BÁT
NHÃ VÔ TẬN TẠNG CHÂN NGÔN
Nạp mô bạc già phạt
đế bát nị nhã ba la mật đa dậy. Ðát điệt tha. Án lột
rị địa rị thất rị tuất rô tri tam mật lật tri Phật
xả dậy. Sa ha .
Phật rằng Vô tận tạng
chân ngôn thật là mẹ chư Như lai. Dầu hay trì tụng thần
chú ấy, hết thảy tội nghiệp đều cũng tiêu diệt. Lại
được chính trí, biết quá khứ kiếp túc mạng nhân duyên,
chỗ nghe chính pháp hằng nhớ chẳng quên. Bèn kíp chứng được
vô thượng bồ đề .
KIM CƯƠNG TÂM CHÂN NGÔN
Án ô luân ni. Sa bà ha
Trước hết lại dạy
trì Kim cương tâm chú là bản tâm vậy. Quá khứ chư Phật
cũng lấy Kim cương tâm làm nhân, mà tu, bèn mới chứng nên
Phật quả. Dẫu nhẫn ra đời giáo hoá chúng sinh, dạy chư
Bồ tát cũng lấy Kim cương tâm mà tu, mới được vào đại
thừa pháp. Trước hiển, sau mật, dầu tụng Kim cương kinh,
hằng niệm chân ngôn, ấy ắt chẳng thối chuyển vậy .
TÁN
Tán là lời khen ngợi
pháp bát nhã này, lấy làm mẹ hết thảy chư kinh. Quá khứ
chư Phật cũng nương pháp này mà được thành tựu. Hiện
tại chư bồ tát cũng lấy pháp này mà độ chúng sinh. Vị
lai hành nhân cũng nhờ pháp này, mà được kiến tính vậy
.
Ðoạn nghi sinh tín
Tuyệt tướng siêu tôn
Tồn vong nhân pháp giải
chân không
Bát nhã vị trùng trùng
Tứ cú dung thông
Phước đức thán vô
cùng
Ðoạn nghi sinh tín là
Tu Bồ Ðề nhân Phật phá nghi, bèn minh tự kỷ chân tâm, dứt
rồi chúng sinh phiền não vọng tưởng. Kinh này một vị, chỉn
thật đoạn nghi sinh tín, lấy làm chủ vậy. Như lai chỗ truyền
niết bàn diệu tâm chính pháp nhãn tạng, lấy Kim cương bảo
kiếm đoạn trừ tình hoặc vi tế tứ tướng, biết được
chân như, lý nhân pháp đều không, mới chứng chân không vậy.
Bát nhã nguyên tùng chân như tâm lưu ra. Hết thảy muôn pháp
chư kinh lấy kinh Kim cương làm cốt tủy. Kinh Kim cương lại
lấy tứ cú kệ làm cốt tủy. Dầu hay liễu đạt dung thông
sự lý, vì người diễn thuyết tự lợi, lợi tha, ắt thật
thành tựu pháp thân, chứng nên hà sa phước đức. tán thán
vô cùng vô tận vậy .
Nam mô Kỳ viên hội
thượng Phật bồ tát
Diễn thuyết đại bộ
Bát nhã kinh khi Phật trụ vương xá thành non Thứu Phong. Hội
thứ nhất diễn thuyết 400 quyển. Hội thứ hai diễn thuyết
78 quyển. Hội thứ ba diễn thuyết 59 quyển. Hội thứ tư
diễn thuyết 18 quyển. Hội thứ năm diễn thuyết 10 quyển.
Hội thứ sáu diễn thuyết 8 quyển .
Khi Phật trú Thất la
phiệt thành, viện Cấp cô viên, hội thứ bảy diễn thuyết
2 quyển, hội thứ tám diễn thuyết 1 quyển, hội thứ chín
diễn thuyết 1 quyển .
Khi Phật lên tha hoá
tự tại thiên cung, trên điện Mạt ni bảo tạng, hội thứ
mười diễn thuyết 2 quyển .
Khi Phật lại về trú
Thất la phiệt thành, viện Cấp cô viên, hồi thứ mười một
diễn thuyết bố thí ba la mật 5 quyển, hội thứ mười hai
diễn thuyết giới ba la mật năm quyển, hội thứ mười ba
diễn thuyết nhẫn nhục ba la mật 1 quyển, hội thứ mười
bốn diễn thuyết tinh tấn ba la mật 2 quyển .
Khi Phật lại trú Vương
xá thành non Linh Thứu phong, hội thứ mười lăm diễn thuyết
thiền định ba la mật 3 quyển. Hội thứ mười sáu Phật
lại trụ Vương xá thành viện Trúc lâm viên diễn thuyết
trí tuệ la la mật tám quyển .
Trước sau hết thảy
vừa mười sáu hội, kể được sáu trăm hai quyển. Khi thì
Phật dạy thanh diễn thuyết. Khi thì Phật dạy bồ tát diễn
thuyết. Một quyển Kim cương bát nhã này, lời Phật kim khẩu
thân truyền, diễn thuyết vừa khi hội thứ chín ở nơi Thất
la phiệt thành, viện Kỳ thọ Cấp cô độc viên, kể từng
quyển, năm trăm thứ bảy mươi bảy.
Kinh này là đại thừa
giáo. Như lai vì người phát đại thừa tối thượng thừa,
mà diễn thuyết. Vì vậy khi tụng kinh rồi, bèn niệm rằng
:
Nam mô Kỳ viên hội
thượng Phật bồ tát .
KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA
LA MẬT KINH
Hoàn
GIỚI THIỆU
GIẢI DI ÐÀ KINH
Kinh A Di Ðà, kể từ
ngày Cưu Ma La Thập (Kumarajìva) dịch vào năm 402 từ bản tiếng
Phạn Sukhavatìyùhà, hiện còn được bảo tồn, chắc chắn
đã được các Phật tử Việt Nam biết tới và đọc tụng.
Nhưng các tư liệu hiện thấy, ta không có bất cứ một thông
tin nào ghi nhận về sự xuất hiện của nó, cho đến khi Minh
Châu Hương Hải viết Giải Di Ðà kinh. Cho nên để hiểu cụ
thể lịch sử phát triển của tư tưởng tịnh độ ở nước
ta, Giải Di Ðà kinh có vị thế xung yếu .
I.TÌNH TRẠNG VĂN BẢN
Văn bản chúng tôi hiện
sở hữu là bản in năm Minh Mạng thứ 14 (1833), khổ 13*27,
gồm 43 tờ, trong đó 2 tờ đầu in bài tựa cho việc khắc
lại các kinh (Trùng san chư kinh tự), 39 tờ đánh số liên
tục từ 1 đến 39 in Giải Di Ðà kinh, và 2 tờ cuối cùng
đề trên gáy là Di Ðà kinh mạt ghi tên những người ủng
hộ tinh thần và vật chất cho việc in lại bản giải kinh
này. Mỗi tờ 2 mặt, mỗi mặt 8 dòng chữ cỡ lớn và 16 dòng
cho cỡ chữ in nhỏ. Chữ cỡ lớn in chính văn chữ Hán, còn
chữ cỡ nhỏ để in lời giải bằng tiếng Việt quốc âm.
Mỗi dòng chữ lớn có 17 chữ, còn chữ nhỏ có 16 chữ. Ðây
là một bản in đẹp, chữ khắc rõ ràng dễ đọc, tương
đối không có sai sót gì nhiều, tuy nhiên đôi khi cũng có
khắc lộn chữ này qua chữ kia mà dễ thấy nhất là chữ
cùng hay cũng ( ) thường hay bị khắc thành chữ kỳ ( ).
Người đứng bản in
này căn cứ bài tựa Trùng san chư kinh tự là Thiền sư Từ
Tường, thuộc chùa Linh Sóc, xã Hà Hồi. Theo bản in của bài
tựa đây thì tên xã là Hà Huýnh, nhưng căn cứ vào danh sách
những người cúng bản gỗ để in kinh thì ta có tên Hà Hồi
xã. Hơn nữa theo Các tổng trấn xã danh bị lãm, trong các
làng xã Việt Nam ở miền Bắc vào đầu thế kỷ 19, không
có xã nào tên Hà Huýnh cả, mà chỉ có tên xã Hà Hồi, thuộc
tổng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn
Sơn Nam thượng (tức thuộc huyện Thường Tín, Hà Tây ngày
nay). Vì chưa có điều kiện điều tra thực địa về ngôi
làng Hà Hồi này, cho nên chúng tôi không biết làng này có
ngôi chùa nào tên Linh sóc không. Do thế, về vị thiền sư
Từ Tường, ta hiện chưa biết rõ lai lịch .
Trong 2 tờ cuối ghi tên
những người ủng hộ tinh thần và vật chất cho việc in
lại Di Ðà kinh (Trùng san Di Ðà kinh) ta thấy liệt kê một
loạt tên những vị "chứng san" như đại đức Thanh Hoà chùa
Hoa Lâm, đại đức Trí Thủy chùa Sùng Phúc, tỷ kheo Từ Tạng,
tỷ kheo Từ Dung, tỷ kheo Chiếu Huyên, tỷ kheo Thanh Nhã, tỷ
kheo Bảo Ðỉnh, tỷ kheo Thanh Khê, v.v…Nhưng những người
này hiện tại cũng chưa rõ lai lịch, nên cũng không giúp gì
được việc truy tìm lại tiểu sử của thiền sư Từ Tường
.
Người viết tựa cho
lần in này có tên là Ðặng Hy Hiến. Hy Hiến rõ ràng là tên
chữ, tên thật là gì ta hiện chưa biết. Ông viết lời tựa
ở tại thư xá của ông gọi là Tiên thị. Và tự nhận mình
là một nhà Nho. Ông chỉ giữ chức trách viết tựa, mà không
có tham gia vào việc chỉnh cú hay sửa lại sai sót của những
bản in trước. Việc chỉnh cú này theo ông là do thiền sư
Từ Tường thực hiện. Về nhân vật Ðặng Hy Hiến này, cũng
trong bảng danh sách những người ủng hộ in kinh, có ghi tên
một cử nhân khoa Tân mão tên là Ðăng Văn Kham, thuộc thôn
Cự Ðình, xã Lộc Ðình, huyện Văn Giang, phủ Thuận An (nay
thuộc tỉnh Hưng Yên). Theo Quốc triều hương khoa lục 1 tờ
49a7, thì đúng là năm Minh Mạng thứ 12 Tân mão (1831) trong
những người đậu cử nhân tại trường thi Thăng Long có
tên Ðặng văn Kham. Và cũng theo sách này thì Ðặng Văn Kham
làm quan đến chức Án sát ở Quảng Nam, sau đó bị tội,
nhưng không cho biết ông có tên hiệu là gì, nên cũng không
thể đồng nhất Ðặng Hy Hiến với Ðặng văn Kham. Về sự
việc này cũng cần điều tra thêm mới làm rõ được .
Ngoài Ðặng văn Kham,
bản danh sách này cũng có ghi thêm tên đường huynh của Kham
là tú tài Ðặng văn Chính. Song một lần nữa, về Ðặng
văn Chính ta cũng không biết gì hơn, nên không thể bình luận
gì về quan hệ với Ðặng Hy Hiến .
Dẫu vậy, lời tựa
của Ðặng Hy Hiến đã cho ta biết ít nhiều về bản đáy,
mà thiền sư Từ Tường đã dùng để in lại Giải Di Ðà
kinh. Theo Ðặng Hy Hiến, do việc khi đem in thì các bản gỗ
xưa bị thiếu, nứt và sứt nát, vị thiền sư đã bổ xuyết
vào những chỗ thiếu và mất, để đem khắc bản (cổ bản
khuyết liệt, hoán mạn chi dư, bổ xuyết lậu đật, phục
phó kỷ quyết). Tuy nhiên, bản in chúng ta có hiện nay không
có dấu hiệu gì để giả thiết có 2 loại bản gỗ khác
nhau, tức bản khắc cũ và bản khắc mới do Từ Tường bổ
sung vào. Nói khác đi, đây là một bản khắc hoàn toàn mới.
