HƯƠNG
HẢI THIỀN SƯ NGỮ LỤC
LỜI
TỰA
[1a1]
Mảng nghe nước Tây thiên trúc, Phật Tổ truyền đến, bắt
đầu từ vua Tịnh Phạn sinh ra thái tử. Thái tử lên núi
Tuyết, thành đạo gọi là Thế Tôn, diễn thuyết ba tạng
kinh văn. Rồi dời đến phía đông nước Chấn đán thời
vua Hiếu Minh Hoàng đế của triều Hán, đến tới đời Ðường,
Huyền Tráng phụng chiếu nhận theo hơn 500 năm .
Rồi
lần lữa truyền đến Nam bang mà thỉ tổ Tuệ Trung được
ấn chứng của Tiêu Diêu, bèn dạy đạo cho vua Trần truyền
đến 5 đời thánh quân, rõ được huyền cơ của Phật pháp,
thông hiểu ý sâu của hiển mật. Hoàng đế (Trần) Nhân Tông
bỏ nước xuất gia đến núi Hoa yên thành tổ Ðiều Ngự.
Từ đó, trời Phật thêm sáng, xe pháp chuyển mạnh. Từ ấy
học thuật lời xưa, sách Phật rộng mở, đem dấu vết tôn
thừa để lại cho đời sau, với tới cội nguồn mà lưu lại
hậu thế. Kính bái viết tựa .
Cảnh
Hưng năm thứ 8 vào tuổi Ðinh Mão (1747) tháng 5 ngày lành .
Tự
pháp soạn thuật .
HƯƠNG
HẢI THIỀN SƯ NGỮ LỤC
……..[3a1]
thối chuyển .
Một
phen khác lại gây quậy. Vào sâu canh hai, môn đồ Sư bỗng
thấy một con ma đến, thân dài 2 trượng, da đen đứng ở
trước sân, một lúc rồi biến mất. Ðến canh ba thấy một
con rắn lớn đến bò quanh mình Sư, sư không thể nhúc nhích,
lúc ấy tổ sư thu mình lại, dời đến trước Phật chỉ
nghĩ đến sức mạnh của thần chú. Một lúc nó bỗng biến
mất. Lại một phen gây quậy khác. Ban ngày bỗng nhiên mây
đen nổi lên che khắp trước sân, hoá làm phong ba dữ dội,
gãy cây tróc nhà, cát bay đá chạy, một lúc mới hết. Tới
ba tháng lại một phen gây quậy nữa. Ban đêm núi vắng bỗng
nghe [3b1] tiếng mèo kêu ước hơn một vạn con, cùng một tiếng
kêu gào. Tám tháng sau, lại một phen gây quậy. Ðêm vắng
canh khuya, tổ sư mật niệm ngồi ngay ngắn trước bàn Phật
đèn đuốc sáng choang, rực rỡ như ban ngày. Bỗng thâý ma
quân trai gái vây quanh bốn phía, có đứa cầm giáo cầm mác,
có đứa dắt trâu dắt ngựa dắt voi, trong lòng bụng đau
không thấy đèn sáng, mắt toàn thấy ma tinh, không thấy tượng
Phật. Lúc ấy, tổ sư tận lực trì chú, bí mật nhiêù cách
cũng không có linh nghiệm .
Bấy
giờ, tổ sư lập chí Kim cang, nghĩ tới lửa Tam muội, quyết
định đốt thân mình tiêu cả [4a1] thế giới, tiêu cả thân
tâm, quả nhiên thấy nghiệm. Một lúc ma cảnh đều không
thấy nữa. Lại thấy ánh sáng đêm vắng núi xanh không ai
biết tới. Ðến sáng hôm sau trong lúc tổ sư ngẫm nghĩ, bèn
bỏ trở về làng cũ là xã Bình An thượng thuộc đội thợ
đóng thuyền của phủ Thăng Hoa, xứ Quảng Nam. Tổ bảo với
các người xóm giềng cũ :"Cái chỗ cù lao đó, từ lúc được
mở mang đến nay, vẫn không nhờ đâu để được khai hoá,
đó là đất cung ma núi ác. Việc mở đạo cũng thật là khó".
Tổ
về lần lữa được một tuần, bỗng thấy một người Mán
đến cầu thỉnh tổ. Tổ hỏi người đó :"Ðêm đến mà
cầu thỉnh ta thì nghi là có sự việc khoản khúc gì đây"[4b1].
Người Mán nói :"Một xóm làng của thần có 3 đền cũ ở
núi Tiêm bút la. Một miếu là của thần Cao Các Ðại Vương,
một miếu là của Phục Ba đại tướng quân và một miếu
là của thần Bô Bô Ðại Vương. Hôm tổ sư trở về làng
đến ngày thứ tư thì trong làng bỗng thấy 3 vị thần đều
nhập lên người ngồi đồng cùng nói ra một lời, tự xưng
là thần của 3 miếu, bàn tới việc ma tích cũ gây quậy đến
mấy phen cùng hội đồng các ma quỷ yêu tinh làm phiền não
và gia hại pháp sư. Ba chúng ta ngồi xem thắng bại thế nào,
bỗng thâý pháp sư [5a1] biến hình biến tướng, không biết
ở chỗ nào. Bọn ma rút mất. Chúng ta thấy pháp sư trai giới
đạo hạnh đều trọn vẹn, nên chúng ta phục vị tôn sư
kia, xin báo với làng xóm, cung nghinh tôn sư đến ở lại".
Bấy
giờ những người trong làng xóm thấy việc như vậy, bèn
vào xin thưa thỉnh tôn sư duyên do việc trước. Lúc ấy, tổ
sư nghĩ rằng :"Bọn ma e phục, sự việc đã hiển nhiên".
Cho nên sau đó tổ sư cùng đệ tử chuẩn bị thuyền buồm
theo sóng lướt đến chỗ cũ ở yên. Ðược 8 năm mà không
thấy trở ngại nào. Tổ sư thấy thần gọi quỷ giúp, cảm
ứng tự nhiên, Phật pháp thịnh hành, danh thơm bủa khắp
gần xa [5b1].
Một
hôm, quan trấn thủ Quảng Nam là Thuần quận công có vợ bị
bệnh đã lâu không khỏi, nên xin tổ sư đặc biệt đến
cứu giúp. Bấy giờ tổ sư theo lời mời đến nhà, trì kinh
đọc chú, bảy ngày bảy đêm phổ độ gia tiên cho đến oan
khiên. Nhà quan kia bệnh hết tật giảm, yên ổn khoẻ mạnh.
Vị quan có lòng tin cùng người trong nhà đều đến thọ giáo
quy y, cộng được trên 50 người làm đệ tử. Từ đó, có
đàn việt tín thí, khi xong việc chay nhà chùa, tín chủ đưa
tổ sư trở về đến Cù lao. Ðợi tới năm sau, xứ Quảng
Nam có trưởng quan là tổng đốc thái giám [6a1] Hoa Lễ Hầu
do trước bị bệnh đã lâu 3 năm, mắc chứng trùng cắn bụng
đau, trăm thuốc chữa không khỏi, bèn từ chức trả quan mà
về làng dưỡng già. Bấy giờ, trấn thủ xứ Quảng Nam là
Thuần quận công có kết nghĩa cũ. Vị quan kia có đến hỏi,
hai ông nói kể cho nhau về nguyên do việc bệnh. Thuần quận
công trình bày cho Hoa Lễ Hầu việc vợ mình bị bệnh, không
người nào cứu lành. Tôi thỉnh được nhà sư ở Cù lao,
bèn gia trì kinh chú, được một tháng thì thân thể được
lành yên. Cho nên xin trưởng quan lại đến chỗ ấy, thỉnh
được tôn sư hành trì pháp lực, mới mong được yên chăng.
