III
NỘI
DUNG THƠ VĂN
Sau
khi đã xác định 54 bài thơ kệ và 14 đoạn ngữ lục ngữ
là của, hoặc nghi là của các thiền sư Trung Quốc, còn lại
như vậy 5 bài thơ chữ Hán và 4 tác phẩm bằng tiếng Việt
là của Minh Châu Hương Hải. Căn cứ vào số lượng tác phẩm
này, ta có thể rút ra một số nhận định sau về nội dung
thơ văn ông .
1.Về
quan hệ Nho Phật
Bản
thân Minh Châu Hương Hải từ nhỏ đã học Nho, lớn lên đã
đi thi đỗ và ra làm quan. Cho nên trong thơ văn, ông ta đã
thấy xuất hiện quan điểm của ông về quan hệ giữa cái
Nho giáo và cái học Phật giáo. Tất nhiên, ngay việc ông từ
quan, xuất gia, trở thành một thiền sư đã chứng tỏ ông
không đánh giá cao cái học Nho giáo, vì không đánh giá cao
nên mới từ bỏ chúng cho một lý tưởng đẹp hơn, đó là
lý tưởng Phật giáo. Ðiều này ông nói rất rõ trong tác
phẩm thơ Sự lý dung thông :
Luận
chưng thánh tổ Nho gia
Trong
đời trị thế, người là nhân sư
Sao
bằng đâu suất vị cư
Lão
quân tiên chủ đại từ được phương
Phật
là vạn pháp trung vương
Làm
thầy ba cõi đạo trường nhân thiên
Quan
điểm này phản ánh quan điểm trước sau như một của những
người Phật giáo Việt Nam từ Mâu Tử (160-220), Khương Tăng
Hội (?-280) Ðạo Cao (370-450?) Lý Thánh Tông(1054-1072) Trần
Thái Tông(1125-1258) Nguyễn Trung Ngạn (?-1370) v.v…cho đến
những người sống sau Minh Châu Hương Hải như Ngô thời Nhiệm
(1746-1803) Toàn Nhật (1750?-1832) v.v…việc coi Nho giáo không
bằng Phật giáo và như một phương tiện bộ phận để truyền
bá Phật giáo phải nói là một quan điểm thống soái xuyên
suốt lịch sử tồn tại của Nho giáo tại Việt Nam. Ðiều
này giải thích cho ta rất nhiều vì sao một Phật tử thuần
thành và thực tế là một vị tổ của thiền phái Thảo Ðường
như Lý Thánh Tông lại lập văn miếu để thờ Khổng Tử,
và Trần Thái Tông đã cho mở đều đặn các khoa thi Nho giáo,
đặt nền tảng cho hệ thống thi cử Việt Nam sau này. Và
điều này cũng giải thích tại sao các nhà Nho Việt Nam, từ
một ông thầy đồ ở làng cho đến một vị trạng nguyên
tại triều đình, hầu hết đều là Phật tử. Nhận thức
được tình hình đó, ta mới thấy việc xác định vai trò
của Nho và Lão giáo tại Việt Nam đều cùng một đường,
nghĩa là phục vụ cho con đường Phật giáo phát triển và
tồn tại, đúng như Minh Châu Hương Hải đã viết trong Sự
lý dung thông :
Trong
nơi danh giáo có ba
Nho
hay giúp nước sửa nhà trị dân
Ðạo
thì dưỡng khí an thần
Thuốc
trừ tà bệnh chuyên cần luyện đan
Thích
độ nhân miễn tam đồ khổ
Thoát
cửu huyền thất tổ siêu phương
Nho
dùng tam cương ngũ thường
Ðạo
gìn ngũ khí, giữ giàng ba nguyên
Thích
giáo nhân tam quy ngũ giới
Thể
một đường, xe phải dùng ba
Không
những thơ viết bằng chữ Việt, thơ chữ hán của Hương
Hải cũng biểu lộ những nhận định như thế, qua hai bài
thơ số 14 và 15 theo cách đánh số của chúng tôi trong Hương
Hải thiền sư ngữ lục và thường được những người viết
về Minh Châu Hương Hải trích dẫn nhiều lần. Bài thơ 14
đọc :
Thành
thị du lai ngụ tự chiền
Tuỳ
cơ ứng hoá mỗi thời nhiên
Song
chiêu nguyệt đáo sàng thiền mật
Tùng