Vậy khi khắc bản gỗ cho lần in này, Từ Tường chắc đã
có trong tay một văn bản của lần in trước, và lần in trước
này có khả năng cách Từ Tường khá lâu, bởi vì lối chữ
quốc âm thường có những chữ giả tá của thế kỷ 18. Ví
dụ như chữ đến, viết là điển, không có chữ chí cạnh
bên; chữ suốt viết là …v.v. Hiện ta không biết trước
lần in này còn bao nhiêu lần in nữa, nhưng chắc chắn ta biết
bản in củaTừ Tường là dựa vào 1 bản in trước đó, vì
nó có nói đến bản gỗ khắc cũ .
Văn bản này có mấy
tên gọi khác nhau. Từ tờ 1 trở đi, tên gọi chính là Phật
thuyết A Di Ðà kinh sớ sao tự. Rồi tờ 7 có tên là Phật
thuyết A Di Ðà kinh. Nhưng trên gáy tất cả từ tờ 1 đến
tờ 39, trừ tờ 4 đến tờ 6 đều gọi là Di Ðà kinh thích
giải hoa ngôn. Còn tờ 4 đến tờ 6, trên gáy chỉ có Di Ðà
kinh. Hai tờ ghi danh sách những người cúng kinh cũng ghi là
Di Ðà kinh. Như thế, ở đây ta có những tên gọi khác nhau
của bản văn giải thích này. Tuy nhiên, cứ vào Hương hải
thiền sư ngữ lục, ta có tên Giải Di Ðà kinh. Tên này được
ghi vào trong số các tác phẩm của Minh Châu Hương Hải và
được lưu hành để những người khác chép lại, thì rõ
ràng nó tương đối phổ thông. Hơn nữa, vì nó được ghi
vào trong Hương hải thiền sư ngữ lục, mà cuốn ngữ lục
này lại in vào năm 1847. Vì thế, nó phần nào có tính cổ
sơ khi so với tên của bản in chúng ta hiện có. Chúng tôi
do thế đề nghị gọi văn bản mà chúng ta hiện sở hữu
trong tay bằng tên gọi Giải Di Ðà kinh .
II.NĂM BIÊN SOẠN VÀ
NGUỒN TÀI LIỆU
Theo Hương hải thiền
sư ngữ lục thì các tác phẩm của Minh Châu Hương Hải đều
viết tại chùa Nguyệt Ðường, nghĩa là từ những năm 1685
trở về sau cho đến khi ông mất vào năm 1715. Thế thì trong
gần 30 năm này, ông đã viết Giải Di Ðà kinh vào thời điểm
nào. Theo chúng tôi nghĩ vì Minh Châu Hương Hải đánh giá rất
cao phương pháp niệm Phật tịnh độ, đặc biệt là khi ông
ra ở tại viện Thiền tịnh của núi Quy Thái, tỉnh Thừa
Thiên bây giờ, tức vào khoảng năm 1665, chắc chắn ông đã
quan tâm đến các văn hiến liên hệ với phương pháp tu hành
này, trong đó có bộ A Di Ðà kinh sớ sao của Châu Hoằng (1535-1615).
Thực tế như sẽ thấy dưới đây, Giải Di Ðà kinh là một
bộ thích giải chủ yếu dựa vào A Di Ðà kinh sớ sao vừa
nói. Ðiểm lôi cuốn là sau khi Châu Hoằng mất không lâu,
tác phẩm của ông đã được truyền qua nước ta và được
Minh Châu Hương Hải biết tới. Có khả năng ông đã biết
đến tác phẩm này từ những ngày ông còn ở miền Nam, tức
vùng Thuận hoá và Quảng nam. Dẫu sao đi nữa, dù biết trước
khi ra Bắc hay sau đó, điều chắc chắn là trong thế kỷ thứ
17, tác phẩm của Châu Hoằng đã phổ biến rộng rãi bên
ngoài Trung quốc. Sự kiện này cho chúng ta một nhận định
khá hấp dẫn về tình trạng giao lưu văn hoá giữa các dân
tộc vào thế kỷ ấy. Ðó là đã có sự giao lưu thường
xuyên và đồng thời giữa các nền văn hoá của các dân tộc
khác nhau thời đó, đặc biệt trong đó có cả văn hoá Phật
giáo .
Theo phân tích hiện nay
về Giải Di Ðà kinh, thì tuy Minh Châu Hương Hải đã dựa
vào A Di Ðà kinh sớ sao, nhưng ông đã không hoàn toàn bám
sát tác phẩm của Châu Hoằng. Tác phẩm của Châu Hoằng gồm
4 quyển, giải thích rất dông dài từng đoạn văn 1. Bây giờ
nếu ta so sánh giữa 2 tác phẩm của Châu Hoằng và Minh Châu
Hương Hải thì không thấy có sự bám sát sít sao. Chẳng hạn,
ngay câu đầu của bài tựa :"Linh minh động triệt, trạm tịch
thường hành, phi trọc phi thanh, vô bối vô hướng. Ðại tai
chân thể, bất khả đắc như tư nghị giả, kỳ duy tự tánh
du", Châu Hoằng đã dùng đến 1026 chữ để giải thích, tức
"sớ sao". Trong khi đó, Minh Châu Hương Hải chỉ dùng hơn 100
chữ Việt để vừa dịch vừa giải thích câu đó. Nói thế
có nghĩa là Minh Châu Hương Hải đã tóm tắt A Di Ðà kinh
sớ sao và giải thích lại bằng tiếng Việt .
Tuy nhiên, không phải
bao giờ Minh Châu Hương Hải cũng tóm tắt một cách trung thành
những lời giải thích của Châu Hoằng. Lấy thí dụ, khi giải
thích về tên Cấp Cô Ðộc, thì ai cũng biết đây là tên
dịch tiếng Hán của Anathapindika, một cư sĩ đệ tử nổi
tiếng của Ðức Phật và nổi tiếng vì ông thường hay bố
thí cho những người cô và độc tức những trẻ em không
cha mẹ và người già không vợ con. Thế mà trong Giải Di Ðà
kinh, Minh Châu Hương Hải đã giải thích Cô Ðộc như sau :"Cô
Ðộc là thầy tu, trên từ lục thân gọi là Cô, dưới xả
thê tử gọi là Ðộc". Ðây là lời giải thích mà ta không
tìm thấy trong A Di Ðà kinh sớ sao của Châu Hoằng. Thực tế
về vị cư sĩ nổi tiếng này, Châu Hoằng viết :"Cấp Cô
Ðộc, trẻ mà không cha gọi là Cô, già mà không con gọi là
Ðộc, nay chỉ nơi không nương tựa, không nuôi dưỡng, thì
gọi là Cô Ðộc", như A Di Ðà kinh sớ sao 2 tờ 376a8-9 (188c8-9)
đã ghi. Nói khác đi, ta không tìm đâu ra cách giải thích Cấp
Cô Ðộc liên hệ với thầy tu như Minh Châu Hương Hải đã
có .
Nói tóm lại, khi viết
Giải Di Ðà kinh, Minh Châu Hương Hải đã dựa vào A Di Ðà
kinh sớ sao, lấy đây làm nguồn tư liệu chủ yếu, nhưng
rút gọn bớt tới gần 90 % và thêm vào những kiến giải
riêng của mình. Chính những kiến giải thêm này đã làm nên
bộ mặt riêng của Giải Di Ðà kinh .
III. PHÂN TÍCH NỘI DUNG
Giải Di Ðà kinh được
tổ chức trong bản in lần này thành 3 phần. Trong 39 tờ đánh
số liên tục, ta thấy 6 tờ đầu dành cho phần giải thích
lời tựa của A Di Ðà kinh sớ sao. Tờ thứ 6 ghi lại nghi
thức đọc kinh, 33 tờ còn lại hoàn toàn dành cho việc giải
thích A Di Ðà kinh, bản dịch của La Thập và dựa vào A Di
Ðà kinh sớ sao. Vì dựa vào A Di Ðà kinh sớ sao, cho nên cách
giải thích của Minh Châu Hương Hải bị ảnh hưởng của
Châu Hoằng. Thứ nhất, khi viết A Di Ðà kinh sớ sao, Châu
Hoằng đã nói rõ ông dựa vào Hoa Nghiêm kinh sớ diễn nghĩa
sao của Trừng Quán (738-840) để có tên là "sớ sao". Sớ là
để giải thích kinh và sao để tóm tắt ý nghĩa của những
giải thích đó. Vì chịu ảnh hưởng của Trừng Quán, tức
tư tưởng Hoa Nghiêm nên Châu Hoằng mới đề ra lối giải
thích đặc thù của riêng mình gọi là xứng lý, mà Minh Châu
Hương Hải đã tiếp thu và cải biên. Một trong những nét
cải biên dễ thấy nhất là Minh Châu Hương Hải đã gộp
sớ và sao vào một, bằng chính việc ông ghi lời sớ sao rằng.
Trong khi đó, Châu Hoằng phân chia ra rành rẽ giữa sớ và
sao. Thông thường, sao còn được viết dài hơn sớ nữa.
Mặt khác, thời kỳ
A Di Ðà kinh sớ sao ra đời là thời kỳ phong trào tâm học
của Vương Dương Minh (1472-1529) phát triển rầm rộ, vì thế
khi viết A Di Ðà kinh sớ sao, Châu Hoằng đã chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ lý luận tâm học của phong trào ấy. Ðiều này
ta có thể thấy rõ ngay câu đầu của lời tựa, khi Châu Hoằng
viết :"Linh minh động triệt, trạng tịch thường hằng". Linh
minh là một phạm trù đặc biệt của tư tưởng tâm học
Vương Dương Minh. Trong Truyền tập lục quyển hạ, Vương
Dương Minh đã xác định :"Linh minh của ta là chúa tể của
trời đất quỷ thần…Trời đất quỷ thần vạn vật, mà
rời linh minh của ta, thì không có trời đất quỷ thần vạn
vật và linh minh của ta, mà rời trời đất quỷ thần vạn
vật, thì không có linh minh của ta nữa". Cho nên, khi viết
Giải Di Ðà kinh, Minh Châu Hương Hải cũng chịu ảnh hưởng
sâu đậm của tư tưởng tâm học Vương Dương Minh .
Bố cục của A Di Ðà
kinh sớ sao gồm 3 phần . Phần thứ nhất trình bày tổng quát,
thể hiện qua bài tựa nói lý do tại sao viết bản giải thích
này. Ðó là vì các bản sớ xưa quá giản lược và ít lưu
hành ở đời, cho nên phải viết lại. Phần thứ hai là giải
thích văn nghĩa, gồm 10 vấn đề. Một là lý do xuất hiện
của Phật giáo nói chung và Kinh A Di Ðà nói riêng. Hai là vấn
đề phán giáo, tức xếp loại kinh này thuộc loại gì. Ba
là vấn đề đốn tiệm, tức xếp phương pháp tu hành của
kinh này thuộc dạng tông phái nào. Bốn là nói về đối tượng
nhắm tới của kinh này, tức những ai có thể thực hành được.
Năm là bản chất giáo lý của kinh. Sáu là chủ trương của
kinh. Bảy là bộ loại của kinh. Tám là vấn đề dịch giải
và trì tụng. Chín là giải thích tên kinh. Và mười là giải
thích văn bản của kinh. Trong 10 vấn đề này, Châu Hoằng
còn chia làm nhiều đoạn nhỏ. Riêng 2 vấn đề cuối cùng
tức giải thích tên kinh và giải thích văn bản kinh, thì Châu
Hoằng còn chia thành nhiều tiểu đoạn nữa. Ðặc biệt về
vấn đề giải thích văn bản kinh, Châu Hoằng đã sử dụng
lại lối phân đoạn của các nhà chú giải xưa nay, tức là
chia nó làm 3 đoạn nhỏ, gồm đoạn tựa, đoạn chính tông
và đoạn lưu thông. Riêng trong đoạn lưu thông, một nét khác
của Châu Hoằng là gồm vào trong kinh bài A Di Ðà chú .
