II
TÁC
PHẨM VÀ SỰ NGHIỆP
Ngoài
tác phẩm Quảng Nam Thuận Hoá sơn thủy lộ trình do chuá Trịnh
Tạc yêu cầu viết vào năm 1682, mà ngày nay đã mất, số
tác phẩm còn lại của Minh Châu Hương Hải chủ yếu tập
trung vào việc dịch giải các kinh điển Phật giáo ra tiếng
Việt .
Cứ
vào chính Hương Hải thiền sư ngữ lục tờ 11b4, 12a7, thì
Minh Châu Hương Hải đã chú giải các kinh bằng phương ngôn
quốc ngữ gồm :
-Giải
Pháp hoa kinh 1 bộ
-Giải
Kim cương kinh lý nghĩa 2 đạo
-Giải
Sa di giới luật 1 quyển
-Giải
Phật tổ tam kinh 3 quyển
-Giải
Di Ðà kinh 1 quyển
-Giải
Vô lượng thọ kinh 1 quyển
-Giải
Ðịa tạng kinh 3 quyển
-Giải
Tâm kinh đại điên 1 quyển
-Giải
Tâm kinh ngũ chỉ 1 quyển
-Giải
Tâm châu nhất quán 1 quyển
-Giải
Chân tâm trực thuyết 1 quyển
-Giải
Pháp bảo đàn kinh 6 quyển
-Giải
Phổ khuyến tu hành 1 quyển
-Giải
Bảng điều 1 thiên
-Soạn
Cơ duyên vấn đáp tinh giải 1 quyển
-Soạn
Sự lý dung thông 1 quyển
-Soạn
Quán vô lượng thọ kinh quốc ngữ 1 quyển
-Soạn
Cúng Phật tam khoa(cát hung tiểu) 1 quyển
-Soạn
Cúng Dược sư 1 khoa
-Soạn
Cúng cửu phẩm 1 khoa
Trên
đây là 20 tác phẩm gồm cả thảy 30 quyển do Minh Châu Hương
Hải đã diễn giải bằng tiếng Việt dưới dạng văn xuôi
và thơ. Trong số này, ta hiện mới tìm được 4 tác phẩm,
đó là Giải Kim cang kinh lý nghĩa, Giải Di Ðà kinh, Giải Tâm
kinh ngũ chỉ và Soạn sự lý dung thông, cùng với Hương Hải
thiền sư ngữ lục. Những tác phẩm còn lại hiện không biết
có được bảo lưu ở nơi khác không. Tuy nhiên, căn cứ vào
lời tựa viết cho việc in lại Di Ðà Kinh thích giải và Bát
nhã tâm kinh trích giải do Ðặng Hy Hiến chấp bút vào năm
Minh Mạng 14 (1833) biết dưới tên Trùng San chư kinh tự thì
ta thấy vào lần in này, ngoài Di Ðà Kinh Thích giải ta thấy
còn kể tới Lương hoàng thủy sám, Dược sư kinh, Phổ môn
và Kim Cang chú giải. Ðây là những bản kinh được viết
bằng tiếng Việt, trong đó Kim Cang chú giải và Phổ môn chắc
chắn là do Hương hải dịch giải. Riêng Lương hoàng thủy
sám và Dược sư kinh thì không được Hương Hải thiền sư
ngữ lục ghi nhận vào số những tác phẩm của Minh Châu Hương
Hải. Còn lại như vậy là các bài thơ và đoạn văn được
in lại thành sách trong Hương Hải thiền sư ngữ lục và khắc
bản vào năm Cảnh Hưng thứ 8, Ðinh Mão (1747) .
Ðây
là tác phẩm có lẽ dựa vào Soạn Cơ duyên vấn đáp tinh
giải được ghi nhận là 1 trong 20 tác phẩm của Minh Châu
Hương Hải. Và nó cũng là nguồn tư liệu để Lế Quý Ðôn
sử dụng khi viết về con người và thơ văn Minh Châu Hương
Hải trong Kiến văn tiểu lục 9 tờ 21b4-33a2 mục Thiền dật.
Theo thống kê của chúng tôi thì Hương Hải thiền sư ngữ
lục chứa đựng tổng cộng 59 bài thơ của Minh Châu Hương
Hải, 2 bài thơ của Ðặng Ðình Tướng, tất cả đều bằng
chữ Hán, cùng với 1 bài thơ của Trịnh Cương bằng tiếng
Việt. Về văn có cả thảy 16 đoạn trích, thường được
ghi là do tổ "nhàn đàm thị chúng". Chính từ số thơ và văn
này, Lê Quý Ðôn đã chọn lại và trích vào trong Kiến văn
tiểu lục của mình gồm 42 bài thơ và 12 đoạn văn (thực
tế Lê Quý Ðôn đã chép lầm 1 bài thơ vào trong 12 đoạn
văn này, đó là bài thơ số 16, nhưng chúng tôi vẫn cho trích
ra và xếp vào số các bài thơ). Ðiều đáng tiếc là toàn
bộ số thơ văn này trừ một số rất ít có thể chắc chắn
quy về cho Minh Châu Hương Hải, số còn lại tất cả đều
xuất phát từ các tác giả thiền sư Trung quốc .
