm. Được như vậy thì lúc
nào mình cũng là Bồ-tát
Quán Tự Tại. Kệ này dạy chúng ta giữ đừng để năm căn
dính kẹt năm trần. Năm căn không kẹt với năm trần thì
chúng ta được tự tại, thảnh thơi như con chim bay không
vướng mắc. Năm trần không kẹt thì chúng ta là Quán Tự
Tại.
Bài
4
Cô
viên khiếu lạc nham trung nguyệt,
Dã
khách ngâm tàn bán dạ đăng.
Thử
cảnh thử thời thùy hội đắc,
Bạch
vân thâm xứ tọa thiền tăng.
Dịch:
Vượn
lẻ hú rơi trăng lưng núi,
Khách
quê ngâm lụn ngọn đèn khuya.
Cảnh
đấy người đây ai biết được.
Thiền
tăng ngồi lặng núi sâu kìa.
Vượn
lẻ hú rơi trăng lưng núi, Khách quê ngâm lụn ngọn đèn khuya. Đây
tả cảnh vượn hú ở trong rừng, trăng lặn xuống. Còn người
khách miền quê ngâm thơ cho tới khuya, đèn lụn bấc.
Cảnh
đấy người đây ai biết được, Thiền tăng ngồi lặng núi
sâu kìa. Không ai biết được trong núi sâu có một Thiền
tăng không dính kẹt, không trói buộc muôn sự muôn vật ở
bên ngoài, đang ngồi lặng lẽ trong núi. Nhưng bây giờ Thiền
sư không ngồi lặng lẽ
trong núi, mà ngồi lặng lẽ trong Thiền đường, vậy có dính
kẹt không? Một Thiền tăng ngồi lặng lẽ tức là chỉ
còn một ông chủ, tìm không có cái gì dấy động, không có
niệm sanh trói buộc lẫn nhau, đó là một hình ảnh hoàn toàn
giải thoát. Nhưng bây giờ ngồi con mắt ngó xuống mà con
vượn, con khỉ hiện ra hoài, buông cành này nắm cành kia,
nên cũng không tự tại. Nếu không dính không mắc thì tự
tại.
Bài
5:
Tuyệt
học vô vi nhàn đạo nhân,
Bất
trừ vọng tưởng bất cầu chân.
Vô
minh thật tánh tức Phật tánh,
Huyễn
hóa không thân tức Pháp thân.
Pháp
thân giác liễu vô nhất vật,
Bản
nguyên tự tánh thiên chânPhật.
Ngũ
ấm phù vân không khứ lai,
Tam
độc thủy bào hư xuất một.
Dịch:
Dứt
học không làm đạo nhân nhàn,
Chẳng
trừ vọng tưởng chẳng cầu chân.
Thật
tánh vô minh tức Phật tánh,
Thân
không, huyễn hóa tức Pháp thân.
Pháp
thân giác rồi không một vật,
Cội
nguồn tự tánh thiên chânPhật.
Năm
ấm mây trôi luống lại qua,
Ba
độc bọt nổi dối chìm mất.
Đoạn
này trích trong Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác, rất thú
vị. Chúng ta biết tu thiền chút chút đi dạo ngoài vườn
hoa, hoặc là ngồi dưới gốc tùng có hứng cũng nên ngâm
lên.
Dứt
học không làm, đạo nhân nhàn. Tuyệt học nói dứt học nghe
cũng hơi yếu một chút. Tuyệt học là bặt không còn dính
gì mới gọi là tuyệt học. Vô vi là không làm, nghĩa là bặt
hết cái học, vị đó là đạo nhân nhàn. Người ta lại hiểu
lầm đạo nhân nhàn là đạo nhân làm biếng vì không học,
cũng không chịu làm gì hết. Bởi vậy nếu hiểu theo chữ
theo nghĩa thì cũng tội. Sáng vác cuốc ra đám rẫy, cuốc
đất gọi là đạo nhân nhàn được không? Lao động quá chừng
mà nhàn chỗ nào? Chỗ đây phải hiểu tuyệt học vô vi là
đối với sự tìm kiếm văn tự, chữ nghĩa không có, không
còn. Vô vi là không có tất cả những tâm động, theo những
hành động hay theo ý niệm sanh diệt. Cái gì còn sanh trụ
diệt là hữu vi, không sanh trụ diệt là vô vi. Bặt hết những
tâm đuổi theo chữ nghĩa, theo cái sanh trụ diệt của thế
gian thì gọi là đạo nhân nhàn. Nếu mình cuốc rẫy trồng
khoai, nhổ cỏ, lặt rau mà không dính mắc với chữ nghĩa
văn tự, không kẹt với tâm sanh diệt, vẫn là đạo nhân
nhàn. Tuy là lặt rau, tuy là nhổ cỏ mà vẫn nhàn. Đừng nên
nói: “Ngài Vĩnh Gia đã dạy như vậy, bây giờ tôi muốn
làm đạo nhân nhàn, đừng kêu tôi học, mọi người làm cho
tôi ăn thôi, để tôi thành đạo nhân nhàn”. Đó là cái
nhàn lười biếng, không phải cái nhàn giải thoát. Quý vị
hiểu cho kỹ, cho nên học mà không hiểu cũng khổ lắm.