tiếu phong suy tích khách miên
Sắc
ánh lâu đài minh sắc diệu
Thanh
truyền chung cỗ diễn thanh huyền
Nguyên
lai tam giáo đồng nhất thể
Nhiệm
vận hà tằng lý hữu thiên
(Phố
thành chơi dạo, ở chùa chiền
Ứng
biến tuỳ cơ mỗi tự nhiên
Cửa
đón trăng vào thiền chõng ngọt
Thông
reo gió thổi khách giấc yên
Lâu
đài sắc sáng càng thêm sáng
Chuông
trống tiếng đưa tiếng mỗi truyền
Ba
giáo xưa nay cùng một thể
Theo
thời sao lẽ có nghiêng bên)
Bài
thơ thứ 15 :
Thượng
sĩ du lai bát nhã lâm
Trần
cư bất nhiễm liễu thiền tâm
Liêm
khê, Trình thị minh cao thức
Tô
tử, Hàn văn khế diệu âm
Vạn
tường sum la cao dị hiển
Nhất
biều tạo hoá mật nan tầm
Nho
nguyên đảng đảng đăng di khoát
Pháp
hải trùng trùng nhập chuyển thâm
(Bát
nhã rừng thường thượng sĩ thăm
Ở
đời chẳng nhuốm, rõ thiền tâm
Liêm
khê, Trình thị thông cao kiến
Tô
tử, Hàn văn rõ diệu âm
Muôn
trạng bao la xa dễ hiểu
Một
bầu tạo hoá kín khôn tìm
Nguồn
Nho bát ngát lên thêm rộng
Biển
Phật mênh mông xuống sâu lần)
Rõ
ràng quan hệ Phật Nho một lần nữa được Minh Châu Hương
Hải xác định không chỉ với tư cách một thiền sư, mà
còn với tư cách một người thành đạt trong học giới nhà
Nho, quy định hẳn mối quan hệ này, bắt buộc Nho giáo phục
vụ cho lợi ích của Phật giáo. Ðây đúng là quan điểm mà
Trần Thái Tông đã phát biểu :"Như thế đủ biết giáo lý
của Ðức Phật ta, nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời"(Tắc
tri ngã Phật tri giáo hựu giả tiên thánh nhân dĩ truyền ư
thế dả). Phải thấy điều này, ta mới hiểu tại sao có
những nhà Nho thành đạt trên quan trường, tích cực đối
với việc mở mang chính giáo nhưng vẫn có những bài thơ
ca ngợi Phật giáo. Trương Hán Siêu cuối cùng đã có quan
hệ tốt với nhà chùa, đến nỗi Ngô Sĩ Liên phải tỏ ra
bực tức. Lê Thánh Tông, ban Từ thư ngũ kinh cho phủ huyện
học, nhưng vẫn coi chùa Trấn Quốc là đứng ở giữa trung
tâm của trời đất, làm bền vững kinh đô của đất nước
mình :
Trung
lập càn khôn vững đế đô
Mảng
danh Trấn Quốc ở Tây hồ
Rồi
các tiến sĩ, cử nhân nhà Mạc đua nhau lập chùa, đúc chuông,
mà vết tích thì còn lại rất nhiều qua các văn bia hiện
đã tìm thấy. Ðến đời Lê Trung Hưng và Nguyễn thì các
danh Nho, tiến sĩ như Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Ðôn, Ngô Thì
Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Công Trứ, Phạm Phú Thứ v.v…đều
có thơ văn đề cao Phật giáo và bản thân gia đình cũng có
người xuất gia (như trường hợp con gái của Nguyễn Công
Trứ) hoặc đóng góp tiền của để in kinh, dựng chùa (như
trường hợp của Phạm Phú Lâm con của Phạm Phú Thứ). Và
đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi tổ quốc lâm
vào đại nạn mất nước, thì chính những nhà Nho đại khoa
bảng như Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đã lên tiếng "phế Nho
hưng Phật" để cứu dân cứu nước. Nói cụ thể hơn người
Việt Nam học Nho, nhưng biết mình học Nho để làm gì và
biết mình là ai. Cho nên dù xuất thân từ cửa Khổng sân
trình, họ vẫn sẵn sàng kêu gọi bỏ Nho theo Phật để phục
vụ cho dân cho nước mình .