Chẳng
hạn, một kiểm tra sơ bộ các đoạn trích văn thí ít nhất
là có 3 đoạn đã được trích nguyên văn từ Cảnh Ðức
truyền đăng lục và 2 đoạn trích từ Ngũ đăng hội nguyên
và Thiền tông chính mạch. Ðó là các đoạn văn ở tờ 30a2-5,
31a6-b4, 32b5-33b2, 33b7-35a6 và 35a7-37a3 (1), tức là các đoạn
ở tờ 27b2-5, 27b9-28a5, 28b2-6 và tờ 29a2-29b9 của Kiến văn
tiểu lục 9, riêng đoạn ở tờ 35a7-37a3 thì không thấy Lê
Quý Ðôn trích ra .
Ðoạn
thứ nhất ở tờ 30a2-5 bắt đầu với câu :"Phàm nhân đa
ư sự ngại lý, cảnh ngại tâm. Thường dục đào cảnh dĩ
an tâm, di sự dĩ tồn lý. Bất tri, nãi thị tâm ngại cảnh
lý ngại sự, Ðản lệnh tâm không, cảnh tự không, lý tịch,
sự tự tịch. Vật đảo tự tâm dã". Ðây là một đoạn
trích văn lấy y nguyên từ Hoàng Bá Hy Vận thiền sư truyền
tâm pháp yếu trong Cảnh Ðức truyền đăng lục 9, ÐTK 2076
tờ, 272b28-c2, với một chữ sai khác như sau : Phàm nhân đa
vị cảnh ngại tâm, vị sự ngại lý, thường dục đào cảnh
dĩ an tâm, bình sự dĩ tồn lý. Bất tri nãi thị tâm ngại
cảnh lý ngại sự, Ðản lệnh tâm không, cảnh tự không.
Ðản lệnh lý tịch, sự tự tịch. Vật đảo dụng tâm dã".
Ðoạn này Lê Quý Ðôn có chép trong Kiến văn tiếu lục 9
tờ 27b2-5 với một chữ sai khác, thay vì sự tự tịch, thì
đã chép cảnh tự tịch .
Ðoạn
trích văn thứ 2 ở tờ 31a6-b4 đọc :"Pháp thân vô tướng
bất khả dĩ âm thanh cầu. Diệu đạo vô ngôn bất khả dĩ
văn tự hồi. Túng sử siêu Phật việt tổ, do lạc giai thê.
Trực nhiêu thuyết diệu đàm huyền, chung quải thần xỉ.
Tu thị công huân bất phạm, ảnh tích bất lưu. Khô mộc hàn
nhan, cảnh vô tân nhuận. Huyễn nhân mộc mã, tình thức giai
không. Phương năng thùy thủ nhập triền, chuyển thân dị
loại. Khước bất đạo :
Vô
lậu quốc trung lưu bất trú
Khước
lai yên ổ ngọa hàn sa
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 27b9-28a5 có chép đoạn này, nhưng có hai
chữ khác với bản trên. Ðó là diệu đạo vô ngôn thì viết
thành diệu đạo đương ngôn và thuyết diệu thì viết thành
thuyết pháp. Cần chú ý là bản chép của Kiến văn tiểu
lục chữ vô thường bị chép thành chữ đương. Ðây là đoạn
văn của thiền sư Ðại Hồng Pháp Vi chép trong Ngũ đăng hội
nguyên 14 tờ 275a9-14 và Thiền tông chính mạch 7 tờ 249a9-13
(125a9-13) với mấy chữ ghép khác, đó là thay vì vô ngôn nó
có vong ngôn thay vì bất khả nó có khởi khả, thay vì túng
sử nó có túng nhiên và thay vì khước bất đạo nó có bất
kiến đạo .
Ðoạn
trích văn thứ 3 ở tờ 32b5-33b2 đọc :"Nhật thăng chi thời,
minh biến thiên hạ, hư không vị tằng minh. Nhật một chi
thời, ám biến thiên hạ, hư không vị tằng ám. Minh ám chi
cảnh, tự tương lăng đoạt. Hư không chi tính quách nhân tự
như. Phật cập chúng sanh, tâm diệc như thị. Nhược quán
Phật tác thanh tịnh quang minh tướng, quán chúng sanh tác, cấu
trọc ám muội tướng, lịch hằng hà sa kiếp, chung bất đắc
bồ đề". Ðây là một đoạn trích khác cũng từ Hoàng Bá
Hy Vận thiền sư truyền tâm pháp yếu nhưng bị lược đi
một số chữ và một số đoạn. Ðoạn này trong Cảnh đức
truyền đăng lục 9 ÐTK 2076 tờ 270c11-16 chép thế này :"Nhật
chiêú chi thời, minh biến thiên hạ, hư không bất tằng minh.
Nhật một chi hậu, ám biến thiên hạ, hư không bất tằng
ám. Minh ám chi cảnh, tự tương lăng đoạt. Hư không chi tính
quách nhiên bất biến. Phật dự chúng sanh, tâm diệc như thử.
Nhược quán Phật tác thanh tịnh quang minh giải thoát chi tướng,
quán chúng sanh tác cấu trọc ám muội sinh tử chi tướng,
thử nhân tác thử giả, lịch hà sa kiếp, chung bất đắc
bồ đề". Ðoạn này cũng có chép trong Kiến văn tiểu lục
9 tờ 28b2-6, nhưng thiếu một chữ, đó là sau chữ quang minh
không có chữ tướng và tự tương thì bị đổi thành hổ
tương.