Chẳng
trừ vọng tưởng chẳng cầu chân.
Không cầu chân tức là yên lặng. Vì vô vi không sanh diệt,
đâu còn cái gì là vọng tưởng, mà không vọng thì chân hiện
tiền. Người nào tới chỗ không còn tâm dính kẹt ngôn ngữ,
không còn tâm dính kẹt tướng sanh diệt, thì người đó đâu
còn vọng tưởng mà trừ, cái chân thật liền hiện tiền,
còn gì mà phải cầu. Ai được như vậy tôi cũng cho tự do
không ngồi thiền nữa, còn chưa được thì ráng ngồi thiền
khá một chút, chừng nào được thì khỏi.
Thật
tánh vô minh tức Phật tánh.
Cái tánh thật của vô minh là tánh Phật. Tại sao vậy? Bởi
vì vô minh là mờ mịt, mà cái mờ mịt là từ cái sáng. Cũng
như tánh thật của ngủ đáng lý là mê, sao tôi lại nói là
thức, bởi vì không có thức thì mình có ngủ không? Vì có
thức nên mới có ngủ, thật tánh cái ngủ gốc từ cái thức,
không có thức thì không có ngủ, không có ngủ thì không có
thức. Vì vậy nên cái này sanh thì cái kia sanh. Vì mình mê
cho nên nói giác, tỉnh hết mê thì không còn giác. Vậy thì
vô minh từ giác mà ra. Đương thức mà bỗng dưng mờ mịt,
buồn ngủ. Đó là từ gốc tỉnh mà sanh ra mê, như vậy hết
mê thì trở lại tỉnh chớ gì?
Thân
không huyễn hóa tức Pháp thân,
ngay nơi thân huyễn hóa không thật này là Pháp thân. Tại
sao? Thân huyễn hóa là thân duyên hợp, tụ rồi tan, nên không
thậät. Đó là tướng giả hợp có tụ có tan, còn thể Pháp
thân, cái chân thật bất sanh bất diệt, không bao giờ có
tụ có tan. Nhận được ngay cái thân tụ tan đó là huyễn
hóa không thật thì Pháp thân hiện tiền chớ không đâu xa.
Pháp
thân giác rồi không một vật.
Khi chúng ta giác ngộ Pháp thân rồi mới thấy thế gian không
có một vật thật, tất cả các pháp đều duyên hợp, mà
duyên hợp thì đều hư ảo, đều là không thật.
Cội
nguồn tự tánh thiên chân Phật. Pháp thân là cội nguồn,
là tự tánh thiên chân. Chữ “thiên chân” này có chỗ người
ta cũng hiểu lầm, vì thường thường người tu mà hay chấp
là lệch một bên. Như tu quán tất cả các tướng ngã của
thân là duyên hợp hư dối, nói cách đơn giản là thấy
thân vô ngã, đó cũng là giác nhưng giác còn thiên lệch. Chừng
nào giác ngộ được pháp vô ngã, thân vô ngã thì cái giác
đó mới tròn. Cho nên thường thường hay nói các vị Nhị
thừa được cái giác thiên chân. Nhưng mà chữ “thiên chân”
ở đây là cái chân sẵn có. Chữ “thiên” ở đây tương
tự như trời, thiên chân là cái sẵn từ thuở nào cho nên
là cái chân thật. Tự tánh thiên chân Phật là ông Phật từ
thuở nào, chớ không phải ông Phật lệch.
Năm
ấm mây bay trôi luống qua, Ba độc bọt nổi dối chìm mất.
