PHẦN
HAI
CÁC
TÁC PHẨM
GIỚI
THIỆU
HƯƠNG
HẢI THIỀN SƯ NGỮ LỤC
Ðúng
ra trong Minh Châu Hương Hải toàn tập này, chúng tôi không
đưa Hương Hải thiền sư ngữ lục vào, bởi vì, tự bản
thân, nó không phải là một tác phẩm của Minh Châu Hương
Hải. Tuy nhiên, những gì ta biết ngày nay về Minh Châu Hương
Hải, thậm chí những hiểu biết sai lầm về thơ văn mà từ
thời Lê Quý Ðôn trở đi đã gặp phải, đều xuất phát
từ tác phẩm ấy. Do thế chúng tôi đề nghị cho sơ bộ tìm
hiểu và dịch lại toàn bộ văn bản Hương Hải thiền sư
ngữ lục để làm tài liệu nghiên cứu cho những ai quan tâm
đến Minh Châu Hương Hải .
I.TÌNH
TRẠNG VĂN BẢN
Bản
chúng ta hiện có ngày nay là bản in năm Cảnh Hưng thứ 8,
Ðinh Mão (1747) khổ 27*17, gồm 46 tờ, mỗi tờ 2 trang a và
b, mỗi trang 7 dòng, mỗi dòng 32 chữ, trừ những dòng có in
thơ thì số chữ ít hơn, mỗi dòng có thể từ 10 đến 14
chữ tùy theo thể thơ. Chữ khắc đẹp, rõ nét, dễ đọc,
bản chúng tôi hiện sở hữu sau tờ 1 chép bài tựa, thì tờ
2 đã rách mất hoàn toàn. Tờ cuối cùng là tờ 46 nhưng căn
cứ văn mạch thì chắc chắn phải còn thêm một vài tờ nữa,
điều này có nghĩa tình trạng nguyên bản nó không phải chỉ
có 46 tờ như tahiện sở hữu mà phải có số tờ hơn thế,
suy nghĩ này của chúng tôi là hoàn toàn xác đáng vì chúng
tôi có một bản chép tay, không biết do ai chép và chép vào
lúc nào, có số tờ dòng y như bản in nghĩa là tờ thứ 2
vẫn bị rách mất, nhưng tờ cuối cùng thì sau tờ 46 lại
có trang a của tờ 47 và chép nối thêm một đoạn ghi việc
thượng tọa phương trượng đại hoà thượng dựng tháp và
cúng kỵ Minh Châu Hương Hải, trang này còn chép thêm việc
vào mùa đông năm Dần (có thể là năm giáp Dần 1734) thượng
tọa phương trượng đã tham dự vào việc khảo thí chư tăng.
Ai
đứng in bản in này ta không thấy ghi rõ tên tuổi, chỉ ghi
một cách mơ hồ là tự pháp soạn thuật, căn cứ vào bản
danh sách những người tự pháp ghi ở tờ 21a3-4 thì có khả
năng thiền sư Chân Lý Hiển Mật, người được nhà nước
thời bấy giờ ban tặng cho mỹ hiệu Viên Thông phương trượng
đại hoà thượng, đứng ra thực hiện. Chân lý Hiển Mật
đứng ra in bản Hương Hải thiền sư ngữ lục này thì cũng
đúng thôi, bởi vì ông là vị đệ tử đầu tay của Minh
Châu Hương Hải. Song lời tựa viết cho lần in này có nội
dung quá tổng quát, hâù như không đề cập gì đến Minh Châu
Hương Hải, nó chỉ nói tới Phật giáo bắt nguồn từ Ấn
độ rồi truyền qua Trung quốc vào thời Hán Minh đế, rồi
tới nước ta mà thỉ tổ theo nó là Tuệ Trung, rồi các vua
Trần như Trần Nhân Tông v.v…mà không có bất cứ một câu
nói xa gần gì đến vị thầy của mình .