Hoa
Lễ Hầu [6b1] tai nghe việc linh nghiệm, bèn tin là không dối,
liền sai Thuần quận công đem quân 10 người, thuyền 1 chiếc
đến chùa Cù lao, thỉnh bạch tổ sư đến dinh Hoa Lễ của
Quảng Nam cứu bệnh. Sư đến chỉ một lần nhìn qua Hoa Lễ
Hầu và hỏi người nguyên do của bệnh, tháng nào năm nào
ngày nào. Hoa Lễ trả lời sư rằng :"Bệnh đã lâu 3 năm vô
phương có thể cứu, xin sư thương xót, có phương gì để
cứu vậy". Tổ sư nói :"Trưởng quan quyền cao chức trọng
sinh sát đã nhiều, chỉ nhờ sức sám hối lớn, mới mong
được ổn yên mà lành bệnh". Hoa Lễ nghe lời nhận việc
thiết lập đàn tràng bảy ngày bảy đêm, phổ độ oan [7a1]
khiên, dần dần bệnh khỏi. Ðến một tháng tuần thì thân
thể tráng kiện, cả dinh bà con lớn nhỏ đều xin nhận quy
y được hơn 70 người .
Bấy
giờ Hoa Lễ ra Thuận Hoá, vào phủ môn, chầu chúa. Lúc ấy
đương nắm chính trị là Dũng quốc công, tục gọi là chúa
Hiền, phán hỏi Hoa Lễ :"Thuốc nào thầy nào, ai mà có thể
cứu được ngươi" Hoa Lễ phải tâu :"Thần may mắn được
gặp minh sư ở núi Cù lao, tên là Minh Châu, xin mời về nhà,
trì kinh đọc chú, phổ độ oan khiên, nhờ ơn Phật lực,
nên mới được như cũ". Bấy giờ Dũng quốc công xuống chỉ
phán Hoa Lễ Hầu mau thỉnh nhà sư [7b1] lên tới kinh đô giúp
nước .
Một
hôm tổ sư vâng chỉ đến triều, vào phủ môn. Chúa Hiền
phán hỏi:"Sơn tăng khổ hạnh có sức tu hành, đến chỗ nhà
người bệnh lành tật giảm". Dũng quốc công tức thì sai
quan đón ra lập chùa trên núi Qui Kỉnh gọi là Thiền tịnh
viện, để sư tại đó tụng kinh cầu chúc cho nhà vua, hộ
trì mạch nước, giáo hoá thịnh hành. Có Quốc thái phu nhân
quy y thọ giáo. Có ba công tử một tên Phước Mỹ, hai tên
Hiệp Ðức, ba tên Phước Tổ, ở nhà học đạo thờ Phật
thanh tịnh. Từ đó bách quan đều đến quy y học đạo [8a1]
Ðồ chúng càng nhiều gồm được 79 quan, phó quan cả 100 ngoài
hơn, lính trong lính ngoài quy y hơn 1200 người .
3.Ghi
việc vâng dẫn đến gặp, Quảng chúa nghe lời sàm tấu, truyền
Sư trở về chỗ cũ của bản quán.
Lúc
ấy có thị nội giám quan là Gia quận công, nguyên quan ở
xã Ðoan Bái huyện Gia Ðịnh phủ Thuận An của Kinh Bắc, vâng
mệnh đi đánh dẹp giặc, bại trận, bị quân Quảng Nam bắt
được, đều nạp (làm tù binh) để được sống cùng ở
Thuận Hoá, ban cho lương tháng ra vào trong phủ môn dạy học
cho nội cung. Gia quận công thấy sư là chỗ dùng của nước
[8b1] đạo đức tinh nghiêm, bèn phát tâm quy y thọ giáo học
đạo, ngày đêm chuyên cần một lòng cầu pháp. Gia quận tuổi
tác đã cao, lo đường sống chết, muốn được gần Sư để
xin hỏi được con đường sáng mới dấn thân vào. Ngày lụn
tháng qua, lần lữa kể đã lâu. Bấy giờ tha nhân ngoại đạo
thấy sư việc làm tốt đẹp, bèn sinh lòng ghen ghét, ra mưu
chống lại, đặt lời nói dối, đưa lời khải tâu lên quốc
chúa vu cho sư là muốn trốn tránh. Ngày kia nói rằng :"Tổ
sư âm mưu cùng quen biết với Gia quận công, toa rập giúp
đỡ Gia quận công trở về kinh đô của Trịnh. Lúc ấy, chúa
Hiền thấy lời khải tâu sinh nghi, giao cho quan tra hỏi hư
thực do [9a1] đâu. Ðược hơn 7 ngày, lời thẳng trúng lý,
chẳng dối chẳng thật, chẳng giả chẳng chân. Chúa Hiền
bảo :"Sự tình này chẳng nhờ lý mà thành công được" bèn
xuống chỉ phán cho sư trở về Quảng Nam xa cách kinh đô 3
ngày. Bấy giờ sư ngẫm nghĩ, bèn sinh lòng trở về làng cũ
mà ngày đêm vẫn không quên, hôm sớm vẫn tơ tưởng, nghĩ
nhớ vết cũ của tổ tiên, bèn chuẩn bị một chiếc thuyền
lớn, đồ đệ hơn 50 người, cùng một lòng vượt biển ra
đi quyết qua vạn dặm nhắm tới miền sáng mà trở về. Lúc
âý nhằm tiết tháng ba mùa Xuân năm Nhâm Tuất và tổ sư
tuổi đã 53 .
Thuyền
đến cầu Dinh, bèn đến yết kiến quan đốc xuất Yến [9b1]
quận công. Quan binh nghinh tiếp. Ở được một tháng thì có
lệnh xuống. Bấy giờ chúa Trịnh là Hoằng Tổ Dương Vương
(Trịnh Tạc) đương nắm quyền ngự trị, sai quan vệ tiếp
Ðường quận công chỉnh trang thuyền tải 5 chiếc, đi đến
trấn đồn giao phó cho quan đốc xuất lãnh tôn sư đưa về
hầu chúa. Sư cùng đồ đệ lớn nhỏ hơn 50 người tức tốc
đến kinh, kính cẩn tâu bày sự việc. Thánh thượng xuống
chỉ ra lệnh giao cho Ðường quận công đem tổ sư cùng đồ
đệ trở về doanh lấy làm nhà ở, ngày ngày sai quan tra hỏi
cốt rõ mối manh hai nước đánh nhau. Một mặt Phụng sai quan
là thị nội giám Nhượng quận công, Tài quận công, [10a1]
tổng Giao, tổng Lãi, lại có Thượng thư hai quan viên, một
là thượng Vĩnh, hai là thượng Lê Hy, ngày ngày tra vấn, rồi
trở về phủ đợi lệnh. Một tháng chỉ tra thấy sự việc
quả là đúng đắn rõ ràng. Sư chuẩn bị lời tâu lên, nói
mình nguyên quán xã Áng Ðộ, huyện Chân Phúc, phủ Ðức Quang,
xứ Nghệ An. Phụng sai quan bắt người bản quán đến nhận
tôn sư kia đây có thật không. Người làng bảo đúng, dân
làng bày tỏ lai lịch kính cẩn tâu lên sự việc, đó là
dấu vết tổ tiên của tôn sư đúng là người làng. Chúa
nghe bèn triệu đến hỏi, sư dâng sách trình bày mưu lược.
Lúc ấy vua trời xuống chỉ, ra lệnh ban thưởng, gia quan [10b1]
bổ chức, sắc phong tôn sư chức Vu áng. Hai người đệ tử
đi theo, một giữ chức Ty sứ, một giữ chức Khố sứ, lại
thưởng thêm tiền xưa 300 quan, lại ban áo mão các thứ cho
các môn nhân, được tin tưởng không còn hồ nghi nữa, lại
cấp cho lương tháng khẩu phần tôn sư cả năm lúa là 24 lu,
tiền là 36 quan, vải trắng một tấm, phiến lịch một phần.
Môn đồ mỗi người lúa 12 lu, tiền 12 quan và vải, quạt,
lịch v.v…. đã thành tiền lệ. Một hôm, chúa xuống chỉ
phán cho tôn sư dâng sách Quảng Nam Thuận Hóa sơn thủy lộ
trình. [11a1] Tôn sư vâng lệnh viết vẽ thì trong 21 ngày đã
hoàn thành. Tôn sư dâng sách văn có thắng lợi trọn vẹn.