Nghĩa là thân năm ấm này như là mây trôi, luống qua lại
không có gì thật hết. Tất cả chúng ta ai cũng có sẵn thân
năm ấm, là cái không thật, hư dối, nó còn nó mất, sanh
diệt nơi này, nơi nọ, nơi kia như là áng mây trôi. Còn ba
độc giống như là hòn bọt nổi chìm, chỉ là hư dối, có
rồi mất. Như vậy hai câu này cảnh tỉnh chúng ta. Chúng ta
biết Pháp thân là tánh giác, là đức Phật có sẵn, là cội
nguồn, thì thân năm ấm và ba độc trong chúng ta là mây, là
bọt, mất còn không có giá trị gì hết. Nhưng bây giờ ngược
lại, ông Phật thiên chân ở đâu chưa thấy, mà chỉ thấy
thân năm ấm và ba độc, cho nên cả ngày cứ lộn xộn, lôi
thôi với nhau. Bám vào thân năm ấm cho là thân ta thật, ba
độc cũng cho là thật nên loay hoay lẩn quẩn hoài năm này
tháng nọ, khổ này hết qua khổ kia. Một khi chúng ta biết
được pháp thân sẵn có, chừng đó mới thấy thân này là
hư giả, ba độc là dối không thật. Đó là ý nghĩa đoạn
này trong Chứng Đạo Ca. Nói Chứng Đạo Ca nghĩa là chứng
đạo rồi mới hát được những câu này. Còn bây giờ mình
hát học lóm, chớ không phải mình hát thật. Còn Ngài được
rồi Ngài mới hát, cho nên câu nào cũng là tột cùng, là chí
lý.
Bài
6:
Ngộ
tâm dung dị tức tâm nan,
Tức
đắc tâm nguyên đáo xứ nhàn.
Đẩu
chuyển tinh di thiên dục hiểu,
Bạch
vân y cựu phú thanh san.
Dịch:
Ngộ
tâm là dễ, khó dừng tâm,
Dừng
được nguồn tâm mọi chốn nhàn.
Sao
Đẩu chuyển dời trời sắp sáng,
Như
xưa mây trắng che núi xanh.
Ngộ
tâm là dễ, khó dừng tâm, Dừng được nguồn tâm mọi chốn
nhàn. Bài này dạy cho chúng ta thấy ngộ tâm là dễ mà dứt
tâm lại khó. Sao vậy? Đây là câu mà tôi thường nhắc cho
tất cả Tăng Ni. Phật dạy, Tổ dạy, ai cũng nhận ra mình
có cái tâm chân thật. Có ai không nhận không? Nhận biết
mình có tâm chân thật rồi, mà muốn dứt tâm lăng xăng dễ
hay khó? Rất khó, cái tâm chân thật của mình hiện ra tuy
khó mà còn dễ hơn cái tâm lăng xăng dừng được sạch. Nếu
dừng được tâm, chừng đó tới đâu cũng thảnh thơi, nhàn
hạ.
Sao
Đẩu chuyển dời trời sắp sáng, Như xưa mây trắng che núi
xanh. Hai câu này, dường như tả cảnh chơi không nói gì sự
tu hành. Đêm khuya chúng ta nhìn, thấy ngôi sao Bắc Đẩu chuyển
dần thì biết trời sắp sáng, mây trắng vẫn che ngọn núi
xanh như cũ. Hai hình ảnh này nói gì? Khi chúng ta dừng được
tâm rồi, an nhàn tự tại, chừng đóù chúng ta nhìn trời
sắp sáng, xem mây trắng che ngọn núi xanh, là hình ảnh tự
nhiên của trời đất. Nghĩa là tâm lăng xăng dứt thì thấy
trời, mây, sao, trăng, cái gì cũng an nhiên tự tại, không
còn bận rộn, không còn nuối tiếc, không có chán chường
hay ham muốn. Cả trời đất trăng sao hiện tiền, đều là
tự tại.
Bài
7:
Ngu
nhân trừ cảnh bất trừ tâm,
Trí
giả trừ tâm bất trừ cảnh.
Bất
tri tâm cảnh bổn như như,
Xúc
mục ngộ duyên thường trấn định.
Dịch:
Kẻ
ngu trừ cảnh chẳng trừ tâm,
Người
trí trừ tâm chẳng trừ cảnh.
Đâu
biết tâm cảnh vốn như như,
Chạm
mắt gặp duyên luôn vững định.