Quan
hệ Phật Nho dưới nhãn quan của Minh Châu Hương Hải như
thế không nằm ngoài quỹ đạo nhận thức của người Phật
giáo Việt Nam. Người Phật giáo Việt Nam rất cởi mở, và
nền giáo dục của họ không phải đợi đến khi Lý Thánh
Tông lập Văn miếu và mở ra ngôi trường đại học đầu
tiên cho đất nước vào năm 1070, mới bao gồm cái học của
nhà Nho, mà ngay từ những năm tháng đầu của thời kỳ đấu
tranh khốc liệt và bi hùng với kẻ thù phương Bắc, họ đã
thành công khi tiếp nhận nền học thuật nhà nho này để
phục vụ cho đất nước họ, mà những sản phẩm đầu tiên
thể hiện qua những con người như Sĩ Nhiếp (137-226), Mâu
Tử, Khương Tăng Hội và Ðạo Thanh (220-300?) [Lê Mạnh Thát,
Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr.262-308, Khương
Tăng Hội toàn tập, tập I, Viện Ðại học Vạn Hạnh, 1975,
tr.35-48}.
Nói
khác đi, quan điểm của Minh Châu Hương Hải về quan hệ Nho
Phật không phải là những quan điểm mới lạ vào thời ông.
Nó đã xuất hiện và được thử thách qua lịch sử. Cho nên
dù có nơi có lúc có những người Phật giáo đòi loại bỏ
cái học nhà Nho như trường hợp hoàng đế Lý Miễu (400-460),
nhưng hầu hết những người Phật giáo vẫn ôn tồn và bình
tĩnh tiếp thu có chọn lọc những nền học thuật ấy nhằm
phục vụ không những cho học thuyết của mình mà còn cho
đất nước nữa .
2.Về
quan điểm thiền Phật giáo
Bản
thân Minh Châu Hương Hải là một vị thiền sư, và với pháp
danh Minh Châu, ông thuộc về Thiền phái Lâm Tế dòng Trí Bảng
Ðột Không, với bài kệ truyền pháp như ta đã thấy ở trên.
Tuy thế, qua bảng liệt kê các tác phẩm kể trước, ta thấy
ông tỏ ra quan tâm và quán xuyến các kinh điển của các trường
phái khác nhau trong Phật giáo. Không những ông dịch kinh Kim
Cang, mà còn dịch cả kinh Pháp Hoa, kinh Di Ðà, kinh Vô lượng
thọ, kinh Ðịa tạng v.v…Ngoài ra, còn có Giải Sa di giới
luật, lại viết Nghi thức cúng Phật Dược sư, cúng Cửu
phẩm v.v…điều này chứng tỏ một lần nữa Minh Châu Hương
Hải đã nằm trong dòng chủ lưu của thiền Phật giáo Việt
Nam, không bị ảnh hưởng nhiều của các dòng thiền Trung
quốc. Nói khác đi, một trong những nét khác biệt giữa thiền
Trung Quốc và thiền Việt Nam ngay từ đầu cho đến những
phát hiện về sau là không loại bỏ việc học và tụng niệm
các kinh điển Phật giáo, trong khi vẫn tự nhận mình là tu
học theo thiền. Trong lịch sử thiền tông Trung Quốc ta hầu
như không bao giờ gặp một vị tổ nào vừa là thiền sư
lại vừa là dịch giả. Nhưng vị tổ thiền đầu tiên của
Việt Nam là Tỳ Ni Ða Lưu Chi là người dịch các kinh Tượng
đầu tinh xá, Báo nghiệp sai biệt v.v…Rồi các vị thiền
sư Việt Nam về sau như Pháp Thuận (925-990) viết Bồ tát hiệu
sám hối văn, Viên Chiếu (999-1090) viết Tán viên giác kinh,
Thập nhị Bồ tát hạnh tu chứng đạo tràng và Dược sư
thập nhị nguyện văn [Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền
uyển tập anh, Nhà xuất bản TpHCM, 1999, tr.194, 195, 250, 252,
262], Pháp Loa (1284-1330) đã viết Pháp Hoa kinh khoa sớ, Niết
bàn đại kinh khoa sớ, Kim Cang trường đà la ni kinh khoa chú,
Bát nhã tâm kinh khoa sớ v.v…truyền thống thiền học Việt
Nam như vậy có một dấu ấn sâu đậm, tác động lên những
người Phật giáo thiền tông Việt Nam về sau. Minh Châu Hương
Hải đã kế thừa truyền thống này và phát huy nó lên một
điểm cao mới, đó là chính thức giải quyết các kinh điển
ấy ra bằng tiếng Việt mà ta hiện tìm thấy .