Chúa Trịnh thưởng cho tiền xưa 20 quan. Ðến khoảng tháng
6 đức Hoàng tổ chầu trời. Ðức Chiêu tổ lên nắm quyền
cai trị, xuống chỉ ra lệnh dời chỗ ở, đưa tôn sư đến
trấn doãn, giao cho ở nhà thị nội giám tả tượng quan. Ðược
8 tháng tuần, lại trở về xứ Sơn nam thuộc quan trấn thủ
thiếu bảo Tước quận công. Bấy giờ tôn sư đã 55 tuổi.
4.
Ghi về việc ra ngoại cảnh, gần Trấn sở dựng viện Thiền
tịnh.
[11b1]
Từ khi trở về với quan trấn thủ dinh Hiến, bèn được
bao đo đất thổ trạch, và ban cho được hơn 3 mẫu để dựng
lập am đường 5 gian 2 chái, để thờ Phật tụng kinh, gia
trì đảnh lễ, tọa thiền nhập định. Hơn 18 năm tổ sư
đã thực hành đàn Chuẩn Ðề hôm sớm không ngớt, mỗi ngày
3 thời. Lại chú giải các kinh bằng phương ngôn quốc ngữ
:
- Giải
Pháp hoa kinh 1 bộ
- Giải
Kim cang kinh lý nghĩa 2 đạo
- Giải
Sa di giới luật 1 quyển
- Giải
Phật tổ tam kinh 3 quyển
- Giải
Di Ðà kinh 1 quyển
- Giải
Vô lượng thọ kinh 1 quyển [12a1]
- Giải
Ðịa Tạng kinh 3 quyển
- Giải
Tâm Kinh Ðại Biên 1 quyển
- Giải
Tâm kinh ngũ chỉ 1 quyển
- Giải
Tâm châu nhất quán 1 quyển
- Giải
Chân tâm trực thuyết 1 quyển
- Giải
Pháp bảo đàn kinh 6 quyển
- Giải
Phổ khuyến tu hành 1 quyển
- Giải
Bảng điều 1 thiên
- Soạn
Cơ duyên vấn đáp tinh giải
- Soạn
Lý sự dung thông 1 quyển
- Soạn
Quán vô lượng thọ kinh quốc ngữ
- Soạn
Cúng Phật 3 khoa
(cát,
hung, tiểu)
- Soạn
Cúng Dược Sư 1 khoa
- Soạn
Cúng Cửu phẩm 1 khoa
[12b1]
Các sách trên đây thịnh hành ở đời. Tổ sư trải qua năm
tháng vào thì tọa thiền, ra thì giải kinh, trong 12 giờ, mỗi
giờ đều tinh tấn.
5.
Ghi về việc ra trú trì và khai sáng chùa Nguyệt đường.
Bấy
giờ, tổ sư tuổi đã 70, ấy là trong năm Canh thìn lúc vua
Lê Chính Hòa nắm quyền cai trị. Sư xem việc đời vô thường,
rõ biết căn thân không bền, mỗi lo nghĩ chỉ một lòng dựng
lập tam bảo, nhóm họp hai nhóm xuất gia và tại gia để lại
giống tốt cho đời sau, đèn đèn nối nhau. Bỗng một hôm,
nhân gặp [13a1] cung tần thị nội của cựu chính phủ là
Nguyễn thi Ngọc Hân đến bạch với tổ sư, xin tổ sư đến
trụ trì chùa Nguyệt Ðường đề trùng tu khai sáng chùa Phật
trang nghiêm. Ðức bà hội chủ nội cung ra tiền của ba dật,
lại khuyên quan trấn thủ Tước quận công hỷ xả tiền xưa
10 quan, hứa cho tổ sư lên chùa Nguyệt Ðường, ngày đêm
trú trì, vân tập thiền đồ xa gần cùng đến. Những người
xuất gia thọ giáo làm pháp tự được 70 tên thuộc hàng chữ
Chân, chay trường xuống tóc, hiểu rõ kinh Phật. Còn hàng
chữ Chân mà tóc dài thì nhiều không thể kể hết. Hàng thiện
tín chữ Như thì số kể khôn xiết. Do thế [13b1] bèn trùng
hưng thượng điện 3 gian hai chái, 4 vế 8 vần, trong có 9 chín
pho tượng Phật tam thế toàn bằng vàng ròng, lại có 12 tượng,
4 thánh và 12 vị hầu, lại có 4 toà Tứ Ðại Thiên Vương,
mỗi toà 3 tượng toàn bằng gỗ có phủ nhũ tương. Lại có
2 tượng Thiên chúa toàn bằng gỗ thân vàng.
Lại
dựng tiền đường hai toà, mỗi toà 5 gian. Bên trái có một
tượng Ðịa Tạng bằng gỗ thân vàng. Bên phải có tượng
đồng Di Lặc phủ vàng. Lại có một tượng Tề Thiên Ðại
Thánh bằng gỗ phủ nhũ tướng. Bên ngoài hai bên phải trái
có hai tượng Hộ pháp bằng gỗ.
Lại
tạo hậu đường [14a1] 2 toà, mỗi toà 5 gian. Bên trong có
18 tượng La hán bằng gỗ phủ nhũ tương. Ở giữa có tượng
Phật mẫu Chuẩn Ðề 3 mắt 18 tay bằng gỗ, thân vàng. Lại
có 2 pho tượng thánh tăng và thổ địa. Lại có 6 tượng
lục phủ thần vương bằng gỗ, toàn phủ nhũ tương 5 sắc.
Tả vu hữu lang nguy nga bằng gạch đá, mỗi bên có 9 gian.
Trước
bên trái có hai toà Dược Sư Nghi Ðàm, bên trong có giếng
trời, bên ngoài cho chạy 8 vần, trên treo tam thiên hoá Phật
phạn tướng mặt vàng, ở giữa có tượng thất Phật màu
đồng vàng, hai bên là 10 vị đại bồ tát và 12 Dược xoa
mỗi mỗi [14b1] đều có thân bằng đồng, sắc màu vàng trang
nghiêm.
Trước
bên phải có 3 toà Cửu phẩm liên đài, tầng trên có lan can
kép, tầng dưới cho chạy 8 vần, khúc giữa nổi hiện hoa
sen 9 phẩm, phân làm 9 tầng. Mỗi tầng 8 mạch. Mỗi mạch
3 tượng. Trên, lọng báo rũ xuống. Ðất mọc sen vàng. Hai
bên có vẽ cảnh Tây phương, vô số các tượng thánh. Bốn
góc là 4 thần vương đại hộ pháp, thân cao 8 thước, uy nghi
trang nghiêm tối thắng.
Phía
sau có tượng đồng Ðịa Tạng, lại có 3 pho tượng gỗ vàng
của tam tổ. Lại có pho độc tôn Tam Giới Thiên Chúa toàn
bằng vàng. Lại [15a1] có tượng Chế Thắng Hòa Diệu Ðại
Vương, thân vàng, mặt ngọc. Lại có hai ban hậu Phật tượng
gỗ và bài vị bằng gỗ.
Bên
phải phía sau lại có Ðại bi đàn, một nhà, 5 gian, hai chái.
Bên trong có tượng Phật dung nhan bằng vàng có 42 tay làm thành
đài sen đẹp.
Lại
phía đông bắc là trù oản một nhà 8 vầng 3 gian. Phía tây
nam là tàng kinh một nhà 3 gian 8 vầng. Phòng tăng thì vây quanh
chạy khắp các nhà bảy tòa. Lại có chính ngự một nhà 3
gian bằng gạch ngói.
Bên
trong chùa bốn phía đều bằng vách gạch, có lan can cũng xây
bằng gạch. Bên ngoài chùa bốn góc thành viên nối nhau, toàn
bằng gạch bát xếp. Lại có nghi môn [15b1], hai bên phải trái
hai tòa. Mỗi toà 3 gian trùng điệp hai lầu, để làm gác khánh
gác mõ.
Lại
có tổ đường hai bên, mỗi bên hai toà. Mỗi tòa 3 gian 8 vần,
trùng diềm. Trong có khám thờ, giường cùng tượng tổ hai
pho. Lại có bảo tháp tổ sư bên trái, cao 21 thước. Lại
có bảo tháp tôn sư bên phải, cao 25 thước. Cả hai tháp đều
có sư tử bằng đá hai bên.