Ðoạn
trích văn thứ 4, ta đọc :"Chí đạo bản hồ kỳ tâm. Tâm
phát bản hồ vô trụ, vô trụ tâm thể, tính tướng tịch
nhiên, phi hữu phi không, bất sinh bất diệt. Cầu chi nhi bất
đắc, khí chi nhi bất ly. Mê hiện lượng tắc hoặc khổ phần
nhiên, ngộ chân tánh tắc không minh quách triệt. Tuy tức tâm
tức Phật, duy chứng giả phương chi. Nhiên hữu chứng hữu
tri, tắc tuệ nhật trầm một ư hữu địa. Nhược vô chiếu
vô ngộ, tắc hôn vận yếm tệ ư không môn. Duy nhất niệm
bất sanh, tắc tiền hậu tế đoạn, chiếu thể độc lập,
vật ngã giai như. Nhiên mê ngộ cánh y, chân vọng tương đãi.
Nhược cầu chân khử vọng, do khí ảnh lao hình. Nhược thể
vọng tức chơn, tợ xử âm tức ảnh. Nhược vô tâm vọng
chiếu, tắc vọng lự đô quyên. Nhược nhậm vận tịch tri,
tắc chúng hành viên khởi. Thị dĩ, ngộ tịch, vô tịch, chân
tri vô tri, dĩ tri tịch bất nhị chi nhất tâm, khế không hữu
song, dung chi diệu lý. Vô trụ vô trước, mạc nhiếp mạc
thu. Thị phi lưỡng vong, năng sở song tuyệt. Tư tuyệt diệc
tịch, tắc bát nhã hiện tiền, tâm tâm tác Phật, vô nhất
tâm nhi phi Phật tâm. Xứ xứ thành đạo, vô nhất trần nhi
phi Phật quốc. Cố chân vọng vật ngã, cử nhất toàn thu,
tâm Phật chúng sanh, hồn nhiên tề trí. Thị tri, mê tắc nhân
tùy ư pháp, pháp pháp vạn sai nhi nhân bất đồng, …Ngộ
tắc pháp tùy ư nhân, nhân nhân nhất trí nhi dung vạn cảnh.
Ngôn cùng lự tuyệt, hà quả hà nhân. Thể bản tịch liêu,
thục đồng thục dị. Duy vong hoài hư lãng, tiêu tức xung
dung, kỳ do thấu thủy nguyệt hoa, hư nhi khả kiến, vô tâm
giám tượng, chiếu nhi thượng không hỷ"
Ðoạn
này Lê Quý Ðôn đã chép lại trong Kiến văn tiểu lục 9 tờ
29a2-b9 với một số chữ thiếu sót. Ðó là vô trụ tâm thể
của bản in, bản của Lê Quý Ðôn chỉ có tâm thể, hai là
năng sở song tuyệt thì bản chép chỉ có năng song tuyệt,
và ba là xứ xứ trong bản in thì chép thành xứ khẩu, bốn
là pháp pháp vạn sai trong bản in thì chép thành pháp vạn
sai, năm là nhân nhân nhất trí thì chép thành nhân nhất trí.
Bây giờ nếu truy về nguồn gốc của đoạn văn trên thì
ta thấy đây là bản lược trích lời đáp của Trừng Quán
(561-632) về vấn đề tâm yếu, chép trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 30 ÐTK 2076 tờ 459b23-c22. Khi so sánh với nguyên bản
những câu trả lời của Trừng Quán này, ta thấy giữa câu
vô trụ tâm thể và cầu chi nhi bất đắc, đoạn trích đã
bỏ đi một đoạn, tức là :"Vô trụ tâm thể, linh tri bất
muộn, tính tướng tịch nhiên, bao hàm đức dụng, cai nhiếp
nội ngoại, năng thâm năng quản, phi hữu phi không, bất sinh
bất diệt, vô chung vô thủy". Rồi giữa hai câu chúng hành
viên khởi và thị dĩ ngộ tịch vô tịch có một đoạn bị
lược đi là :"phóng khoáng nhậm kỳ khứ trụ, tịch giám
giác kỳ nguyên lưu , giữ mặc bất thất huyền vi, động
tịnh bất ly pháp giới, ngôn chỉ tắc song song tri tịch, luận
quán tắc song chiếu tịch tri. Ngữ chứng tắc bất khả thị
nhân, thuyết lý tắc phi chứng bất liễu" rồi giữa hai câu
bát nhã hiện tiền và tâm tâm tác Phật, lại bị lược đi
một đoạn là :"Bát nhã phi tâm ngoại tân sanh, trí tánh nãi
bản lai cụ túc. Nhiên bản tịch bất năng tự hiện, thật
do bát nhã chi công, bát nhã chi dự trí tính phiên phúc tương
thành, bản trí chi dự thỉ tu, thật vô lưỡng thể, song vong
chánh nhập tắc diệu giác nguyên minh, thỉ mạc cai dung tắc
nhơn quả giao triệt".