Nội dung và quan điểm
của A Di Ðà kinh sớ sao là thế. Minh Châu Hương Hải khi viết
Giải Di Ðà kinh cũng đã bám sát tuy sơ lược như đã nói.
Ðiểm cần chú ý là tại sao Minh Châu Hương Hải lại chọn
A Di Ðà kinh sớ sao, trong số các bản giải thích về kinh
A Di Ðà được biết ở thời ông. Ví dụ A Di Ðà kinh sớ
của Trí Viên (1177-1022) và xưa hơn nữa là của Khuy Cơ (632-682),
của Nguyên Hiểu (618-686) v.v… Nói khác đi, trước khi Châu
Hoằng viết A Di Ðà kinh sớ sao, ta có nhiều bản giải thích
khác nhau về kinh A Di Ðà của những nhà chú giải nổi tiếng
như Khuy Cơ , Nguyên Hiểu v.v…Trả lời câu hỏi trên, ta cần
chú ý đến tình hình học thuật và tư tưởng thời Minh Châu
Hương Hải tại Trung quốc cũng như nước ta. Ở Trung quốc
như đã thấy, phong trào tâm học của Vương Dương Minh đang
phát triển mạnh mẽ. Còn ở nước ta, tại vùng đất Minh
Châu Hương Hải sống trước khi ra Bắc, tức khoảng từ năm
1647 trở đi, 1 trong những người theo thuyết Vương Dương
Minh nổi tiếng là Chu Thuấn Thủy đã đến nước ta. Chu Thuấn
Thủy đã sống ở nước ta 10 năm nhưng không được các chúa
Nguyễn trọng dụng, nên sau đó qua Nhật và nhập tịch vào
nước này năm 1657. Chính Chu Thuấn Thủy đã truyền tư tưởng
tâm học của Vương Dương Minh cho học giới Nhật bản, đặt
nền móng cho sự phát triển nền tâm học, mà sau này đã
tác động mạnh mẽ đến phong trào duy tân thế kỷ 19 do Minh
Trị lãnh đạo. Thời gian 10 năm sống tại Quảng Nam và Thuận
hoá, Chu Thuấn Thủy dù không thuyết phục các chúa Nguyễn
theo tư tưởng của mình, chắc hẳn có một số tác động
lên học giới Việt Nam, trong đó nhất định có cả Minh Châu
Hương Hải. Có lẽ do những tác động ấy, mà sau này ông
đã chọn A Di Ðà kinh sớ sao làm nguồn tư liệu tham khảo
để viết nên Giải Di Ðà kinh .
Như vậy, nội dung Giải
Di Ðà kinh tuy lấy nguồn tư liệu từ A Di Ðà kinh sớ sao
của Châu Hoằng, nhưng thực chất về mặt tư tưởng, khi
phân tích ta thấy nó nằm trong quỹ đạo chung của tư tưởng
thiền Tịnh độ của Phật giáo Việt Nam. Quả thực quan niệm
tự tánh Di Ðà duy tâm tịnh độ mà Châu Hoằng chủ trương
và Minh Châu Hương Hải nêu lại bằng câu tiếng Việt "tự
tính Di Ðà, một lòng tịnh độ", ta không cần tìm đâu xa,
chỉ cần đọc lại Hội thứ 2 Cư trần lạc đạo phú của
Trần Nhân Tông :
Tịnh độ là lòng trong
sạch
Chớ còn ngờ hỏi đến
Tây phương
Di Ðà là tính sáng soi
Mựa phải nhọc tìm
về Cực lạc
Ta thấy ngay trước Châu
Hoằng và Minh Châu Hương Hải mấy thế kỷ, nó đã được
nêu lên và xác định một cách rõ ràng. Ðiểm lôi cuốn hơn
nữa là Minh Châu Hương Hải còn nhắc tới kinh Pháp đàn,
mà khi tra lại A Di Ðà kinh sớ sao 2 tờ 389b16 (195b16) thì đúng
là Pháp bảo đàn, để phê phán việc Pháp bảo đàn ghi lộn
thế giới Cực lạc chỉ cách ta mười vạn 8 ngàn dặm. Trong
Sự lý dung thông, Minh Châu Hương Hải đã nói tới việc mình"vui
về bề diệu dược liên bang". Do thế, trước sau như một,
nội dung thiền của tư tưởng Minh Châu Hương Hải là tư
tưởng thiền tịnh, coi việc niệm Phật như một phương tiện
hành thiền mà vào thời ông đã trở nên rất phổ biến.
Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644) viết Bồ đề yếu nghĩa
để xiển dương tư tưởng thiền tịnh. Rồi một đồng đại
trẻ tuổi của ông là Chân Nguyên Tuệ Ðăng (1647-1726) đã
viết Tịnh độ yếu nghĩa [Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền
sư toàn tập, tập 1, Tp.Hồ Chí Minh, 1979, tr.159-190] cũng nhắm
cùng một mục đích .
Và qua Giải Di Ðà kinh
ta ít nhiều nhận ra quan điểm của Minh Châu Hương Hải, dù
có ảnh hưởng của Châu Hoằng, về giá trị của việc trì
chú. Ông viết :"Chuyện trì danh hiệu thắng hơn trì chú, thắng
hơn hết thảy chư dư công đức". Rõ ràng khi viết thế, ông
đã không che giấu thái độ cũng như cách đánh giá không
cao vị thế và vai trò của việc trì chú. Nếu đọc Hương
hải thiền sư ngữ lục, với nhiều mô tả dài dòng mà kỹ
càng về việc ông đối phó với những hiện tượng ma quái,
về việc trị bệnh nổi tiếng của ông, ta tưởng Minh Châu
Hương Hải quí trọng việc trì chú. Thế mà khi đọc Giải
Di Ðà kinh, với câu vừa dẫn trên, ta mới thấy quan điểm
của ông thế nào đối với việc trì chú. Ðiều này giải
thích cho chúng ta rất nhiều vai trò của mật giáo trong đời
sống thực tiễn của Phật giáo Việt Nam .
Người Phật giáo Việt
Nam có thể niệm Phật, tụng kinh, trì chú, nhưng họ vẫn
nhận mình là những môn đồ của thiền một cách tự nhiên
mà không gượng ép. Ðôi khi những sinh hoạt niệm Phật tụng
kinh, trì chú ấy có vẻ nổi bật, dễ dẫn người ta đến
ấn tượng rằng sinh hoạt Phật giáo Việt Nam chủ yếu bao
gồm những hình thức như thế. Thực tế qua lịch sử, ta
thấy những vị thiền sư danh tiếng nhất một thời đều
ít nhiều liên hệ đến những sinh hoạt kiểu đó, như Vạn
Hạnh, Ðạo Hạnh v.v…Và những vết tích khảo cổ còn lại
như hàng loạt cột kinh tìm thấy tại cố đô Hoa Lư, đều
thể hiện sâu đậm nếu không nói là toàn bộ ảnh hưởng
của mật giáo. Ðiều này gây thắc mắc cho một số người,
rằng tại sao thiền tông của Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ mật giáo như thế. Sự thật căn cứ vào những mô tả
về cuộc đời những con người ấy cùng những vết tích
còn lại, người ta nêu lên câu hỏi trên thực tế ở Việt
Nam có tồn tại một hình thức Phật giáo gọi là thiền tông
hay không? Hay thiền tông chỉ là"một tiếng đồn từ tu viện"v.v…Những
vị như Vạn Hạnh, Ðạo Hạnh v.v…ngày nay ta không còn những
tác phẩm liên hệ để có thể biết thái độ của họ. Nhưng
với Minh Châu Hương Hải, qua Giải Di Ðà kinh, ta thấy thái
độ, quan điểm của ông như thế nào. Sự việc này giải
thích dứt khoát vì sao ông vẫn tự nhận mình là một thiền
sư, và các thế hệ tiếp theo vẫn xác định ông trong tư
cách ấy, mà cụ thể là quyển Hương Hải thiền sư ngữ
lục .
Việc ông nhấn mạnh
trì danh niệm Phật này như một phương pháp thiền, như đã
thấy, là nằm trong quỹ đạo thiền của tư tưởng thiền
Phật giáo Việt Nam. Ta đã nhắc tới Trần Nhân Tông, nhưng
trước Minh Châu Hương Hải không bao lâu, ngay một người
Phật tử như Ðào Duy Từ (1572-1634) đã mô tả lại phần
nào nhận định vừa nêu trong Tư dung vãn của ông :
Một bầu chi cũng thú
yên hà,
Nghi ngút hương bay cửa
Ðại la
Ngày vắng đỉnh đang
chuông bát nhã
Ðêm khuya dắng dõi kệ
Di Ðà
Nhặt khoan đàn suối
ban mưa tịnh
Eo óc cầm ve thuở ác
tà
Mựa rảng đạo xa hoà
nhọc kiếm
Bồ đề kết quả ở
lòng ta
Ngôi chùa Việt Nam vào
thời Ðào Duy Từ ở miền Nam vẫn luôn luôn "dắng dõi kệ
Di Ðà". Nói khác đi, tư tưởng tự tính Di Ðà là một tư
tưởng Tịnh độ đã bị thiền hoá, mà Trần Nhân tông trước
đó đã diễn tả bằng câu :"Di Ðà là tính sáng soi", đã
lưu hành rộng rãi trong giới Phật giáo Việt Nam, nghĩa là
Thiền tông Việt Nam. Cho nên ta có giả thuyết mà không sợ
sai lầm, việc Minh Châu Hương Hải giải thích kinh A Di Ðà
theo hướng A Di Ðà kinh sớ sao của Châu Hoằng không phải
là một cái gì hoàn toàn xa lạ với truyền thống Phật giáo
Việt Nam, nằm ngoài quỹ đạo phát triển của dòng Phật
giáo này. Nó chỉ làm rõ hơn nữa những mặt đặc biệt mà
nền Phật giáo này thể hiện .
IV.PHÂN TÍCH VĂN HỌC
Giải Di Ðà kinh, như
nhan đề nêu lên là một bản giải thích về kinh A Di Ðà,
lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm A Di Ðà kinh sớ sao của
Châu Hoằng. Có thể nói nó là một trong số ít tác phẩm
xưa nhất hiện biết về lối văn giải thích này. Trước
nó ta chỉ có những bản văn xuôi dịch đuổi theo bản chữ
Hán của Viên Thái và Nguyễn Thế Nghi. Loại văn xuôi này
thường bị nguyên bản chữ Hán khống chế, nên không cho
ta biết bộ mặt đích thực của tiếng nói dân tộc hàng
ngày của đồng bào ta. Chính qua lối văn giải thích của
Minh Châu Hương Hải, ta bước đầu có những bản văn xuôi
đích thực do người Việt Nam viết. Cần chú ý là vào thế
kỷ này cũng đã có một số bản văn xuôi tiếng Việt được
ghi lại, như của Majorica và Alaxandre de Rhodes. Nhưng đây là
những tác phẩm do người ngoại quốc ghi lại, và chắc chắn
không thể phản ánh đầy đủ và trung thực tiếng nói hàng
ngày của nhân dân ta. Vì thế, những bản văn xuôi như Giải
Di Ðà kinh xuất phát từ một ngòi bút Việt Nam, dứt khoát
phản ánh trung thực, trọn vẹn tiếng nói của chính dân tộc
mình. Ngoài ra như đã nói trên, Minh Châu Hương Hải có được
những lợi điểm mà ít người Việt Nam vào thời ông sở
hữu. Ðó là ông thuộc tầng lớp trên, tầng lớp trí thức
của xã hội Việt Nam thời đó, có dịp tiếp xúc với những
nhà lãnh đạo quân sự cao cấp nhất của đất nước, và
đặc biệt hơn hết, Minh Châu Hương Hải đã sống và làm
việc lâu dài ở hai miền khác nhau của đất nước. Nền
văn xuôi do ông ghi lại, từ đó có thể coi như một đại
biểu trung thành cho tiếng nói của 1 dân tộc thống nhất.