Lại
trước chùa có tam quan ngoài đường một tòa, trên dưới
lầu giác 3 gian 8 vầng, toàn dùng gạch bát. Núi bên trái là
gác chuông. Tầng trên tro một [16a1] hồng chung rộng 2 thước.
Tầng dưới treo một đại hồng chung rộng khoảng 3 thước
5 tấc. Núi bên phải đối lại là lầu trống. Bên trong đặt
một trống lớn, bề mặt rộng 3 thước. Thềm dưới lót
gạch bằng phẳng.
Trước
chùa bao quanh là một tường biếc có màu hoa. Bên phải và
bên trái là những con đường dùng toàn gạch bát. Vườn cảnh
bên trong và ngoài chùa đều trồng cây hoa quả tươi sáng,
trước sau hàng hàng bày ra la liệt, trương tàng lá sum suê.
Lúc
ấy, bỗng một hôm vua Lê Bảo Thái thành khẩn mời tổ lên
điện vua lập đàn cầu thai 3 ngày đêm. Tổ sư than rằng
: "Thái công 80 tuổi mới gặp được quan vương". Bấy giờ
tổ đã 80 [18b1]. Vua hỏi đạo nói : "Trẫm nghe sư già là
một vị thầy từ xa mến đức mà tới. Nguyện xin nói lời
pháp âm khiến trẫm liễu ngộ". Tổ sư tâu rằng : "Thần
nguyện xin bệ hạ hết lòng lắng nghe bài kệ rằng :
Về
lắng nghe mình mỗi xét xem
Thẩm
tra suy nghĩ, khéo trông thêm
Chớ
tìm tri thức trong mơ mộng
Sẽ
thấy bóng thầy trên mặt mình"
Vua
Lê lại hỏi tổ : "Như thế nào là ý Phật và ý tổ". Sư
đáp :
"Nhạn
qua trời rộng
Ảnh
chìm nước lạnh
Nhạn
đâu có ý để dấu
Nước
đâu có lòng [17a1] giữ ảnh".
Nhà
vua khen tổ sư : "Tôn lão sáng suốt thật". Lại hỏi tổ :"Phật
đối chúng sanh có ân đức gì đến nỗi phải bỏ vua bỏ
cha, bỏ vợ bỏ con mà thờ Phật làm thầy". Tổ đáp ""Phật
đối với chúng sanh ơn quá trời đất, sáng vượt trời trăng,
đức hơn cha mẹ, nghĩa hơn vua tôi". Vua nói :"Trời đất nhật
nguyệt có đầy đủ công của tạo hóa, cha mẹ vua tôi có
đầy đủ đức của sinh thành. Sao lại bảo Phật vượt quá
điều đó ư?". Tổ tâu đáp : "Trời chỉ có thể che, mà không
thể chở. Ðất chỉ có thể chở, mà không thể che. Mặt
trời chỉ chiếu sáng ban ngày, mà không chiếu sáng [17b1] ban
đêm. Mặt trăng thì sáng ban đêm, mà tối ban ngày. Cha chỉ
có thể sinh, mà không thể dưỡng. Mẹ chỉ có thể dưỡng
mà không thể sinh. Vua có đạo thì tôi trung. Vua vô đạo thì
tôi nịnh. Ðem điều đó mà suy ra thì đức của trời đất
nhật nguyệt, cha mẹ vua tôi là không trọn vẹn. Ðức của
Phật đối với chúng sanh thì không thế. Luận về che thì
bốn loài đều được che khắp. Luận về chở thì 6 đường
đều chở hết. Luận về sáng thì chiếu rọi 10 phương. Luận
về soi thì sáng khắp 3 cõi. Luận về từ thì vớt hết biển
khổ. Luận về bi thì cứu hết u minh. Luận về thánh thì
vua trong đám thánh. Luận về thần thì lục thông tự tại.
Cho nên người còn người mất đều được cứu hết [18a1],
kẻ sang kẻ hèn đều được dắt lên. Chỉ xin bệ hạ lưu
tâm kính ngưỡng". Vua vui nói :"Ơn Phật như thế thì chẳng
phải thầy không ai có thể nói được. Trẫm nguyện đem cả
cuộc đời này kính ngưỡng".
Bấy
giờ, tổ sư đã đến 87 tuổi, ấy là vào tháng 6 năm Giáp
ngọ, may mắn gặp đức tiên vương của thánh thượng đến
chơi ở chùa mình, phán hỏi tổ sư rằng :"Nhân địa do đâu".
Quan phụng sai là Ðức Khánh Công đến hỏi. Tổ đáp :"Rõ
thấu chúa thượng rồi". Vả lại tổ sư đã trình bày lai
lịch và sự việc trước sau của mình, lại vâng hầu 3 triều
[ba triều : là chỉ ba triều đại của Trịnh Tạc (1653-1682),
Trịnh Căn (1682-1709) và Trịnh Cương (1709-1729), chứ không
phải 3 triều của nhà Lê, bởi vì Hương Hải chỉ sống dưới
hai triều của vua Lê mà thôi là Lê Hy Tông (1676-1704) và Lê
Dụ Tông (1705-1728)] ăn lộc quân vương ngày đã lâu. Thánh
thượng hoan hỷ ban cúng trước Phật tiền xưa [18b1] 1000 quan,
ngự đề thơ rằng :
"Danh
lam từng trải đã hay danh
Trình
độ này âu hợp chốn trình
Pháp
giới chăm chăm tuyên diệu pháp
Kinh
lâu rỡ rỡ diễn chân kinh
Công
nhiều nhờ có công vô lượng
Thế
thuận vậy nên thế hữu tình
Ngăn
tục mụa hề mùi tục lụy
Lòng
thiền tua kín chốn thiền khuynh"
Bỗng
một hôm quan trấn thủ Tiền Hòa quân doanh quốc lão trí sĩ
Ứng quận công đến tham quan Nguyệt Ðường, làm bài thơ
vịnh rằng :
[19a1]
"Hoa xuân người ngắm tắm thiều dương
Ngày
rảnh giai nhân viếng Nguyệt Ðường
Tùng
cỗi trước sân trương lọng thúy
Sen
non ngoài cửa ngát mùi hương
Lòng
băng trì ấn truyền kinh lão
Mặt
sắt men tường ngắm giáo lương
Bao
thứ hữu tình tuôn đổ bút
Thơ
huyền thưởng thức một vài trương"
Bấy
giờ quan trấn thủ thường đến hỏi đạo. Tổ sư lại có
bài thơ ngợi khen tướng quan :
"Vua
sáng trở về giúp vận nên
Tôn
công thăm hỏi tuổi mừng thêm
Kinh
luân đức hạnh tài dùng đủ
Lễ
nghĩa văn chương ý đáp đền
[19b1]
Ngoài trừ đạo tặc quân dân thích
Trong
dưỡng trinh liên sĩ tốt bền
Quyền
trấn cõi nam tên bốn bể
Khuông
phò đất nước sướng muôn bên"
Hôm
sau, quan quốc lão xin sư làm chay phổ độ bảy ngày đêm.
Mỗi ngày trưởng quan chính minh đến dâng hương ba lần để
tỏ lòng thành thắp hương dâng cúng. Một hôm rảnh, trưởng
quan lại đến Nguyệt Ðường gọi 3 thầy người đạo Hoa
Lang cùng đến chùa Nguyệt Ðường đối đàm giảng đạo
với tổ sư, để xem thắng bại thế nào. Ba thầy đạo Hoa
Lang, một tên Tài Giam hai tên Tài Hựu, và ba tên [20a1] Tài
Chi. Trưởng quan hỏi Ðạo một câu, hỏi Thích một câu. Ba
thầy Ðạo 3 lần im lặng. Chỉ có một mình Thích ngôn tự
chẳng dứt. Trưởng quan nói : "Ðạo không bằng Thích Hoa lang
dối trá nói lời dụ người khiến nghiêng nhân thế. Ðó
gọi là đạo tà, chẳng biết nghĩa lý". Ông lại nói :"Thích
nói thông chí lý, có sự có tích, pháp bảo vô biên. Từ đó
biết Ðạo là ngụy chẳng thực chân". Bèn liền trở về
tâu tới Thánh thượng cửu trùng. Trải 8 tháng, Phụng sai
quan đuổi đạo Hoa lang trở về nước họ, không được ở
chỗ Hiến trấn.