Những
người Phật giáo thiền tông Việt Nam như vậy không đi đến
cực đoan coi mọi kinh giáo là không phản ánh đầy đủ tư
tưởng cốt lõi của Ðức Phật, và chỉ có việc truyền
tâm ấn mới phản ảnh trọn vẹn, như đã ít nhiều xuất
hiện trong lịch sử thiền tông Trung Quốc. Trong lịch sử
Phật giáo thiền tông Việt Nam, mọi kinh điển đều được
đánh giá cao, nhưng được học tập và nghiên cứu với một
nhận thức thiền tông. Cho nên Minh Châu Hương Hải đã viết
các bản giải thích bằng tiếng Việt về những kinh điển
tiêu chuẩn Phật giáo, từ Di Ðà cho đến Kim Cang, từ Pháp
Hoa cho đến Dược Sư, đây là một nét đặc trưng ta cần
chú ý đến khi nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam. Trước
và sau Minh Châu Hương Hải đã có những vị thiền sư từng
làm như vậy. Ta đã gặp Pháp Thuận, Viên Chiếu, Pháp Loa,
Viên Thái, Pháp Tính rồi về sau những người như Chân Nguyên,
Như Trừng, Pháp Chuyên, An Thiền, Thanh Ðàm v.v…cho tới ngày
nay, có một số người, khi thu thập được một số kiến
thức về lịch sử thiền tông Trung Quốc, mà không nhận thức
được sự khác biệt giữa thiền tông Trung quốc và thiền
tông Việt Nam, nên đã nêu lên vấn đề tại sao thiền tông
Việt Nam lại
không
giống thiền tông Trung quốc. Thậm chí họ còn hồ đồ bảo
rằng "đối với đông đảo Phật tử Việt Nam, thiền đã
(và vẫn) chỉ là những tin đồn từ tu viện, và họ không
bao giờ thực sự chấp nhận nó v.v…" Phải thấy thiền Việt
Nam khác thiền Trung quốc như thế nào trong nhận thức và
thực tiễn, mới không đem lại cái khuôn hình thiền Trung
quốc chụp lên hiện thực thiền Việt Nam. Người Phật giáo
Việt Nam trên cả ngàn năm cho đến bây giờ vẫn nhận mình
là thuộc một dòng thiền nào đó của Phật giáo Việt Nam.
Và nhiều chùa Việt Nam vẫn gọi là chùa Thiền. Bản thân
các vị thiền sư dù có tu luyện những pháp môn nào đi nữa,
cuối cùng cũng vẫn nhận mình là thiền sư .
Vấn
đề do đó là phải tìm cách mô tả thực tiễn thiền Việt
Nam này, như nó đã xuất hiện trong lịch sử Việt Nam, rồi
từ đấy sẽ giúp ta nhận thức được những khác biệt cơ
bản giữa các thực tiễn thiền của các dân tộc khác nhau.