Kẻ
ngu trừ cảnh chẳng trừ tâm, Người trí trừ tâm chẳng trừ
cảnh. Ở đây nói kẻ ngu, người trí, quý vị xét xem! Nếu
ai than kẻ tới người lui, lăng xăng lộn xộn, ồn quá tu
không được, rồi kiếm hốc núi chui vô ở một mình để
tránh cảnh ồn ào của thiền viện, thì đó thuộc hạng người
nào? Ở đây có ai thuộc hạng đó không? Vậy mới thấy nhiều
khi mình ngu mà không hay. Cứ tưởng rằng tránh cảnh ồn ào
tìm cảnh yên là khôn ngoan lắm, đó là mình biết tu. Nhưng
đâu có ngờ. Như tôi thường kể, nếu vô đó mà hít thở
thôi, đừng uống nước, đừng ăn cơm thì chắc dễ tu thật.
Còn vô ngồi trong hốc núi, không có nước uống phải ra múc
nước suối, phải kiếm ly hũ đựng là đã phiền rồi. Nhưng
uống nước sống cũng chưa được, phải ăn cơm. Cơm ở đâu?
Cũng phải lội ra xóm. Không có tiền mua gạo thì sao? Phải
chạy tới người này, người kia mua gạo, về dọc đường
lỡ té…, đủ thứ hết. Như vậy rồi phải tảo tần lo
cho sự sống, còn tu cái gì được! Tưởng tu hay, không ngờ
lại còn đa sự hơn. Rốt cuộc là dở, là ngu, ai có tâm niệm
đó thì xét biết nghe! Còn ở đây, tới giờ thì ngồi thiền,
tới giờ thì nấu cơm, làm việc gì cũng không có bận lo
gì hết. Người trí thì trừ tâm mà không trừ cảnh. Tại
sao vậy? Bởi vì người trí thấy cái rộn ràng lăng xăng
nơi tâm chớ không phải do cảnh ở ngoài. Vì vậy mà phải
lo dọn dẹp, đuổi trừ tâm, đó là cái gốc.
Đâu
biết tâm cảnh vốn như như. Nhưng nếu biết tâm nào cảnh
nào cũng như như thì khỏi trừ tâm trừ cảnh gì hết. Nghĩa
là cứu kính như vậy. Đến đây thì:
Chạm
mắt gặp duyên luôn vững định. Tức là gặp người
này hay gặp việc kia tâm đều an định, không còn rối rắm
khó khăn. Tóm lại, người tu nếu khéo thì trước cảnh mình
vẫn không động, những tâm lăng xăng khéo trừ sạch, thì
đến đâu cũng là chỗ an vui, là chỗ vững định, tức là
ở trong Tam-muội.
Bài
8:
Nhất
diệp biển chu phiếm diểu mang,
Trình
nhiêu vũ trạo biệt cung thương.
Vân
sơn thủy nguyệt đô phao khước,
Doanh
đắc Trang Chu điệp mộng trường.
Dịch:
Một
chiếc thuyền con vượt bể khơi,
Quẫy
chèo múa nhịp hát ca chơi.
Núi
mây trăng nước đều ném quách,
Giành
được Trang Chu giấc mộng dài.
Bài
này của bà ni Diệu Tổng, đệ tử ngài Đại Huệ đời Tống.
Một
chiếc thuyền con vượt bể khơi, Quẫy chèo múa nhịp hát
ca chơi. Chúng ta sống giữa biển trần lao này, làm tất cả
việc mà thảnh thơi không bận bịu, không dính mắc, không
lo buồn, như chiếc thuyền con ra khơi vung chèo quẫy nhịp,
hát ca vượt khỏi lề luật âm vận thông thường – cung
thương là hai âm trong ngũ âm của âm nhạc Trung Quốc.
Núi
sông trăng nước đều ném quách, Giành được Trang Chu
giấc mộng dài. Không kẹt ở núi, ở mây, ở nước tức
là không có dính, không quyến luyến gì bên ngoài hết. Người
tu, nhất là người tu thiền, trong cuộc sống cũng gặp bao
nhiêu người, cũng làm đủ thứ công tác, không dính, không
mắc, không bận rộn, khi đó mình hiểu được giấc mộng
dài hóa bướm của Trang Chu. Ông nằm mơ thấy mình hóa bướm,
lúc tỉnh dậy thắc mắc không biết mình là bướm hay bướm
là mình mới nghiệm ra đời chỉ là giấc mộng dài.
Bài
9:
Nam
Đài tĩnh tọa nhất lô hương,
Chung
nhật ngưng nhiên vạn lự vong.
Bất
thị tức tâm trừ vọng tưởng,
Đô
duyên vô sự khả tư lương.