Bấy
giờ, Phật giáo đồ rất thịnh, chùa mỗi [20b1] ngày một
nổi lên. Một hôm, trời xuân, tổ sư rảnh rang ngâm thơ :
"Ba
dương mở thái chuyển đất trời
Chín
chục thiều quang sắc sắc tươi
Ðêm
lặng gió thanh đưa móc ngọc
Ngày
trong khí mát rợp mây lơi.
Non
cao cây rú xinh xinh lạ
Ðấy
phẳng vường hoa ngát ngát hơi
Chốn
chốn nghênh lành ca vạn thọ
Người
người vui sướng vịnh xuân đời"
6.
Ghi về việc khai thị ngộ nhập duyên lành truyền thọ ấn
chứng.
Một
hôm, tổ sư thị chúng :"Từ ngày tổ đến ở chùa Nguyệt
Ðường, lập viện Thiền [21a1] tịnh, đệ tử 10 phương cùng
đến họp lại như mây, học đạo qui y v.v… Các người tên
ghi khai bày mỗi tích :
Thượng
tọa đệ tử quốc ban Viên Thông phương trượng hòa thượng
pháp tự thiền sư Chân Lý Hiển Mật (cùng ở chùa Nguyệt
Ðường, hầu hạ tổ ngày đêm).
Thiền
sư tự pháp Chân Tạng Mật Hạnh.
Thiền
sư tự pháp Chân Chiếu Hoa Mỹ.
Thiền
sư tự pháp Chân Tông Quảng Trí.
Thiền
sư tự pháp Chân Quí Phổ Ứng.
Thiền
sư tự pháp Chân Truyền Quang Tán.
Thiền
sư tự pháp Chân Tịch Khổ Hạnh.
[21b1]
Thiền sư tự pháp Chân Thành Bồ đề.
Tự
pháp Chân Thường.
Tự
pháp Chân Cảnh.
Tự
pháp Chân Thước.
Tự
pháp Chân Ý.
Tự
pháp Chân Thị.
Tự
pháp Chân Thuần.
Tự
pháp Chân Ðẳng.
Tự
pháp Chân Bình.
Tự
pháp Chân Pháp.
Tự
pháp Chân Quảng.
Tự
pháp Chân Trí.
Tự
pháp Chân Bảo.
Tự
pháp Chân Thường.
Tự
pháp Chân Ðông.
Tự
pháp Chân Dung.
Tự
pháp Chân Quả.
Tự
pháp Chân Viên.
Tự
pháp Chân Kinh.
Tự
pháp Chân Tình.
Tự
pháp Chân Quang.
Hàng
chữ Chân, người đắc pháp có 70 tên. Trên đây chỉ lược
lấy những người lớn, là những pháp tử nối lửa truyền
đèn.
Lại
tính [22a1] hàng chữ Như là những cháu thiền nối tiếp sau
:
Hương
hoả kế tự Tăng lục ty tăng thống chính tông Hoà thượng,
pháp tự Như Nguyệt hiệu Hoa Quang (trú trì bản tự).
Sơn
tăng pháp tự Như Tâm.
Tăng
phó pháp tự Như Túc.
Pháp
tự Như Khoảng.
Tăng
phó pháp tự Như Nhật (cúng một bảng gỗ).
Nội
Ðàm pháp tự Như Ðài (cúng một bảng gỗ).
Pháp
tự Như bảo
Tăng
chính pháp tự Như Sơn.
Tăng
phó pháp tự Như Thừa.
Pháp
tự Như Công.
Tăng
phó pháp tự Như Thuyên.
Hữu
công pháp tự Như Huyền.
Pháp
tự Như Nhẫn.
Tăng
thống pháp tự Như Toàn.
Hữu
công pháp tự Như Biền.
Pháp
tự Như Ðề.
[22b1]
Tăng chính pháp tự Như Viên (cúng một bảng gỗ).
Pháp
tự Như Kiên (cúng một bảng gỗ).
Pháp
tự Như Phái.
Pháp
tự Như Mật (cúng một bảng gỗ).
Tăng
phó pháp tự Như Cảnh.
Pháp
tự Như Hải.
Pháp
tự Như Khanh.
Pháp
tự Như Nghiệm (cúng một bảng gỗ).
Trên
đây là hàng chữ Như gồm hơn 200 người, nhưng đây chỉ
lược lấy 24 người, hoặc có công với chùa, hoặc cósách
mệnh của triều đình.
Ðến
hàng chắt thiền chính phái phụng hầu nội đàn có :
Tăng
thống tên chữ Tính Thanh (cúng 3 bảng gỗ).
Nội
đàn tên chữ Tính Liễn.
Tên
chữ Tính Kế.
Ðạm
Hạnh tên chữ Tính Khả (cúng một bảng gỗ).
Nội
đàn tên chữ Tính Lâm.
Tên
chữ Tính Duệ (cúng tiền 2 quan).
Tên
chữ Tính Thước.
Nội
đàn tên chữ Tính Tường.
Tên
chữ Tính mẫn.
[23a1]
Tên chữ Tính Nhu.
Tính
Ðỉnh.
Tính
Bạch.
Tính
Ánh.
Tính
Trác.
Tên
chữ Tính Ðức (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Tính Trí (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Tính Lăng (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Tính Năng (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Tính Tiếp (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Tính Phụng (cúng một quan).
Tăng
phó tên chữ Tính Xán (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Tính Tuyên (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Như Liêu (cúng một tờ).
Tăng
chính tên chữ Tính Hằng (cúng một bảng gỗ).
Tăng
phó tên chữ Hải Bồi (cúng một bảng gỗ).
Tăng
phó tên chữ Hải Triều (cúng một bảng gỗ).
Huyền
Thiện tham vấn tên chữ Tính Không (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Hải Ðường (cúng một tờ).
Nguyễn
Nhu tên chữ Hải Nhã (cúng một tờ).
Hải
Ðồng (cúng một bảng gỗ).
Tên
chữ Như Khôi (cúng một bảng gỗ).
Liễu
Tiên pháp tự Như Hạnh (cúng một tờ).
Nội
đàn tên chữ cũ Tính Viên (cúng một tờ).
Tên
chữ Hải Diên (cúng một bảng gỗ).
Nội
đàn tên chữ Hải Lịch, tên chữ Hải Khoát (cúng một bảng
gỗ).
Phụng
thị hạ đàn tên chữ Hải Liêm, tên chữ Hải Trung (cúng
một bảng gỗ).
[23b1]
Còn như hàng chữ Tính, thì cành lá rất nhiều, không biết
hết số lượng. Ðến hàng chữ Hải nối đèn từ Hải Ðạm
ở Nguyệt Ðường trở xuống đến hàng chữ Tịch Chiếu
Phổ Thông, thì số lượng kể không hết. Lại có ni cô từ
nhỏ vào đạo, giới hạnh tinh nghiêm hơn 30 tên. Ưu bà tắc,
ưu bà di, thiện nam tín nữ, ngàn con muôn cháu, cùng qui về
mạch đạo.
Một
hôm, tổ sư thuật kệ thị chúng bằng bài kệ Ngộ liễu
:
Hiểu
không, không hiểu, không không hiểu,
Hiểu
hiểu, không không, không chẳng không,
Muốn
biết chẳng không tin tức tốt,
Lang
bang chỉ ở hiên này xong (5)
Lại
có kệ :
Sư
tử trong hang sư tử,
Chiên
đàn trong núi chiên đàn,
[24a1]
Một mình nhờ có đất trời rộng,
Muôn
việc không lo ngày tháng rong (6)
Lại
có kệ :
Rồng
khi được nước, thêm thanh thế,
Cọp
lúc gặp non, lớn vuốt nanh,
Người
về nước lớn, hay rằng quí,
Nước
đến Tiêu tương, một dạng thanh (7)
Lại
có kệ :
Chầu
bắc trên trời hết thảy sao,
Tuôn
đông cõi thế mọi sông rào,
Lông
rùa cạo sạch lưng trâu sắt,
Sừng
thỏ cách luôn eo gái xao.
