GIỚI
THIỆU
GIẢI
KIM CƯƠNG KINH LÝ NGHĨA
Trong
tất cả các tác giả trong giai đoạn Nam Bắc phân tranh (1558-1802),
Minh Châu Hương Hải có một vị thế hết sức quan trọng,
không chỉ về mặt tư tưởng Phật giáo, mà trước hết là
về mặt ngôn ngữ và văn học. Là một người sinh ra lớn
lên và thành đạt ở miền Nam (1628-1682) nhưng Minh Châu Hương
Hải đã sống những năm cuối đời mình ở miền Bắc tổ
quốc (1682-1715) và viết ra một khối lượng đồ sộ trên
20 tác phẩm. Ngôn ngữ của Minh Châu Hương Hải do thế có
thể nói là đại diện cho tiếng nói dân tộc thống nhất
cả 2 miền, mà vào giai đoạn đó hình như không có tác giả
nào có cơ hội. Không những thế, trong số bốn tác phẩm
hiện tìm thấy, thì ba tác phẩm đều viết bằng tiếng Việt
văn xuôi. Chúng cùng bản giải Khoá hư lục của Tuệ Tĩnh
tạo nên giai đoạn đầu của lịch sử văn xuôi tiếng Việt.
Giải Kim cương kinh lý nghĩa là một trong ba tác phẩm đó
.
So
với tâm kinh giải nghĩa và Giải A Di Ðà kinh, Giải Kim cương
kinh lý nghĩa có một độ dài đáng kể. Do thế, nó sẽ giúp
ta nghiên cứu tiếng Việt như một ngôn ngữ trong giao tiếp
hàng ngày vào thế kỷ XVII, và từ đó nghiên cứu sự biến
thiên của tiếng Việt qua lịch sử về cả từ vựng lẫn
cấu trúc ngữ pháp. Cho nên không chỉ về mặt văn học, mà
cả về mặt ngữ học, Giải Kim cương kinh lý nghĩa có một
vị trí quan yếu .
Nhằm
cung cấp cho những nhà nghiên cứu cũng như bạn đọc công
tác ở các lĩnh vực khác nhau một tác phẩm công cụ để
dễ bề tham khảo, chúng tôi cho phiên âm và in lại toàn bộ
Giải Kim cương kinh lý nghĩa kèm theo một bài giới thiệu
về bản giải này .
Kinh
Kim cương là một trong số các kinh điển Phật giáo được
phổ biến và hâm mộ rộng rãi và còn được chú giải với
tên Kim cương tam muội kinh. Nguyễn Du (1765-1821) thú nhận "Tôi
đọc Kim cương ngàn lần lẻ". Và đặc biệt từ thời Lê
Lợi trở đi, nó được quy định là một bản kinh bắt buộc
trong các kỳ thi cho những ai muốn trở thành nhà sư. Kinh Kim
cương, do đó qua lịch sử, tỏ ra có sức hấp dẫn lạ thường
với dân tộc ta. Việc tìm hiểu, lý giải nó tất nhiên phải
xảy ra. Thiền sư Minh Châu Hương Hải viết giải Giải Kim
cương kinh lý nghĩa, cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
I.TÌNH
TRẠNG VĂN BẢN
Văn
bản hiện còn là một bản in năm Tự Ðức thứ 10 (1858) do
nhà sư Sinh Khảo thực hiện khắc và lư bản gỗ lại tại
"Chùa Phước Long, xã Ðỗ Lâm, huyện Gia Lộc, phủ Ninh Giang"(nay
là Hải Hưng). Theo Kim cương kinh quốc âm chú bạt dẫn do
chính Sinh Khảo viết, thì Giải Kim cương kinh lý nghĩa trước
đã được khắc bản, nhưng "bản gỗ đã bị mất hết" (cựu
bản một dĩ). Song may mắn là bản in giấy đang còn. Bản
in giấy này, mà những tờ tự và bạt của nó đã tán thất
"không thể truy tìm được", nên Sinh Khảo không thể nói trước
ai đã từng khắc bản Giải Kim cương kinh lý nghĩa và khắc
bao nhiêu lần. Tuy nhiên ở trang 8a1-3 của bản khắc Sinh Khảo,
ta thấy có ghi : "Huyền Cơ Thiện Giác pháp tự Minh Châu Hương
Hải thiền sư thích giải. Sa môn tăng thống tự Châu Lý soạn
thuật. Tăng Chính tên tự Như Nguyệt kính khắc san".
Thế
đã rõ, bản khắc đầu tiên Giải Kim cương kinh lý nghĩa
là do Tăng Chính Như Nguyệt thực hiện. Căn cứ vào bài kệ
pháp phải của Minh Châu Hương Hải đã dẫn trước, tức
Minh chân như chính hải thì thế hệ của Như Nguyệt ở vào
hàng cháu ối với Minh Châu Hương Hải. Do thế ngày nay không
rõ niên đại của Như Nguyệt, ta vẫn có thể chắc chắn
Như Nguyệt phải sống vào nửa đầu thế kỷ thứ XVIII, khoảng
cùng thế hệ với Như Trừng, Như Sơn v.v… điều này có
nghĩa bản khắc đầu tiên của Giải Kim cương kinh lý nghĩa
phải ra đời vào khoảng thời gian đó, tức vào khoảng những
năm 1730-1750, khi Hương Hải thiền sư ngữ lục hoàn thành
(1747). Lần khắc này dù bản in và tự bạt đã mất, chắc
chắn đã phân chia Giải Kim cương kinh lý nghĩa thành hai quyển,
vì tác giả Hương Hải thiền sư ngữ lục nói Giải Kim cương
kinh lý nghĩa gồm hai quyển .
Bản
in hiện còn ngày nay của Sinh Khảo không chia thành quyển số.
Nó gồm cả thảy 71 tờ cỡ 30*18, đánh số liên tục, không
kể tờ đầu, ghi "thủ mục" trên gáy, mặt trước có ba dòng.
Dòng giữa khắc tên sách là Kim cương kinh giải lý mục, cỡ
chữ lớn 3*3. Hai bên khắc mỗi bên một dòng cân đối. Bên
phải là "Thế gian vô dữ đẳng", bên trái "Kim cương bất
hoại thân", cỡ chữ cũng khoảng 3*3 nhưng nét ốm hơn, mặt
sau có bốn dòng khắc cùng cỡ chữ, nét chân phương ghi bốn
câu :
Hoàng
đồ củng cố
Ðế
đạo hà xương
Phật
nhật tăng huy
Pháp
luân thường chuyển
Và
không kể 10 tờ ở cuối, gồm một tờ 2 mặt, một mặt 3
dòng, mỗi dòng 20 chữ khắc bài Kim cương kinh quốc âm chú
bạt dẫn của Sinh Khảo, ghi trên gáy "Bạt nhất". Chín tờ
còn lại mỗi tờ 2 mặt, mỗi mặt 12 dòng, mỗi dòng 28 chữ,
chép tên họ những người đã hỷ cúng ủng hộ việc in sách
cùng tên làng, xã, huyện, phủ, tỉnh của họ. Khởi đầu
với câu "Tân san Kim cương thích giải lý thập phương tùy
hỷ công đức" ở mặt a1 của tờ thứ nhất, nó kết thúc
ở mặt b9 của tờ 9 với lời "Phổ nguyện":
Nguyện
thập phương đàn tín chư nhân
Tùy
hỷ hộ kinh công đức lực
Tuy
kim hữu thiểu nhân duyên
Nhiên
hậu đa sinh phước quả
Sinh
sinh bất thất trượng phu thân
Thế
thế thường hành bồ tát đạo
Bất
xả thệ nguyện
Lợi
lạc hữu tình
Pháp
thế quân triêm
Âm
dương lợi lạc
Vậy,
71 tờ đánh số liên tục là để khắc chính văn chữ Hán
kinh Kim cương, bản dịch của Cưu Ma La Thập, cùng với lời
giải thích tiếng quốc âm của Minh Châu Hương Hải. Mỗi
tờ 2 mặt, mỗi mặt 8 dòng, nếu khắc cỡ chữ lớn của
chính văn và 16 dòng nếu khắc cỡ chữ nhỏ của lời chú.
Mỗi dòng, cỡ chữ lớn 17 chữ, cỡ chữ nhỏ 16 chữ. Dòng
cỡ chữ nhỏ lạc khoản mất 1 ô. Chữ khắc chân phương
dễ đọc rõ ràng. Ðặc biệt dù được khắc dưới thời
Tự Ðức, bản in đã không có những kỵ huý. Những chữ
"thời" "chủng", "hằng" v.v… đã không bị đổi hay để khuyết
nét. Ðiều này chứng tỏ Sinh Khảo đã dùng một bản in của
thế kỷ thứ XVIII làm bản đáy cho việc in lại Kim cương
kinh giải thích lý của mình, nếu không dùng bản của Tăng
Chính Như Nguyệt .
Phần
chữ quốc âm xác nhận thêm kết luận vừa nêu. Tuy được
khắc vào thế kỷ thứ XIX (1858) Kim cương kinh giải thích
lý, dù có tiếp thu ít nhiều lối khắc chữ quốc âm của
thế kỷ thứ XIX, cơ bản vẫn giữ lại lối khắc chữ quốc
âm thế kỷ thứ XVIII khi tham khảo bản in năm Cảnh Thịnh
thứ 5 (1747) Xuất gia sa di quốc âm thập giới của Lân Giác
Như Trừng và bản in năm Cảnh Hưng thứ 6 (1754) Trần triều
thiền tông bản hạnh của Chân Nguyên, đối chiếu với bản
in năm Tự Ðức nguyên niên (1848) Pháp Hoa kinh quốc âm của
Pháp Liên, cùng với Giải Kim cương kinh lý nghĩa. Chẳng hạn,
chữ "thấy" tuyệt đại bộ phận đều viết là…, chứ không
phải viết theo kiểu thế kỷ thứ XIX….Chữ "xem", "người"
v.v… đều viết …., chứ không viết theo tiêu chuẩn….Rõ
ràng, phần chữ quốc âm, bản khắc chủ yếu sử dụng lối
viết thế kỷ thứ XVIII, dẫu đôi khi có chịu ảnh hưởng
của lối viết đương thời. Nói thẳng ra, có khả năng nó
đã dùng bản in của Như Nguyệt .
Ngày
nay, tuy chỉ có bản in duy nhất năm 1858 trong tay ta vẫn phát
hiện ra một số chữ khắc sai trong phần lời "thích giải"
của Minh Châu Hương Hải. Thí dụ ở tờ 11a7-b1 khi giải thích
cụm từ"Vô thượng chính đẳng chính giác" bản in có :"Vô
thượng là chân tính chẳng có vật chi trên, gọi là vô thượng.
Chính giác là trên từ chư Phật, tới nhẫn xuẩn động hàm
linh, vốn tính bình đẳng, gọi là chính đẳng. Chính giác
là tự tính bản giác, thường chiếu liễu viên minh, chẳng
có tà tri, tà kiến, gọi là chính giác vậy". Hiển nhiên,
từ "chính giác" trong câu thứ hai của đoạn vừa dẫn là
một sự khắc sai của từ "chính đẳng", dù ta không có bản
nào khác để so sánh. Ngoài trường hợp khắc sai này, có
khả năng bản in năm 1858 cũng có những chỗ khắc sót. Chẳng
hạn ở tờ 67b5-6, khi giải thích câu "Vân hà vị nhân diễn
thuyết?", bản in có đoạn :"Dầu được nhiều lời, khác
nào thiên hoa loạn trị, chỗ lòng chẳng từng thêm. Dầu lại
chẳng diễn thuyết, […] chỗ lòng chẳng từng bớt". Ðoạn
này hai câu, căn cứ vào lối văn có tính biền ngẫu của
Minh Châu Hương Hải, chắc hẳn đã sót một cụm để đối
lại với cụm "khác nào thiên hoa loạn trụy" của câu 1. Ðây
là trường hợp dễ thấy nhất. Còn có những trường hợp
khác nữa, tuy khó phát hiện hơn, dù câu văn lủng củng, biểu
thị một sai sót nào đấy đã xảy ra. Thêm vào đó, cũng
cần vạch ra một chi tiết khác là bản khắc này, dẫu tuyệt
đại bộ phận có nét và chữ khắc chính xác, đôi khi cũng
có lầm lẫn. Ví dụ, giữa chữ kỳ và cùng hay cũng, do tự
dạng gần giống nhau nên có khi chữ cùng đã bị khắc thành
chữ kỳ. Cụ thể ở những tờ 17b4 với câu "Phật kỳ chúng
sinh bản lai bình đẳng" đích thị chữ kỳ là một khắc
lầm của chữ cùng và câu đó phải đọc :"Phật cùng chúng
sinh bản lai bình đẳng". Trường hợp ở câu "Phật dạy Tu
Bồ đế kỳ chư đại chúng" ở tờ 11b8-12a1 cũng vậy. Ta
phải đọc là "Phật dạy Tu Bồ Ðề cùng chư đại chúng".