Tuy
nhiên, nếu đọc kỹ hơn chính nội dung của Hương Hải thiền
sư Ngữ lục, ta thấy từ hàng chữ Như trở xuống, và đặc
biệt là từ hàng chữ Tính và chữ Hải, các môn đồ cháu
chắt của Minh Châu Hương Hải mới có ghi việc cúng bảng
gỗ hoặc cúng tiền để khắc kinh, còn hàng chữ Chân trở
lên thì không thấy ghi có ai cúng gì cả. Ðiều này có nghĩa
các đệ tử có tên tuổi vào hàng chữ Chân của Minh Châu
Hương Hải đến thời điểm in bản ngữ lục này, tức năm
Cảnh Hưng thứ 8 Ðinh mão (1747) đã viên tịch, nên đã không
tham gia vào việc hỗ trợ việc
in khắc, thực tế ngay đối
với hàng chữ Như thì trong số 24 người được ghi trên,
chỉ thấy ghi 6 người có cúng bảng gỗ. Ðến hàng chữ Tính
có 25 người thì có đến 14 người cúng bảng gỗ hoặc tiền,
đến hàng chữ Hải thì hầu hết môn đồ đều có cúng bảng
gỗ. Nói khác đi, khi khắc ván Hương Hải thiền sư ngữ lục,
thì chủ yếu thuộc lớp môn đồ còn sống thuộc về chữ
Như, chữ Tính và chữ Hải .
Vậy
người viết bài tựa và đứng ra in Hương Hải thiền sư
ngữ lục phải là Như Nguyệt Hoa Quang, hơn là Chân Lý Hiển
Mật, mà vào lúc này (tức năm 1747) đã viên tịch. Chứng
cớ cho một kết luận như thế nằm ngay trong một nội dung
của chính Hương Hải thiền sư ngữ lục. Ở tờ 15b4-5 phần
5 về Dẫn xuất trụ trì khai sáng Nguyệt Ðường tự ký,
khi mô tả về qui mô chùa Nguyệt Ðường, nó ghi nhận "có
bảo tháp tổ sư bên trái cao 21 thước, lại có bảo tháp
tôn sư bên phải cao 25 thước, hai tháp đều có sư tử hai
bên bằng đá". Hai từ tổ sư và tôn sư dùng ở đây chỉ
cho ai? Rõ ràng chúng không thể chỉ ai khác hơn là Minh Châu
Hương Hải và Chân Lý Hiển Mật, bởi vì sách đó thường
dùng chữ tổ sư để chỉ cho Minh Châu Hương Hải, nên tôn
sư không thể chỉ ai ngoài Chân Lý Hiển Mật được. Nói
khác đi, Chân Lý đã viên tịch và được xây bảo tháp, khi
in Hương Hải thiền sư ngữ lục, để có thể ghi lại. điều
này có nghĩa Chân Lý đã mất vào trước năm 1747 .
Về
tên gọi bản in mà chúng tôi sở hữu, trang bìa đã mất nên
không biết từ nguyên ủy có nhan đề làgì. Tuy nhiên trên
gáy sách của tất cả các trang đều ghi Hương Hải thiền
sư ngữ lục, do thế, ta có thể nói tác phẩm của lần in
này có nhan đề ấy .
II.VỀ
TÁC GIẢ VÀ NIÊN ÐẠI
Bản
in chúng ta hiện có vì trang đầu và những trang cuối đều
mất, nên ta không biết trong lần in năm 1747 này có ghi tên
ai là tác giả của Hương Hải thiền sư ngữ lục hay không.
Dẫu thế căn cứ vào cuối lời tựa ghi là tự pháp sọan
thuật thì có khả năng bài tựa này phải là hoặc do Chân
Lý Hiển Mật, hoặc do Như Nguyệt Hoa Quang viết. Chúng ta giả
thiết có thể là do Chân Lý Hiển Mật bởi vì tác phẩm của
Minh Châu Hương Hải hiện tìm thấy, tất cả đều ghi là
do Chân Lý soạn thuật như Giải Kim Cang kinh lý nghĩa, hay không
thuật như Giải Di Ðà kinh và Giải Tâm kinh ngũ chỉ. Dù vậy,
vì việc cúng bảng gỗ và tiền cho việc in khắc Hương hải
thiền sư ngữ lục lại thuộc lớp môn đồ có pháp danh bắt
đầu với chữ Như trở đi, nên ta có thể nghĩ hai chữ tự
pháp ghi trong lời tựa không phải chỉ Chân Lý Hiển Mật,
mà thực tế nó chỉ Như Nguyệt Hoa Quang, người đã kế thừa
Minh Châu Hương Hải và Chân Lý Hiển Mật để làm trụ trì
chùa Nguyệt Ðường. Vì vậy,khi ghi tự pháp soạn thuật mà
không ghi rõ tên, pháp danh hay pháp tự, điều này có nghĩa
ai cũng biến pháp tự của Minh Châu Hương Hải là ai, nên
mới không cần ghi rõ như thế, đây là lý do thứ hai để
cho phép ta nghĩ rằng người đứng ra viết Hương Hải thiền
sư ngữ lục không ai khác hơn là Như Nguyệt Hoa Quang .