Chỉ chừng ấy đặc điểm thôi cũng đã làm cho ta trân trọng
những tác phẩm của Minh Châu Hương Hải, và dành cho chúng
vị trí xứng đáng trong lịch sử phát triển văn học dân
tộc .
Không những thế, bản
thân các tác phẩm văn xuôi của Minh Châu Hương Hải, trong
đó có Giải Di Ðà kinh, đã đạt được một số thành tựu,
vươn lên xây dựng được vẻ đẹp mang tính văn học. Thử
đọc lại một đoạn văn sau:"Nghe chim kêu hoa nở thì gọi
là ngày, chim đỗ hoa hiệp thì gọi là đêm. Hoa có hai giống,
một là thiên hoa, hai là thọ hoa. Bốn phương tự nhiên gió
thổi, đều ra chủng chủng âm thanh thuyết pháp. Hoa thơm tùy
phong, tán cúng chư bồ tát. Hết thảy thanh văn cùng chư đại
chúng tán hoa, rắc xuống kim địa, đầy hơn 4 tấc, hoa quang
sáng rỡ, hơi thơm lạ lùng…". Ta có thể cảm thụ một cách
dễ dàng những hình tượng được miêu tả một cách trong
sáng và rõ ràng. Tiếng nói của dân tộc ta gần 400 năm trước
đây là vậy .
Tất nhiên, ta không thể
đòi hỏi Minh Châu Hương Hải mở rộng lĩnh vực chuyên môn
của mình để đi qua những địa hạt khác của văn học như
viết tiểu thuyết bằng văn xuôi chẳng hạn. Những gì ông
để lại cho chúng ta hôm nay qua Giải Di Ðà kinh, tối thiểu
cũng đã giúp cho ta phác họa lại diện mạo tiếng nói thường
ngày của cha ông ta cách ta mấy trăm năm. Và đó là những
đóng góp to lớn đối với dân tộc ta. Nền văn xuôi do Minh
Châu Hương Hải gầy dựng vì thế cần được trân trọng
và nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, để ta có thể nhận diện
chân dung và khuôn mặt nó rõ ràng và đúng đắn .
BÀI TỰA IN LẠI CÁC
KINH
Hễ sắp dựng gác xây
nhà với vẻ đẹp khác thường hơn người, thì trước tất
phải lo cột kèo cây gỗ. Và để cho cột kèo cây gỗ có
được chạm trổ thì phải dùng đến búa, rìu, cưa, đục,
dây thước…Há chỉ xem sơ sơ thôi sao? Phải chuyên mắt xem
xét, phải thẳng tay ngắm nghía mới được thế. Kẻ sĩ học
đạo thánh nhân tất cũng phải bàn kinh sửa truyện, khảo
xem trăm nhà, tìm những điều sâu xa, rõ những mối manh tổng
quát, sau đó mới đạt được chỗ hiểu. Nhưng điều này
há chỉ đặc biệt với nhà nho ta sao?
Cái học họ Thích cũng
vậy, nay có thiền sư Từ Tường chùa Linh Sóc, xã Hà Hồi,
gọi ta nói:"Người xưa của tông phái tôi vì chúng sanh có
căn cơ chậm lụt, đã mở bày sự thật nhiệm màu về ý
nghĩa chân thật của pháp môn để giải thoát cho họ, đã
viết đủ trong các kinh luật. Nhưng lo về sau bị buông bỏ,
nên các bậc hiền đức cổ xưa lại phải bắt đầu nối
thêm mà làm ra có luận giải. Từ khi chánh pháp bị suy phế,
ý chỉ nhĩ căn của Lăng nghiêm bị che khuất, phương tiện
văn chương chảy tới các nước lân cận, thì tệ nạn này
càng nổi bùng lên. Ngu tôi từ khi xuất gia đến nay, lòng
luôn luôn nghĩ tới chuyện xiển dương chánh giáo, thỉnh thoảng
lấy các kinh Lương hoàng, Thủy sám và Dược sư cùng với
các bộ chú giải Di Ðà, Phổ Môn, Kim cương ở những bản
gỗ xưa bị thiếu hư tản mạn còn lại, bổ sung vào những
chỗ sót mất, lại giao cho khắc in, để công bố cho những
hàng xuất gia, nhằm mở rộng sự nghiệp trí tuệ, rồi luôn
luôn thắp hương lễ sám chắp tay đảnh lễ nam mô, để cùng
với Phật xưa thánh trước, theo sát không bỏ một phút giây,
những mong những pháp môn quảng đại từ bi, không thể nói,
không thể bàn, bao dung mà không trở ngại tôi. Than ôi, chúng
ta thật có sức để làm Phật ư !
Người ta thường hay
khó chịu về cái học không chuyên nhất, nên ngơ ngác không
có chỗ thâu hoạch được. Ta nghe đạo Phù Ðộ nhiều kệ
thuyết, lắm giới luật. Việc học nó cũng rất cực khổ,
còn việc hiểu được nó thì ta không thể biết. Nhưng việc
chấp hành cái học đó để có tiến bộ nhằm nối tổ truyền
đèn, tiếp tục tuệ mạng của chư Phật, thì chí hướng
của chúng ta cũng gần thế ư. Nếu không vậy, chỉ luống
giao vào tay đốt Phật của Ðan Hà (?) thì lòng chúng ta càng
quặn đau, lại càng nhân thế mà càng cảm thấy thêm nữa.
Cái học của nhà nho ta gọi là cái chứa nhóm nhân nghĩa lễ
nhạc, là cái học làm sáng tỏ văn chương đạo đức, thì
so với cái học của nhà Phật, rất là dễ biết dễ làm.
Thế mà đám tụ nho vờ vĩnh, không chịu quan tâm đến thơ
truyện, đem văn chương mà khắc in, lại tự xén cắt câu
kéo, tước bỏ ý nghĩa, làm cho con đường chính đại đàng
hoàng ngày càng nhỏ hẹp lại. Ta há không ra sức có chí như
những vị kia mươi chục người để cùng bàn luận về đạo
của thánh nhân ta sao. Nên viết bài tựa này .
Hạ tuần tháng mùa thu
năm Minh Mạng thứ 14 (1833) của Hoàng Triều
Tường Nguyên Hy Hiến
họ Ðặng viết ở Thư xá Tiên Thị
Nguyễn Ðắc Trung xã
Hồng lục khắc chữ.
PHẬT THUYẾT A DI ÐÀ
KINH SỚ SAO TỰ
Huyền Cơ Thiện Giác
pháp
Tự Minh Châu thích giải
Pháp tử Chân Lý khâm
thuật
Chân Quý phụng san
Sơ thông tự đại ý
Linh minh động triệt,
trạm tịch thường hằng, phi trược phi thanh, vô bối vô hướng.
Ðại tai chân thể, bất khả đắc nhi tư nghì giả, kỳ duy
tự tính dư?
Linh là linh giác, minh
là minh hiển, trạm là bất nhiễm, tịch là bất giao, thiêng
biết sáng suốt, thông thâu trong sạch, phẳng lặng hằng bền.
Phi trược là chẳng từng thọ nhất trần. (1b) Phi thanh là
chẳng từng xả nhất pháp. Vô bối là dầu buông đi, ắt
chẳng có thửa mà tùng khứ. Vô hướng là dầu rước tới,
ắt chẳng có thửa mà tùng lai. Lớn thay chân thật thể, rộng
rãi mãn khắp mười phương, cao thẳm khỏi hết tam tế, lại
chẳng có pháp nào mà ví cùng. Há phải đối tiêu rằng đại
chân thể là tượng có nhiều danh, ắt gọi là bản tâm bản
giác, ắt gọi là chân thức chân tru, chủng chủng dị danh,
đương nơi tự giác linh quang, vốn thật nhất tâm cụ túc,
chỉn bằng chẳng khá tư nghì được. Thửa một tự tánh
vậy vây .
Thường trược nhi thanh,
phản bối nhi hướng, việt tam kỳ ư nhất niệm, tề chư
thánh u phiến ngôn. Chí tai diệu dụng, diệt bất đắc nhị
nhi tư nghì giả, kỳ duy Phật thuyết A Di Ðà kinh dư?
Trừng là trừng tịnh,
chuyển ngũ trược bèn nên thanh thái. Phản là qui hoàn bỏ
sa bà bèn tới cực lạc. (2a) Việt tam kỳ là tự Cổ Thích
Ca đến Thi Khí Phật, trải qua bảy muôn năm ngàn Phật xuất
thế. Từ Thi Khí đến Nhiên Ðăng Phật, trải qua bảy muôn
sáu ngàn Phật xuất thế. Từ Thiên Ðăng đến Bà Thi Phật,
trải qua bảy muôn bảy ngàn Phật xuất thế. Ấy là vượt
tam kỳ. Chưng nơi nhất niệm tề chư thánh là Phật cùng chư
Bồ tát, nhân chưng phiến ngôn hằng niệm A Di Ðà Phật, chực
quyết vãng sinh, nhất tâm bất loạn, chẳng còn thối chuyển,
bèn nên Vô thượng Bồ đề. Ấy là nhất niệm đến siêu,
phiến ngôn tức chứng. Rốt ráo thay, diệu dụng ắt khôn
tư nghì được, nhân bởi Thích Ca diễn thuyết A Di Ðà kinh
vậy vây .
Cố ngã Thế Tôn, sạ
thuyết tam thừa, chung quy nhất bảo, đẳng ban trân tứ, tiện
tích thù ân .
Vì vậy đức Phật Thế
Tôn, trước bèn khai quyền, tạm thuyết tiểu thừa dạy chư
Thanh văn, trung thừa dạy chư Duyên giác, đại thừa dạy chư
Bồ tát, tùy thuận chúng sinh, nhân có lợi độn, phải diễn
tam thừa vậy. Sau chúng sinh liễu ngộ, bèn lập nhất phá
tam, hội quyền về thật, đều cho tối (2b) thượng đại
xa. Vì vậy rằng ban cho đẳng chư trân bảo, lại thêm ơn
lạ. Một cửa niệm Phật này, chẳng luận đại căn tiểu
căn, dầu tin niệm Phật, nhất tâm bất loạn, ắt được
vãng sinh. Hai là trì danh trong nơi ơn lạ, lại thêm lạ mầu
vậy .
Chỉ tứ thập bát chi
nguyện môn, khai nhất thập lục chi quán pháp, nguyện nguyện
quy hồ phổ độ, quán quán tôn hồ diệu tâm .
Dẫn bốn mươi tám lời
phát nguyện, chưng cửa nguyện môn; mở 16 đường mật tưởng,
chưng pháp quán tưởng. Chu hoằng nguyện đều về phổ độ,
đẳng quán tôn chẳng khỏi diệu tâm .
Hựu dĩ nguyện môn quảng
đại, quí tại tri tiên, quán pháp thâm huyền, vưu ưng thủ
ước. Tri tiên tắc vụ sinh bỉ quốc. Thủ ước tắc duy sự
trì danh. Cử kỳ danh hê, kiêm chúng đức nhi câu bị, chuyên
hồ trì dã, thống bách hạnh dĩ vô di .
(3a) Lại bèn cửa nguyện
môn rộng lớn, ắt rất tôn quý chưng nơi tri tiên. Phép quán
tưởng sâu nhiệm, càng lắm trọng, hợp đương thủ ước.
Tri tiên ắt vụ bề vãng sinh bỉ quốc. Thủ ước ắt vui
hay cần sự trì danh. Cử thửa Phật hiệu, gồm no chúng đức,
mà đều đủ. Chuyên thọ trì vậy, thống hết muôn hạnh,
bèn chẳng khuy .
Tùng tư nhi vạn lự
hàm hưu, cứu cực hồ nhất tâm bất loạn .
Nếu từ đây mà muôn
lọ đều rỗi, xét rốt ráo bởi nhất tâm bất loạn .