Câu "Ở trong lục đạo ký là chúng sinh" ở tờ 12b6, ta phải
đọc "ở trong lục đạo cũng là chúng sinh". Vì cũng do tự
dạng gần giống nhau, nên chữ "muôn" trong câu "Lục độ khẳm
hết muôn hạnh" đã bị khắc lầm thành "muốn" ở tờ 8b5.
Chữ "đôi" đã bị khắc thành chữ "suy" hay "thôi" trong câu"Phật
dạy A Nan : Hết thảy kinh giáo đều đặt suy chữ như thị
làm trước đầu kinh" ở tờ 9a5. Rõ ràng chữ "suy" là một
khắc lầm của chữ "đôi". Chữ "pháp" trong "bố thí pháp"
ở tờ 40b7 đã chắc chắn bị khắc thành chữ "khử". Còn
chữ "kém" trong"Liễu ngộ thâm thiển nhiễu kém" ở tờ 22b2-3
đã bị khắc thành "khẳm". Tuy có đôi chữ sai sót vừa nêu,
nhưng tình trạng văn bản của Giải Kim cương kinh lý nghĩa
tương đối tốt, trọn vẹn. Bản khắc của Sinh Khảo phải
nói là cẩn thận và rõ ràng. Về hành trạng của Sinh Khảo,
ta hiện không có một ghi nhận nào khác, ngoài bài Bạt dẫn
viết cho bản khắc này. Tối thiểu ta biết ông là một nhà
sư, có khả năng ở chùa Phước Long, xã Ðỗ Lâm, huyện Gia
Lộc, phủ Ninh Giang (tức tỉnh Hải Hưng ngày nay) sống vào
giữa thế kỷ XIX. Căn cứ vào pháp danh Sinh Khảo, ông chắc
chắn thuộc dòng thiền của Minh Châu Hương Hải. Và do "Ý
muốn phổ biến đến đời sau", nên đã đứng ra tổ chức
việc khắc in Giải Kim cương kinh lý nghĩa. Sinh Khảo hẳn
lớn tuổi khi tiến hành việc đó, bởi vì dựa vào bản danh
sách những Phật tử hỷ cúng để khắc bản, ta thấy địa
bàn quyên góp trải ra trên một diện rộng. Từ các huyện
Vĩnh Lại, Ðường Hào của tỉnh Hải Dương ở phía đông
cho đến Thường Tín, Hoài Ðức của tỉnh Hà Nội ở phía
Tây, từ Nam định cho đến Lạng Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên
đều có tên người hỷ cúng. Ðể có một sự quyên góp rộng
rãi như thế, Sinh Khảo phải có một quá trình hoạt động
Phật sự, ít lắm phải từ cỡ 40 tuổi trở lên. Cho nên
niên đại của Khảo có khả năng rơi vào khoảng 1810-1870.
Ðối với tiền đồ Phật giáo và dân tộc, Sinh Khảo đã
có một mối quan tâm, thể hiện qua việc khắc lại bản Kim
cương kinh giải lý mục mà chúng ta hiện có trong tay hôm nay.
Chúng ta thành kính ghi nhận và cảm ơn tấm lòng ấy của
Sinh Khảo .
II.TÊN
GỌI VÀ NIÊN ÐẠI
Bản
khắc của Sinh Khảo ghi lại 4 tên khác nhau cho văn bản ta
đang nghiên cứu ở đây. Ngoài bìa sách và ở tờ đầu, ta
có tên Kim cương kinh giải lý mục. Nhưng từ tờ 1 cho tới
tờ 71, trên gáy sách ta luôn luôn thấy khắc tên Kim cương
giải thích Lý. Ðến cuối sách, khi viết lời Bạt dẫn của
mình, Sinh Khảo lại ghi tên Kim cương quốc âm chú. Và khi
lên phương danh những người hỷ cúng khắc kinh, Sinh Khảo
lại nói tới việc "Tân san Kim cương thích giải lý" vậy
là, trong lần khắc 1858, bản giải thích kinh Kim cương của
Minh Châu Hương Hải đã được biết qua 4 tên khác nhau. Ðó
là Kim cương kinh giải lý mục, Kim cương giải thích lý, Kim
cương quốc âm chú và Kim cương thích giải lý.
Các
tài liệu thế kỷ thứ XVIII, chủ yếu là Hương Hải thiền
sư ngữ lục viết năm Cảnh Hưng thứ 8 (1747) mà 30 năm sau
Lê Quý Ðôn đã sử dụng để viết Minh Châu Hương Hải trong
mục thiền dật của Kiến văn tiểu lục hoàn thành vào năm
Ðinh Dậu đời Cảnh Hưng (1777), lại cho ta một tên khác,
đó là Giải Kim cương kinh lý nghĩa. Hương Hải thiền sư
ngữ lục còn ghi Giải Kim cương kinh lý nghĩa này có hai quyển.
Như vậy, tự nguyên thủy bản chú giải kinh Kim cương này
có khả năng đã được Minh Châu Hương Hải phân chia làm
hai quyển thượng và hạ. Thực tế, căn cứ vào bản in của
Sinh Khảo còn lại đến ngày nay, ta thấy Kim cương kinh thích
giải lý có số trang tương đối dày, tức 71 tờ, ngay cả
khi lời giải thích của Minh Châu Hương Hải đã được khắc
nhỏ lại với tỷ lệ một hàng chính văn, 2 hàng chú giải.
Nếu chép bình thường ra có thể vượt khỏi 71 tờ, để
lên tới 100 tờ hay hơn nữa. Một khi đã thế, việc chia quyển
tất nhiên phải xảy ra, để giúp người đọc tập trung hơn.
Cho nên, Giải Kim cương kinh lý nghĩa 2 quyển thế kỷ thứ
XVIII chính là Kim cương kinh giải lý mục một quyển của
thế kỷ XIX .
Như
thế, qua quá trình lưu hành phổ biến hơn một thế kỷ tên
nguyên thủy Giải Kim cương kinh lý nghĩa của Minh Châu Hương
Hải ghi trong Hương Hải thiền sư ngữ lục đã biến thành
Kim cương kinh giải lý mục, Kim cương kinh thích giải lý,
Kim cương kinh quốc âm chú và Kim cương thích giải lý. Bốn
tên mới này, về cơ bản, vẫn phản ánh nội dung tác phẩm
của Minh Châu Hương Hải, đặc biệt danh xưng Kim cương kinh
quốc âm chú. Tuy nhiên, để trả lại một phần diện mạo
nguyên thủy tối thiểu là diện mạo thế kỷ thứ XVIII của
Kim cương kinh quốc âm chú của Minh Châu Hương Hải, chúng
tôi đề nghị gọi nó bằng tên Giải Kim cương kinh lý nghĩa,
chứ không gọi bằng 4 tên khác mà bản khắc Sinh Khảo đã
có, dù vẫn dùng bản Sinh Khảo để phiên âm và nghiên cứu.
Về vấn đề niên đại biên soạn Giải Kim cương kinh lý
nghĩa, Hương Hải thiền sư ngữ lục chỉ viết : Minh Châu
Hương Hải ở am Chuẩn đề tại trấn Sơn Nam "Sớm tối tu
trì không lúc nào trễ nãi, lại chú giải các kinh và dịch
ra quốc âm gồm 30 thiên, lưu hành ở đời" 30 thiên nói ở
đây gồm luôn cả Giải Kim cương kinh lý nghĩa. Vậy, việc
viết bản giải này xảy ra trong giai đoạn Minh Châu Hương
Hải ở am Chuẩn Ðề. Cũng căn cứ theo Hương Hải thiền
sư ngữ lục, thì năm Canh thìn (1700) ông bắt đầu khai sơn
chùa Nguyệt Ðường ở Kim Ðộng, Hưng Yên. Do đó việc viết
Giải Kim cương kinh lý nghĩa phải xảy ra trước năm 1700 .
Ta
đã biết do quan hệ với Gia quận công, một tướng miền
Bắc bị miền Nam bắt trong chiến dịch năm 1648, Minh Châu
Hương Hải đã bị chúa Nguyễn Phúc Tần nghi ngờ, nên ông
đã quyết định ra Bắc vào năm Nhâm tuất (1682). Sau 8 tháng
ở tạm tại dinh trấn phủ Tây sơn, Minh Châu Hương Hải đã
được chúa Trịnh Căn (1632-1709) cấp cho 3 mẫu đất ở trấn
Sơn Nam để dựng am Chuẩn Ðề làm nơi cư ngụ. Thế là ông
đã ở tại am này 18 năm, tức từ 1683-1700. Như vậy, theo
Hương Hải thiền sư ngữ lục, Giải Kim cương kinh lý nghĩa
được viết trong khoảng thời gian ấy, nghĩa là trong khoảng
1683-1700 đó. Nguồn tin này đáng tin tới mức nào? Trả lời
câu hỏi này ta chỉ có thể khẳng định là trước mắt hiện
không có một dữ kiện nào phản bác lại nguồn tin ấy. Ngay
cả khi phân tích chính nội dung Giải Kim cương kinh lý nghĩa,
ta cũng không có một dâú hiệu gì cụ thể cho phép đề nghị
một niên đại khác .
Chỉ
có một sự kiện đáng chú ý, có thể điểm chí ít nhiều
niên đại ra đời, là bản chú giải này khi tiến hành giải
thích, đã trích dẫn rất ít các kinh điển và ý kiến của
những người khác. Về kinh ta thấy dẫn tên ba kinh là Niết
bàn (tờ 6a2), Viên giác (tờ 31a3) và Hoa nghiêm(tờ 34a5), về
luận, chỉ nói đến Vô thượng luận (7a4). Còn về các tác
phẩm và các tác giả khác, nó chỉ dẫn một lần Thủy lục
nghi (tờ 1b7) và Vĩnh Minh. Vĩnh Minh đây là Vĩnh Minh Diên Thọ
(904-975), tác giả Tôn Cảnh Lục và Vạn Sự Ðồng Qui. Ðây
là một sự kiện đáng ngạc nhiên, bởi vì kinh Kim cương
trong lịch sữ Phật giáo Trung quốc cũng như Việt Nam cho đến
thời Minh Châu Hương Hải đã thu hút mối quan tâm của nhiều
nhà chú giải, mà số lượng không dưới một trăm người
.
Việc
trích dẫn ít ỏi này đã chứng tỏ có một trong hai tình
huống xảy ra :
Một
là, Minh Châu Hương Hải giải thích kinh Kim cương cho những
người mới học, nên đã giới hạn tối đa việc trích dẫn
ý kiến bình luận của những nhà chú giải, nhằm mục đích
không làm rồi khả năng tiếp thu của họ. Tình huống này
khó xảy ra, bởi vì ở trang 8a1-2, ta thấy ghi "Huyền Cơ Thiện
Giác pháp tự Minh Châu Hương Hải thiền sư thích giải. Sa
môn tăng thống tự Chân Lý soạn thuật". Chân Lý là một
trong những cao đệ của Minh Châu Hương Hải và sau đó đã
làm Tăng thống, một tước hiệu mà Chân Nguyên (1647-1726)
phải được 76 tuổi mới được vua Lê Dụ Tôn phong năm 1722.