Dù
là Chân Lý Hiển Mật hay Như Nguyệt Hoa Quang đã viết Hương
Hải thiền sư ngữ lục, thì điều đáng tiếc là lai lịch
và tiểu sử của hai vị thiền sư này ngày nay vẫn chưa được
làm sáng tỏ. Về Chân Lý Hiển Mật, hiện tại ngôi tháp
cổ của ông đã được tìm thấy, và bên ngoài chỉ đề
Phương trượng tháp, còn bên trong thì có tấm bia chỉ có
một dòng khắc tên đạo của ông mà thôi. Trong Giải Tâm
kinh ngũ chỉ có ghi một tên khác của Chân Lý Hiển Mật,
đó là Chân Lý Nhân Triều, vậy thì ngoài pháp tự Hiển Mật,
Chân Lý còn có tên là Nhân Triều. Trong Giải Kim cương kinh
lý nghĩa có ghi thêm chức vụ tăng thống của Chân Lý, tức
Sa môn tăng thống tự Chân Lý soạn thuật. Ðấy là tất cả
những gì chúng ta hiện biết về người cao đệ này của
Minh Châu Hương Hải, người đã giữ trách nhiệm truyền lại
cho chúng ta bản thích giải bằng tiếng Việt hiện có. Còn
về niên đại, thì vì Hương Hải thiền sư ngữ lục in vào
năm 1747 ta không thể chắc chắn ông đã sống tới những
năm đó vì đã gần cả trăm tuổi, do việc có khả năng ông
là một trong những người đã theo Hương Hải từ miền Nam
vượt biển ra Bắc vào năm 1682. Dựa vào sự kiện ông đã
soạn thuật, tức biên chép lại những lời giảng của Minh
Châu Hương Hải ta có thể giả thuyết ông là người tương
đối có kiến thức rộng rãi về chữ Hán và chữ Nôm. Chỉ
có điều nếu ông có một kiến thức chữ nghĩa rộng rãi
cỡ đó, tại sao Hương Hải thiền sư ngữ lục lại gồm
một số thơ kệ và trích văn của những thiền sư Trung quốc
và gắn lên tên tuổi của Minh Châu Hương Hải, để ngày
hôm nay ta phải tốn công sưu tra về xuất xứ của chúng,
thế đã rõ, không có việc Chân Lý Hiển Mật tham gia vào
việc viết hay in tác phẩm ấy .
Dù
ở trường hợp nào, thì ta không thể nghĩ Chân Lý Hiển Mật
đã sống tới những năm đó, tức năm 1747. Ngược lại, nếu
giả thiết Như Nguyệt Hoa Quang viết Hương Hải thiền sư
ngữ lục, thì điều này có khả năng hơn nhiều. Bởi vì
Kiến văn tiểu lục 9 tờ 33b3-34a4 của Lê quý Ðôn có chép
về chuyện lạ trong việc mở rộng chùa Nguyệt Ðường vào
năm 1724-1725 liên quan đến Như Nguyệt Hoa Quang nhưng không
ghi Như Nguyệt lúc ấy đã mất hay chưa. Ta biết Lê Quý Ðôn
viết Kiến văn tiểu lục xong vào năm Cảnh Hưng thứ 38, Ðinh
dậu (1777). Nhưng tác phẩm này là một tích lũy lâu dài những
tư liệu trước đó. cho nên những ghi chép về Như Nguyệt
Hoa Quang có thể được ông thực hiện vào những năm 1747,
năm in Hương Hải thiền sư ngữ lục, dẫu sao về Như Nguyệt
Hoa Quang ta cũng không có những chi tiết gì cụ thể hơn ngoài
những thông tin vừa nêu trên .
III.PHÂN
TÍCH NỘI DUNG
Hương
Hải thiền sư ngữ lục hiện nay ngoài bài tựa ra, nội dung
được chia làm bảy phần với những đề mục như sau :
-(Ðã
mất)
-(Ðã
mất)
-Thừa
dẫn kiến, Quảng chúa thích sàm, truyền sư hồi bản quán
cựu xứ ký đệ tam
-Xuất
ngoại cảnh, cận trấn sở kiến Thiền tịnh viện kỵ đệ
tứ .