Nãi tri phỉ ly khuể
bộ, bảo trì dũng tứ sắc chi hoa. Bất xuất hộ đình, xin
địa nhiễu thất trùng chi thọ. Xứ xứ di đà thuyết pháp,
thời thời liên nhụy hoá sinh. Trân câm dự già điểu giai
âm. Quỳnh viện cộng mão đường tịnh thái .
Bèn hay (3b) chẳng dời
khỏi nước bước, trong bảo trì trổ chen bổn sắc liên hoa,
chưa ra ngoài cửa sân, dưới kim địa nhiễu quanh bầy trùng
hàng thọ. Mỗi chốn Di Ðà đều thuyết pháp, đòi khi liên
nhụy cùng hoá sanh, trân cầm già điểu hằng diễn thuyết
đồng thanh, ngọc viên hoa đường đều trang nghiêm mọi vẻ
.
Cái do niệm không chân
niệm, sinh nhập vô sinh, niệm Phật tức thị niệm tâm, sinh
bỉ bất ly sinh thử, tâm Phật chúng sinh, nhất thể, trung
lưu lưỡng ngạn bất cư, cố vị tự tính di đà duy tâm tịnh
độ .
Tượng bởi niệm không,
chân niệm sinh, bèn ngộ nhập vô sinh. Niệm Phật ấy thật
niệm tâm. Sinh bỉ nào khác sinh thử. Tâm, Phật cùng chúng
sinh một thể , chẳng trụ lưỡng ngạn, trung lưu. Vì vậy,
rằng tự tính Di Ðà, một lòng tịnh độ .
Thử tác lý chi nhất
tâm toàn qui thượng trí, diệc phục thông hồ sự tướng,
khúc (4a) vị độn căn .
Ấy pháp chưng lý nhất
tâm đều về những người thượng trí. Ắt lại dung thông
sự tướng, chiều vì những kẻ độn căn .
Nại hà thủ ngu chi bối,
trước sự nhi lý vô văn, tiểu huệ chi lưu, chấp lý nhi sự
toại phế. Trước sự nhi mê lý, loại mông đồng đọc cổ
thánh chi thư, chấp lý nhi di sự, tỉ bần sỹ hoạch hào gia
chi khoản .
Nài bao những bậc thủ
ngu, chấp lấy sự mà chẳng nghe lý. Những đông tiểu huệ,
chấp lấy lý mà phê rẫy sự. Chấp sự mà mê lý, chẳng
khác chi chúng trẻ thơ đọc lấy chưng sách tiên thánh. Chấp
lấy lý mà bỏ rẫy sự, dường bằng học trò khó bèn được
sổ nhà trưởng giả .
Nhiên trước sự nhi
niệm năng tương kế, bất hư nhập phẩm chi công, chấp lý
nhi tâm thật vị minh, phản thọ lạc không chi họa .
Vậy bèn chấp sự mà
hay niệm Phật tương kế, chẳng luống chưng công (4b) vào
phẩm vị, chấp lý mà lòng thật chưa minh, lại phải chịu
chưng họa lạc không .
Toại sử thùy thủ đồ
cần, ỷ môn không vọng, thượng cô phật hoá, hạ phụ kỹ
linh, kim sinh dĩ cập đa sinh, nhất ngộ nhi thành bách ngộ,
cam tâm khổ thú, thúc thủ tử môn, vô cứu vô quý, khả bi
khả thống .
Bèn khiến uổng vội
rũ tay, luống trông dựa cửa, trên quả đức chẳng vâng Phật
dạy, dưới phụ mình bỏ rẫy kỷ linh, kiếp này đến nhẫn
đa sinh, một phen lầm nên trăm phen lỡ. Lòng cam chịu chưng
nơi khổ thú, bó tay vào trong cửa tử môn, chẳng ai cứu trợ,
chẳng về nương đâu, cực khá thương, cực khá thiết .
Châu hoàng mạt pháp
hạ phàm, cùng tưu vãn học, võng thông huyền lý, tố bỉ
không đàm, họa bỉnh hà ích cơ trường, yên thạch nam vu
cổ mục .
Lời thề nguyền quảng
đại, đời mạt pháp (5a) dưới trần phàm, cùng ngung xem chưa
khắp, văn học trí chưa sâu, chưa hiểu thông lẽ màu nhiệm,
vốn thiển liệt luống đàm không, dường bằng bánh vẽ,
nào hay ích chi dạ đói, khác chi yến thạch, khôn dối được
mặt chủ thương .
Kỳ thừa tiên sắc,
đốc phụng tư kinh, vọng lạc quốc vi gia hương, ngưỡng
từ tôn như hổ thị .
Kính vâng lời Phật
dạy, đốc phụng sự kinh này, mong về cực lạc quốc, lấy
làm chốn gia hương. Ngưỡng vọng đức Từ Tôn, bằng trông
cậy mẹ cha .
Nhưng dĩ tâm hoài khiêm
lợi, đạo quí hoằng thông, khái cổ sớ tiễn kiến kỳ toàn,
duy sổ giải cẩn hành ư thế, từ tuy thiết nhi thái giản,
lý vi lộ nhi bất chương, bất cực luận kỳ hoằng công,
trù phát khởi hồ chân tín, đốn vong phu (5b) kiến, ký kiệt
tâm tư, tổng thu bộ loại ngũ kinh, trực cứ Văn Thù nhất
hạnh, nhi phục hội quy huyền chỉ, tắc phân nhập tạp hoa,
quán xuyến chủ môn tắc bác tổng quần điển, vô nhất bất
tiểu quy tự kỷ, hữu nguyện giai hồi hướng bồ đề, triển
thử tinh thành, khất cầu gia bị .
Nhân dùng lòng tư duy
lưỡng lợi, đạo tôn quý vì bởi rộng thông. Tin lời xưa,
lời bày thấy ít. Vui kể biết chưng thế liệt hành. Lời
tuy chí thiết, mà rất ít hiển ra, chưa sáng lẽ nhiệm màu,
chẳng cùng luận chưng thửa đại công, chúng phát hành vi
nhân chính tín. Bỏ rẫy bì phu ngoại kiến, lòng rỗi hết
sự lo toan. Tổng thâu nơi bộ loại năm kinh, chực quyết nương
Văn Thù một hạnh, bèn lại hội về huyền chỉ, đại ý
ắt thông vào tính hải Hoa Nghiêm. Thấu suốt khắp hết chư
môn, ắt máy rộng chưng nơi quần điển. Nào một đâu chẳng
tiêu về nơi tự kỷ, hễ có nguyện chưa khuây hồi hướng
bồ đề, ấy mở nơi nhất niệm tinh thành, xin cầu gia bị
cho thấu khắp .
(6a1) PHẬT THUYẾT A DI
ÐÀ KINH
Cử tán
Lô hương sạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật hải hội tất
diêu văn
Tùy xứ kiết tường
vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn
thân
Nam mô Hương Vân Cái
bồ tát ma ha tát
(tam biến)
Tịnh khẩu nghiệp chân
ngôn
Án tu rị tu rị ma ha
tu rị tu tu rị tát bà ha
Tịnh tam nghiệp chân
ngôn
Án sa phạ bà phạ truật
đà sa phạ đạt ma sa
Phạ bà phạ (6b) truật
độ hám
An thổ địa chân ngôn
Nam mô tam mãn đa một
đà nẫm,
Án độ rô độ rô địa
vỹ tát bà ha
Phổ cúng dường chân
ngôn
Án nga nga nẳng tam bà
phạ phiệt nhật ra hộc
(tam biến)
Khai kinh kệ
Vô thượng thậm thâm
vi diệu pháp
Bách thiên vạn kiếp
nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc
thọ trì
Nguyện giải Như Lai
chân thiệt nghĩa
Nam mô Khai Bảo Tạng
bồ tát ma ha tát
(7a) PHẬT THUYẾT A DI
ÐÀ KINH
Phật là Thích Ca, diễn
thuyết A Di Ðà kinh
Lời sớ sao rằng :
Phật là Ta bà giáo chủ
bổn sư Thích Ca, thập hiệu cụ túc, tam giác tề viên. Tự
giác ắt khác phàm phu, giác tha ắt khác nhị thừa, giác mãn
ắt khác bồ tát. Lại rằng không vọng tâm, danh là tự giác,
khỏi huyễn sắc, danh là giác tha. Rồi vọng tâm, rồi huyễn
sắc, lòng hằng thanh tịnh, danh là giác mãn .
Kinh có thông biệt dị
nghĩa. Một chữ kinh này, thật danh là thông. Phật thuyết
A Di Ðà năm chữ, thật gọi là biệt. Chư kinh đều đủ giáo,
hành, lý vậy. Vốn lý lập giáo, nương giáo tu hành, tùng
hành hiển lý, chuyên chỉ kinh này, Phật thuyết ắt thật
là giáo. Chấp trì danh hiệu, thật là hành. A Di Ðà ắt thật
là lý. Lại rằng dung thông tam đức, lý ắt pháp thân đức,
giáo ắt bát nhã đức, hạnh ắt giải thoát đức. A Di Ðà
công đức vô lượng, lại sánh cùng tam đại, ắt Phật thật
là thể đại, vô lượng thọ, thật là tướng đại, vô lượng
quang, thật là dụng đại .
Xứng lý ắt tự tánh
giác là Phật nghĩa, tự tánh giác vô lượng là A Di Ðà nghĩa,
tự tánh bổn thỉ nhị giác là lưỡng độ quả chứng nghĩa,
tự (7b) tánh giác thể biến chiếu thật là thuyết kinh nghĩa
.
Như thị ngã văn, nhất
thời Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên
.
Bằng chân thật ta nghe,
một khi Phật trụ ở Xá Vệ quốc, viện Kỳ Thọ, cấp Cô
Ðộc viên .
Lời sớ sao rằng :
Như thị là tín thành
tựu vậy. Nhất tâm bất loạn gọi là như. Một lòng chẳng
khác gọi là thị. Thật tướng chi lý, thỉ chung chẳng khác,
gọi là như. Thuyết thật như lý gọi là thị. Ngã văn là
chân văn thành tựu vậy. Ngã là tự ngã thân văn pháp thân
chân ngã vậy. Nhất thời là thành tựu chi thời, đương khi
thuyết thính sự rồi ắt gọi là nhất thời vậy. Phật là
viên giác thành tựu, làm tôn chủ tam thánh lục phàm hết
thảy chúng sinh vậy. Tại là thường trụ ứng vô sở trụ.
Xá
Vệ quốc là Phong đức thành. Kỳ là Kỳ Ðà thái tử.
Thọ là cây Kỳ Ðà thái tử cúng. Cấp là Tu Ðạt Noa trưởng
giả dựng làm tự vũ tinh xá, hằng thường cung cấp. Cô Ðộc
là thầy tu, trên từ lục thân gọi là cô, dưới xả thê
tử gọi là độc, cùng trụ một nơi viện ấy (8a) .
Xứng lý ắt tự tánh
đổng triệt thập phương, thật ấy A Nan văn Phật nghĩa.
Tự tánh bất ly đương xứ, thật ấy Phật tại Kỳ Viên
nghĩa .
Dữ đại Tỳ kheo Tăng,
thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, giai thị đại A la hán,
chứng sở tri thức .
Cùng những đại Tỳ
kheo Tăng nhân, một ngàn hai trăm năm mươi người hằng đủ,
đều thật những bậc đại A la hán, chúng thửa hay danh biết
lòng thấy tánh, cùng làm tri thức .
Lời sớ sao rằng:
Ðại tỳ kheo là nội
quyền bồ tát, ngoại thinh văn hạnh. Tỳ kheo có 3 nghĩa. Một
là khất sĩ, khất pháp, khất thực, cần cầu thành tựu thánh
quả vậy. Hai là bố ma, phát tâm xuất gia, lòng hằng ly dục.
Thú hướng vô sinh, chư ma đều bố uý vậy. Ba là phá ác,
diệt trừ phiền não nghiệp cấu, lòng hằng thanh tịnh vậy.