Có khả năng Chân Lý được phong Tăng thống trước năm 1722
này và sau năm 1714, khi Trịnh Cương (1709-1729) đến thăm chùa
Nguyệt Ðường của Minh Châu Hương Hải và chắc chắn Chân
Lý phải đứng ra tiếp, vì lúc đó Minh Châu Hương Hải đã
quá già, 87 tuổi. Cuộc đón tiếp hẳn đã có những tác động
lên việc vua Lê Dụ Tôn phong Tăng thống cho Chân Lý. Chân
Lý có một vị thế như vậy, cho nên khi ghi "Minh Châu Hương
Hải thích giải, Sa môn Tăng thống tự Chân Lý soạn thuật"
có nghĩa Giải Kim cương kinh lý nghĩa tự nguyên ủy không
phải "thích giải" cho những người sơ cơ, mới bắt đầu
học Phật. Ngược lại, nó đã được Minh Châu Hương Hải
"thích giải" cho một số cao đệ của mình, cụ thể là Chân
Lý. Và bản thân Chân Lý đã "soạn thuật", tức là ghi lại
những gì thầy mình đã "thích giải" thành Giải Kim cương
kinh lý nghĩa. Từ đó không có việc Minh Châu Hương Hải "thích
giải" kinh Kim cương cho những người mới học được. Sự
kiện Giải Kim cương kinh lý nghĩa ít trích dẫn các nguồn
tài liệu về trước do thế phải tìm ở một tình huống
khác .
Thứ
hai, đó là Minh Châu Hương Hải đã "thích giải" kinh Kim cương
trong giai đoạn của thời kỳ ông cư ngụ tại am Chuẩn Ðề,
tức khoảng từ năm 1683-1685. Ðây là giai đoạn xây dựng
cơ sở vật chất, tạo điều kiện để ổn định cuộc sống
của thầy trò ông. Cho nên, tuy công tác dạy dỗ học tập
vẫn tiếp tục tiến hành, việc sử dụng rộng rãi các tư
liệu tất nhiên bị hạn chế. Kinh sách phải được mua sắm
hay sao chép lại, phải có tàng kinh các để cất giữ . Những
việc mà chúng ta không thể hy vọng có thể thực hiện trong
giai đoạn đầu ở am Chuẩn Ðề. Vì vậy công tác giảng
dạy cũng có hạn chế. Thêm vào đó, do thời gian học tập
của đồ đệ mình không nhiều, vì phải xây dựng cơ sở
và sản xuất nuôi sống, yêu cầu học tập phải ngắn gọn,
nhưng đủ chất lượng. Cho nên, Minh Châu Hương Hải phải
cô đúc kiến thức quảng bác của mình thành những lời giải
thích rõ ràng dễ hiểu về các câu văn của kinh Kim cương,
mà không cần trích dẫn nhiều. Ðây chính là lý do tại sao
Giải Kim cương kinh lý nghĩa phải được Minh Châu Hương Hải
"thích giải" trong những năm đầu của thời kỳ ông cư ngụ
tại am Chuẩn Ðề, tức trong khoảng 1683-1685 .
KIM
CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT KINH
Kim
cương là bên Tây vực có báu kim cương luyện nên chí tinh
vừa cứng vừa sắc, muôn vật chẳng hoại được, lại hay
hoại được muôn vật. Phật lấy báu kim cương tỷ dụ cái
lòng gọi là kim cương tâm. Dầu giáo hoá chúng sinh, dạy hết
chư bồ tát, cũng lấy kim cương tâm làm nhân mà tu, mới được
chứng nên Phật quả .
Phạn
ngữ Bát nhã, Hoa ngôn gọi là trí tuệ, hay đoạn hết tham
sân si, diệt rồi chư phiền não, tính thể hư dung, chiếu
dụng tự tại, gọi là Bát nhã .
Phạn
ngữ Ba la mật, Hoa ngôn là đáo bỉ ngạn. Muốn đến bỉ
ngạn, phải nương Bát nhã vậy. Thử ngạn là chúng sinh tạo
nghiệp, chưa khỏi sinh tử luân hồi, còn ở Ta bà cực khổ.
Bỉ ngạn là chư Phật bồ tát đã siêu việt chơn như cảnh
giới, thường trụ thanh tịnh cực lạc .
Ba
la mật phân làm lục độ. Một là bố thí độ xan tham, hai
là trì giới độ tà dâm, ba là nhẫn nhục độ sân nhuế,
bốn là tinh tấn độ giải đãi, năm là thiền định độ
tán loạn, sáu là trí tuệ độ ngu si. Nhân một Bát nhã hay
sinh nên tám muôn bốn nghìn trí tuệ, gồm no lục độ khẳm
hết muôn hạnh. Vì vậy chư Phật dùng trí tuệ lực mà đào
hết non nhân ngã, dùng trí tuệ dao mà cắt hết lưới phiền
não, dùng trí tuệ hỏa
mà luyện nên Phật tính kim thân. Hễ
trồng giống căn lành, trước thà thọ trì kinh, sau bèn hiểu
biết nghĩa lý, hằng dùng kiên cố khẳm hết trí tuệ Bát
nhã, độ chư chúng sinh đều sang khỏi khổ hải, đến bồ
đề ngạn, gọi là đáo bỉ ngạn .
Kinh
là kỉnh lộ. Một cuốn kinh này, lục đạo hàm linh hết thảy
đều khẳm. Bởi vì vọng nhận căn trần, bỏ rảy tự tính
linh quang, bèn nên vô minh bất giác. Phật vì chúng sinh diễn
thuyết kinh này khác nào tháo nêm, mở lối, phá hết chư nghi,
cho ra lòng chính tín, biết được tự tính kiên cố, muôn
kiếp bất hoại, mới gọi là Kim cương kinh .
PHÁP
HỘI NHÂN DO PHẦN ÐỆ NHẤT
Như
thị ngã văn
Thích
Ca đến ngày Niết bàn dưới cây Sa la song thọ, A Nan đến
nơi bạch Phật rằng :"Ngày sau Phật nhập diệt, biên tập
hết thảy kinh giáo, đặt chữ nào trước?" Phật dạy A Nan
:"Hết thảy kinh giáo đều đặt đôi chữ Như Thị làm trước
đầu kinh. Như là chơn như chi lý, Thị là chơn thật bất
hư. Ngã văn là A Nan, Ca Diếp xưng pháp thân chơn ngã, tùng
Phật thân văn, gọi là như thị ngã văn .
Nhất
thời Phật tại Xá Vệ quốc kỳ thọ cấp cô độc viên
Nhất
thời là chính kiến chi thời, trong mười hai giờ hằng nói
Bát nhã, chưng khi hợp lẽ cảm ứng đạo giao. Thuở ấy Thích
Ca văn Phật ở nước Ba Tư Nặc vương có Tu Ðạt Noa trưởng
giả mua vườn thái tử, lập làm điện vũ tinh xá, thỉnh
Phật hằng trú thuyết pháp .
Phật
là chính giác, trong thì hằng giác, hết chư vọng niệm, ngoài
thời hằng giác, chẳng nhiễm trần duyên .
Xá
vệ quốc là phong đức thành .
Kỳ
là Kỳ Ðà thái tử, là Pháp vương tử, Thọ là cây Kỳ Ðà
thái tử trồng, đạo thọ cao ấm, Cấp là trưởng giả cung
cấp hằng đủ, Cô độc viên là thầy tu ở viện ấy, trên
từ lục thân gọi là cô, dưới xả thê tử gọi là độc.
Pháp thân chẳng nhuốm trần duyên quyến thuộc, vì vậy gọi
là Cô độc viên .
Dự
đại Tỳ kheo chúng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu
Ðại
tỳ kheo là đại A la hán. Phạn ngữ tỳ kheo, Hoa ngôn gọi
là khất sỹ, trên thời khất pháp cùng chư Phật cho minh chơn
tính, dưới thời khất thực cùng nhân gian làm giống phước
điền. Khử ác tùng thiện là tiểu tỳ kheo. Thiện ác đều
rồi là đại tỳ kheo. Hết thảy 1250 người hằng hộ vệ
Phật .
Dĩ
thời Thế Tôn thực thời, trước y trì bát
Dĩ
thời là bấy giờ (bỉ thời) vậy. Phật làm tam giới đại
sư, gọi là Thế Tôn. Thực thời là đương khi ngọ thời.
Trước y là mặc tăng già y hai mươi lăm điều, là nhẫn nhục
nhu hoà .
Nhập
Xá Vệ đại thành khất thực
Chùa
ở ngoại thành, gọi là nhập thành. Phật là Kim luân vương
tử, mình cầm bảo bát xin ăn, vì muốn giáo hoá chúng sinh
xả ly kiêu mạn, dạy hết tỳ kheo đời sau chớ tích lấy
tài bảo vậy .
Ư
kỳ thành trung, thử đệ khất dĩ
Phật
vốn từ bi quảng đại, lòng bình đẳng chẳng luận sang khó,
vì vậy chưng nơi trong thành, tới xin hết từng nhà .
Hoàn
chí bản xứ, phạn thực ngật, thu y bát, tẩy túc dĩ .
Hoàn
chí bản xứ là phản bản hoàn nguyên. Phạn thực ngật là
pháp thân vốn chẳng có ý thực, tuỳ duyên phải ứng hoá
vậy. Thu y bát là rồi hết lao lự. Tẩy túc dĩ là xả ly
chư trần duyên, tịnh thân nghiệp vậy .
Phu
toà nhi tọa
Phật
muốn hiển chơn không diệu lý, bèn phải bày bố ra, ngồi
thiền định, khiến hết đại chúng đều biết tam luân thể
không vậy .
THIỆN
HIỆN KHẢI THỈNH PHẦN ÐỆ NHỊ
Thời
trưởng lão Tu Bồ Ðề .
Phạn
ngữ Tu Bồ Ðề, Hoa ngôn gọi là Giải Không, lại gọi là
Thiện Cát, Thiện Hiện, Không Sinh vậy. Lòng đã đốn ngộ
bản tính không tịch, gọi là Giải Không. Liễu ngộ bản
tính toàn không, gọi là Bồ Ðề chân không. Hay sinh muôn pháp
gọi Không Sinh. Tuỳ duyên ứng hiện, lợi vật, lợi nhân,
gọi là Thiện Hiện. Vạn hạnh cát tường, gọi là Thiện
Cát. Vả đã đức trọng tuổi cao, ở trong đại chúng, khi
ấy một mình Tu Bồ Ðề dậy, bèn hỏi vậy .
Tự
đại chúng trung, tức tùng tọa khởi, thiên đản hữu kiên,
hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung kính, nhi bạch Phật
ngôn :"Hy hữu Thế Tôn!"
Tu
Bồ Ðề giải không đệ nhất ở trong đại chúng, khi ấy
một mình dậy hỏi trước. Thiên đản hữu kinh là bên Ðông
độ thỉnh quá tạ tội, Tây thiên hưng kính lễ nghi. Hữu
tất trước địa là khử tà quy chánh, thanh tịnh tam nghiệp,
điều phục thân tâm, bèn sửa sang lễ phép vậy. Hiệp chưởng
cung kính là lòng hợp chưng đạo, đạo hợp chưng lòng. Hy
hữu Thế tôn là Tu Bồ đề bạch Phật, bèn tán thán rằng
"Trên đời thiếu có" vậy .
Như
lai thiện hộ niệm chư bồ tát, thiện phú chúc chư bồ tát
.
Như
Lai là Phật hiệu vậy. Như là bản tính chơn như, Lai là tuỳ
sở các hiện, Như là bất sinh, Lai là bất diệt, Như là chơn
như bản thể, Lai là chơn như ứng dụng. Thiện hộ niệm
là Ðức Phật hay hộ chính niệm, khiến tín thọ cho chân
thật vậy. Thiện phó chúc là phó thác nấy trao, khiến phụng
hành chính pháp vậy .
Chư
bồ tát là đã giác hết hữu tình, chúng sinh hữu tình mà
chẳng giác, Phật thời hằng giác mà vô tình, bồ tát ở
trong hữu tình, lòng hằng giác liễu, dụ là bồ tát .