-Xuất
trú trì khai sáng Nguyệt đường tự ký đệ ngũ
-Khai
thị ngộ nhập đắc lương duyên, truyền thọ ấn chứng ký
đệ lục .
-Tổ
sư đương bát thập bát, chúc niết bàn ký đệ thất .
Ðó
là sự phân chia nội dung của chính Hương Hải thiền sư ngữ
lục, vì tờ 2 bị mất nên nhan đề của hai phần đầu ngày
nay ta không biết có tên thế nào, năm phần còn lại có tên
như đã ghi. Không biết sau phần bảy còn có phần nào nữa
không, vì bản in chúng tôi sở hữu sau tờ 46 không còn một
tờ nào nữa. riêng bản chép tay thì cũng chỉ còn được
một mặt a và không có dâú hiệu gì giúp ta giả thiết còn
một phần nào nữa. Dù bị thất thoát một số tờ như thế,
nội dung của Hương Hải thiền sư ngữ lục tương đối đầy
đủ và phong phú hơn, so với bất cứ một bản tiểu sử
các thiền sư nào mà ta hiện biết như Từ quang tự sa môn
Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm thiền sư nhân do sự
tích chí .
Dẫu
hai phần đầu bị mất, song nhờ Lê Quý Ðôn có tóm tắt
lại trong Kiến văn tiểu lục 9 tờ 21b3-22a6, ta biết tương
đối khá rõ lai lịch gia đình của Minh Châu Hương Hải và
giai đoạn đầu cuộc đời tu hành của ông. Ðây là 2 phần
nói về Hương Hải có tổ tiên là Hùng quận công, người
hương Áng Ðộ, huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An ngày nay. Thiền
sư thông minh từ bé, năm 18 tuổi đã đỗ hương tiến, được
bổ làm tri phủ Triệu Phong, năm sư 25 tuổi tức năm 1652 đến
thụ giáo với thiền sư Lục Hồ Viên Cảnh và được pháp
danh là Minh Châu Hương Hải, pháp hiệu là Huyền Cơ Thiện
Giác, sau đó lại đến tham học tiếp với thiền sư Ðại
Thâm Viên Khoan, rồi thì từ quan và đi xuất gia, vượt biển
đến Cù lao Chàm, xưa gọi là Tiêm Bút la, dựng am tu hành.
Ma quỷ đến phá nhưng sư vẫn kiên trì không thay đổi. Phần
tờ 1 bị mất có lẽ có nội dung như Lê Quý Ðôn đã ghi
mà ta vừa tóm tắt, những biến cố còn lại của phần 2,
tức các tờ 3,4, 5, 6 và 7 trong Hương Hải thiền sư ngữ lục,
Lê Quý Ðôn cũng tóm tắt lại trong Kiến văn tiểu lục tương
đối trung thành, chỉ loại bớt những câu và chữ không cần
thiết.
Những
biến cố ấy được mô tả như vào một đêm lúc canh hai,
môn đồ của Minh Châu Hương Hải đã thấy ma hiện đến
đứng giữa sân, rồi canh ba thấy có rắn lớn đi quanh thân
thể của sư, tiếp theo những sự việc như đang giữa ban
ngày mà mây đen kéo mịt, gió lớn nổi lên. Ban đêm nghe tiếng
hằng muôn con mèo kêu khắp rừng, ma quỷ lại hiện đến,
Sư nhờ trì chú niệm kinh mà ma cảnh đều biến mất. Sau
đó sư nghĩ đến việc trở lại quê mình ở xã Bình An Thượng,
phủ Thăng Hoa, xứ Quảng Nam, nhưng mới về được hơn 10
ngày thì có người Mán đến thỉnh cầu sư trở lại am cũ,
sư đồng ý và trở lại đảo Tiêm bút la. Ở được 8 năm,
tiếng tăm sư nổi lên cả nước. quan trấn thủ Quảng Nam
là Thuần quận công có vợ đau lâu ngày không bớt, nhờ sư
đọc chú trì kinh thì bệnh vừa thuyên giảm, tiếng lành đồn
xa, bạn của Thuần quận công là Hoa Lễ Hầu cũng lâm bệnh
đã 3 năm, lại nhờ sư tụng kinh trì chú chữa khỏi, chỉ
trong 10 ngày "thân thể tráng kiện như xưa". Rồi thông qua
Hoa Lễ Hầu, Dũng quận công Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) đã
mời tới Huế giúp nước, cho ở tại viện Thiền tịnh, núi
Qui Thái. Mẹ của Dũng quận công đã quy y với sư cùng 3 người
con là Nguyễn Phúc Mỹ, Nguyễn Hiệp Ðức và Nguyễn Phúc
Tộ, đoạn này Lê Quý Ðôn tóm tắt hoàn toàn thống nhất
với những gì vừa ghi ở trên .