A la hán bèn có 3 nghĩa, một là ứng cúng, hai là sát tặc,
ba là vô sinh. A la hán là tứ quả thinh văn. Ðại A la hán
là tu vô lậu nghiệp, đức cao danh mãn, làm nhân thiên nhãn
mục, đạo dẫn chúng vậy .
Xứng lý ắt tự tính
vô lậu, thật ấy là la hán nghĩa, tự tính vô mê (8b), thật
ấy tri thức nghĩa .
Trưởng lão Xá Lợi
Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Ca Diếp, Ma ha Ca Chiên Diên,
Ma ha Câu Thy La, Ly Bà Ða, Châu Lợi Bàn Ðà Già, Nan Ðà, A
Nan Ðà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Ðề, Tân Ðầu Lô, Phả La
Ðọa, Ma ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Ðà .
Ông Xá Lợi Phất cửu
tu đức trưởng, trí huệ đệ nhất. Ông Mục Kiền Liên quảng
đại, thần thông đệ nhất. Ông Ca Diếp lòng quảng đại,
đầu đà thượng hạnh đệ nhất. Ông Ca Chiên Diên, lòng
quảng đại, luận nghị đệ nhất. Ông Câu Thy La, lòng quảng
đại, ứng đáp đệ nhất. Ông Châu Lợi Bàn Ðà Dà, tịnh
trừ cấu hoặc đệ nhất. Ông Nan Ðà, lòng hoan hỷ đệ nhất.
Ông A Nan Ðà, đa văn đệ nhất. Ông La Hầu La, mật hạnh
đệ nhất. Ông Kiều Phạm Ba Ðề, hay thọ chư (9a) thiên cúng
dường đệ nhất. Ông Tân Ðầu Lô Phả La Ðọa, hay ứng
nhân giai cúng làm đại phúc điền đệ nhất. Ông Ca Lưu Ðà
Di, dạ hành quang diệu đệ nhất. Ông Kiếp Tân Na, lòng quảng
đại, thông hay tinh tú đệ nhất. Ông Bạc Câu La, diện mạo
đoan chính, tuổi thọ trường đệ nhất.Ông A Nậu Lâu Ðà,
gọi là Như ý thiên nhãn đệ nhất .
Như thị đẳng chư đại
đệ tử, tịnh chư bồ tát ma ha tát .
Bằng thật bấy nhiêu
người chư đại đệ tử, lại có chư bồ tát cùng đại
bồ tát
Lời sớ sao rằng:
Ấy đại đệ tử, ắt
trước đại tỳ kheo, đại A la hán. Ðệ tử là học ở sau
thầy, gọi là đệ, hiểu biết ở nơi thầy sinh, gọi là
tử. Lại rằng tiên giác hậu giác, như huynh tiên đệ hậu,
hiểu biết bởi thầy sinh vậy. Mở mang dưỡng dục bèn nên
pháp khí, thửa rằng tùng Phật khẩu sinh, hợp nối Phật
chủng. Bồ tát là giác hữu tình, đồng Phật sở chứng,
bèn gọi là giác. Vô minh vị tận, bèn gọi là tình. Bồ tát
bèn dùng bi trí nhị nghiêm. Trí là trên cần cầu Phật đạo.
(Bi là) dưới thì quyền độ (9b) chúng sinh. Chân thật nhất
tâm, thành tựu đại đạo gọi là ma ha tát .
Xứng lý ắt tự tánh,
tâm vương tâm số dung thông thật là Phật cùng đệ tử câu
nghĩa, tự tính chân vọng tương dung, thật là bố tát nghĩa
.
Văn thù sư lợi pháp
vương tử, a dật đa bồ tát, càn đà ha đề bồ tát, thường
tinh tấn bồ tát .
Văn thù là pháp vương
tử, làm thượng thủ chư bồ tát. A dật đa bồ tát đương
lai hạ sinh là di lặc Phật. Càn đa ha đề là bất hưu tức
bồ tát, ý hằng làm phạm hạnh. lịch hằng sa kiếp chẳng
từng hưu tức, thường tinh tấn bồ tát đã vô lượng kiếp
hằng tùy hoá độ chúng sinh, chưa từng nhất niệm khí xả,
lòng hằng tinh tấn .
Dữ như thị chư đại
bồ tát .
Bằng thật các đấng
đạo sư cùng chư đại bồ tát .
Lời sớ sao rằng:
Chư đại bồ tát đều
cục túc tín hạnh nguyện, kinh Di Ðà lấy tín hạnh nguyện
làm tịnh độ nhân .
(10a) Xứng lý ắt tự
tính vô bất chiếu, thật là Văn thù trí nghĩa, tự tính vô
bất dung, thật là Di Lặc từ nghĩa, tự tính vô cùng vô tận,
thật là bất Hưu Tức Thường Tinh Tấn nghĩa .
Cập thích đề hoàn
nhân đẳng vô lượng chư thiên đại chúng câu .
Ðến nhẫn nhục giới
thiệu chủ các đấng, vô lượng chư thiên, hết thảy đại
chúng.
Lời sớ sao rằng:
Thích Ðề Hoàn Nhân
là Ðao Lợi Ðế Thích Thiên chúa cùng 32 Ðề Hoàn Thiên tử
vậy. Vô lượng chư thiên là dục giới, sắc giới, vô sắc
giới đẳng chư thiên vậy. Ðại chúng câu là Bồ tát, thinh
văn, thiên, nhân, tu la, hết thảy đại chúng vậy .
Xứng lý ắt tự tính
triệt thượng triệt hạ, thật ấy bồ tát la hán chư thiên
đại chúng câu nghĩa .
Dĩ thời Phật cáo Trưởng
lão Xá Lợi Phất .
Khi ấy Phật bảo Trưởng
lão Xá Lợi Phất, trí cao đức trưởng (10b)
Lời sớ sao rằng:
Nhĩ thời là khi thành
tựu vậy. Phật cáo là kinh nhân chẳng ai thỉnh vấn, Phật
bèn tự thuyết vậy. Xá Lợi Phất trí tuệ thâm thâm, dầu
chư Phật đều dùng nhất thiết trí vậy. Di Ðà trí xảo
phương tiện thành tựu tịnh độ công đức, dùng trí sanh
tín ắt nên chánh tín, dùng trí phát nguyện ắt nên hoằng
nguyện, dùng trí khởi hạnh ắt nên diệu hạnh, thật được
thành Phật vậy .
Xứng lý ắt tự tính
tự nhiên trí, thật ấy Phật tự cáo Xá Lợi Phất nghĩa
.
Tùng thị tây phương
quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực
lạc .
Thật bởi ta bà sang
đến tây phương, khỏi mười muôn ức chư Phật quốc độ,
có thế giới danh rằng Cực Lạc .
Lời sớ sao rằng:
Quốc độ, danh là sở
y, gọi y báo. Phật là năng y, gọi rằng chánh báo. Ở Ta bà
sang đến Tây phương, khỏi mười muôn ức chư Phật quốc
độ, xa bèn cực xa, chẳng phải như Pháp đàn kinh thuyết
có mười muôn tám ngàn dặm vậy. Phạn ngữ tu ma đề, Hoa
ngôn gọi là (11a1) Cực lạc, lại gọi là an dưỡng, an lạc,
lại gọi là liên bang, tịnh độ, bỉ quốc, bỉ ngạn vậy
.
Xứng lý ắt thật tự
tính kiên cố thanh tịnh, thật ấy Tây phương nghĩa, tự tính
ly chướng tuyệt phi, thật ấy quá thập vạn ức nghĩa, tự
tính hoành cai thụ triệt, thật ấy thế giới nghĩa .
Kỳ độ hữu Phật hiệu
A Di Ðà, kim hiện tại thuyết pháp .
Thửa quốc độ ấy
có phật hiệu là A Di Ðà, nay hằng hiện tại thuyết pháp
.
Lời sớ sao rằng:
Ta bà Thích Ca hiện tại
thuyết pháp tứ thập cửu niên, rày đã niết bàn, gọi là
quá khứ. Tây phương Di Ðà hiện tại thuyết pháp, vô lượng
kiếp hằng thường diễn thuyết, gọi là hiện tại. Suốt
đời chầu bên Phật, chẳng thấy kim dung, trọn ngày ngồi
pháp diên, chẳng nghe diệu đạo, bèn khiến ma vương hỗn
nơi Phật điện, suy pháp, quấy loạn chân tôn, dầu hay phản
chiếu tâm nguyên, Phật pháp một thời lưỡng túc .
Xứng lý ắt tự tính
thể tự linh tri, thật ấy kỳ độ hữu Phật nghĩa (11b).
Tự tính tức kim hiển hiện, thật ấy hiện tại thuyết pháp
nghĩa .
Xá Lợi Phất, bỉ độ
hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh, vô hữu chúng
khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc .
Phật bảo Xá Lợi Phất,
bỉ phương quốc độ sao vậy gọi làm Cực Lạc? Rằng thửa
chưng quốc độ ấy, chẳng có những sự khổ, bèn chịu những
sự vui, vì vậy gọi là Cực Lạc .
Lời sớ sao rằng:
Khổ là Sa bà cực khổ,
chẳng được gặp Phật, chẳng được văn pháp, ác hữu khiên
triền, quần ma não loạn, luân hồi lục đạo, chưa khỏi
tam đồ, nghiệp tượng chướng trọng, mệnh căn xúc đoản,
hằng chịu chủng chủng chư khổ, gọi là thử phương cực
khổ. Lạc là Tây phương cực lạc, hoa khai kiến Phật, thân
cận thánh hiền, hội thượng thiện nhân, chư Phật đều
cùng hộ niệm, chẳng có tam đồ ác đạo, thọ mệnh vô lượng
vô cùng, thân tâm thanh tịnh, thế giới trang nghiêm. Vì vậy
gọi là bỉ phương cực lạc .
Xứng lý ắt tự tính
vô nhiễm, thật ấy vô hữu chúng khổ nghĩa. Tự tính (12a)
thường tịnh, thật ấy đản thọ chư lạc nghĩa .
Hựu Xá Lợi Phất, Cực
Lạc quốc độ, thất trùng lan thuần, thất trùng la võng,
thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo châu tráp vi nhiễu
.
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :"Nơi cực lạc quốc độ, xứ xứ đều có thất trùng
câu lan ngọc, đòi nơi đều có thất trùng bảo võng che muôn
cây, đều có thất trùng hàng bảo thọ, ắt thật những tứ
bảo khắp đòi lần vây nhiễu thật. Vì vậy bỉ phương quốc
độ gọi là Cực Lạc".
Lời sớ sao rằng:
Kim ngân, lưu ly, pha lê,
tứ bảo lan thuần, vô lượng thất trùng làm câu lan ngoài
bảo thọ, tứ bảo là võng vô lượng thất trùng che trên
bảo thọ, trùng trùng thất hàng bảo thọ, cây cao tám ngàn
do tuần. Cội ngọn cành lá hoa quả dưới trên cối chen chư
bảo, ngũ sắc phóng quang ngàn dặm, mùi hương thơm khắp mười
phương thế giới. Vì vậy gọi là Cực Lạc .
Xứng lý ắt tự tính,
vạn đức tung hoành, thật ấy lan thuẫn nghĩa, tự tính (12b)
bao la pháp giới, thật ấy bảo võng nghĩa, tự tính trưởng
dưỡng chúng thiện, thật ấy hàng thọ nghĩa .
Hựu Xá Lợi Phất, Cực
Lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công đức thủy,
sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ, kim sa bố địa .
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất rằng :"Cực Lạc quốc độ có thất bảo trì, bát công
đức thủy, thửa trong đìa, nước hằng đầy, dưới đáy
đìa, toàn những kim sa bố địa"
Lời sớ sao rằng:
Cực lạc quốc độ,
tả hữu trong ngoài, khắp thế giới vô lượng dục trì, hoặc
tiểu hoặc đại, bèn đến nhẫn trăm nghìn do tuần, dường
bằng biển lớn, toàn những kim ngân, lưu ly, pha lê, chân châu,
xà cừ, mã não, thất bảo, thửa cùng hợp nên. Nước trong
đìa, bát công đức thủy. Một là trừng tịnh trong sạch.