Thế
tôn, thiện nam tử nữ nhân phát a nậu đa la tam miệu tam bồ
đề tâm .
Thế
tôn là lời Tu Bồ Ðề xưng tán. Thiện nam nữ là lòng đã
chính định, gọi là thiện nam tử. Thiện nữ nhân là lòng
đã chính tuệ, gọi là thiện nữ nhân. Phát A nậu đa la tam
miệu tam bồ đề tâm, là phát quảng đại tâm, cầu vô thượng
chính đẳng chính giác vậy. Vô thượng là chơn tính chẳng
có vật chi trên, gọi là vô thượng. Chính đẳng là trên
từ chư Phật tới nhẫn xuẩn động hàm linh, bản tính bình
đẳng gọi là chính đẳng. Chính giác là tự tính bản giác
thường chiếu liễu viên minh, chẳng có tà tri tà kiến, gọi
là chính giác vậy .
Vân
hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?
Vân
hà là rằng dường nào vậy. Ưng trụ là hợp trụ chưng chốn
nào vậy. Hàng phục kỳ tâm là hàng phục chỗ vọng tâm vậy.
Tu Bồ Ðề hỏi Phật 2 sự. Một là hỏi chúng sinh phát lòng
vô thượng bồ đề, muốn cầu Bát nhã, rằng làm sao bèn
khá an trú chính lý. Hai là hỏi chúng sinh vọng tâm vô biên
phiền não, hợp nương pháp nào cho hàng phục được chỗ
chưng lòng ấy .
Phật
ngôn : Thiện tai thiện tai, Tu Bồ Ðề. Như nhữ sở thuyết,
Như Lai thiện hộ niệm chư bồ tát, thiện phó chúc chư bồ
tát. Nhữ kim đế thính đương vị nhữ thuyết .
Thiện
tai, thiện tai là lời Phật tán thán Tu Bồ Ðề hay biết ý
Phật dạy hết mọi người chớ khởi vọng niệm, lòng hằng
tinh tấn, chớ cho nhiễm chấp hết thảy pháp tướng vậy,
rằng Như lai hay hộ trợ chính niệm hết thảy chư bồ tát,
hay phú thác nấy trao hết thảy chư bồ tát. Ðế thính là
Phật dạy Tu Bồ Ðề cùng chư đại chúng xem xét cứu cánh
cho tường tận, liễu đạt danh tướng, chớ còn chấp trước
danh trần. Hợp vì vậy, Phật mới nói cho .
Nhược
thiện nam tử, thiện nữ nhân phát a nậu đa la tam niệm tam
bồ đề tâm, ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm.
Duy nhiên Thế tôn, nguyện lạc dục văn .
Ưng
như thị trụ là hợp thường trụ, bất sinh bất diệt, an
tâm tự tại. Hàng phục kỳ tâm là đã thấy bản tính, chẳng
còn móng sinh vọng niệm. Dầu đã rồi vọng niệm, ắt bèn
hàng phục chỗ chưng lòng ấy vậy. Duy nhiên, Thế tôn là
Tu bồ Ðề bạch Phật lĩnh ý vâng lời. Nguyện lạc dục
văn là lòng muốn xin nghe Phật thuyết pháp vậy .
ÐẠI
THỪA CHÍNH TÔN PHẦN ÐỆ TAM
Phật
cáo Tu Bồ Ðề : Chư bồ tát ma ha tát ưng như thị hàng phục
kỳ tâm .
Ma
ha tát là lòng độ lượng quảng đại khôn hay lường được,
ắt thật những người đại trí vậy. Trước hỏi an trụ
hàng phục hai sự, Phật bèn nói một sự hàng phục, kỳ được
rồi an trụ vậy. Dầu muốn phát vô thượng bồ đề tâm,
trước thà đốn trừ tập khí. Tập khí khôn trừ, bởi chấp
danh ngôn. Nếu xả danh ngôn, bèn rồi tập khí. Chỗ rằng
cuồng tâm dầu hết, thật nên vô thượng bồ đề. Vì vậy,
Phật dạy hàng phục chỗ chưng lòng ấy .
Sở
hữu nhất thiết chúng sinh chi loại
Hễ
có sinh, vậy đều gọi là chúng sinh, trên từ chư thiên, dưới
tới nhẫn xuẩn động hàm linh chưa khỏi hữu sinh, vì vậy
gọi là nhất thiết chúng sinh. Dầu phàm, dầu thánh, còn chấp
trước thiện ác, lòng còn thủ xả, chưa rỗi vọng tâm, ắt
dấy phiền não vô biên vô lượng, sinh tử luân hồiở trong
lục đạo, cũng là chúng sinh. Chúng sinh tuy nhiều, chẳng khỏi
trong cửu loại vậy .
Nhược
noãn sinh, nhược thai sinh, nhược thấp sinh, nhược hoá sinh,
nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược
vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng.
Noãn
sinh là tham trước vô minh, khởi hoặc tạo nghiệp, mê bản
tính vậy, thọ báo phải vào vô minh phong cố, lớn từ kim
sí điểu tới nhẫn châý rận cùng là noãn sinh .
Thai
sinh là xúc cảnh phiền não, tập tính lưu chuyển tuỳ vọng
tâm vậy. Nghiệp báo phải làm thai sinh, lớn thời sư tượng,
trung thời nhân thân, bé thời miêu thử, cùng là thai sinh .
Thấp
sinh là ái dục khiên triền, vọng khởi trần lao, tuỳ tà
tính vậy. Nghiệp báo phải làm ngư hà lân giáp, tới nhẫn
thủy trung tế trùng, cùng là thấp sinh .
Hoá
sinh là thiện ác hốt khởi, hỷ nộ phi thường, tùy tà kiến
vậy. Nghiệp báo hoá lên thiên đàng, hoá xuống địa ngục,
hoá lại nhân gian, tới nhẫn mễ mạch quả thật vi trùng
biến hiện, cùng là hoá sinh .
Hữu
sắc là khởi tâm tu, tâm vọng kiến thị phi, trong chẳng hợp
chưng lẽ vô thường, tu lên sơ thiền tới nhẫn tứ thiền
thiên, đã hết tình dục, chẳng còn hình nam hình nữ, hãy
còn sắc thân, gọi là hữu sắc .
Vô
sắc là tịnh trị nội tâm, thủ trực, chẳng hay cung kính
cúng dường, bèn rằng tịnh tâm là Phật, chẳng tu phước
tuệ, lên cõi tứ thiền thiên, đã không sắc thân, còn một
linh thức, gọi là vô sắc .
Hữu
tưởng là vị liễu trung đạo, mắt thấy tai nghe, lòng còn
vọng tưởng ái chấp pháp tướng, miệng nói hạnh Phật,
lòng chưa bình thường, tu lên hữu tưởng chư thiên, lòng
còn tưởng niệm, gọi là hữu tưởng .
Vô
tưởng là mê nhân tọa thiền, hằng trừ diệt vọng, chẳng
học từ bi hỷ xả trí tuệ phương tiện, dường bằng mộc
thạch, nào còn tác dụng, tu lên vô tưởng chư thiên, nhất
niệm tịch nhiên bất động, gọi là vô tưởng .
Phi
hữu tưởng phi vô tưởng là lên cõi vô tưởng thiên, nhất
niệm tịch nhiên bất động, chẳng còn tưởng niệm, chẳng
đồng mộc thạch, gọi là phi vô tưởng, đầu hết tam giới,
chư thiên phước quả cực cao, thọ mạng trường viễn, chẳng
khỏi tám muôn kiếp thiên địa, bèn rồi hết phước vậy
.
Ngã
giai linh nhập vô dư Niết bàn nhi diệt độ chi
Vô
dư là đoạn trừ hết phiền não tập khí, chứng được chơn
thường trạm tịch vậy. Niết bàn là siêu xuất luân hồi,
chứng vô sinh lộ. Niết là chẳng còn có sinh. Bàn là chẳng
còn có diệt. Ðã nên viên giác bồ đề, hằng trụ thanh tịnh
cảnh giới, lòng Phật bình đẳng, khiến hết thảy chúng
sinh, trừ vọng tưởng tâm, tinh tu tịnh niệm, thoát khỏi
sinh tử khổ hải, gọi diệt độ vậy .
Như
thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sinh thật vô
chúng sinh đắc diệt độ giả .
Hết
thảy vô lượng vô biên chúng sinh đều bởi trong nghiệp duyên
bèn hiện vì nhân ngu si tà kiến phiền não phân phi. Nguyên
sơ hết thảy chúng sinh, bản lai thanh tịnh, chưa từng thiện
ác nhân quả, chẳng có sinh tử niết bàn. Bản tính bình đẳng,
thật chẳng có chúng sinh, mà được diệt độ vậy .
Hà
dĩ cố? Tu Bồ Ðề, nhược bồ tát hữu ngã tướng, nhân
tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng tức phi bồ tát
.
Lòng
còn năng sở khinh mạn chúng sinh, gọi là ngã tướng. Mình
cậy trì giới, khinh người phá giới, gọi là nhân tướng.
Yếm tam đồ khổ, muốn sinh chư thiên, gọi là chúng sinh tướng.
Lòng muốn tuổi trường cần tu phước nghiệp, gọi là thọ
giả tướng. Lại rằng tham sân si ái là tứ ác nghiệp cùng
là tứ tướng. Tham ắt vì mình toan kể tư lệnh, thật là
giả tướng. Sân ắt lòng bèn phân biệt kĩ ngã, thật còn
nhân tướng. Sân ắt ngu ngoan ngạo mạn, chẳng tuân Phật
pháp, thật còn chúng sinh tướng. Ái ắt còn mong cầu phước
quả, muốn được tuổi dài, thật còn thọ giả tướng .
Lại
rằng ngã tướng là nương cậy danh vị, quyền thế tài bảo,
nhiều nghề học rộng, muốn tiếp sang cao, khinh mạn những
người ngu si bần tiện, gọi là ngã tướng. Nhân tướng là
lòng còn năng sở, ý cậy biết hay, chưa thật được rằng
đã thật được, chưa chứng nên gọi đã chứng nên, cậy
mình trì giới, khinh người phá giới, goị là nhân tướng.
Chúng sinh tướng là lòng chút thửa vọng cầu, lời nói ngay,
nết ưa vị, miệng rằng sự lành, lòng móng sự dữ, gọi
là chúng sinh tướng. Thọ giả tướng là khi giác liễu bằng
dường đã biết thấy cảnh, bèn lai sinh tình chấp trước
danh tướng, lòng còn ái phước trường niên, vọng cầu lợi
lạc, gọi là thọ giả tướng. Còn tứ tướng chưa khỏi
chúng sinh. Rồi tứ tướng ắt thật bồ tát vậy .
DIỆU
HẠNH VÔ TRỤ PHẦN ÐỆ TỨ
Phục
thứ Tu Bồ Ðề
Phục
thứ là lại bảo vậy. Phật cùng Tu Bồ Ðề vấn đáp, kế
theo lời trước, bèn gọi là phục thứ .
Bồ
tát ư pháp ưng vô sở trụ, hành ư bố thí
Bồ
tát liễu đạt nhân pháp đều không, chẳng còn chấp trước,
hằng làm bố thí, đoạn trừ tứ tướng, rồi lòng phiền
não vọng tưởng, chẳng còn thủ xả tăng ái. Phật bèn dạy
pháp bố thí, trong thời rồi chưng lòng chấp trước, ngoài
thời lợi ích hết thảy chúng sinh. Bồ tát hợp chẳng chỗ
trụ mà bố thí, chẳng thấy có ngã tướng năng thí, chẳng
thấy có tha nhân thọ thí, chẳng thấy có tài vật khả thí.
Ba thể đều không, trụ vô sở trụ, chẳng ngại mình thiệt,
chẳng trông báo ơn, chẳng cầu quả báo. Dầu chưng đời
trước có người thọ trì kinh điển, chưa tham tài vật, tứ
sự cúng dường dầu có sở nguyện, ắt là quả toại. Hễ
người làm đạo, chẳng khá lấy ấm no làm đương sở. Chí
vốn cầu vô thượng bồ đề xuất thế gian pháp. Dầu thấy
sự chẳng như ý, chớ lâý làm hiềm. Một lòng nguyện độ
chúng sinh, oán thân bình đẳng, tam luân thể không, mới phải
bố thí vậy .