Ðoạn
trích văn thứ 5 đọc :"Thả đạo nhi luận, ngữ giả bất
đắc, mặc giả bất đắc. Trực nhiêu ngữ mặc lưỡng vong,
diệc một giao thiệp. Hà cố? Cố Phật quang minh, tiên đức
phong thái, nhất nhất tùng vô dục vô y trung phát hiện. Hoặc
thời cô tuấn tiễu bạt, cánh bất khả bạt. Hoặc thời
hàm dung hỗn hợp, liễu vô sở đỗ. Chung bất thung định
nhất xứ, diệc bất hệ hễ lưỡng đầu. Vô thị vô bất
thị, vô phi vô bất phi. Ðắc diệc vô sở đắc, thất diệc
vô sở thất. Bất tằng cách việt tiêm hào, bất tằng di
dịch ty phát. Minh minh cổ lộ, bất thuộc huyền vi. Ðỗ diện
kình lai, miết nhiên tiện quá. Bất cư chính vị, khởi lạc
tà đồ. Bất xu đại phương, na hãm tiểu cảnh. Hồi thủ
bất phùng, xúc mục vô đối. Nhất niệm phổ quan, quách nhiên
không tịch. Thử chi tôn yếu,thiên thánh bất truyền, trực
hạ liễu tri, đương xứ siêu việt. Thị tri xích sái sái
xứ, nhậm ma tức dị. Minh lịch lịch xứ, nhậm ma hoàn nan.
Nhược thị bản phận, thủ cước phóng khứ, vô thu bất
lai để, nhất nhất phóng quang hiện thụy, nhất nhất tước
tích tuyệt tung. Cơ thượng liễu bất đình, ngữ trung vô
khả lộ. Triệt để lãm bất hồn. Thông thanh phác bất toái.
Tất cánh thị cá thậm ma, đắc nhậm ma linh thông, đắc nhậm
ma kỳ đặc. Chư nhân giả, hư yếu thức kỳ diện khổng,
bất dụng an cư danh tự, diệc mạc mích cừ tại sở. Hà
cố? Cừ vô tại sở, cừ vô danh tự, cừ vô diện khổng.
Tài thị khởi niệm truy cầu, tiện cách thập sanh ngũ sanh.
Bất như phóng giáo tự do, yếu phát tiện phát, yếu trú tiện
trú, tức thiên nhiên phi thiên nhiên, tức như như phi như như,
tức trạm tịch phi trạm tịch, tức bại hoại phi bại hoại,
vô sinh luyến, vô tử úy, vô Phật cầu, vô ma bố, bất dự
bồ đề hội, bất dự phiền não câu, bất thọ nhất pháp,
bất hiền nhất pháp, vô tại, vô bất tại, phi ly, phi bất
ly. Nhược năng như thị kiến đắc, Thích Ca tự Thích Ca,
Ðạt Ma tự Ðạt Ma" .
Ðoạn
này Lê Quý Ðôn không thấy chép trong Kiến văn tiểu lục
9. Nhưng đây là bài giảng của thiền sư Tiến Phúc Ðạo
An chép trong Ngũ đăng hội nguyên 18 tờ 344b15-d5 và Thiền
tông chính mạch 9 tờ 305a13-306a2 (103a13-c2), trong đó có một
số chữ chép sai và một số đoạn chép thiếu. Về chữ chép
sai, chữ đầu tiên là chữ thả, chép sai của chữ cứ, các
chữ thả bạt, đỗ diện là chép sai của khả cấu và địch
diện v.v…Về những câu chép lộn, thay vì bất xu đại phương
na hãm tiễu cảnh, ta có bất hãm đại phương na xu tiễu cảnh…còn
về những câu chép thiếu, hoặc hai chữ như thay vì bất như
phóng giáo, ta có bất như trường thi phóng giáo, thay vì tự
do, ta có tự do tự tại…,hoặc thiếu cả câu hay cả đoạn.
Thiếu cả câu như sau tiễu cảnh và trước hồi thủ , ta
có câu đằng đằng ngột ngột, hà trú hà vi; hoặc sau hoàn
nan và trước nhược thị, ta có câu bất dụng triêm niêm
điểm nhiễm, trực tu bát thoát bình trừ…và thiếu cả đoạn
thì như sau hà cố và trước cổ Phật, ta có : Cú trung vô
lộ, ý tại cú trung, vô ý vô bất ý phi kế giáo chi sở cập,
nhược thị phách đầu điểm nhất, điểm đỉnh môn, hoát
nhiên nhãn khai giả, ư thử khước hữu tật tốc phân, nhược
đề đầu hướng ý, căn hạ tầm tư, tốt mô sách bất trước,
thị tri vạn pháp vô căn, dục cũng giả, thố nhất nguyên
tiệt tích, dục phản giả mê kháng tha .
Một
kiểm soát sơ bộ như trên đã cho thấy 5 đoạn trích văn
vừa nêu đều xuất phát từ các tác gia Trung quốc. 9 đoạn
còn lại, chúng tôi nghi cũng được lấy từ các tác phẩm
Trung quốc, nhưng chưa có dịp điều tra kỹ nên không ghi hết
ra đây được .
Còn
về thơ, trong số 59 bài chép trong Hương Hải thiền sư ngũ
lục, chúng tôi đã phát hiện 47 bài được chép một phần
hay toàn bộ từ những tác phẩm các thiền sư Trung quốc.