[24b1]
Dạ xoa la sát vừa đầu cúi,
Ngục
tốt ngưu đầu lại múa sào (8)
Lại
có kệ :
Hoặc
sai hoặc đúng, người đâu biết,
Làm
ngược làm xuôi, trời chẳng lần,
Gia
gia người hát cách trong núi,
Phách
tám, sáo hồ nhận tưởng lầm (9)
Thượng
tọa thị chúng rằng :"Có một người một đời làm thiện.
Có một người một đời làm ác. Người làm thiện một hôm
phạm phải giới không cho mà lấy. Người tạo ác một niệm
hiểu rõ tự tâm. Người làm lành phạm giới không cho mà
lấy, liền bị gọi [25a1] là giặc. Người làm ác hiểu rõ
tự tâm liền được gọi là Phật. Hai người cùng đến chốn
Vân môn, bám một người nào là bám thiện khước ác, bám
người nào là bám giặc mà chối Phật. Bám người ác mà
khước người thiện ấy là sợ ác mà khi thiện. Nếu cùng
bám cả hai người thì Phật và giặc không phân biệt được.
Nếu cả hai người đều không thiện, thì thiện ác không
rõ. Nếu quyết định chỉ Phật là người ác thì mang lấy
tội báng Phật, vào địa ngục nhanh chóng như tên bay. Nếu
chỉ (giặc) là người thiện, thì chưa có người thiện mà
đã có người làm giặc" (V1).
Lại
có kệ :
[25b1]
Vợ mới cưỡi lừa bố chồng dắt,
Bước
lần theo bước chẳng cầm roi,
Về
đến nhà sang người chẳng biết,
Từ
nay cửa trước biếng ra chơi (10)
Lại
có tụng :
Phu
tử đâu biết chữ,
Ðạt
Ma chẳng hiểu thiền,
Huyền
Sa không lời ấy,
[Huyền
Sa : tức thiền sư Huyền Sa Sư Bị (835-908), đệ tử của
Phù Dung Linh Huấn thuộc phái thiền Thanh Nguyên Hạnh Tư]
Rất
đừng nhảm nhí truyền (11)
Lại
có tụng :
Tìm
đâu nên dò vết,
Học
đạo phỏng vô tâm.
[26a1]
Vết còn, trâu hẳn có,
Vô
tâm, đạo dễ tìm (12)
Lại
có tụng :
Sinh
từ đâu mà tới,
Ðến
đâu khi chết rồi,
Biết
được nơi tới đến,
Học
đạo xứng danh người (13)
Một
hôm, tổ rảnh rang ngâm chơi hai bài kệ, để dặn dò người
tại gia. Bài kệ rằng :
Phố
thành chơi dạo, ở chùa chiền
Ứng
biến tùy cơ mỗi tự nhiên.
Cửa
đón trăng vào thiền chõng ngọt
Thông
reo gió thổi khách giấc yên
Lâu
đài sắc [26b1] sáng càng thêm sáng
Chuông
trống tiếng đưa tiếng mỗi truyền
Ba
giáo xưa nay cùng một thể
Theo
thì sao lẽ có nghiêng bên (14)
Lại
có kệ :
Bát
nhã rừng thường thượng sĩ thăm
Ở
đời chẳng nhuốm, rõ thiền tâm
Liêm
khê, Trình thị thông cao kiến
Tô
tử, Hàn văn hiểu diệu âm.
Muôn
trạng bao la xa dễ hiểu
Một
bầu tạo hóa kín khôn tìm.
Nguồn
nho bát ngát lên thêm rộng
Biển
Phật mênh mông xuống sâu lần (15)
[27a1]
Lại một hôm, nhân đàm thị chúng : "Muốn tìm thấy Phật,
thì chỉ cần biết chúng sinh. Chỉ vì chúng sinh lầm Phật,
chứ không phải Phật lầm chúng sinh. Tính mình nếu hiểu
thì chúng sinh là Phật. tính mình nếu lầm thì Phật là chúng
sinh. Tính mình bình đẳng thì chúng sinh là Phật. Tính mình
vạy tà, thì Phật là chúng sinh. Tâm ta tự có Phật. Phật
mình là chân Phật. Tự mình nếu không tâm Phật thì chỗ
nào tìm được chân Phật. Cho nên kinh dạy tâm sinh mọi thứ
pháp sinh, tâm diệt thì mọi pháp diệt. Phàm phu tức là Phật,
phiền não tức là bồ đề [27b1]. Niệm trước mà lầm tức
là phàm phu, niệm sau mà ngộ tức là ngộ. Niệm trước mà
mắc vào cảnh tức là phiền não. Niệm sau mà rời cảnh tức
là bồ đề" (V2)
Lại
nói : " Tự thể của chân tâm, chẳng phải chúng ta có thể
nói được. Nó trong như hư không vô tận. Nó sáng như gương
sạch tròn soi. Chê khen chẳng tới, nghĩa lý khó thông. Không
thể đem chỗ hữu vô mà vét hết dấu u huyền của nó. Không
thể đem lời nói trí thức mà bàn thể nhiệm mầu của nó.
Chỉ có người đi vào nó, chỉ tại lòng mình biết, Như giã
muôn thứ để làm hương, đốt một hạt bụi là đã đủ
mọi mùi thơm. Như vào [28a1] biển lớn mà tắm gội, vúc một
hạt nhỏ là đã dùng hết cả trăm sông" (V3)
Lại
nói : "Nguồn chân trong vắng. Biển giác trong thanh. Dứt mọi
mối danh tướng, chẳng dấu vết năng sở. Tối sơ không hiểu,
bỗng dấy động tâm. Nhân sáng mới có soi, theo soi mới dựng
nên đối tượng. Cho nên nói : chúng sinh như gương hiện bóng,
chóng dấy căn thân, từ đó mất chân thất tính. Chấp tướng
theo danh, chứa nhóm tịnh trần, kết nối sóng thức, khóa
chân giác mà mơ mộng đêm trường, chìm mê trong 3 cõi, bịt
mắt trí mà quạng quờ đường tối, lăn lóc ở 9 nơi. Hướng
vào cảnh chẳng dời [28b1] mà luống chịu luân hồi, mắc
trong phép chẳng thoát mà tự chịu cột trói. Như tằm xuân
làm kén, như đóm thu lao đèn. Ðem tơ vọng tưởng của hai
kiến mà buộc lấy nghiệp chất của khổ thân, dùng cánh
tham ái của vô minh mà vác lấy xe lửa của sinh tử. Lại
có đám gốc tà giống ngoại, tiểu trí quyền cơ, chẳng hiểu
bình nguyên của sinh tử, chẳng biết gốc thấy của ngã nhân,
chỉ muốn ép lời bài báng, phá tướng bẻ đời. Tuy bảo
rằng nếm mùi tịnh, lặng hiểu không, mà chẳng hay mình vùi
chân lý, cự giác ngộ. Giống như kẻ chẳng rõ được nét
đỏ xanh trong mắt mình, mà chỉ muốn dập tắt ánh kép trên
cây đèn, chẳng [29a1] rõ hết thân huyễn của thức nội mà
luống tránh bóng giả của mặt trời. Ðó là mệt mình nhọc
trí, mất sức tốn công, chẳng khác đổ nước giúp băng,
chụm củi thêm lửa. Chúng há biết ánh kép là tại màu xanh,
bóng giả là theo thân chúng, trừ mắt bệnh thì ánh kép tự
tiêu, bỏ thân huyễn thì bóng giả sẽ diệt. Nếu hay soi rọi
về mình, bỏ cảnh quán tâm thì mắt Phật sáng rõ mà bóng
nghiệp tiêu trơn, pháp thân hiện ra mà vết trần dứt tuyệt.
Ðem kiếm trí của tự giác mà mở lấy ngọc tâm bị trói
chặt ở trong, dùng gươm tuệ của một niệm mà chặt đứt
lưới kiến tại cõi đời tạm bợ. Ðấy thực là ý chỉ
của việc thấu tới [29b1] tâm mình, và lời nói của việc
với đến thức lý". (V4)
Lại
nói : "Trí năng chiếu vốn không. Cảnh sở duyên cũng vắng.