Sở
vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thanh, hương vị, xúc,
pháp bố thí .
Phàm
phu lục căn chẳng tịnh, vì bởi nhãn thức chỗ hay chủng
chủng chư sắc, nhĩ thức chỗ hay chủng chủng chư thanh, tỷ
thức chỗ hay chủng chủng chư hương, thiệt thức chỗ hay
chủng chủng chư vị, thân thức chỗ hay chủng chủng chư
xúc, ý thức chỗ hay chủng chủng chư pháp. Lại rằng nhãn
căn hằng thấy chủng chủng vô tận sắc, nhĩ căn hằng nghe
chủng chủng vô tận thanh, tỷ thức hằng nghe chủng chủng
vô tận hương, thiệt căn hằng nếm chủng chủng vô tận
vị, thân căn hằng biết chủng chủng vô tận xúc, ý căn
hằng tư tưởng phân biệt chủng chủng vô tận pháp .
Bồ
tát học Phật, có lục chủng thông, nhãn căn vào cõi sắc
trần, chẳng bị sắc trần huyễn hoặc. Nhĩ căn vào cõi thanh
trần, chẳng bị thanh trần huyễn hoặc, tỷ căn vào cõi hương
trần, chẳng bị hương trần huyễn hoặc, thiệt căn vào cõi
vị trần, chẳng bị vị trần huyễn hoặc, thân căn vào cõi
xúc trần, chẳng bị xúc trần huyễn hoặc, ý căn vào cõi
pháp trần, chẳng bị pháp trần huyễn hoặc. Chỗ bèn liễu
đạt sáu trần dường bằng mộng, huyễn, bào, ảnh, lộ điện,
ắt là hết thảy không tướng, vốn thật nhất tâm, gọi
là nhất tinh minh, phân làm lục hoà hợp. Lục căn hợp cùng
lục trần, căn trần hợp sinh lục thức, nên thập bát giới.
Dầu liễu ngộ được vốn chẳng có, hết thảy đều không,
lục hoà hợp lại về nhất tinh minh. Nhất tinh minh là nhất
tâm vậy .
Bồ
tát liễu đạt nhất tâm, làu làu thanh tịnh, chẳng trụ lục
trần, hằng làm bố thí vậy .
Tu
Bồ Ðề, bồ tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng
.
Ưng
như thị bố thí là bồ tát hợp vô tướng tâm, đã liễu
ngộ tam luân thể không, chẳng còn chấp trước lục trần,
mà bố thí. Dầu còn trước lục trần, ắt phước báo nhân
thiên tiểu quả. Vì vậy Phật bảo Tu Bồ Ðề rằng, Bồ
tát hợp chân thật bố thí, chẳng chấp trước chủng chủng
trần tướng vậy .
Hà
dĩ cố? Nhược bồ tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước
đức bất khả tư lượng .
Bồ
tát chưng trong Phật pháp, hợp chẳng chấp trước mà bố
thí. Chẳng những sắc tướng hết thảy chủng chủng phân
biệt cũng gọi là tướng. Hết thảy chủng tướng đều bởi
nhân duyên mà sinh, hợp hay hết thảy phân biệt ắt như mộng
huyễn, gặp duyên ắt hiện. Duyên tán ắt vắng. Vì vậy lời
Phật rằng :"Hễ là có tướng, ắt thật hư vọng". Hợp hay
chư pháp dường bằng mộng huyễn ảnh hưởng, như nguyệt
dưới nước, bằng tượng trong gương. Dầu bồ tát liễu
đạt hết thảy chư pháp, chẳng chấp trước chư chủng chủng
tướng, lòng bằng hư không, tự nhiên chẳng ngại. Bồ tát
hợp như dường ấy bố thí, chẳng trước tướng, cầu chỗ
phước đức, lượng đồng hư không, khôn tư nghì được
vậy .
Tu
Bồ Ðề, ư ý vân hà? Ðông phương hư không khả tư lượng
phủ? Phất giả, Thế tôn, Tu Bồ Ðề, nam tây bắc phương
tứ duy thượng hạ hư không khả tư lượng phủ? Phất giả,
Thế tôn. Tu Bồ Ðề, bồ tát vô trụ tướng bố thí, phước
đức diệu phục như thị, bất khả tư lượng. Tu Bồ Ðề,
bồ tát đản ưng như sở giáo trụ .
Phật
giả Thế Tôn là lời Tu Bồ Ðề bạch Phật rằng hư không
chẳng há toán lường được vậy. Bất khả tư lượng là
lòng bồ tát đã giác ngộ, chẳng còn năng sở, ắt chẳng
có ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả tứ tướng, há còn toán
lượng sao được. Ðản ưng như sở giáo trụ là lời Phật
dạy bồ tát cùng chư học nhân, bố thí chẳng khá chấp trước.
Bèn hợp vâng, như lời Phật chỗ dạy, ắt an tâm vậy. Bồ
tát chịu giáo Như Lai, chẳng dám sai, biết hành vô sở trụ,
làm thường trụ vậy. Phật lấy mười phương hư không rộng
lớn, mà tỷ dụ, hỏi Tu Bồ Ðề :"Khá toán đạc lượng
được chăng?"Tu Bồ Ðề bạch Phật rằng :"Toán lường chẳng
được". Phật rằng :"Bồ tát chẳng trước tướng mà bố
thí, phước đức ắt cũng như vậy".
NHƯ
LÝ THẬT KIẾN PHẦN ÐỆ NGŨ
Tu
Bồ Ðề, ư ý vân hà? Khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ?
Như
Lai là chân pháp thân, vốn chẳng có sinh diệt, thường trụ
thanh tịnh vậy. Vì lòng muốn độ chúng sinh, bèn phải hoá
chất đâù thai, tuỳ phàm diễn giáo, hiểu 32 tướng tốt.
Tuy đồng sắc thân, mà khác dạng thế gian. Sắc tướng tuy
diệt, bản tính hằng còn. Dầu thấy chơn tính, ắt thấy
Như Lai. Vì vậy Phật gọi Tu Bồ Ðề rằng :"Chẳng khá lấy
thân tướng được thấy Như Lai vậy".
Phất
giả Thế Tôn. Bất khả dĩ thân tướng, đắc kiến Như Lai
.
Bất
khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai là lời Tu Bồ Ðề
rằng sắc thân có tướng, pháp thân ắt chẳng có tướng.
Sắc thân là địa, thủy, hoả, phong, mạn, hợp mà nên. Sắc
thân có trường đoản hảo xú. Pháp thân chẳng có hình trạng,
tướng mạo. Sắc thân ắt thật phàm phu. Pháp thân ắt thật
Như Lai. Vì vậy, Tu Bồ Ðề rằng :"Chẳng há lấy thân tướng
được thấy Như Lai vậy".
Hà
dĩ cố? Như Lai sở thuyết thân tướng, tức phi thân tướng
.
Tu
Bồ Ðề bạch Phật rằng :"Cớ nào Như Lai chỗ nói thân tướng
ắt chẳng phải thân tướng". Phật rằng:"Phàm phu lấy sắc
thân làm thật, chấp trước, tu hành vậy bèn chẳng thấy
Phật tính, cho nên sinh tử luân hồi. Như Lai pháp thân vốn
chẳng có tướng. Chư Phật lấy pháp làm thân, thanh tịnh
dường bằng hư không. Hễ người học đạo, muốn được
biết lẽ nhiệm bèn chưng thửa lòng chớ chấp trước một
vật, dường bằng hư không, ắt thật pháp thân. Pháp thân
ắt thật hư không. Phật cùng chúng sinh, bản lai bình đẳng.
Sinh tử Niết bàn, nguyên chẳng có hai. Dầu liễu đạt rồi
hết danh tướng, ắt đồng chư Phật.
Phật
cáo Tu Bồ Ðề : Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược
kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.
Như
Lai tự tính chẳng thuộc khứ lai. Tứ đại sắc thân bởi
vọng niệm mà sinh. Dầu chấp lấy thân tướng hư không, muốn
thấy chưng tính Như Lai, dường bằng nhận lấy giặc làm
con, sau chẳng phải thật chỗ bền. Phật bảo Tu Bồ Ðề
:"Hễ chỗ có tướng, đều ắt hư vọng". Hư là chẳng phải
thật. Vọng là chẳng phải chân. Ðã chẳng phải chân thật,
tướng ắt không tướng.
Lại
rằng chẳng những một Phật chẳng có tướng, hễ chỗ có
tướng, ắt những hư vọng. Dầu hay hồi quang phản chiếu,
thấy chư thân tướng chẳng có hình chẳng có tướng, mà
khá được ắt thập thấy tự tính Như Lai. Lại rằng sắc
thân hư vọng, ắt thật nhân không. Dầu thấy chư chủng tướng
chẳng có tướng, ắt thật pháp không. Liễu ngộ nhân pháp
đều không, ắt thấy tự tính Như Lai. Phật lo chúng sinh mắc
đoạn kiến, phải tùy thuận thế gian tình, ứng dụng 32 tướng,
80 giống tốt, mà độ chúng sinh. Dầu có thân chưa phải giác.
Thấy chẳng có tướng mới phải chân hình vậy. Bèn được
thấy Như Lai.
CHÍNH
TÍN HY HỮU PHẦN ÐỆ LỤC
Tu
Bồ Ðề bạch Phật ngôn :"Thế Tôn, phả hữu chúng sinh đắc
văn như thị ngôn thuyết chương cú, sinh thật tín phủ?" Phật
cáo Tu Bồ Ðề :"Mạc tác thị thuyết, Như Lai diệt hậu,
hậu ngũ bách tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương
cú, năng sinh tín tâm, dĩ thử vi thật".
Tín
là đạo nguyên, mẹ chư công đức, trưởng dưỡng hết thảy
mọi giống căn lành. Phật pháp dường bằng đại hải, dầu
có chính tín mới ngộ nhập được. Khi trước Phật nói vô
tướng bố thí, ắt thật mật nhân, được thấy chân tính
Như Lai, ắt thật mật quả. Tu Bồ Ðề nghi lòng chúng sinh
chưng đời sau ngũ trược ác thế, dầu nghe lời chương cú
trong kinh làm vậy, khôn hay ra lòng chính tín. Bèn phải hỏi
Phật lại. Lo chướng ngại chưng lòng chúng sinh chính tín,
bèn mới bảo Tu Bồ Ðề chớ nói làm vậy.
Ðương
tri thị nhân, bất ư nhất Phật, nhị Phật tam tử ngũ Phật,
nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật, sở
chủng chư thiện căn .
Nhiều
giống căn lành là chỗ rằng chưng nơi chư Phật một lòng
cung kính cúng dường, thuận tùng giáo pháp, chưng nơi bồ
tát cùng thiện tri thức, sư tăng phụ mẫu cùng người tuổi
cao đức trọng, những bậc tôn trưởng, lòng hằng cung kính
cúng dường, vâng nghe lời dạy chẳng dám nghịch ý, gọi
là những giống căn lành .
Thấy
chưng hết thảy chúng sinh bần khổ, ra lòng từ bi lân mẫn,
chẳng khá khinh khi rúng rẻ, dầu có cầu pháp, thà tua tùy
căn thí tuệ, dầu gặp những loài đảng dữ, bèn phải làm
hạnh nhu hoà, nhẫn nhục, mừng rỡ đưa rước, đều khiến
cho lòng hoan hỷ, chớ cho nghịch ý, cũng là những giống căn
lành .
Dầu
hết thảy lục đạo chúng sinh, lòng từ chẳng nỡ khinh dễ,
chẳng nỡ hủy nhục, chẳng hồi sát hại, dầu thấy ngư
cầm điểu thú mắc phải lưới dò, lại hay mại mạn phóng
sinh, hằng làm những sự nhiêu ích, cũng là những giống căn
lành .
Hoặc
là niệm Phật một tiếng, hoặc là lạy Phật một lạy, hoặc
là phần một nén hương, hoặc lấy một vật cúng dường,
cũng là những giống căn lành .