Bắt đầu với bài thơ thứ hai ở tờ 16b7-17a1 :
Nhạn
quá trường không
Ảnh
trầm hàn thủy
Nhàn
vô di tích chi ý
Thủy
vô lưu ảnh chi tâm
Ðây
là bài thơ của thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài chép trong Tục
truyền đăng lục 6 ÐTK 2077 tờ 501c16-17, Ngũ đăng hội nguyên
16 tờ 302c4 và Thiền tông chính mạch 8 tờ 271b9-10 (136b9-10),
ở đó chỉ khác một chữ là di tích, thì bản in Trung quốc
đều có là Di tung . Nó cũng được chép trong tiểu sử của
thiền sư Diệu Giác Tuệ Ngộ và Nguyệt Ðường Ðạo Xương
trong Ngũ đăng hội nguyên 14 tờ 273d-10 và 16 tờ 323b15-16.
Bài thơ này Lê Qúy Ðôn có chép trong Kiến văn tiểu lục
9 tờ 24b5. Lưu ý là số bài thơ chúng tôi đánh liên tục
theo bản in Hương Hải thiền sư ngũ lục .
Bài
thơ 7 :
Long
đắc thủy thì thiêm ý khí
Hổ
phùng sơn sắc trưởng uy nanh
Nhân
quy đại quốc phương tri quý
Thủy
đáo Tiêu Tương nhất dạm thanh
Mà
Kiến văn tiểu lục 9 tờ 25a3-4 cũng có chép thì 2 câu đầu
do một vị sư hỏi thiền sư Thê Hiền Trí Thiên chép ở Tục
truyền đăng lục 8 ÐTK 2077 tờ 514a22-23 và Ngũ đăng hội
nguyên 16 tờ 310b6-7. Thiền tông chính mạch 8 tờ 277b2-4 (139b2-4)
không thấy ghi 2 câu ấy trong tiểu sử của Trí Thiên .
Bài
thơ 8 :
Thiên
thượng hữu tinh giai cũng bắc
Nhân
gian vô thủy bất triều đông
Quát
quy mao ư thiết ngưu bối thượng
Tiệt
thố giác ư thật nữ yêu trung
Dạ
xoa la sát tài khể thủ
Ngục
tốt ngưu đầu tiện kinh quyền
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 25a5-7 có chép bài này y nguyên. Nhưng 2
câu đầu của bài thơ này lại là 2 câu đầu trong bài thơ
của thiền sư Hoàng Long Tuệ Nam chép trong Thiền tông tụng
cổ liên châu thông tập 32 tờ 410b15(205d15) .
Bài
thơ 9 :
Hoặc
thị hoặc phi nhân mạc thức
Nghịch
hành thuận hành thiên mạc trắc
Cách
sơn nhân xướng giá cô từ
Thác
nhận hồ già thập bát phách
Mà
Kiến văn tiểu lục 9 tờ 25a7-8 cũng có chép thì 2 câu đầu
trích từ 2 câu trong Chứng đạo ca của thiền sư Vĩnh Gia
Chân Giác ở Cảnh Ðức truyền đăng lục 30 ÐTK 2076 tờ 460c22
.
Bài
thơ 10 :
Tân
phụ kỵ lư a gia khiên
Bộ
bộ tương tuỳ bất trước tiên
Quy
đáo họa đường nhân bất thức
Tùng
kim lãn cánh xuất môn tiền
Ta
không thấy trong Kiến văn tiểu lục chép ra, nhưng câu đầu
tiên là của thiền sư Ðạo Ngô Ngộ Chân nhắc lại câu nói
của Thủ Sơn Tỉnh Niệm ở Tục truyền đăng lục 7 ÐTK 2077
tờ 509a1. Tiểu sử của Thủ Sơn Tỉnh Niệm (926-993) trong
Cảnh Ðức truyền đăng lục 13, ÐTK 2076 tờ 304a10-305a6 không
thấy có chép câu này. Nhưng sau đó Ðại Tuệ Tông Cảo (1089-1163)
đã từ câu đó, làm thành bài thơ, mà Thiền tông tụng cổ
liên châu thông tập 36 tờ 455b2-3(227b2-3) chép lại song không
thấy có trong tiểu sử của ông ở Tục truyền đăng lục
27, ÐTK 2077 tờ 649a20-654a6, Ngũ đăng hội nguyên 17 tờ 325c4-326d10
và Thiền tông chính mạch 10 tờ 33b13-35b5. Bài thơ này chỉ
khác với bài trên ở câu cuối chữ môn tiền chép thành nhân
tiền .
Bài
thơ 11:
Phu
tử bất thức tự
Ðạt
Ma bất hội thiền
Huyền
Sa vô thử ngữ
Thiết
mạc vọng lưu truyền
Kiến
văn tiểu lục 9 có chép bài thơ này ở tờ 25a9-b1, nhưng thay
vì huyền sa nó có huyền diệu. Hai câu đầu bài thơ này là
của thiền sư Tùng Nguyên Nhạc chép trong Thiền tông tụng
cổ liên châu thông tập 10 tờ 118b18(59d18). Và cả bài thơ
ta sẽ gặp ở Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 31
tờ 389b15-16(195b15-16) và ghi là của Ðại Tuệ Tông Cảo, mà
không thấy nói xuất xứ .