Vắng mà chẳng vắng, bởi người không thể vắng. Chiếu
mà không chiếu bởi cảnh không chỗ chiếu. Cảnh và trí đều
vắng thì tâm ý an nhiên. Ðó mới là đường lối cốt yếu
của việc trở về nguồn. (V5)
Lại
nói : "vắng lặng sinh vô ký. Tỉnh táo sinh loạn tưởng. Vắng
lặng tuy có thể trị loạn tưởng nhưng lại sinh ra vô ký.
Tỉnh táo tuy có thể trị được vô ký nhưng lại sinh ra loạn
tưởng. Cho nên nói : Tỉnh tỉnh, vắng vắng mà vô ký thì
chẳng phải là vắng vắng. Vắng vắng, [30a1] tỉnh tỉnh mà
loạn tưởng thì chẳng phải là tỉnh tỉnh". (V6)
Lại
nói : "Người phàm phần nhiều vì sự mà ngại lý, vì cảnh
mà ngại tâm, thường muốn trốn cảnh để an tâm, bỏ sự
mà giữ lý. Họ chẳng biết đó là tâm ngại cảnh, lý ngại
sự. Chỉ khi khiến cho tâm không thì cảnh tự nó không, lý
lặng thì sự tự nó lặng, chớ làm đảo ngược tự tâm
mình". (V7)
Lại
nói :
Thân
dối đến gương soi bóng,
Bóng
cùng thân dối chẳng sai.
Chỉ
muốn bỏ bóng giữ dối,
Thân
giả vốn nó chẳng hay.
Thân
vốn cùng bóng chẳng khác,
Không
được một có một không,
Nếu
muốn giữ một bỏ một,
[30b1]
Mãi xa chân lý muôn trùng.
Nếu
lạighét phàmyêu thánh,
Biển
cả sanh tử nổi trôi.
Phiền
não do tâm mà có,
Không
tâm phiền não đâu nơi.
Chẳng
nhập phân biệt tướng thủ,
Tự
nhiên đắc đạo phút giây. (16)
Lại
nói :
Biết
được báu trong áo,
Vô
minh say tỉnh liền,
Trăm
xác tuy tan nát,
Một
vật mãi giữ linh.
Biết
cảnh chẳng phải thể,
Thần
châu đâu định hình,
Ngộ
thì ba thân Phật,
Mê
si muôn quyển kinh.
Ở
tâm, tâm đo được,
Qua
tay, tay khôn minh.
Võng
tượng trước trời đất,
Huyền
tuyền tự mông mênh.
Nguyên
sạch đâu cần lọc,
Vốn
cứng [31a1] chẳng trui rèn.
Trời
mai sáng bàng bạc,
Sao
sớm ánh lung linh.
Sáng
lành tuôn chẳng mất,
Chân
khí đụng lại sinh.
Hang
hóc soi chiếu khắp,
Cõi
pháp bao sáng tinh,
Hiểu
lời chẳng nhờ lưỡi,
Nói
được đâu phải thanh.
Hết
bờ càng rộng rãi,
Không
ngăn thảy trống bình.
Thấy
trăng đâu xem ngón,
Về
nhà hết hỏi đàng.
Biết
tâm, tâm là Phật,
Phật
đâu lại có thành. (17)
Lại
nói : "Pháp thân vô tướng không thể đem âm thanh mà tìm.
Ðạo mầu không lời, không thể đem văn tự mà hiểu. Giả
như vượt Phật siêu tổ, cũng còn rơi vào bậc cấp. [31b1]
Dẫu cho nói diệu bàn huyền, rốt cuộc cũng mắc vào răng
lưỡi. Chỉ cần phải công huân không phạm, bóng vết chẳng
lưu, cây khô hang lạnh, lại không thấm chút ấm tươi. Người
huyễn ngựa cây, tình thức đều trống vắng, mới hay thọc
tay vào chợ, thân chuyển các loài. Há chẳng từng nói :
Vô
lậu nước kia lưu chẳng ở
Lại
tìm ổ khói cát lạnh nằm". (V8)
Lại
nói : "Nếu đem biết mà biết sự vắng lặng, thì đó chẳng
phải là cái biết vô duyên, giống như tay cầm cây như ý
thì chẳng phải tay không có cây như ý. Nếu đem cái tự biết
mà biết, thì cũng chẳng phải cái biết vô duyên, giống như
tay tự nắm lại thì chẳng phải là tay không nắm lại. Cũng
chẳng phải biết vắng lặng là vắng lặng, cũng [32a1] chẳng
phải biết biết là biết, không thể vì vậy mà không biết.
Tự tánh rõ vậy nên không giống với gỗ đá. Tay không cầm
cây như ý, cũng không tự nắm lại, thì không thể vì vậy
mà không tay, vì tay đã mặc nhiên có, nên không giống với
sừng thỏ. Thời gian trước không có phiền não có thể bỏ.
Thời gian giữa không có tự tính có thể giữ. Thời gian sau
không có Phật có thể thành, đó gọi là 3 thời gian đã cắt
đứt. Ðó gọi là 3 nghiệp đã mát mẻ". (V9)
Lại
nói :"Ta một khi đã nêu tâm lên, thì nó thuộc về quá khứ.
Tâm ta chưa dấy lên mới gọi là vị lai. Chẳng phải tâm
vị lai tức là tâm quá khứ, tâm hiện tại lại ở [32b1]
nơi nào. Kẻ học biết mỗi ý niệm vừa dấy thì rõ ràng
không thể nắm được, đó gọi là quá khứ Phật. Quá khứ
không có, vị lai cũng không , đó là vị lai Phật. Liền nay,
niệm niệm không dừng, đó là hiện tại Phật. Niệm niệm
tương ưng, tức niệm niệm thành Phật, đó là pháp môn phương
tiện tối sơ".(V10)
Lại
nói :"Lúc mặt trời lên, sáng khắp cả thiên hạ, thì hư
không chưa từng sáng. Lúc mặt trời lặn, tối khắp cả thiên
hạ, thì hư không chưa từng tối. Cảnh sáng tối tự chúng
xâm đoạt lẫn nhau, còn tính hư không thì rỗng không tự
nhiên. Tâm Phật và chúng sinh [33a1] cũng như vậy. Nếu quán
Phật mà dấy lên cái tướng quang minh thanh tịnh, và quán
chúng sinh mà dấy lên cái tướng tối tăm ô trọc thì trải
hằng hà sa kiếp, rốt cuộc cũng không chứng được bồ đề".(V11)
Lại
nói :"Ba đời các Ðức Phật hết thảy ở tại trong thân
của chính mình. Nhân vì tập khí làm tối tăm, cảnh vật
làm xoay chuyển bèn tự lầm lạc đó thôi. Nếu đối với
tâm mà vô tâm thì đó là Phật quá khứ. Nếu mình lặng vắng
bất động, thì đó là Phật vị lai. Nếu tùy cơ ứng vật,
thì đó là Phật hiện tại. Nếu thanh tịnh không nhiễm, thì
đó là Phật ly cấu. Nếu ra vào không trở ngại, thì đó
là Phật thần thông. Chỗ nào cũng thoải mái, đó là Phật
tự tại.[33b1] Nếu nhất tâm không tối, đó là Phật quang
minh. Nếu niệm đạo kiên cố, đó là Phật bất hoại. Phật
biến hoá nhiều cách, chỉ là một sự thật mà thôi".(V12)
Lại
nói :"Diễn Nhã Ðạt Ða giữ bóng quên đầu. Há chẳng phải
vác đầu mà đi tìm đầu sao? Chính lúc mê, thì đâu cũng
không mất. Ðến khi ngộ rồi cũng không vì thế mà được.
Vì sao thế? Người mê, thì gọi là mất, người ngộ thì
gọi là được. Ðược và mất là ở tại con người, có
liên quan gì đến động và tĩnh".(V13)
Lại
nói :"Chí đạo vốn ở tâm mình. Tâm pháp vốn ở vô trụ.