Bao
nhiêu sự dữ chẳng làm, hết thảy sự lành vâng giữ, hoặc
là lịch kiếp gặp thấy chư Phật, hoặc là nghe nhiều học
rộng, tu hành nhiều kiếp, ắt thật nên giống căn lành vậy
.
Văn
thị chương cú, nải chí nhất niệm sinh tịnh tín giả, Tu
Bồ Ðề, Như Lai tất tri tất kiến, thị chư chúng sinh đắc
như thị vô lượng phước đức .
Tín
tâm là lòng tin pháp Bát nhã ba la mật, hay đoạn trừ hết
thảy phiền não, hay thành tựu hết thảy xuất thế gian công
đức, hay sinh nên hết thảy chư Phật. Tin tự kỷ ta hằng
có Phật tính, bản lai thanh tịnh, chẳng có ô nhiễm cùng
đồng chư Phật bình đẳng chẳng khác. Tin lục đạo chúng
sinh bản lai vô tướng, hết thảy chúng sinh đều được nên
Phật, mới phải tịnh tín vậy .
Phàm
phu chưng trong chư pháp, thấy có thiện ác phàm thánh, chủng
chủng phân biệt thủ xả, lòng còn vọng tưởng, chẳng hay
sinh nên tịnh tín vậy. Bồ tát liễu đạt nhân pháp đều
không, chẳng còn vọng niệm, lòng hằng thanh tịnh, tin nghe
chỗ pháp, vậy bèn nhất niệm sinh nên tịnh tín vậy. Như
lai ắt thấy ắt hay. Thật những người thửa được trí
tuệ thắng diệu, công đức khôn hay lường được vậy .
Hà
dĩ cố? Thị chư chúng sinh, vô phục ngã tướng, nhân tướng,
chúng sinh tướng, thọ giả tướng, vô pháp tướng, diệc
vô phi pháp tướng .
Lại
chẳng còn tứ tướng là rằng chẳng có nương cậy danh vị,
quyền thế, tài bảo, nghề nhiều, học rộng, tinh tấn, trì
giới, chẳng hay khinh mạn những người bần tiện ngu si trễ
nãi, chẳng cậy thửa lòng hay biết, chẳng có hữu ý vọng
cầu, lòng làm cũng như miệng nói vậy, pháp tướng là chẳng
có thủ xả hết thảy thiện ác phàm thánh, lòng đã thanh
tịnh, muôn pháp đều không vậy. Vô phi pháp tướng là chẳng
có lòng chấp năng tri, chẳng có lòng cậy sở đắc, nhân
pháp đều không, trong minh thật tướng, ngoài ứng giả duyên
vậy. Lại rằng vô pháp tướng là khiến cho minh pháp, chớ
chấp hữu tâm vậy. Diệc vô phi pháp tướng là khiến cho
minh pháp, chớ chấp vô tâm vậy .
Hà
dĩ cố? Thị chư chúng sinh, nhược tâm thủ tướng, tức vi
trước ngã nhân chúng sinh thọ giả, nhược thủ pháp tướng,
tức trước ngã nhân chúng sinh thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược
thủ phi pháp tướng, tức trước ngã nhân chúng sinh thọ giả
.
Nhược
tâm thủ tướng là lòng còn chấp trước sắc tướng, bèn
khởi vọng tâm, ắt còn mắc tứ tướng vậy. Nhược thủ
pháp tướng là rằng tâm ngoài có pháp, khiến Phật cầu Phật,
lấy lòng tìm lòng, còn chấp trước chủng chủng chư pháp,
ắt chưa khỏi tứ tướng. Nhược thủ phi pháp tướng là
rằng chẳng có thủ xả, thiện ác phàm thánh chủng chủng
chư pháp, bèn chấp trước lấy phi pháp, tuy rằng hữu pháp,
còn mắc vô pháp, chưa khỏi tứ tướng. Dầu có niệm chẳng
có giác, ắt thật phàm phu cảnh giới. Dầu có niệm, có giác,
ắt thật hiền nhân cảnh giới. Dầu vô niệm, thường giác,
ắt thật thánh nhân cảnh giới. Dầu tạo ác nghiệp, dầu
tạo thiện nghiệp, ắt còn trước tướng hoà hai. Tạo ác
nghiệp luống chịu luân hồi, tạo thiện nghiệp luống chịu
lao khổ, đều cùng chẳng minh nhận lấy bản tâm. Dầu ngoài
muốn được an hoà, trong bèn thà phải ninh tịnh. Lòng không,
cảnh ắt vắng. Niệm dấy, pháp bèn sinh. Nước đục bởi
nhân sóng động, đầm thanh ắt thấy nguyệt sáng. Dầu khỏi
tứ tướng nhân pháp đều không .
Thị
cố, bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp .
Lời
ấy khiến chớ chấp hữu vô, dầu lặng dầu nói, ắt cùng
tẩy hết. Dầu còn pháp tướng, ắt có chấp hữu vô. Dầu
còn phi pháp tướng, ắt có chấp không pháp. Có chấp ắt
phiền não thêm thịnh. Chẳng có chấp ắt tín tâm thanh tịnh
vậy .
Dĩ
thị nghĩa cố, Như lai thường thuyết :"Nhữ đẳng tỳ kheo,
tri ngã thuyết pháp, như phiệt dụ giả, pháp huống ưng xả,
hà huống phi pháp".
Ví
bằng người chư sang được sông, tua phải dùng thuyền bè,
mới sang khỏi sông. Dẫu đã bến bờ, chẳng khá chấp lấy
thuyền. Ví bằng người chưa liễu ngộ chân tính, chẳng khá
không Phật pháp. Lời trong kinh rằng dầu người muốn biết
Phật cảnh giới, chỗ lòng thanh tịnh như hư không, ngoài
chẳng có một pháp khá được. Pháp còn hợp xả hà huống
phi pháp .
VÔ
ÐẮC VÔ THUYẾT PHẦN ÐỆ THẤT
Tu
Bồ Ðề, ư ý vân hà? Như lai đắc a nậu đa la tam miệu tam
bồ đề da? Như lai hữ sở thuyết pháp da? Tu Bồ Ðề ngôn
:"Như ngã giải Phật sở thuyết, nghĩa vô hữu định pháp,
danh a nậu đa la tam miệu tam bồ đề, diệc vô hữu định
pháp Như lai khả thuyết"
Tu
Bồ Ðề hiểu lĩnh ý Phật, bèn rằng trong đệ nhất nghĩa
chẳng có định thật chưng pháp khá được, ắt chẳng có
định thật chưng pháp khả thuyết. Như lai liễu đạt chân
không diệu nghĩa, chỉn chẳng có pháp khá được, ắt chẳng
có pháp khả diễn thuyết. Phật bèn phải bày lời, mà hỏi
vô thượng bồ đề là đệ nhất nghĩa thẳm sâu khôn biết.
Hoặc trì giới nhẫn nhục mà được vậy, hoặc tinh tấn
thiền định mà được vậy, hoặc tụ xa làm tháp, hoặc xưng
Nam mô đều chỗ được vậy. Há khá định chấp lấy một
pháp .
Như
lai lòng thương chúng sinh chưa liễu ngộ, sao hay ngồi lặng
vậy được yên, hoặc vì người chí cầu thắng pháp, mà
diễn thuyết. Hoặc vì người cầu vô thượng tuệ mà diễn
thuyết. Hoặc vì người cầu thanh văn đạo mà diễn thuyết.
Hoặc vì người cầu Bích chi Phật mà diễn thuyết. Ứng đối
thù cơ, tùy căn thuyết pháp, vì người học nhân có lợi
có độn, tính trí thâm thiển. Vì vậy phải tùy cơ ứng hoá,
quan bịnh thọ dược. Khi chưa liễu ngộ đường bằng chẳng
chỗ được. Khi đã liễu ngộ đường bằng có chỗ được,
Dầu được cùng chẳng được, ắt thật vọng kiến, bèn
chớ chấp trước lấy rằng có chỗ định pháp mà thuyết
vậy .
Hà
dĩ cố? Như lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ, bất khả
thuyết phi pháp, phi phi pháp .
Bất
khả thủ là Tu Bồ Ðề lo những người học đạo chẳng
biết chưng lẽ Như lai vô tướng, bất khả thuyết là Tu Bồ
Ðề lệ những người học chấp trước lấy lời Phật trong
chương cú vậy. Phi pháp là ắt chẳng phải có. Phi phi pháp
là ắt chẳng phải không. Hựu vô đều chẳng có, ắt hợp
chính lý vậy. Pháp này vì chúng sinh mà bèn lập, chẳng phải
có chân thật pháp. Vì vậy, rằng phi pháp, khi chúng sinh còn
mê, phải mượn lấy pháp mà khai thị cho chúng sinh hiểu biết.
Lại chẳng khá rằng :"Nhưng chẳng có pháp vậy". Như lai nói
một pháp vô thượng bồ đề sâu rộng khôn biết. Khá dùng
lấy tính mà tu, chẳng khá chấp lấy sắc tướng vậy, khá
dùng lâý lý tâm truyền, chẳng khá dùng lấy lời khẩu thuyết.
Một là có vậy, tuy có, mà chưa từng có. Một là không vậy,
tuy không, mà chưa từng không. Pháp vốn chẳng có, mựa rằng
chẳng thấy. Rằng không ắt nên đoạn diệt, rằng có ắt
là tà kiến. Rồi hữu , rồi vô mới phải chân không bất
không vậy .
Sỡ
dĩ giả hà? Nhất thiết thánh hiền, giai dĩ vô vi pháp, nhi
hữu sai biệt .
Tiểu
thừa, trung thừa, đại thừa, căn tính chẳng đồng, liễu
ngộ thâm thiển. Vì vậy rằng có sai biệt, Phật nói vô vi
pháp ắt thật vô trụ. Vô trụ ắt thật vô tướng, vô tướng
ắt thật vô sinh, vô sinh ắt thật vô diệt. Lồng lộng vậy
không vắng, chiếu dụng đều phân minh, giác quán chẳng ngại,
bèn thật Phật tính chơn giải thoát đạo. Phật ắt thật
giác, giác ắt thật quán chiếu, quán chiếu ắt thật trí
tuệ, trí tuệ ắt thật Bát nhã. Hết thẩy thánh hiền đều
lấy một vô vi pháp mà tu, bởi chưng căn tính chẳng đồng,
liễu ngộ thâm thiển nhiều khẳm. Vì vậy gọi là phân biệt
.
Y PHÁP
XUẤT SINH PHẦN ÐỆ BÁT
Tu
Bồ Ðề , ư ý vân hà? Nhược nhân mãn tam thiên đại thiên
thế giới thất bảo, dĩ dụng bố thí, thị nhân sở đắc
phước đức, minh vi đa phủ?
Nói
trong tiểu thế giới có một Tu di sơn, nhật nguyệt hằng
vận hành, bên Nam diêm phù đề gọi là Nam thiện bộ châu,
Ðông phất bà đề, gọi là Ðông thắng thần châu, Tây cù
da ni, gọi là Tây ngưu hoá châu, Bắc uất đơn việt, gọi
là Bắc cu lê châu. Bốn châu gọi là một tứ thiên hạ, Tu
di ở giữa, cao đến vót trời. Nhật nguyệt hằng vận chuyển
quanh eo núi Tu di. Một nhật nguyệt, một non Tu di, gọi là
một tứ thiên hạ. Một tứ thiên hạ gọi là một tiểu thế
giới. Một ngàn tiểu thế giới gọi là một tiểu thiên.
Một ngàn tiểu thiên gọi là một trung thiên, một ngàn trung
thiên gọi là một đại thiên. Ba ngàn đại thiên gọi là
tam thiên đại thiên thế giới .
Thất
bảo là kim, ngân, lưu ly, san hô, mã não, chân châu, pha lê.