Dịch:
Đài
Nam tĩnh tọa một lò hương,
Lặng
lẽ suốt ngày niệm lự không.
Chẳng
phải dứt tâm trừ vọng tưởng,
Chỉ
vì không việc đáng lo lường.
Bài
kệ này chỉ cho sự tu rất là hay.
Đài
Nam tĩnh tọa một lò hương. Chữ “đài” này chúng
ta phải hiểu, theo nghĩa trong đạo chớ đừng hiểu theo ngoài
đời. Ngoài đời thì “đài” là chỗ quan trọng. Còn trong
đạo nói “Đài Nam” là chỗ mình ngồi thiền trong núi hay
là trên một góc của nhà thiền.
Lặng
lẽ suốt ngày niệm lự không. Ngồi đó trọn ngày không
còn một chút niệm lự nào, lúc đó thì sao?
Chẳng
phải dứt tâm trừ vọng tưởng, Chỉ vì không việc đáng
lo lường. Chỗ này hết sức là khéo. Chúng ta ngồi
cố gắng dứt tâm, việc gì đến mình cũng nghĩ cho nên phải
đè xuống. Mới đi ra ai nói câu gì đó, hơi xúc chạm, lúc
ngồi thiền, vừa yên liền nhớ, rồi đè xuống, nói “không
được”, rồi lại nhớ nữa, cứ đè nữa, đè hoài, đè
hoài. Tại sao phải đè? Vì thấy lời nói đó là thật, cảnh
ngoài là thật, gỡ không được. Thí dụ lúc ngồi thiền,
nhất là bên Tăng, chiều chiều nghe bên ngoài lâu lâu có tiếng
cười rộ lên, lúc đó nói “đừng nghĩ, đừng nghĩ”, rồi
“đừng nghĩ”. Lát nữa tiếng cười lại rộ lên, xả thiền
ra đau cái đầu. Khổ quá phải không? Người ta cười kệ
họ, chuyện gì dính tới mình, như trò đùa không có gì thật
hết. Không có gì quan trọng, đừng bận tâm thì có gì đâu
mà phải đè? Sở dĩ có đè tại vì cho là thật. Cho
nên ở đây nói rằng: “Chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng”.
Tâm không cần dứt gì hết, mà “chỉ vì không việc đáng
lo lường”. Không có gì quan trọng để bận tâm. Nếu không
có việc thì nghĩ cái gì đây? Nghĩ tới người thì người
hư ảo, nghĩ tới cảnh thì cảnh hư ảo, lời nói thì lời
nói hư ảo, không có gì đáng bận tâm cả. Có cần dứt vọng
tưởng không? Cho nên người nào cũng thấy cần mẫn tu, cần
mẫn mà còn thấy cảnh ngoài thật thì khổ sở, chỉ hết
khổ khi thấy ngoại cảnh hư ảo không có gì thật. Chửi
mình là trò chơi, khen mình cũng trò đùa, ai làm gì thì làm,
mình cứ ngồi tự tại, yên lặng, đó mới thật là ngồi
thiền. Nếu còn phải đè, phải kềm, phải dứt, tu như vậy
rất nhọc công. Quý vị kiểm lại có cái gì thật nói tôi
nghe! Tìm không ra! Không có cái thật, thì bận tâm cái gì?
Người nào khôn ngoan, lấn lướt người khác mấy chục năm
cũng tắt thở, cũng bị chôn xuống. Nếu người thật thà
bị người khinh chê, được ít chục năm cũng qua mất có
gì đâu mà quan trọng. Chỉ có một cái còn mãi mãi mà mình
không biết cứ lo chuyện người này, người kia, người nọ,
hơn thua phải quấy tạm bợ cứ bận bịu mãi. Muốn tâm yên,
nó không yên, rồi tự khổ “tu hoài mà sao không yên”. Tại
còn nghĩ, còn tin mọi sự là thật, là lâu dài, cho nên mình
cứ bị quấy nhiễu. Nếu không bận tâm nữa, thì không cần
dứt tâm trừ vọng tưởng, tâm tự yên. Đó là lời rất
chí lý để cho mình hiểu mà tu.
Bài
10:
Sấu
trúc trường tùng trích thúy hương,
Lưu
phong sơ nguyệt độ vi lương.
Bất
tri thùy trụ Nguyên Tây tự,
Mỗi
nhật chung thanh tống tịch dương.
Dịch:
Tre
gầy thông cỗi nhỏ giọt hương,
Gió
lướt trăng lên chút lạnh lùng.