Hai là thanh lương mát mẻ. Ba là cam mỹ ngon ngọt. Bốn là
khinh nhuyễn dịu dàng. Năm là nhuận trạch nhuần nhã. Sáu
là an ổn điều hoà. Bảy là trừ hết cơ khát. Tám là trưởng
dưỡng chư căn. Bát công đức thủy đều cùng lợi ích chúng
sanh .
(13a) Xứng lý ắt tự
tính, uông danh xung dung, thật ấy bảo trì nghĩa. Tự tính
tất bị nhất thiết công đức, thật ấy đức thi nghĩa .
Tứ biên giai đạo, kim
ngân, lưu ly, pha lê hiệp thành, thượng hữu lâu các, diệc
dĩ kim ngân, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não, nhi nghiêm
sức chi .
Tư bề thềm bậc đường
đi lại, toàn những kim ngân, lưu ly, pha lê, đều cùng hợp
nên. Trên lại có lầu gác, ắt dùng những kim ngân, lưu ly,
pha lê, xa xừ, xích châu, mã não trau chuốt, bèn nghiêm trang
vậy .
Lời sớ sao rằng:
Trên hoàng kim địa,
hết thảy trong chư báu, đều có 500 sắc, phóng hoa quang, hoá
nên quang minh đài. A Di Ðà Phật, giảng đường tinh xá, cung
điện lầu gác, trăm nghìn muôn, đều dùng vô lượng thất
bảo, thắng bội hơn nghìn muôn, trên đệ lục thiên, thiên
đế sở cư. Nơi chư bồ tát trú cũng trang nghiêm như vậy.
Chư thiên nhân dân, cung vũ lầu gác xứng thửa hình sắc,
cao hạ đại tiểu hoặc dùng nhất bảo nhị bảo đến nhẫn
vô lượng châu báu. Ðôi bên lầu gác, đều có hoa phướn
bảo chàng, vô lượng nhạc khí (13b) dùng làm trang nghiêm.
Tám giống thanh phong đều ứng nhạc khí, diễn thuyết ra tiếng
khổ không vô thường, vô ngã, hằng giải thoát vậy .
Xứng lý ắt tự tính
bình trực, thật ấy giai đạo nghĩa, tự tính cao siêu, thật
ấy lâu các nghĩa, tự tính cụ túc công đức pháp tài, thật
ấy thất bảo nghĩa .
Trì trung liên hoa, đại
như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳng sắc huỳnh quang, xích
sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết
.
Trong đĩa liên hoa, bằng
đại xa luân, thanh sắc có hào quang xanh, huỳnh sắc có hào
quang vàng, xích sắc có hào quang thắm, bạch sắc có hào quang
sáng, thơm sạch lạ lùng .
Lời sớ sao rằng:
Trì trung liên hoa, hình
như xa luân, tùy kỳ đại tiểu, hoặc là lớn một do tuần,
đến nhẫn trăm nghìn do tuần, chẳng phải như bánh xe nhân
gian, lớn bằng một trượng. Trong đìa liên hoa quang minh, bội
hơn nhật nguyệt, mỗi nhất nhất hoa trung, phóng xuất ba mươi
sáu trăm muôn ức quang minh, (14a) mỗi nhất nhất quang trung,
phóng xuất ba mươi sáu muôn ức Phật. Mỗi nhất nhất Phật,
phóng xuất trăm nghìn quang minh, khắp hết mười phương chúng
sinh, hằng diễn thuyết diệu pháp. Hễ người tu tịnh độ
vậy, dù khi lễ Phật, hiệp tưởng tự thân ở trong liên
hoa làm lễ, Phật hiện trong nơi liên hoa, chịu ta lễ kính.
Dầu khi niệm Phật, hiệp tưởng thân ta ở trong liên hoa,
kiết già phu tọa, Phật trong liên hoa bèn tiếp dẫn ta, mới
hiệp nhất tâm, trì danh niệm Phật .
Xứng lý ắt tự tính
thanh tịnh quang minh, thật ấy liên hoa nghĩa .
Xá Lợi Phất, Cực Lạc
quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm .
Phật bảo Xá Lợi Phất
:"Cực Lạc quốc độ, đã nên thành tựu, chân thật công
đức trang nghiêm".
Lời sớ sao rằng : Di
Ðà thuở làm Pháp tạng tỳ kheo, phát tứ thập bát nguyện
rồi, trụ chân thật tuệ, dũng mãnh tinh tấn, đã vô trong
số kiếp tu bồ tát hạnh, hằng hộ thân khẩu ý, thường
hành lục độ liễu không vô tướng, vô tác, dùng làm giáo
hoá, độ hết vô lượng chúng sinh, đều phát bồ đề tâm.
Thật gọi rằng đại hạnh công đức. Công đức tại pháp
tính trung, hằng tu (14b) vô lậu tính. Công đức đã vô lượng,
nghìn muôn ức kiếp viên mãn thành tựu công đức, bèn mới
nhập Phật vị .
Xứng lý ắt tự tính
năng sinh vạn pháp, thật ấy trang nghiêm nghĩa .
Hựu Xá Lợi Phất, bỉ
Phật quốc độ, thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa
.
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :"Di Ðà quốc độ tự nhiên hằng thường nghe tiếng
thiên nhạc, dưới thì toàn những hoàng kim làm đất".
Lời sớ sao rằng :
Trên thì thanh quang hằng
mát, hoa nhạc giao huy, bội hơn đệ thất phạm thiên, tam thiền
diệu lạc, muôn giống kỹ lạc, bất cổ tự minh, tự nhiên
ra tiếng thanh xướng lưu lượng, hoà nhã âm thanh. Dưới thì
hoàng kim làm địa, thể tánh ôn nhu, lại có kim chàng bảo
cái, dùng trăm thức báu hợp nên, đôi khi hằng phóng nghìn
giống quang minh, mỗi nhất quang minh lại có tám muôn bốn
nghìn sắc ánh, mười phương bằng phẳng, rộng rãi chẳng
có Tu di chư sơn, chẳng có hà hải khanh khảm, chẳng có chốn
nào u ám, hằng phóng quang minh vô tận .
(15a) Xứng lý ắt tự
tính vạn đức hoàdung, thật ấy thiên nhạc nghĩa, tự tính
chân như bình đẳng, thật ấy kim địa nghĩa .
Trú dạ lục thời, ngũ
thiên mạn đà la hoa .
Hoa khai hợp trong 12 giờ,
trời mưa rắc xuống những thiên danh hoa .
Lời sớ sao rằng :
Tịnh độ trú dạ hằng
minh, chẳng dùng nhật nguyệt, nghe xem chim kêu hoa nở, thì
gọi là ngày, chim đỗ hoa hiệp, thì gọi là đêm. Hoa có hai
giống. Một là thiên hoa, hai là thọ hoa. Bốn phương tự nhiên
gió thổi, đều ra chủng chủng âm thanh thuyết pháp. Hoa thơm
tùy phong, tán cúng chư bồ tát, hết thảy thanh văn cùng chư
đại chúng. tán hoa rắc xuống kim địa dày hơn bốn tấc,
hào quang sáng rỡ, mùi thơm lạ lùng. Hoa dầu khí héo, tự
nhiên gió thổi không sạch, thọ hoa tán cúng lại nhiếp thiên
hoa .
Xứng lý ắt tự tính
khai giác, thật ấy danh hoa nghĩa .
Kỳ độ chúng sanh, thường
dĩ thanh đán, các dĩ y khích, thịnh chúng diệu hoa, cúng (15b1)
dường tha phương, thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời,
hoàn đáo bổn quốc, phạm thực kinh hành .
Thửa nơi bỉ độ, chúng
sunh thanh đản, sớm mai đều dùng khăn gối, bèn đựng các
giống thượng diệu danh hoa, cúng dường đòi phương, mười
vạn ức Phật, ắt bèn đến khi thời thực, lại về tới
bổn quốc, thời trai rồi, lại đi kinh hành .
Lời sớ sao rằng :
Thanh đán là đầu sáu
giờ, tịnh tâm chí kỉnh. Y kích là khăn gói thanh tịnh, đựng
hoa cúng khắp mười phương ức Phật. Một Phật là một đại
thiên quốc độ, tuy rằng rộng xa, đã có thần túc phi hành,
nhật trung thời lại về đến bổn quốc, dầu đã vãng sanh,
ắt được lục thần thông, chẳng những phi hành tự tại,
dầu khi phạn thực toàn những chủng chủng bảo bát, trăm
mùi ẩm thực, đều cùng sung mãn. Ăn rồi bèn lại tiêu hoá,
chẳng phải đại tiểu tiện lợi, hoặc là pháp hỷ, thiền
duyệt đều cùng bảo mãn, kinh hành là hằng giải thoát tiêu
diêu tự tại .
Xứng lý ắt tự tính
tự nghiêm, thật ấy thịnh hoa cúng dường nghĩa, tự tánh
tự biến, thật ấy thập vạn ức Phật nghĩa. Tự tính tự
không, thật ấy (16a) thực thời hoàn nghĩa. Tự tính tự trú,
thật ấy bản quốc nghĩa. Tự tính thường định, thật ấy
phạn thực nghĩa. Tự tính thường tuệ, thật ấy kinh hành
nghĩa .
Xá Lợi Phất Cực Lạc
quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm .
Phật bảo Xá Lợi Phất
:"Cực Lạc quốc độ đã thành tựu chân thật công đức
trang nghiêm".
Lời sớ sao rằng :
Pháp Tạng tỳ kheo tu
bồ tát hạnh, xưa phát nguyện rằng : Ta khi thành Phật, từ
dưới nhẫn trên, đều có vô lượng trăm nghìn giống hương
bèn cúng hợp nên. Lại nguyện rằng :"Khi ta thành Phật, mười
phương vô ương số thế giới chư thiên nhân dân, bèn dùng
đựng hoa tán cúng". Lại nguyện rằng :"Khi ta thành Phật,
trong nơi quốc độ, chư bồ tát đều dùng chủng chủng hương
hoa cúng cụ, dầu muốn đến tha phương thế giới cúng dường
chư Phật, bằng giây phút khá đến khắp mười phương". Lại
nguyện rằng :"Khi ta thành Phật, mọi người trong quốc độ
ta, dầu khi muốn ăn chưng trong bảo bát, đủ hết trăm mùi
ẩm thực hoá nên hiện tiền, ăn rồi lại biến hoá đi".
Nay đã thành Phật, nhất nhất sở nguyện đều cùng thành
tựu .
(16b1) Phục thứ Xá Lợi
Phất, bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp
sắc chi điểu, bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca
lăng tần già, cộng mạng chi điểu, thị chư chúng điểu,
trú dạ lục thời, xuất hoà nhã âm, kỳ âm diễn xướng,
ngũ căn, ngũ lục, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần,
như thị đẳng pháp .
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :"Bỉ phương quốc độ, hằng có chủng chủng dị kỳ
những chim nhiều thức bạch hạc cùng chim khổng tước, anh
võ cùng chim xá lợi, ca lăng cùng chim tần già, bèn lại có
chim cộng mệnh. Thật chư chúng điểu, trú dạ trong 12 giờ
đều cùng ra tiếng hoà nhã âm thanh, diễn thuyết thông đạt,
ngũ căn ngũ lực, cùng thất bồ đề phần, bát thánh đạo
phần, bằng thật đẳng pháp, ba muơi bảy phẩm trợ đạo
.
Lời sớ sao rằng :
Cực lạc quốc độ,
Di Ðà ứng hiển, hằng có chủng chủng dị kỳ, những chim
nhiều sắc vẻ tốt. Chim bạch hạc, khổng tước thuần thiệt
hay (17a) nói chân ngôn, chim anh võ, xá lợi biện tài nhiều
lời diệu ngữ. Chim ca lăng tần già trổi tiếng oai âm, siêu
chư quần điểu. Lại có chim cộng mạng hai đầu một thân,
diễn thuyết phạn ngữ. Thật những chúng điểu trú dạ trong
12 giờ, ra tiếng âm thanh hoà nhã, diễn thuyết thông đạt
ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần.