Phật hỏi Tu Bồ Ðề :"Lấy thất bảo đầy ba ngàn đại
thiên thế giới, mà bố thí, chỗ được phước đức há
là nhiều chăng?" Bố thí thất bảo là phước thân ngoại,
thọ trì kinh điển là phước thân nội. Thân phước là y
thực, tính phước là trí trệ, những người tâm tính ngu
mê, bởi vì kiếp trước bố thí cúng dường, chẳng khứng
trì kinh thính pháp, những người thông minh trí tuệ, mà bần
cùng, ăn mặc chẳng đủ, ắt kiếp trước trì kinh thính pháp,
mà chẳng khứng bố thí cúng dường. Tiền tài là trân bảo
ngoại thân, pháp bảo là trân bảo nội tâm. Dầu khứng nội
ngoại song tu, mới toàn phước đức vậy .
Tu
Bồ Ðề ngôn :"Thậm đa Thế tôn". Hà dĩ cố? Thị phước
đức tức phi phước đức tính. Thị cố, Như lai thuyết phước
đức đa
Lấy
thất bảo đầy ba ngàn đại thiên thế giới mà bố thí,
được phước tuy nhiều, lòng còn trước tướng bố thí,
hưởng được nhân thiên tiểu quả, chưa khỏi sinh tử luân
hồi. Sao bằng biết được Bát nhã là phước đức tính.
Nương lời Phật dạy, làm đồng hạnh Phật, chưng trước
chứng nên vô thượng Bồ đề. Vì vậy, Phật rằng bố thí
thất bảo được phước tuy nhiều, chưa phải phước đức
tính vậy .
Nhược
phục hữu nhân, ư thử kinh trung, thọ trì nải chí tứ cú
kệ đẳng, vị tha nhân quyết, kỳ phước thắng bỉ .
Kinh
này người người vốn khẳm, ai ai đều nên. Trên từ chư
Phật, dưới tới nhẫn xuẩn động hàm linh, vốn có kinh này.
Kinh này ắt thật diệu viên giác, tâm vật nào khá ví được.
Dầu có người chưng trong kinh này, thọ trì tới dẫn tứ
cú kệ thảng quyết vâng chịu, đòi khi giữ làm. Lại hay
vì người diễn thuyết, khác nào một đèn thắp ra ngàn đèn,
đăng đăng tương tục, phước đồng thái hư, muôn kiếp chẳng
hoại. Lấy thất bảo trước tướng bố thí, phước được
sinh thiên, khác nào tên bắn lên hư không, thế lực hết lại
hoàn trụy địa .
Kinh
Kim cương này là cốt tuỷ chư Ðại tạng kinh, Tứ cú kệ
lấy làm cốt tủy chưng kinh Kim cương. Dầu thọ trì kinh mà
chẳng minh tứ cú kệ, khôn hay siêu thoát luân hồi, được
nên thành Phật thành Tổ, Tứ cú kệ từ xưa nhẫn nay, luận
nhiều chẳng phải một. Hoặc khi chỉ nội căn làm Tứ cú,
hoặc khi chỉ ngoại trần làm tứ cú, hoặc lấy kệ trong
kinh này làm tứ cú, hoặc rằng hữu vi, vô vi, phi hữu phi
vô làm tứ cú. Hoặc rằng hữu đế vô đế , chân đế, tục
đế làm tứ cú kệ .
Xưa
Thiên Thân Bồ tát trên Ðâu suất, hỏi Di Lặc rằng :"Làm
sao là tứ cú kệ?" Di lặc rằng :"Vô ngã, vô nhân, vô chúng
sinh, vô thọ giả tướng là tứ cú kệ". Lục tổ đại sư
lại rằng :"Ma ha bát nhã ba la mật là tứ cú kệ".
Dầu
chấp bấy nhiêu lời chuyển ngữ, khác nào kể lấy trân bảo
tha nhân, mình bèn chẳng được bán văn. Dầu luận cho đích
đáng phân minh, tứ cú kệ đương bất ly thân, chẳng phải
cầu ngoài, thật ở lòng ta giác liễu. Vậy rằng bố thí
thất bảo, tuy nhiều, dùng hết lại về sinh diệt. Tứ cú
kinh văn, tuy ít, biết rồi nên giống bồ đề .
Hà
dĩ cố? Tu Bồ Ðề, nhất thiết chư Phật cập chư Phật a
nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp, giai tùng thử kinh xuất
.
Tam
thế chư Phật đều nương Bát nhã, mà được vô thượng
chính đẳng chính giác. Hết thảy diệu pháp đều ở kinh
này mà ra. Kinh này dường bằng đại địa. Vật nào chẳng
ở đất, mà chỗ sinh nên. Chư Phật đều trực chỉ nhất
tâm, pháp nào chẳng bởi nơi lòng mà chỗ lập. A nậu đa
la tam miệu tam bồ đề là chân tính vậy. Chư Phật đều
cầu chư pháp chân tính. Hết thảy đại tạng chư kinh cũng
ở kinh này mà đặng ra. Chẳng những trực chỉ văn tự ngôn
ngữ, kinh ắt bèn trực chỉ thật Bát nhã là nhất tâm vậy.
Nhất tâm dụng ra chư pháp tính thể, cũng một nơi nhất niệm
tự kỷ hay sinh hết thảy chủng chủng pháp vậy. Vô tướng
phước đức sinh ra ứng thân, vô tướng trí tuệ hiển ra
pháp thân, đều bởi một tự kỷ tâm sinh nên vô thượng
bồ đề pháp vậy .
Tu
Bồ Ðề, sở vị Phật pháp giả, tức phi Phật pháp .
Phật
lo chúng sinh chấp trước Phật pháp, lại hỏi Tu Bồ Ðề
mà bảo rằng :"Pháp vô thượng chính đẳng chính giác là
giả danh vậy, chẳng phải nguyên bản lai trong chân tính bèn
có pháp ấy. Phật pháp là Như lai phương tiện lấy mà khai
thị cho chúng sinh được ngộ nhập vậy. Như lai nói có Phật
là khiến người người giác liễu, Như lai nói có pháp là
khiến người người tỉnh ngộ .
Dầu
chẳng giác liễu, chẳng tỉnh ngộ ghét rẫy, Phật ngoài pháp
ngoài, chẳng phải Phật pháp vậy. Hết thảy chúng sinh ngu
mê điên đảo, chẳng hay giác ngộ, chấp trước, tu hành chưa
minh pháp tướng. Chư Phật bồ tát đều chẳng nhiễm trước,
ắt chẳng xả ly, thấy bằng chẳng thấy, nghe bằng chẳng
nghe, nương pháp mà tu hành, lòng không cảnh ắt vắng, tự
nhiên thanh tịnh. Chỗ rằng Phật pháp ắt chẳng có Phật
pháp vậy .
NHẤT
TƯỚNG VÔ TƯỚNG PHẦN ÐỆ CỬU .
Tu
bồ Ðề, ư ý vân hà? Tu đà hoàn năng tác thị niệm:"Ngã
đắc Tu đà hoàn quả phủ? Tu Bồ Ðề ngôn :"Phất giả Thế
tôn. Hà dĩ cố? Tu đà hoàn danh vị nhập lưu, nhi vô sở nhập,
bất nhập sắc thanh hương vị xúc pháp, thị danh Tu đà hoàn".
Tu
đà hoàn là dự lưu quả. Tu đàhàm là nhất lai quả, A na
hàm là bất hoàn quả. A la hán là vô sinh quả. Bốn bậc Thanh
văn cùng lấy Bát nhã Ba la mật đa pháp, mà tu hành, đều
chẳng chấp trước tứ quả, vì lòng chẳng còn móng chỗ
được vậy. Phật lo bốn bậc Thanh văn chưa biết lấy vô
niệm làm tôn, phải bày bốn sự, mà hỏi rằng:"Bốn bậc
ấy lòng còn móng chỗ được quả, được đạo chăng?"
Tu
Bồ Ðề bạch Phật rằng bốn bậc ấy đều chẳng móng vậy.
Nhập lưu là đầu mới vào cửa, được dự vào chưng dòng
thánh nhân vậy. Bậc tu đà hoàn đã chứng quả nhập lưu,
vả lòng chẳng có móng chỗ được, chẳng còn bị lục trần
cảnh, vì vậy gọi là vô sở nhập. Tu đà hoàn đã hay sắc
thân là huyễn vọng, muốn vào chứng lẽ vô vi, đoạn trừ
chỗ tướng nhân ngã chấp trước, dùng lòng chẳng chỗ cầu,
hợp lẽ chẳng chỗ được. Chẳng chỗ cầu ắt lòng không,
chẳng chỗ được ắt lẽ vắng. Bậc ấy tuy rồi thô trọng
phiền não, song le chưa hết vi tế phiền não, gọi là sơ quả
vậy .
Tu
Bồ Ðề, ư ý vân hà? Tư đà hàm năng tác thị niệm :"Ngã
đắc Tư đà hàm quả phủ?" Tu Bồ Ðề ngôn :"Phất giả Thế
Tôn, hà dĩ cố? Tư đà hàm danh nhất vãng lai nhi thật vô
vãng lai, thị danh Tư đà hàm"
Nhất
vãng lai là bậc Tư đà hàm, nhân tu cửu phẩm tư hoặc, đã
đoạn trừ hết sáu phẩm. Nhãn căn khi đối trần cảnh, lòng
còn một lần móng sinh, một lần móng diệt. Tuy là trước
móng niệm, sau ắt bèn giác. Vì vậy phải một lần lên thiên
thượng, một lần xuống nhân gian, tịnh trừ vi tế hoặc,
mới chứng A la hán. Thật vô vãng lai là sắc thân tuy có vãng
lai, chân tính khắp hư không thế giới, há có vãng lai. Chưng
khi chứng vô vi quả, chẳng còn thấy tướng vãng lai. Vì vậy
gọi là thật chẳng có vãng lai.
Tu
Bồ Ðề, ư ý vân hà? A na hàm năng tác thị niệm:"Ngã đắc
A na hàm quả phủ?" Tu Bồ Ðề ngôn:"Phất giả Thế Tôn, hà
dĩ cố? A na hàm danh vi bất lai, nhi thật vô bất lai, thị
cố danh A na hàm"
Phạn
ngữ A na hàm, Hoa ngôn gọi là bất lai, lòng dầu dứt rồi
dục giới tư hoặc, chẳng còn lai sinh dục giới. Bậc tam
quả A na hàm đã liễu nhân pháp đều không, tiệm tu tinh tấn
bồ đề tâm, chẳng còn thối chuyển, gọi là bất lai. Vả
lòng chẳng chỗ được, bèn thật chẳng có chưng tướng vãng
lai. Lòng không chẳng có ngã tướng, còn ai gọi rằng bất
lai, vì vậy thật chẳng có bất lai .
Tu
Bồ Ðề ư ý vân hà? A la hán năng tác thị niệm :"Ngã đắc
A la hán đạo phủ?" Tu Bồ Ðề ngôn :"Phất giả Thế Tôn
! Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp danh A la hán, Thế Tôn, nhược
A la hán tác thị niệm:"ngã đắc A la hán đạo", tức vi trước
ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả .
A la
hán là chứng vô sinh. Hết sinh diệt tướng, gọi là vô sinh.
Dầu có móng niệm, ắt là khởi tướng nhân ngã. A la hán
bèn có ba nghĩa. Một là sát hết phiền não tặc. Hai là chẳng
còn sinh lai, hậu báo. Ba là đáng chịu nhân thiên cúng dường.
Tu Bồ Ðề đương khi ấy hợp chứng tứ quả. A la hán chư
lậu đã rồi, chẳng có phiền não mà khá đoạn, chẳng có
tham sân mà khá trừ, lòng chẳng còn thuận nghịch, trí cảnh
đều vắng, há có chưng lòng móng được chứng quả .
Thế
Tôn, Phật thuyết ngã đắc vô tránh tam muội, nhân trung tối
vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A la hán, Thế Tôn, ngã
bất tác thị niệm:"Ngã thị ly dục A la hán"
Vô
tránh là lòng đã liễu được vô sinh pháp nhẫn, chẳng còn
đấu tranh. Tam muội là chính định, chính thọ, chính kiến
vậy. Chính định là rằng khi nhập định, tuy duy vận tưởng,
lòng chẳng loạn động, gọi là chính định. Chính thọ là
rằng chưng trong khi định, chỗ có mật tưởng chư cảnh giới
đều chịu hết thảy, vậy mà chẳng có thị phi vọng tưởng,
gọi là chính thọ. Chính kiến là rồi hết thảy chín mươi
lăm giống tà kiến, gọi là chính kiến. Ly dục là đã khỏi
chủng chủng chư dục, ắt chẳng có móng chút lòng ngại,
dục rồi, hết vi tế tư tướng, chẳng sinh ái nhiễm, gọi
là ly dục. Nhất niệm chẳng còn sinh diệt, gọi là đệ nhất
ly dục A la hán .