Nguyên
Tây chùa ấy ai ở đó?
Chiều
chiều chuông đánh tiễn tịch dương.
Bài
kệ này là của Thiền sư Chuyết Công (1590-1644) sau này ngài
Hương Hải thích nên đọc thuộc.
Tre
gầy thông cỗi nhỏ giọt hương,
Gió lướt trăng lên chút lạnh lùng. Trước chùa có một bụi
tre già, sương lâu lâu rớt xuống một hai hạt thơm nhè nhẹ.
Thỉnh thoảng gióù lướt qua, trăng lên mát mẻ.
Nguyên
Tây chùa ấy ai ở đó? Chiều chiều chuông đánh tiễn tịch
dương. Chùa Nguyên Tây không biết ai ở trong, chiều
nào cũng nghe dộng chuông boong boong, ánh trời chiều lần lần
lặn mất, thật đẹp. Mỗi buổi chiều tà nghe tiếng chuông
chùa gióng mà không biết ai ở trong chùa. Miễn nghe có tiếng
chuông thì biết có người trong chùa, dù không biết tên. Thân
tứ đại hoạt động tới lui, qua lại, nói năng cũng có người
làm chủ. Nếu không có ông chủ, thân làm gì hoạt động,
nói năng. Tất cả chúng ta đây có ông chủ không? Ai ai cũng
có ông chủ, mà hiện giờ chúng ta sống với chủ hay với
tớ? Nếu nói theo Duy Thức học, chủ là Tâm vương, còn tớ
là tâm sở lệ thuộc. Sống với một đám nô bộc mê vọng
ồn ào buồn thương giận ghét, quấy rầy mà nhận là chủ,
trong khi ông chủ đang sáng suốt thảnh thơi thì không chịu
nhận, mà cứ theo cái đám đủ thứ nhận nó là mình. Khổ
không? Vậy là phải hiểu để trở lại phăng tìm con người
thật của mình, đừng để lệ thuộc vào đám nô bộc trăm
thứ, chúng sẽ làm cho mình phải khổ sở.
Bài
11
Trụ
mộng na tri mộng thị hư,
Giác
lai phương giác mộng trung vô.
Mê
thời kháp đắc mộng trung sự,
Ngộ
hậu hoàn đồng thùy khởi phu.
Dịch:
Trong
mộng đâu hay mộng dối hư,
Tỉnh
rồi mới biết có gì ư?
Khi
mê hợp với việc trong mộng,
Đã
ngộ lại đồng ngủ dậy chừ!
Trong
mộng đâu hay mộng dối hư, Tỉnh rồi mới biết có gì ư? Trong
mộng đâu biết mộng là dối. Thí dụ mộng thấy đang ngồi
ăn tiệc, vui vẻ quá không biết dối. Chừng giật mình thức
dậy mới biết dối. Biết dối là khi nào tỉnh, còn mê thì
không biết. Chúng ta mấy mươi năm ở đây, tưởng chừng
như dài lắm, nhìn kỹ so với tánh giác, với Pháp thân thì
chỉ là một trường mộng mà thôi. Mới ngày nào đó thấy
đầu xanh, nhìn lên thì tóc bạc rồi, lật bật đã lụm cụm,
chuẩn bị đi về chỗ vĩnh biệt ngàn thu. Cứ tưởng rằng
thật, nhưng thức thì mới biết mộng là dối. Như vậy thức
là khi chúng ta biết cuộc đời, biết thân này không lâu dài.
Biết rõ như vậy để trở lại sống với cái chân thật.
Biết đời là giả là mộng, như vậy là tỉnh. Nếu mình
cứ chạy theo danh theo lợi của trần tục rồi chết, thì
mộng hoài không có ngày tỉnh.
Khi
mê hợp với việc trong mộng, Đã ngộ lại đồng ngủ dậy
chừ. Đối chiếu cuộc sống này mình đang mê, chạy theo tài
sắc danh lợi ở thế gian, giống hệt như người đang say
trong cơn mộng vậy. Khi ngộ rồi thì giống như người ngủ
thức dậy. Trò chơi giả dối không có giá trị. Chưa ngộ
tức là còn mê, thấy mộng tưởng là thật. Mộng tỉnh là
lấy việc thế gian để dụ cho mê ngộ của người tu. Người
thế gian chỉ biết mộng là giả khi nào họ tỉnh. Người
tu khi ngộ thì biết được cuộc đời là giả, nếu mê thì
thấy cuộc đời cũng thật như ai vậy thôi.