Cũng là thịt nướng cả, nhưng người Âu Mỹ thì làm khác
mà người Việt nam thì làm khác. Cho nên , khi Minh Châu Hương
Hải đã dành trên 30 năm cuối của cuộc đời mình để giải
thích các kinh điển Phật giáo ra tiếng Việt, không phải
ông đã làm một việc thoát ly ra khỏi cuộc sống thiền của
chính bản thân ông. Ngược lại, lúc làm thế ông đã đưa
chính tư tưởng thiền của mình vào. Trong Sự lý dung thông,
tư tưởng thiền của ông được ghi nhận như thế này :
Ai
nhìn sáu tổ năm tông
Thiền
hà muôn phái một dòng Tào khê
Bể
từ rạt sạch nguồn mê
Máy
thiêng mở khép đề huề độ sinh
Chuyển
vô minh bối trần hiệp giác
Vui
về bề diệu dược liên bang
Dầu
ai hiểu biết tâm vương
Chứng
vô thượng đạo lên đường Như Lai
Ra
nhân đức, nhuận ân oai
Làu
tàu viên tịnh trong ngoài sáng thanh
Há
còn chấp tướng ngại danh
Tùy
cơ thuận nghịch tung hoành cũng ưa
Phát
biểu như thế chỉ trong một số câu ngắn ngủi này, ta đã
thấy tư tưởng thiền của Minh Châu Hương Hải bao gồm nhiều
thành tố Phật giáo khác nhau. Ông đã nói tới diệu dược
liên bang, tức tư tưởng tịnh độ, rồi tiếp theo đến khái
niệm tâm vương, một khái niệm triết học duy thức. Nhưng
tất cả tư tưởng và khái niệm này là nhằm thực hiện
cho được mục tiêu "chuyển vô minh bồi trần hiệp giác"
và đạt mục tiêu này là để "tùy cơ thuận nghịch" mà"ra
nhân đức, nhuận ân oai". Ðây là tư tưởng thiền tích cực
hành động, mà các vị tiền bối của Minh Châu Hương Hải
đã từng sống và thể hiện. Cũng trong Sự lý dung thông,
ông viết :
Ðạo
viên minh ngại chi chân tục
Miễn
lòng rồi, tri túc thì nên
Năm
mươi lăm phẩm dưới trên
Luyện
tam muội hoả, chí bền kim cương
Rõ
ràng khi nói thế ông đã ít nhiều tiếp thu tư tưởng Cư
trần lạc đạo của thiền học Trần Nhân Tông :
Trần
tục mà nên
Phúc
ấy càng yêu hết tức
Sơn
lâm chẳng cốc
Họa
kia thực cả đồ công
Mà
chính vì tư tưởng nhập thế ở đời vui đạo này, Minh Châu
Hương Hải không những đã dặn dò những người tu thiền
theo hướng :
Ấy
lời khuyên dặn người thiền tử
Lý
hiểu tường, sự giữ tiệm tu
Hằng
rèn giới hạnh công phu
Lên
đường tinh tấn nhẫn phù yên tâm
Mà
còn phải :
Dốc
làm chí cả trượng phu
Ðạo
nên trung hiếu, ân thù vẹn hai
Trong
khi khó nhọc mựa nài
Sức
dùng hà đảm Như lai viên thành .
Thật
là minh bạch. Ðể gánh vác (hà đảm) công việc của Như
Lai một cách thành công và trọn vẹn, người thiền tử phải
là những đấng trượng phu có trung có hiếu. Mẫu người
Phật giáo Việt Nam lý tưởng là như thế đó. Người Phật
tử Việt Nam không chỉ biết nhắm đến giác ngộ, mà còn
nhắm đến việc giác ngộ trong trung hiếu. và tư tưởng này
cũng không phải đến thời Minh Châu Hương Hải lần đầu
tiên đề ra, mà trong Lục độ tập kinh đã nói tới, và trong
Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông [Lê Mạnh Thát, Trần
Nhân Tông toàn tập, Tu thư Vạn Hạnh, 1983 ]đã xác định
một cách rõ ràng :
Sạch
giới lòng, chùi giới tướng
Nội
ngoại nên Bồ tát trang nghiêm
Ngay
thờ chúa, thảo thờ cha
Ði
đỗ mới trượng phu trung hiếu
Và
gần Minh Châu Hương Hải hơn, Thọ Tiên Diễn Khánh [Lê Mạnh
Thát, Thọ Tiên Diễn Khánh và truyện Nam hải Quan Âm, cảo
bản, Tu thư Vạn Hạnh 1982]khi viết Nam hải Quan âm Phật sự
tích ca, đã không ngần ngại ngay trong câu mở đầu đã nói
lên mẫu người lý tưởng Phật giáo Việt Nam này :
Chân
như đạo Phật rất mầu
Tâm
trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân
Hiếu
là độ được đấng thân
Nhân
là vớt hết trầm luân mọi loài
Giống
như khái niệm nhân nghĩa, phạm trù trung hiếu không phải