Qua
đến phần 3 kể lại việc thừa lệnh dẫn gặp chúa Hiền,
tức Nguyễn Phúc Tần và việc chúa Hiền nghe những lời sàm
tấu đã buộc sư trở về lại Quảng Nam, từ đó sư có ý
định trở ra miền Bắc, ấy là vào tháng 3 năm Nhâm tuất
(1682). Ðến Vinh ông gặp Yến quận công Trịnh Ðiềm, sau
khi điều tra sơ bộ, do lệnh của Trịnh Tạc (1653-1682) đã
chuyển về Ðông đô giao cho Lê Hy điều tra thêm. Sau khi đã
xác minh đúng đắn sự việc, bèn cấp tiền lương cho sư
và cuối cùng cho về ở tại trấn Sơn Nam do Tước quận công
Lê Ðình Kiên quản lý, ấy là lúc sư đã 55 tuổi .
Phần
thứ 4 viết lại chuyện dựng Thiền tịnh viện để thờ
Phật tụng kinh. Chính trong phần này Hương Hải thiền sư
ngữ lục đã ghi tên 20 tác phẩm mà Minh Châu Hương Hải đã
thích giải bằng tiếng Việt cùng các khoa nghi cúng Phật và
cúng Dược Sư .
Phần
5 mô tả việc sư xây dựng chùa Nguyệt Ðường vào năm Canh
Thìn (1697), lúc ông đã 70 tuổi. Chùa này do cung tần Nguyễn
thị Ngọc Hân dựng và mời sư đến trú trì và trùng tu lại.
Chùa gồm có thượng điện 3 gian 2 chái, thờ 9 pho tượng
tam thế toàn bằng vàng và một số các tượng khác như tượng
Tứ Ðại Thiên Vương. Rồi dựng lại tiền đường hai toà
mỗi toà 5 gian thờ tượng Ðịa Tạng và tượng Di Lặc và
một tượng Tề Thiên Ðại Thánh cùng hai tướng Hộ Pháp.
Tiếp theo dựng lại hậu đường gồm 2 toà mỗi toà 5 gian
có thờ tượng 18 La Hán và tượng Chuẩn Ðề 3 mắt 18 tay
và một số tượng khác nữa. Rồi có tả vu hữu lang xây
bằng gạch có 9 gian treo các tượng Phật và Bồ tát, bên
ngoài chùa có đài Cửu phẩm liên hoa và các tượng Hộ pháp,
rồi phía đông bắc có nhà bếp, tây nam có tàng kinh các,
rồi các tăng phòng gồm 7 toà vây bọc, lại có tổ đường
và vùng bảo tháp của tổ sư và tôn sư. Phía trước lộ
có tam quan, bên trái có lầu chuông, trên treo đại hồng chung
cỡ nhỏ, và dưới treo đại hồng chung cỡ lớn. Bên phải
có lầu trống, toàn cảnh chùa đều trồng cây cỏ và hoa
đẹp. Chính tại ngôi chùa này Lê Dụ Tông đã mời sư lập
đàn cầu thai, và cũng ở đây Lê Dụ Tông đã hỏi sư về
thiền lý mà câu nổi tiếng thường hay được trích dẫn
đó là :"Ý Phật và ý tổ là như thế nào", để trả lời
sư dùng lại bài thơ "Nhạn quá trường không" của Thiên Y
Nghĩa Hoài. Lúc này tức năm Giáp ngọ (1714), sư đã 87 tuổi.
Trịnh Cương đã tặng cho sư bài thơ Nôm, và Ðặng Ðình
Tướng cũng đã đến thăm chùa và tặng thơ bằng chữ Nho
cùng bài thơ đáp lại của sư mà ta đã dẫn trên. Cũng trong
phần này đã ghi lại cuộc tranh luận của sư với ba Giáo
sĩ Thiên chúa giáo do Ðặng Ðình Tướng tổ chức và kết
quả là có lệnh cấm đạo .