Bài
thơ 12 :
Tầm
ngưu tu phỏng tích
Học
đạo phỏng vô tâm
Tích
tại ngưu hoàn tại
Vô tâm
đạo dị tầm
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 25b1-2 cũng có chép, nhưng sửa chữ phỏng
ở câu hai thành chữ quý . Ðây là một bài rút từ Cư độn
tụng của thiền sư Long Nha Cư Ðộn trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 29, ÐTK 2076 tờ 453b1 và Thiền tông chính mạch 9
tờ 317a2-3(159a2-3) .
Bài
thơ 16 :
Vọng
thân lâm kính chiếu ảnh
Ánh
dự vọng thân bất thù
Ðản
dục khử ảnh lưu vọng
Bất
tri thân diệc bản hư
Thân
bản dự ảnh bất dị
Bất
đắc nhất hữu nhất vô
Nhược
dục tồn nhất xả nhất
Vinh
dự chân lý tương sơ
Cánh
nhược ái thánh tăng phàm
Sinh
tử hải lý trầm phù
Phiền
não nhân tâm cố hữu
Vô
tâm phiền não hàn cư
Bất
lao phân biệt thủ tướng
Tự
nhiên đắc đạo tu du
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 27b5-9 chép y bài kệ này, nhưng lại chép
vào những đoạn văn xuôi và có hai chữ khác, đó là chữ
diệc ở câu 4 bị chép thành chữ tự, và chữ tâm ở câu
12 bị chép thành chữ nhất. Bài đây thực tế là bài tán
thứ hai trong 10 bài Ðại thừa tán của hoà thượng Bảo Chí
(418-514) chép trong Cảnh Ðức truyền đăng lục 29 ÐTK 2076
tờ 449b9-13. Khi so sánh hai văn bản này ta thấy có 3 câu có
một số chữ khác, đó là câu thứ 3, thay vì có lưu vọng
bản Ðại chính hiện lưu hành có lưu thân, còn câu thứ 4
thì có Bất tri thân bản đồng hư, còn câu 11 thì nó đọc
là hữu cố thay vì cố hữu .
Bài
thơ 17 :
Thức
đắc y trung bảo
Vô
minh tuý tự tinh
Bách
hài tuy hội tán
Nhất
vật trấn trường linh
Tri
cảnh hồn phi thể
Thần
châu bất định hình
Ngộ
tắc tam thân phận
Mê
si vạn quyển kinh
Tại
tâm tâm khả trắc
Lịch
nhĩ nhĩ nan thinh
Võng
tượng tiên thiên địa
Huyền
tuyền xuất diễu minh
Bản
cương phi đoàn luyện
Nguyên
tịch mạc trần đình
Ban
bạc luân triêu nhật
Lung
linh ánh hiểu tinh
Thùy
quang lưu bất diệt
Chân
khí xúc hoàng sinh
Giám
chiếu không động tịch
La
lung pháp giới minh
Giải
ngữ phi quan thiệt
Năng
ngôn bất thị thinh
Tuyệt
biên nhĩ ô mạn
Vô
tế đẳng không bình
Kiến
nguyệt phi quan chỉ
Hoàng
gia mạc vấn trình
Thức
tâm, tâm tắc Phật
Hà
Phật cánh tham thành
Bài
thơ này không thấy Lê Quý Ðôn chép lại trong Kiến văn tiểu
lục. Nhưng một lần nữa đây là bài ngâm thứ hai của Ngoạn
châu ngâm do hoà thượng Ðan Hà Thiên Nhiên (739-824) chép trong
Cảnh Ðức truyền đăng lục 30,ÐTK 2076, tờ 463b29-c11, nhưng
khác một số chữ và thiếu một số câu. Chữ khác chắc
do bản in của Hương Hải thiền sư ngữ lục khắc sai. Cụ
thể là ở câu thứ 8 bản Ðại chính chép Ðào nghi vạn quyển
kinh,thì bản ở đây là Mê si vạn quyển kinh, câu 23 ở đây
đọc làTuyệt biên nhĩ ô mạn, còn bản Ðại chính là Tuyệt
biên di hãn mạn, và câu 25 bản ở đây là Kiến nguyệt phi
quan chỉ, còn bản Ðại chính là Kiến nguyệt hưu quan chỉ.
Ngoài ra giữa câu 20 và 21 ở đây còn thiếu 6 câu mà theo
bản Ðại chính ta có :
Tỏa
phàm công bất diệc
Siêu
thánh quả phi doanh
Long
nữ tâm thân hiến
Xà
vương khẩu tự trình
Hồ
nga nhân khước hoạt
Hoàng
tước ý do khinh
Và
giữa câu 24 và 25 ở đây còn thiếu 4 câu mà ta có trong bản
Ðại chính :
Diễn
giáo phi vi thuyết
Văn
danh vật nhận danh
Lưỡng
biên câu mạc lập
Trung
đẳng bất tu hành
Bài
thơ 18 :
Bát
vạn tứ thiên ba la mật môn
Môn
môn trường khai
Tam
thiên đại thiên vi trần chư Phật
Phật
Phật thuyết pháp
Bất
thuyết hữu bất thuyết vô
Bất
thuyết phi hữu phi vô
Bất
thuyết diệc hữu diệc vô
Hà
giả?