Tâm thể vô trụ [34a1] tính tướng vắng lặng, chẳng phải
có chẳng phải không, không sinh không diệt. Tìm nó thì chẳng
được, bỏ nó cũng chẳng rời. Mê hiện lượng hoặc khổ
rối lên. Ngộ chân tính sáng rộng thấu triệt. Tuy tức tâm
tức Phật, chỉ người chứng mới biết. Nhưng có chứng có
tri, thì mặt trời trí tuệ bị chìm mất vào nơi đất hữu.
Nếu không soi không ngộ, thì mây ám che khuất cửa không.
Chỉ một niệm không sinh, thì thời gian trước sau cắt đứt,
chiếu thể độc lập, vật ta như nhiên. Mê và ngộ còn dựa
vào chân và vọng đối nhau. Nếu tìm chân bỏ vọng thì cũng
như bỏ bóng làm nhọc hình.[34b1] Nếu hiểu vọng là chơn,
thì giống như chỗ có im thì bóng dứt. Nếu vô tâm mà soi
vọng, thì ý vọng đều bỏ. Nếu tuỳ lúc mà lặng biết,
thì mọi hạnh đều dấy lên. Vì thế, hiểu tịch là không
tịch, biết thiệt là không biết, vì biết và lặng là một
tâm không hai, hiểu lẽ màu của không và hữu cùng dung hợp.
Chẳng trụ chẳng trước, chẳng nhiếp chẳng thu, phải trái
đều quên, năng và sở thảy dứt. Khi sự dứt này cũng vắng
lặng, thì bát nhã hiện tiền, tâm tâm làm Phật, không một
tâm nào là chẳng phải tâm Phật. Chốn chốn thành đạo,
chẳng phải một cõi trần nào mà chẳng phải nước Phật,
cho nên chân và vọng, vật và ta, nêu một mà thu hết [35a1],
tâm Phật và chúng sanh đều cùng về một chỗ. Cho nên biết
mê thì con người tuỳ theo các pháp, mà các pháp thì muôn
khác nên con người không giống nhau. Còn ngộ thì pháp tùy
theo con người, người người nhất trí mà dung hợp được
muôn cảnh. Lời hết nghĩ dứt, thì quả nào nhân nào nữa.
Thể vốn vắng lặng, thì ai giống ai khác. Chỉ quên mang sự
trống sáng, tiêu và tức dung hợp nhau, thì nó cũng như bóng
trăng xuyên nước, tuy dối mà có thể thấy. Vô tâm soi cảnh
tượng thì sáng rọi mà vẫn thường rỗng không".[14]
Cứ
đạo mà bàn thì nói cũng không được, im cũng không được.
Dù nói và im [35b1] đều quên, cũng không ăn nhằm nhau. Vì
sao? Phật xưa quang minh, tiên đức phong nhã, mỗi mỗi từ
trong vô dục, vô y mà phát hiện. Hoặc có lúc một mình ngất
ngểu nổi lên, mà rốt cuộc không thể nổi. Hoặc có lúc
hàm dung hỗn hợp, rõ không chỗ thấy, mà rốt cuộc không
định chắc vào một chỗ, cũng không cột nối vào hai đầu.
Không đúng, không phải không đúng. Không sai, không phải không
sai. Ðược cũng không có chỗ được. Mất cũng không có chỗ
mất. Không từng vượt cách tơ hào. Không từng dời đổi
tơ tóc. Sáng tỏ đường xưa, không thuộc huyền vi, thấy
mặt dơ lên, thoáng chốc liền qua. Không ở ngôi chính, há
rớt [36a1] đường tà. Không đi đại lộ, sao lọt hẻm nhỏ,
quay đầu không gặp, đụng mắt không thấy. Một niệm trông
khắp, bỗng nhiên trống vắng. Ðiểm tông yếu này, ngàn thánh
không truyền. Nhắm thẳng biết rõ thì siêu vượt ngay tại
chỗ. Thế mới biết sạch sành sanh ở đâu là dễ, rõ rành
rành ở đâu lại khó. Nếu thế, tay chân phận mình vứt đi,
không thu mà không đến, mỗi mỗi toả sáng hiện lành, mỗi
mỗi xoá vết dứt dâú, căn cơ rõ chẳng dừng, nói năng không
thể lộ, triệt để nắm chặt không hở, khắp mình đánh
không nát. Rốt ráo, nó là cái gì, [36a1] được cái linh thông
gì, được cái kỳ lại gì? Này, quý thầy, đừng đòi biết
mặt mũi nó, không cần đặt tên chữ nó, cũng đừng tìm
nơi nó ở. Vì sao? Nó không có chỗ ở, nó không có tên chữ,
nó không có mặt mũi. Mới dấy lên ý niệm truy tìm thì đã
cách xa mười đời năm kiếp. Chẳng bằng để cho nó tự
do, cần đi thì đi, cần ở thì ở, tức là thiên nhiên mà
chẳng phải thiên nhiên, tức là như như mà chẳng phải như
như, tức là trống vắng mà chẳng phải trống vắng, tức
là bại hoại mà chẳng phải bại hoại. Nó không tham sống,
không sợ chết, không cầu Phật, không sợ ma, không cùng bồ
đề gặp gỡ, không [37a1] cùng phiền não ở chung, không nhận
một pháp, không ghét một pháp, không có mặt, cũng chẳng
không có mặt, không rời bỏ, cũng chẳng không rời bỏ. Nếu
có thể thấy được như vậy thì Ðức Thích Ca là tự đức
Thích Ca, đức Ðạt Mạ là tự đức Ðạt Mạ. (V15)
Lại
nói :"Tám vạn bốn ngàn pháp môn ba la mật, pháp môn nào cũng
mở rộng ba ngàn đại thiên vi trần các đức Phật. Phật
Phật thuyết pháp, không nói có, không nói không, không nói
chẳng có chẳng không, không nói cũng có cũng không. Vì sao?
Rời
bốn cú, dứt trăm sai
Gặp
nhau đưa mắt ít người hay
Hôm
qua sương gió [37b1] tin tức lậu
Cành
buốt như xưa điểm đoá mai (18)
Lại
một hôm tổ sư thong thả ngâm bài kệ thị chúng :
Hết
thảy vô tâm, tự tính giới
Hết
thảy vô ngại, tự tính tuệ
Không
thêm không bớt tự kim cương
Thân
đến thân đi vốn tam muội (19)
Lại
có kệ :
Chẳng
thâý một pháp, còn không thấy
Rất
giống mặt trời, mây che đến
Chẳng
biết một pháp, giữ biết suông
Lại
như hư không, lóe chớp điện
Thoáng
chốc thấy biết ấy nổi lên
Nhận
lầm sao từng hiểu phương tiện
[38a1]
Ngươi nên một niệm tự biết sai
Chính
mình sáng thiêng thường hiển hiện (20)
Lại
có kệ :
Thấy,
nghe, biết, hiểu không chướng ngại
Tiếng,
hương, mùi, xúc thường tam muội
Như
chim giữa trời chỉ tự bay
Chẳng
thủ, chẳng xả, chẳng tăng ái
Nếu
hay ứng xử vốn vô tâm
Mới
được tên là Quán Tự Tại (21)
Lại
có kệ :
Vượn
lẻ gọi rơi trăng giữa lèn
Khách
quê ngâm hết cả đèn đêm
Cảnh
này lúc ấy ai hay được
Mây
trắng nơi sâu sư tọa thiền (22)
Lại
có kệ :
Hết
học vô vi khỏe đạo nhân
Chẳng
trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân
[38b1]
Vô minh thật tính tức Phật tính
Huyễn
hoá thân không, ấy pháp thân (23)
Thân
pháp hiểu rồi không một vật
Bản
nguyên tự tính thiên chân Phật
Năm
ấm mây trôi suông đến đi
Ba
độc bọt xao dối lặn mọc (24)
Lại
có kệ :
Hiểu
tâm dung dị khó dứt tâm
Dứt
được nguồn tâm, đâu cũng nhàn
Sao
đêm chuyển đổi, trời mong sáng
Mây
trắng như xưa, che núi xanh (25)
Lại
có kệ :
Người
ngu trừ cảnh chẳng trừ tâm
Kẻ
trí trừ tâm không dứt cảnh
Ðâu
hay tâm cảnh vốn như như
Ðụng
mắt gặp duyên thường trấn định (26)