là một phạm trù Nho giáo, người Việt Nam cũng có đạo lý
trung hiếu trước khi tiếp thu đạo Nho. Cho nên, Phật giáo
phối hợp tư tưởng trung hiếu của người Việt Nam với
lý tưởng Bồ tát của mình để ta có một mẫu người Phật
tử Việt Nam mới, người Phật tử trung hiếu. Nếu đem những
tư tưởng này, đặc biệt là mẫu người Phật giáo thiền
tông Việt Nam, ta khó tìm được những tương đương ở những
nơi khác. Yêu cầu thực tiễn của dân tộc Việt Nam đòi
hỏi Phật giáo Việt Nam, cụ thể là thiền tông Việt Nam,
phải đề cho ra được một mẫu người phù hợp với thực
tiễn dân tộc mình, đáp ứng được đòi hỏi của thực
tiễn ấy. Cho nên thật buồn cười và dại dột khi muốn
đem những phạm trù và tư tưởng thiền Trung Quốc áp đặt
lên thiền Việt Nam, buộc thiền Việt Nam phải có những nét
và phẩm chất tương tự như thiền Trung quốc thì mới được
gọi là thiền. Tại sao lại phải làm thế? Phật giáo Việt
Nam chưa bao giờ là một bản sao của Phật giáo Trung quốc,
chưa bao giờ được Phật giáo Trung quốc gầy dựng nên. Ngược
lại, trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã từng gầy dựng
nên Phật giáo Trung quốc. Phải nhận thức được điều này,
để khi đọc Minh Châu Hương Hải ta mới không ngỡ ngàng
trước tư tưởng và mẫu người thiền của ông .
3.
Nội dung thiền Minh Châu Hương Hải
Như
ta đã thấy, khi Minh Châu Hương Hải viết Sự lý dung thông,
thì hai phạm trù sự và lý ông dùng ở đây không phải nằm
trong quỹ đạo của tư tưởng sự lý nổi tiếng của tồn
phái Hoa Nghiêm Trung quốc. Ngược lại, sự và lý ở đây
là sự và lý của thiền Việt Nam. Lý thiền đây là gì? Nó
là :
Máy
càn khôn một bầu thế giới
Vốn
chứ từng thành hoại hư không
Rừng
Nho bể thích dung thông
Linh
đài vằng vặc, vừng hồng sáng thanh
Bồ
đề quả mãn viên thành
Ẩm
Quang còn nghĩ thái lành muôn duyên
Xưa
sau thiên thánh vạn hiền
Chứng
nên thành Phật thành tiên một lòng
Muôn
điều ngàn mối rũ xong
Hằng
sa tính đức há phòng niệm sinh
Lý
thiền là thế, nghĩa là phải kết hợp lý luận Nho Phật
để xây dựng một mẫu người lý tưởng Bồ tát trung hiếu,
còn về sự, thì mẫu người lý tưởng này phải :
Lý
hiểu tường, sự giữ tiệm tu
Hằng
rèn giới hạnh công phu
Lên
đường tinh tấn nhẫn phù yên tâm
Vậy
về sự thì bao gồm việc tiệm tu giới hạnh, rõ ràng dù
nhận mình thuộc thiền phái Tào khê, bởi vì :
Thiền
hà muôn phái một dòng Tào khê
Nhưng
Minh Châu Hương Hải vẫn chủ trương tiệm tu, một khái niệm,
một chủ trương nổi tiếng của dòng thiền Thần Tú, đối
lập lại với quan điểm đốn giác nổi tiếng của thiền
phái Tào khê. Như thế, dù bản thân là một thiền sư dòng
Lâm Tế thuộc thiền phái Tào khê, Minh Châu Hương Hải vẫn
không chống lại mà còn cổ suý quan điểm tiệm tu của Thần
Tú. Tuy nhiên, quan điểm tiệm tu này không phải hoàn toàn
giống với Thần Tú. Thế thì nó có nội dung gì? Nội dung
này ta có thể thấy dễ dàng qua tên đặt cho nơi ở của
ông, đó là viện Thiền tịnh. Nói khác đi, thiền của ông
đã kết hợp chặt chẽ với tư tưởng Tịnh độ, mà ông
nói rõ trong Sự lý dung thông :
Chuyển
vô minh, bối trần hiệp giác
Vui
về bề diệu dược Liên bang
Tư
tưởng tịnh độ (liên bang) được ông coi là một thứ thuốc
mầu, điều này thể hiện rất rõ trong việc ông đã dịch
giải các kinh A Di Ðà, Vô lượng thọ và Quán Vô lượng thọ
cùng việc ông soạn Khoa cúng Cửu phẩm. Nhận thức này từ
lâu đã được lưu hành ít lắm là từ thời Trần Thái Tông
trở đi. Nhưng tiệm tu không chỉ bao gồm tư tưởng, mà gồm
luôn cả một số cách thực hành đi đôi với tư tưởng ấy.