Thế
Tôn, ngã nhược tác thị niệm:"Ngã đắc A la hán đạo" Thế
Tôn tắc bất thuyết Tu Bồ Ðề thị lạc a lan na hạng giả,
dĩ Tu Bồ Ðề thật vô sở hạnh nhi danh Tu Bồ Ðề thị lạc
a lan na hạnh"
Tu
Bồ Ðề dầu có khởi niệm muốn được A la hán đạo, ắt
Phật chẳng chứng cho là vô tránh hạnh. Tuy làm đã thật
hành, mà lòng chẳng có chỗ móng được, bèn gọi Tu Bồ Ðề
thật muốn vô tránh hạnh. Tránh là phân biệt thắng phụ,
lòng còn đấu tranh, ắt còn nhân ngã, chẳng có đấu tranh,
ắt gọi Niết bàn. Phật tính bao hàm hư không thế giới bằng
nơi hết thảy chư pháp. Dầu chưng trong phủ tạng có chút
tiêm hào dừng đó, thật chưa ra khỏi lưới dục. Dầu có
chỗ mong cầu, có chỗ móng được, lòng sinh vọng niệm, ắt
thật còn giống dã can .
Dầu
trong phủ tạng đều chẳng chỗ cầu, chẳng chỗ móng được,
sự dữ chẳng còn sinh, nhân ngã chẳng còn dấy. Dầu hay đặng
Tu di chưng trong hột cải, lòng chẳng dấy chút tơ mèn thamsân.
Dầu hay hớp hết tứ đại hải thủy, lòng chẳng móng chịu
tiêm hào hỷ nộ. Dầu lời ngôn ngữ bên tai, chưng hết thảy
trần cảnh chẳng mê, chẳng loạn, chẳng giận, chẳng mừng,
lòng gội giặt sưả sang, đều được thanh tịnh. Thật người
vô sự đạo nhân, hơn hết thảy tri giải tinh tấn đầu đà
thượng hạnh. Thật có thiên nhãn diêu quan, ắt là pháp giới
chân tính. Thật là xe chở nhân quả, ắt Phật ra đời độ
chúng sinh. Hết thảy làu bấy tam muội, lấy vô tránh tam muội
làm hơn. Tu Bồ Ðề đã liễu ngộ chân không vô tướng, chứng
tịch diệt lạc, gọi là vô tránh hạnh tam muội .
TRANG
NGHIÊM TỊNH ÐỘ PHẦN ÐỆ THẬP
Phật
cáo Tu Bồ Ðề:"Ư ý vân hà? Như lai tích tại Nhiên Ðăng
Phật sở, ư pháp hữu sở đắc phủ?""Phất giả Thế Tôn
! Như lai tại Nhiên Ðăng Phật sở, ư pháp thật vô sở đắc"
Nhiên
Ðăng là Ðịnh Quang Phật, làm thầy thọ ký cho Thích Ca, Phật
lo chư Bồ tát chỗ đắc tâm vị trừ, bèn bày mà hỏi Tu
Bồ Ðề rằng :"Ta thính pháp nơi Nhiên Ðăng Phật, chưng pháp
có chỗ được chăng?" Tu Bồ Ðề hiểu được ý Phật, bèn
thưa lại rằng:"Như Lai ở nơi Nhiên Ðăng Phật, thật được
tâm truyền, chưng pháp ắt chẳng chỗ được". Tu Bồ Ðề
đã hay pháp ắt bởi thầy khai, bèn dầu hơn liễu ngộ tự
tính bản lai nguyên sơ thanh tịnh, vốn chẳng bá trần, tịch
mà hằng chiếu, ắt bèn nên Phật, há có pháp gì mà sở thị
vậy .
Lời
Phật bày hỏi, vì lo phàm phu vô minh nhị thừa chấp trước.
Rồi hay bệnh ấy, mới gọi là chân tu. Chân tu chẳng khá
cần, chẳng khá trễ. Cần ắt sinh chấp trước, trễ ắt
đọa vô minh, ấy lời răn chư nhân học đạo mới vào cửa
pháp cho hay Như Lai tự tính thanh tịnh. Thích Ca ở nơi Nhiên
Ðăng thọ ký cho, chư pháp ắt chẳng chỗ được vậy .
Tu
Bồ Ðề, ư ý vân hà? Bồ tát trang nghiêm Phật độ phủ?"Phất
giả Thế Tôn. hà dĩ cố? Trang Nghiêm Phật độ giả , tức
phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm"
Phật
độ là Phật diệu tính, chỗ rằng chân tâm chúng sinh vậy.
Phật hỏi Tu Bồ Ðề:"Bằng thật tâm thượng khá dùng tướng
trang nghiêm chăng?" Tu Bồ Ðề rằng:"Chẳng phải vậy, chân
tính thể đồng hư không, chẳng có hình tướng, trang nghiêm
ắt làm lục độ vạn hạnh, tu giới định tuệ, gọi là
trang nghiêm. Ngoài chẳng nhiễm trần tục, trong chẳng móng
nhân ngã, chẳng chấp trước đoạn diệt pháp, lòng hằng
thanh tịnh gọi là tịnh độ". Hễ một đại thế giới hằng
có một Phật thuyết hoá, gọi là Phật độ, có chư bồ tát
ở trong Phật độ hằng làm chủng chủng thiện sự, gọi
là trang nghiêm Phật độ. Như Di Ðà Phật thuở làm bồ tát,
tu chư chủng chủng thiện sự, làm vô lượng vô biên phước
nghiệp, bèn hoá nên Phật độ, thế giới đều lấy hoàn
kim làm địa, lấy thất bảo làm thọ, lâm, lâu đài, gọi
là trang nghiêm vậy .
Dầu
tạo tự, tả kinh, bố thí, cúng dường ấy thật trước tướng
trang nghiêm. Dầu người lòng hằng thanh tịnh, chẳng còn cầu
ngoài, nhậm vận tùy duyên, một pháp chẳng có chỗ được,
khi đi đứng nằm ngồi, cùng hợp lẽ đạo, thật gọi là
trang nghiêm tịnh độ. Chân tính ắt chẳng có sắc tướng,
bèn giả danh trang nghiêm. Vì vậy rằng chẳng có trang nghiêm,
mới gọi là trang nghiêm .
Thị
cố, Tu Bồ Ðề, chư bồ tát ma ha tát, ưng như thị sinh thanh
tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh,
hương, vị, xúc, pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ
tâm .
Bồ
tát là giác hữu tình. Ma ha tát là đại chúng sinh. Ưng như
thị sinh thanh tịnh tâm là Phật bèn khuyên ra chân như tâm,
chớ nhiễm chấp lục trần vậy. Lòng người phàm phu vô minh
khởi diệt, vọng tưởng điên đảo, ý còn thủ xả thiện
ác, phân biệt phàm thánh, gọi là trược loạn tâm. Bồ tát
lòng hằng không tịch, rồi hết vọng niệm chẳng có sinh
diệt, chẳng có động dao, ắt gọi là thanh tịnh tâm vậy.
Ưng trụ sắc là Phật thấy chưng trong lục trần, bởi sắc
làm đầu, tượng vì thấy sắc mà lòng người bèn não loạn.
Trong lục căn nhãn thức làm tiên phong. Vậy bèn phải nói
sắc trước .
Dầu
người tâm cảnh thanh tịnh, ắt thật Phật quốc tịnh độ.
Dầu người tâm cảnh trược loạn, ắt thật ma quốc uế
độ. Phàm phu phải vật sở chuyển. Bồ tát ắt hay chuyển
vật. Dầu hay chuyển được vật, cũng đồng Như Lai. Vì vậy
rằng ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm .
Tu
Bồ Ðề thí hữu nhân, thân như Tu di sơn vương, ư ý vân
hà? Thị thân vi đại phủ? Tu Bồ Ðề ngôn :"Thậm đại Thế
tôn ! Hà dĩ cố? Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân"
Tu
di sơn vương là non ở giữa tứ thiên hạ, cao rộng ba trăm
ba mươi sáu muôn dặm, làm vương hết chư chúng sơn. Phật
bèn tỷ dụ, dầu có người sắc thân lớn bằng non ấy, tuy
rằng rất lớn, ắt cũng hư vọng. Chẳng có thân mới gọi
là đại thân. Hễ có hình tướng chẳng phải chân thật.
Dầu ba ngàn đại thiên thế giới cũng hư vọng vậy. Hà huống
sắc thân?
Có
một chân tính thanh tịnh vô tướng, chẳng từng nhiễm trước,
chẳng có quái ngại, bao hàm hư không rộng lớn vô biên thế
giới, nào thông luận sánh cùng non Tu di. Lòng Phật muốn bảo
chúng sinh, người người giác liễu chân tâm, bèn lấy sự
đại thân mà hỏi. Tu Bồ Ðề thẩm biết ý Phật, thưa rằng:"Cực
lớn, Phật lo chúng sinh chưa hiểu, bèn phải biện luận rằng
chẳng có thân là pháp thân chân tâm vậy. Pháp thân khẳm
hết giới định tuệ, cụ túc thanh tịnh pháp, gọi là đại
thân"
VÔ
VI PHƯỚC THẮNG PHẦN ÐỆ THẬP NHẤT
"Tu
Bồ Ðề, như Hằng Hà trung, sở hữu sa số, như thị sa đẳng
Hằng hà, ư ý vân hà? Thị chư hằng hà sa, ninh vi đa phủ?"
Ở
bên Tây độ có một sông lớn, gọi là Hằng hà, từ nguồn
đầu chí hải khẩu, chỗ có cát nhiều, Phật lấy mà tỷ
dụ, hỏi Tu Bồ Ðề: "Một hột cát là một sông Hằng hà,
hết thảy cát trong ấy lấy làm nhiều chăng?"
Tu
Bồ Ðề ngôn: "Thậm đa Thế Tôn, đản chư Hằng hà, thượng
đa vô số, hà huống kỳ sa?"
Tu
Bồ Ðề bạch Phật rằng: "Như bằng một sông chỗ có cát
nhiều, một hạt cát là một sông, còn kể chẳng xiết. Hà
huống là cát hết thảy bấy nhiêu sông?"
"Tu
Bồ Ðề, ngã kim thật ngôn cáo nhữ. Nhược hữu thiện nam
tử, thiện nữ nhân, dĩ thất bảo mãn dĩ sở hằng hà sa
số tam thiên đại thiên thế giới, dĩ dụng bố thí, đắc
phước đa phủ?" Tu Bồ Ðề ngôn: "Thậm đa Thế Tôn." Phật
cáo Tu Bồ Ðề: "Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư
thử kinh trung, nải chí thọ trì tứ cú kệ đẳng, vị tha
nhân thuyết, nhi thử phước đức thắng tiền phước đức".
Phật
bèn trùng hiển vô vi phước thắng hơn hữu vi vậy. Như kinh
Viên Giác rằng: "Có đại đà la ni môn gọi là Viên giác,
lưu ra hết thảy chơn như bồ đề niết bàn." Chưng lẽ dường
ấy nào khác tứ cú kệ này, kinh này Viên giác là diệu tính
vậy. Viên Giác diệu tính lưu ra hết thảy chưng pháp chân
như, chưng lẽ niết bàn, chưng đạo bất sinh bất diệt, cũng
đồng diệu nghĩa, như phần đệ thứ tám.
Dầu
hay biết làm vậy, thọ trì chẳng bỏ, tư lợi, lợi tha khắp
hết hữu tình, đều thông chỗ đạo. Phước ấy ắt gọi
là vô vi, hơn hữu vi phước lấy hằng hà sa trân