Phần
6 ghi lại tên tuổi các môn đồ và pháp phái của sư gồm
một danh sách gần 100 người, cùng một loạt các bài thơ
kệ và trích văn, tương truyền là do sư "nhàn đàm thị chúng".
Nhưng hầu như toàn bộ thơ văn này là các trích dẫn từ
các tác phẩm thiền tông Trung quốc, như chúng tôi đã chứng
minh trong phần nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Minh
Châu Hương Hải ở trên .
Phần
7 ghi lại những lời trăn trối vào những ngày cuối cùng
của sư, và đến ngày 12 tháng năm Ất mùi (1715) vào khoảng
2 giờ chiều, sư đã mất sau khi đã viết bài kệ phú chúc
.
Trên
đây là tóm tắt ngắn ngủi về nội dung của Hương Hải
thiền sư ngữ lục. Nội dung này có chứa đựng những thiếu
sót, như việc chép các thơ văn của các thiền sư Trung quốc
vào cho Minh Châu Hương Hải. Những lẫn lộn về thơ văn này,
chúng tôi đã cho nghiên cứu kỹ ở phần trên trong liên hệ
với vấn đề tác phẩm và sự nghiệp của Minh Châu Hương
Hải. Ở đây, chúng tôi chỉ xin dẫn ra một số kết luận
sơ bộ. Một là về văn thì có tất cả 14 đoạn, sau khi đã
trừ ra 3 đoạn là những bài thơ, thì chúng tôi đã truy cứu
được xuất xứ của 5 đoạn đến từ các tác giả Trung
quốc hiện tìm thấy trong các sách vở có ghi chép về họ.
Số còn lại chắc chắn cũng có xuất xứ ngoại lai, chứ
không phải của Minh Châu Hương Hải, nhưng hiện chưa truy
cứu được. Chúng tôi sẽ bổ sung trong lần tái bản sau.
Hai là về thơ có tất cả 59 bài, kể luôn cả những bài
chép lẫn vào trong các trích văn, thì có tới 47 bài là hoàn
toàn hay một phần xuất phát từ các cây bút Trung quốc, 12
bài còn lại thì 5 bài có khả năng là của Minh Châu Hương
Hải, tức các bài thơ số 3, 4, 14, 15 và 59 theo cách đánh
số của chúng tôi .
Dẫu
thế, những ghi chép chi tiết khác về nguồn gốc gia đình
và cuộc đời của Minh Châu Hương Hải từ bé cho đến lúc
viên tịch đáng để cho chúng ta tìm hiểu. Ngoài ra, việc
mô tả khá tỉ mỉ, qui mô và cách kiến trúc thờ tự của
chùa Nguyệt Ðường sẽ đóng góp cho ta những hiểu biết
cụ thể về những ngôi chùa xưa ở thế kỷ thứ 17 và 18.
Hơn nữa lối văn chữ Hán của bản ngữ lục này phản ảnh
khá nhiều ngữ pháp tiếng Việt. Thí dụ ngay trong lời tựa
ta có câu nãi chí đại Ðường Huyền Tráng mà ta có thể
dịch bèn đến Huyền tráng đời Ðường. Rồi trong nội dung
ở tờ 8b2-3 ta có câu :"Bỉ Gia quận tế dĩ niên cao, lự lộ
sinh tử, dục thanh sư thỉnh vấn…" thì rõ ràng câu lự lộ
sinh tử là một câu chữ Hán viết theo ngữ pháp tiếng Việt
với nghĩa lo đường sống chết. Và tên các chúa Hiền (tờ
9a2), trưởng quan (tờ 19b5) v.v…đều có cấu trúc của ngữ
pháp tiếng Việt. Nói chung, đây là một văn bản chữ Hán,
nhưng lại đầy những cấu trúc tiếng Việt. Nó sẽ giúp
ta tìm hiểu về lối viết văn chữ Hán của người Việt,
và giúp chứng cớ để hiểu các văn bản chữ Hán xưa hơn
nó đã được viết tại nước ta, như trường hợp Lục độ
tập kinh hay Cựu tạp thí dụ kinh .
Chúng
tôi do thế đề nghị cho dịch lại toàn bộ bản Hương Hải
thiền sư ngữ lục, và cho in kèm vào đây sau phần nghiên
cứu cuộc đời và sự nghiệp của ông để làm tư liệu
tìm hiểu cho những ai quan tâm đến những cống hiến của
Minh Châu Hương Hải đối với lịch sử văn học, tư tưởng
và Phật giáo dân tộc .