Cũng trong Sự lý dung thông, ông đã viết :
Sạch
lời đối đãi đua tranh
Bẻ
rào nhân ngã, tẩy thành mạn nghi
Thanh
trần gác để thị phi
Tịnh
thân khẩu ý, thanh qui làu làu
Nết
hằn trao ngôn từ đức hạnh
Trí
phen đòi lượng thánh hiền xưa
Bữa
dùng đạm bạc muối dưa
Bả
bô thường tịnh, sớm trưa khỏi thì
Nội
dung thiền của Minh Châu Hương Hải do vậy có những nét riêng
của nó mà ta cần lưu ý khi tiếp cận các tác phẩm của
ông .
Những
bản kinh do ông dịch giải bằng tiếng Việt bao gồm các kinh
Pháp Hoa, Kim cang, Di Ðà, Vô lượng thọ, Ðịa tạng, Bát nhã
tâm kinh và Phật tổ tam kinh. Phật tổ tam kinh tức các kinh
Bát đại nhân giác, Tứ thập nhị chương và Di giaó mà các
dòng thiền Trung quốc thường sử dụng cho việc học tập
của các thiền sinh trong các thiền viện của mình [Mizuno K.,Nakamura
H. , Hirakawa A. , và Tamashiro K., Butten kaitai jiten, Tokyo : Shunjusha,
1998, tr.75a]. Các bộ kinh còn lại thì qua lịch sử cũng được
các dòng thiền Trung quốc cũng như Việt Nam quan tâm và sử
dụng. Chẳng hạn thiền sư Thông Biện (?-1134) [Lê Mạnh Thát,
Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản TpHCM 1999,
tr.205] đã nổi tiếng trì kinh Pháp Hoa, đến nỗi người bấy
giờ gọi ông là Ngộ Pháp Hoa. Rồi hai thiền sư Bảo Tính
và Minh Tâm [Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập
anh, tr.198] tự thiêu vào năm 1034 cũng vì kinh này. Kinh Kim Cang
thì đã nổi tiếng ở Trung quốc với Lục tổ Huệ Năng (638-713)
còn ở nước ta thì Thanh Biện (?-686) [Lê Mạnh Thát, Nghiên
cứu về thiền uyển tập anh, tr.255] là người đầu tiên
chuyên trì tụng kinh Kim Cang. Sau này Trần Thái Tông cũng vì
"thường đọc kinh Kim cương đến câu "Ưng vô sở trụ nhi
sanh kỳ tâm", vừa bỏ sách ngâm nga, bỗng nhiên tự ngộ,
nhà vua bèn đem những điều giác ngộ được và làm bài ca
đề tên gọi Thiền tông chỉ nam", [Lê Mạnh Thát, Trần Thái
Tông toàn tập, Tu thư Vạn Hạnh 1983, tr.65] Kinh Di Ðà và Vô
lượng thọ tuy cơ bản là những kinh sách gối đầu giường
của người tu theo pháp môn Tịnh độ. Tuy nhiên, ở Trung quốc
thì từ thời Vĩnh minh Diên Thọ, một tác giả mà Minh Châu
Hương Hải biết tới và có trích dẫn thơ, người ta đã
nêu cao chủ trương kết hợp thiền với tịnh độ, để cho
sự tu chứng được thành tựu mỹ mãn. Một bài thơ của
Vĩnh Minh Diên Thọ đã đề cập đến tình trạng một vạn
người tu thiền chỉ có một người thành tựu, trong khi đó
nếu kết hợp với tịnh độ thì cả vạn người này đều
thành tựu được sự nghiệp tu thiền của mình. Thực tế
tư tưởng tịnh độ và thực tiễn tịnh độ xuất hiện
rất sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ những năm 425, Ðàm
Hoằng đã từ miền Bắc Trung quốc đến chuyên tu pháp môn
tịnh độ tại chùa Tiên Sơn ở Bắc Ninh, đến thời Lý tín
ngưỡng A di đà phát triển mạnh. Có những ngôi chùa thiền