Ly
tứ cú, tuyệt bách phi
Tương
phùng cử mục thiểu nhân tri
Tạc
dạ sương phong lậu tiêu tức
Mai
hoa y cựu chuyết hàn chi
Mà
Kiến văn tiểu lục không thấy chép, nhưng lại tìm thấy
trong bài giảng của thiền sư Thiên Cung Thận Huy ở Tục truyền
đăng lục 11, ÐTK 2077, tờ 530c24-28, Ngũ đăng hội nguyên tờ
307b11-15 và Thiền tông chính mạch 8 tờ 275b10-13 (138b10-13)
.
Bài
thơ 19 :
Nhất
thuyết vô tâm tự tính giới
Nhất
thuyết vô ngại tự tính tuệ
Bất
tăng bất giảm tự kim cang
Thân
cử thân lai bản tam muội
Mà
Kiến văn tiểu lục 9 tờ 29b9-30a2 có chép. Ðây là một bài
kệ của Lục tổ Huệ Năng dạy cho thiền sư Chí Thành trong
Cảnh Ðức truyền đăng lục 5, ÐTK 2076 tờ 237b25-26 và Thiền
tông chính mạch 1 tờ 36b16-17, trong đó thay vì có bất giảm,
thì nó đọc bất thối .
Bài
thơ 20 :
Bất
kiến nhất pháp tồn vô kiến
Ðại
tợ phù vân già nhật diện
Bất
tri nhất pháp thủ không tri
Hoàn
như thái hư sanh thiểm điện
Thử
chi tri kiến miết nhiên hư
Thác
nhận hà tằng giải phương tiện
Nhữ
đương nhất niệm tự tri phi
Tự
kỷ linh quang thường hiển hiện
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30a2-5 cũng có chép, nhưng câu thứ 4 đã
chép thành hoàn tợ thái hư trùng thiểm điện, đây là một
bài kệ khác của Lục tổ Huệ Năng chép trong Cảnh Ðức
truyền đăng lục 5, ÐTK 2076 tờ 239b14-17 .
Bài
thơ 21 :
Kiến
văn tri giác vô chướng ngại
Thanh
hương vị xúc thường tam muội
Như
điểu không trung chỉ mạ phi
Vô
thủ vô xạ vô tăng ái
Nhược
hồi ưng xứ bản vô tâm
Thỉ
đắc danh vi quán tự tại
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30a5-7 chép y nguyên, trong đó có hai câu
3 và 4 chép thiếu hai chữ mạ phi và vô của vô tăng ái. Ðây
là một bài kệ của thiền sư Bản Tịnh (?-761) trong Cảnh
Ðức truyền đăng lục 5, ÐTK 2076 tờ 243a8-10, Ngũ đăng hội
nguyên 2 tờ 32a13-15 và Thiền tông chính mạch 1 tờ 41a8-11
.
Bài
thơ 22 :
Cô
viên khiếu lạc trung nham nguyệt
Giả
khách ngâm tàn bán dạ đăng
Thử
cảnh thử thì thùy hội đắc
Bạch
vân thâm xứ tọa thiền tăng
Kiểu
văn tiểu lục 9 tờ 30a7-8 cũng có chép, nhưng chữ trung trong
câu thứ nhất thành chữ thiên, chữ bán ở câu thứ hai sửa
chữa thành chữ ngũ, và đây là một bài thơ của Thiền sư
Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975) trong Ngũ đăng hội nguyên 10 tờ
184a1-13 và Thiền tông chính mạch 5 tờ 170b8-9 (85d8-9), mà khi
so với bản trên thì câu thứ 3 có khác hai chữ, đó là thay
vì thùy hội đắc, chúng có thùy đắc ý. Tiểu sử của Vĩnh
Minh Diên Thọ trong Cảnh Ðức truyền đăng lục 26 tờ 421c8-422a20
không thấy có .
Bài
thơ 23 :
Tuyệt
học vô vi nhàn đạo nhân
Bất
trừ vọng tưởng, bất cầu chân
Vô
minh thật tính tức Phật tính
Huyễn
hoá không thân tức pháp thân
Kiến
văn tiểu lục 9 không thâý chép. Nhưng đây là bài rút từ
Chứng đạo ca của Vĩnh Gia Nhân Giác trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 30, ÐTK 2076 tờ 460a15-16
Bài
thơ 24 :
Pháp
thân giác liễu vô nhất vật
Bản
nguyên tự tính thiên chân Phật
Ngũ
ẩm phù vân không khứ lai
Tam
độc thủy bào hư một xuất
Kiến
văn tiểu lục 9 không thấy chép. Ðây là bài thơ khác từ
Chứng đạo ca của Vĩnh Gia Chân Giác trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 30 tờ 460a16-17 .