Bằng thật đẳng pháp, 37 phẩm trợ đạo đều minh .
Xứng lý ắt tự tính
biến hoá, thật ấy chúng điểu nghĩa, tự tính xuất sinh
nhất thiết pháp môn, thật ấy căn lực giác đạo nghĩa .
Kỳ độ chúng sanh văn
thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng .
Thửa chúng sinh trong
quốc độ ấy, thật nghe diệu âm diễn thuyết rồi, ắt đều
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng .
Lời sớ sao rằng :
Hằng nghe ca xướng kỹ
nhạc, ấy quả thế gian phàm hý vô ích. Hằng niệm tam bảo
là nhân hiền thánh, phước huệ lưỡng toàn, thật là lợi
ích vậy. Tam bảo có ba thứ. Một là thế gian trụ trì tam
bảo. Tạc hình, đúc tượng, xây tháp, tranh vẽ, sơn thếp
trang nghiêm, gọi là Phật bảo (17b). Quyển vàng, quyển thắm,
bìa bao ngũ sắc, gọi là pháp bảo. Tỳ kheo ngũ chúng, hoà
hợp vô tranh, gọi là tăng bảo. Hai là xuất thế gian tam bảo.
Tổng quát đại ý, pháp tướng tôn nghiêm, ứng hoá thị hiện,
gọi là Phật bảo. Giáo hạnh lý quả, quyền dụng đa môn,
gọi là pháp bảo. Tam hiền thập thánh, tứ quả tứ hướng,
duyên giác bích chi, phẩm vị tuỳ thứ, gọi là tăng bảo.
Ba là tối thượng tam bảo. Viên dung đại ý, tánh thể linh
giác, chiếu liễu chư pháp, gọi là Phật bảo. Hằng sa đức
dụng, giai khả quỉ trì, gọi là pháp bảo. Tánh tướng bất
nhị, minh hợp vô vi, gọi là tăng bảo. Thật ấy tối thượng
tam bảo .
Xứng lý ắt tự tính
chân tâm nhất thể, thật ấy Phật pháp tăng nghĩa .
Xá Lợi Phất, nhữ vật
vị thử điểu, thật thị tội báo sở sanh, sở dĩ giả hà?
Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo. Xá Lợi Phất, kỳ Phật
quốc độ, thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt
thị chư chúng điểu, giai thị A Di (18a1) Ðà Phật, dục linh
pháp âm, tuyên lưu biến hoá sở tác .
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :"Mày chớ rằng chim ấy ắt thật tội báo sở sanh.
Thửa bèn sao vậy? Di Ðà quốc độ chẳng có tam ác đạo".
Phật bảo Xá Lợi Phất :"thửa nơi cực lạc quốc độ, còn
chẳng có chưng danh ác đạo, hà huống ắt thật có chư chúng
điểu, đều những A Di Ðà Phật, muốn cho pháp âm tuyên diễn
lưu bố, thửa bèn biến hoá, dùng làm phương tiện".
Lời sớ sao rằng :
Cực lạc quốc độ
chẳng có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chẳng có nữ nhân
cùng người khuyết căn tật bệnh, muôn kiếp chẳng từng
nghe danh dữ, hà huống có chư chúng điểu? Dầu tiếng nhạc,
tiếng chim, tiếng gió, tiếng nước, toàn những Di Ðà biến
hoá phương tiện. Khắp hết thế giới, đẳng chư nhĩ căn,
hằng nghe những tiếng diệu âm diễn thuyết .
Xứng lý ắt tự tính
vô tham sân si đẳng, thật ấy vô tam ác đạo nghĩa, tự tính
vốn cùng như huyễn pháp môn, thật ấy biến hoá sở tác
nghĩa .
Xá Lợi Phất bỉ Phật
quốc độ, vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo
(18b) la võng, xuất vi diệu âm, thí như bách thiên chủng nhạc,
đồng thời câu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh niệm
Phật, niệm pháp, niệm tăng chi tâm .
Phật bảo Xá Lợi Phất
:"Di Ðà quốc độ, gió vi phong thổi động các hàng cây báu,
đến nhẫn chư bảo la võng đều cùng ra tiếng diệu âm, ví
bằng trăm nghìn giống nhạc, khi ấy đều cùng động dụng,
thật nghe những tiếng diệu âm ấy, tự nhiên đều sanh chưng
lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng".
Lời sớ sao rằng :
Vi phong là bát chủng
thanh phong, gió thổi dịu dàng, chẳng hàn chẳng nhiệt, đượm
mát thanh lương. Chư bảo hàng thọ là vô số dị chủng thành
hàng vô lượng bảo thọ. La võng là dùng những thất bảo
thượng diệu, thẳm cao muôn trượng trùng trùng điệp, che
khắp hoà thế giới Phật đạo tràng. Thọ chủng thật trang
nghiêm, vi phong hàng động, bèn ra vô lượng âm thanh, đều
cùng diễn thuyết diệu pháp, chúng sinh đều hiểu biết vô
sinh pháp nhẫn, hằng trụ bất thối chuyển, đều được
thành tựu vô thượng bồ đề .
Xứng lý ắt tự tính
lý trí giao dung, thật ấy phong thọ nghĩa .
(19a) Xá Lợi Phất, kỳ
Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm
.
Phật bảo Xá lợi Phất
:"thửa nơi Di Ðà quốc độ, đã thành tựu chân thật công
đức trang nghiêm".
Lời sớ sao rằng :
Hóa cầm phong thọ, chủng
chủng trang nghiêm, đều bởi Phật nhân địa, nguyện hành
chư công đức, bèn thành tựu vậy .
Xứng lý ắt tự tính
bát nhã châu biến pháp giới, thật ấy điểu thọ thuyết
pháp nghĩa .
Xá Lợi Phất, ư nhữ
ý vân hà, bỉ Phật hà cố hiệu A Di Ðà?
Phật bảo Xá Lợi Phất
:"Chưng ý mày rằng sao bỉ phương Phật ấy, nhân nào vậy,
hiệu là A Di Ðà?"
Lời sớ sao rằng :
Một quyển kinh này,
Di Ðà Phật, thật làm chánh chủ. Vì vậy tua phải thẩm vấn
A Di Ðà Phật là tứ tự hồng danh, thành tựu vạn đức,
thửa nghĩa sâu rộng, hợp vì mở bảo, khiến người người
đều minh sự lý trì danh niệm Phật, cầu vãng sanh vậy .
(19b1) Xứng lý ắt tự
tính chánh tư duy, ắt thật ở ý vân hà nghĩa .
Xá Lợi Phất, bỉ Phật
quang minh vô lượng chiếu thập phương ức vô sở chướng
ngại, thị cố hiệu vi A Di Ðà .
Phật bảo Xá Lợi Phất
:"Di Ðà Phật quang minh vô lượng, soi khắp mười phương quốc
độ, nào đâu thửa chướng ngại, thật vì vậy hiệu là
A Di Ðà".
Lời sớ sao rằng :
Thật quang minh thọ mạng
đều vô lượng vậy. Một là trí quang. Hai là thân quang. Một
là nhân tín hạnh công đức thành tựu. Hai là nhân bản nguyện
quả mãn thành tựu. Lại rằng, Di Ðà Phật đại phóng quang
minh, bội hơn trăm ức ba ngàn đại thiên thế giới. Lại
có tám muôn bốn ngàn diệu tướng. Nhất nhất tướng trung,
lại có tám muôn bốn ngàn tùy hình hảo. Nhất nhất hảo
trung, lại có tám muôn bốn ngàn quang minh soi khắp mười phương
thế giới. Hết thảy chúng sinh niệm Phật, Phật đều tiếp
dẫn chẳng bỏ. Lại rằng : Một Phật Di Ðà quang minh, soi
khắp 10 phương thế giới vô cùng vô tận, vì vậy hiệu là
vô lượng quang .
(20a1) Hựu Xá lợi Phất,
bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên
a tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Ðà .
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :"Bỉ Phật thọ mạng cùng thửa nhân dân vô lượng
vô biên vô ương số kiếp, vì vậy gọi là A Di Ðà"
Lời sớ sao rằng :
Phật thọ, một là pháp
thọ, phi thọ phi bất thọ, phi thỉ phi chung là pháp thân thọ
vậy. Hai là báo thọ, nhất đắc vĩnh đắc, hữu thỉ vô
chung , ấy là báo thân thọ. Ba là ứng thọ, thị đồng sinh
diệt, hữu thỉ hữu chung, ấy là ứng thân thọ vậy. Lại
rằng pháp thân lấy như lý làm mạng, báo thân dùng trí tuệ
làm mạng, ứng thân tùy nhân duyên làm mạng. Lại rằng, nhân
dân nhờ Phật, nhân bổn nguyện lực, đều được thọ mạng,
vô lượng vô biên, vô ương số kiếp vậy .
Xứng lý ắt tự tính
thường chiếu, thật ấy quang minh nghĩa. Tự tánh thường
tịch, thật ấy thọ mạng nghĩa. Tự tính tịch chiếu bất
nhị, thật ấy A Di Ðà nghĩa .
Xá Lợi Phất, A Di Ðà
Phật thành Phật dĩ lai ư kim thập kiếp .
Phật bảo Xá (20b) Lợi
Phất :"A Di Ðà Phật tự thành Phật đến nhẫn nay kể đã
được 10 đại kiếp".
Lời sớ sao rằng :
Thành kiếp 20 lần tăng
giảm. Trụ kiếp 20 lần tăng giảm. Hoại kiếp 20 lần tăng
giảm. Không kiếp 20 lần tăng giảm. Tám mươi lần tăng giảm
là một đại kiếp. 10 lần đại kiếp là 800 tiểu kiếp vậy
.
Xứng lý ắt bản lai
thành Phật, thật là thập kiếp nghĩa .
Hưụ Xá Lợi Phất,
bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh văn đệ tử, giai A
la hán, phi thị toán số, chi sở năng tri. Chư Bồ tát chúng,
diệc phục như thị .
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :"Di Ðà có vô lượng vô biên Thinh văn đệ tử, đều
những bậc A la hán, thật khôn toán kế, bèn thửa hay biết.
Chư Bồ tát chúng, ắt thật lại nhiều như vậy".
Lời sớ sao rằng :
Trước cử thinh văn,
sau cử bồ tát, đều minh thửa hiền (21a) thánh vậy. Thinh
văn nghe tứ thánh đế , nguyện hữu thâm thiển, bèn có tam
quả A la hán toàn những tứ quả. Giả sử thinh văn tỳ kheo,
mãn trăm ngàn muôn ức vô ương số, khôn hay kể xiết vậy.
A la hán đã rồi hết chư lậu. Những bậc lòng bền kiên
cố chẳng động, như Tu di sơn, lòng trí sáng biết, như nhật
nguyệt minh, lòng quảng đại dường bằng biển lớn, sinh
ra chủng chủng công đức vô lượng vô biên, ắt chư bồ
tát đương lai đều được thành Phật. Vì vậy rằng nhất
sinh bổ xứ .
Xứng lý ắt tự tính
tức không tức giả, thật ấy Phật hữu thinh văn bồ tát
nghĩa .
Xá Lợi Phất, bỉ Phật
quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm. Hựu
Xá Lợi Phất, cực lạc quốc độ, chúng sanh sanh giả, giai
thị a bệ bạt trí .
Phật lại bảo Xá Lợi
Phất :" Di Ðà quốc độ, hạnh nguyện đã thành tựu, thật
như dường ấy, công đức trang nghiêm". Phật lại bảo Xá
Lợi Phất :"Chúng sinh vãng sinh tịnh (21b) độ, ắt thật đều
nên chẳng còn thối chuyển".
Lời sớ sao rằng :
Từ Chiếu t