chỉ thờ tượng Ðức Phật A di đà mà thôi, cụ thể là
chùa Viên Quang của thiền sư Giác Hải mà may mắn tấm bia
nhan đề "Viên Quang tự bi minh tịnh tự" do Dĩnh Ðạt viết
vào năm Thiên phù duệ vũ thứ ba (1122) hiện đã tìm thấy
:"Thế là thợ thuyền họp lại như mây, gỗ đá chất cao
như núi, búa rìu đẽo gọt mà hoá ra cung trời; vàng biếc
điểm tô mà trở nên điền báo. Tọa giữa là Giáo chủ Di
Ðà mắt xanh mày trắng lung linh, kế bên vẽ hình thượng
nhân trụ thế, thân gầy mi đậm sờ sờ…"Rồi đến Trần
Nhân Tông khi viết Cư trần lạc đạo phủ, cũng không quên
căn dặn :
Tịnh
độ là lòng trong sạch
Chớ
còn ngờ hỏi đến Tây phương
Di
Ðà là tính sáng soi
Mựa
phải nhọc tìm về Cực lạc
Chính
trong truyền thống tư tưởng tịnh độ như thế, mà Minh Châu
Hương Hải đã cho dịch giải Phật thuyết A di đà kinh sớ
sao, mà Hương Hải thiền sư ngữ lục gọi là Giải Di Ðà
kinh và Giải Vô lượng thọ kinh. Nói tóm lại, khi thích giải
các kinh điển, Minh Châu Hương Hải đã tiếp thu các tư tưởng
truyền thống thiền Việt Nam để tạo cho các bản thích giải
này một sắc diện mới trong nhận thức kinh điển của những
người Phật giáo thiền tông nước ta. điều đáng tiếc là
ngày nay các bản thích giải như Giải Ðịa Tạng kinh hay Giải
Phật Tổ tam kinh vẫn chưa được tìm ra. Cho nên, ta chưa thể
lý hội hết cách xử lý của Hương Hải như thế nào đối
với các tín ngưỡng như tín ngưỡng Ðịa Tạng. Cũng thế,
đối với tín ngưỡng Dược Sư do chưa tìm được Soạn cúng
Dược sư, ta không biết ông đã có quan niệm gì về Ðức
Phật này với tư cách là một thiền sư. Ðiểm nổi bật
vẫn là xuất phát từ cái nền Phật giáo quyền năng hình
thành vào những thế kỷ đầu của sự có mặt Phật giáo
tại nước ta, những người Phật giáo thiền tông về sau,
trong đó có cả Minh Châu Hương Hải, đã xây dựng cho mình
một dòng thiền dân tộc, vừa kết hợp tinh hoa của Phật
giáo thế giới, vừa phát huy những mặt tích cực của nền
Phật giáo quyền năng đó .
Nội
dung tư tưởng thiền của Minh Châu Hương Hải, do thế, không
phải tản mạn, như nhan đề những tác phẩm thích giải kinh
điển của ông để lại. Trái lại, nó có tính nhất quán,
nhất quán ở chỗ vì chủ trương "sự giữ tiệm tu" và "hằng
rèn giới hạnh công phu"những người tu thiền theo quan điểm
Minh Châu Hương Hải có thể thực hành một số những pháp
môn khác nhau ngoài những lối tu, công án hay mặc chiếu, mà
thiền Trung quốc đã đề ra. và nó cũng nhất quán ở chỗ
nó đã xuất phát từ truyền thống thiền tông Việt Nam mà
vào thời ông đã có một bề dày lịch sử trên cả ngàn
năm, và đã hình thành một số quan điểm và phương pháp
tu hành không phải hoàn toàn rập khuôn theo quan điểm phương
pháp tu thiền của Trung quốc. Chính trong xu thế này mà Minh
Châu Hương Hải đã phát biểu ý kiến của mình bằng thơ
và văn tiếng Việt mà hiện tại ta đã tìm thấy 4 tác phẩm
đã nói ở trên .