Bài
thơ 25 :
Ngộ
tâm dung dị tức tâm nan
Tức
đắc tâm nguyên đáo xứ nhàn
Ðẩu
chuyển tinh di thiên dục hiểu
Bạch
vân y cựu phú thanh san
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30a8-b1 chép y nguyên. Ðây là bài thơ của
thiền sư Tuyết Ðậu Trì trong Ngũ đăng hội nguyên 18 tờ
352a5-6 và Thiền tông chính mạch 9 tờ 313a2-3 (157a2-3)
Bài
thơ 26 :
Ngu
nhân trừ cảnh bất trừ tâm
Trí
giả trừ tâm bất trừ cảnh
Bất
tri tâm cảnh bản như như
Xúc
mục ngộ duyên thường trấn định
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30b1-2 cũng chép thế, đây là một bài
thơ của Hối Ðường Tổ Tâm trong Ngũ đăng hội nguyên 17
tờ 327a8-9 và Thiền tông chính mạch 9 tờ 290b14-15 (145a14-15)
trong đó có chữ trừ của hai câu 1 và 2 chúng có vong, và
3 chữ thường trấn định, chúng có vô chướng ngại .
Bài
thơ 27 :
Nhất
diệp biển chu phiếm diễu mang
Trình
nhiêu vũ trạo biệt cung thương
Vân
sơn thủy nguyệt đô phao khước
Doanh
đắc Trang Chu nhất mộng trường
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30b2-4 cũng có chép, nhưng câu thứ 3 thay
vì trình nhiêu thì viết thành chỉ nhiêu, đây là một bài
thơ của thiền sư ni Vô Trước Diệu Tổng chép ở Ngũ đăng
hội nguyên 20 tờ 400b18-401a2 và Thiền tông chính mạch 10 tờ
353b14-16 (177b14-16) trong đó có câu cuối thay vì có nhất mộng
thì bản ở đây có điệp mộng .
Bài
thơ 28 :
Nam
đài tĩnh tọa nhất lô hương
Chung
nhật ngưng nhiên vạn lự vương
Bất
thị tức tâm trừ vọng tức
Ðô
duyên vô sự khả tư lương
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30b4-5 cũng chép, nhưng câu thứ hai thay
vì vạn lự, chép thành niệm lự, câu thứ 3 vọng tức chép
thành vọng tưởng, câu thứ tư đô duyên chép thành chỉ duyên,
đây là bài thơ của thiền sư Nam Ðài thủ An trong Cảnh Ðức
truyền đăng lục 24 ÐTK 2076 tờ 401b17-18, Ngũ đăng hội nguyên
8 tờ 154a17-18 và Thiền tông chính mạch 4 tờ 144b17-18 (72b17-18),
trong đó câu thứ hai và thứ ba của Cảnh Ðức truyền đăng
lục chép thành :
Cắng
nhật ngưng nhiên vạn sự vương
Bất
thị tức tâm trừ vọng tưởng
Bài
thơ 29 :
Sấu
trúc trường tùng trích thúy hương
Lưu
phong sơ nguyệt độ vi lương
Thiên
tri thùy trú Nguyên tây tự
Mỗi
nhật chung thanh tống tịch dương
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30b5-7 cũng chép, nhưng thay vì có nguyên
tây tự, nó để trống chữ đầu và chép tiếp là hư tự,
đây là bài thơ của thiền sư Tuyết Phong Chí Tuyền chép
trong Ngũ đăng hội nguyên 16 tờ 319a18-b1 và Thiền tông chính
mạch 8 tờ 284b18-285a1 (142d18-143a1), trong đó thay vì có vi lương,
lại viết viêm lương. Ðiều đáng ngạc nhiên là một trong
các cao đệ Minh Châu Hương Hải, tức tăng chính Như Sơn,
khi viết Ngự chế thiền điển thống yếu kế đăng lục
quyển tả tờ 40a7-8 vào năm Giáp dần (1734) đã ghi đây là
bài kệ thị tịch của thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644)
không biết dựa vào đâu .
Bài
thơ 30 :
Trú
mộng na tri mộng thị hư
Giác
lai phương giác mộng trung vô
Mê
thời kháp đắc mộng trung sự
Ngộ
hậu hoàn đồng thụy khởi phu
Kiến
văn tiểu lục không thấy chép bài này, nhưng đây là bài
thơ của thiền sư Long Nha Cư Ðộn trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 29, ÐTK 2076 tờ 453a13-14, trong đó thay vì trú mộng
của câu thứ nhất, nó có tại mộng, và câu thứ ba thay vì
kháp đắc, nó có kháp thị .
Bài
thơ 31 :
Khô
mộc nham tiền sái lộ đa
Hành
nhân đáo thử tận ta đà
Lộ
tư lập tuyết phi đồng sắc
Minh
nguyệt lô hoa bất tợ tha
Liễu
liễu liễu thời vô sở liễu
Huyền
huyền huyền xứ diệc tu ha
Ân
cần vị xướng huyền trung khúc
Không
lý thiềm quang yết đắc ma
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 30b7-31a1 có chép nhưng riêng câu thứ 6
thay vì tu ha lại chép tu đa, đây là một bài thơ của thiền
sư Ðồng An Thường Sát trong Thập huyện đàm chép ở Cảnh
Ðức truyền đăng lục 29, ÐTK 2076 tờ 455c15-18 .
Bài
thơ 32 :
Nhàn
tọa minh nhiên thánh mạc tri
Túng
ngôn vô vật tỉ phương y
Thạch
nhân bả bảng vân trung phách
Mộc
ngữ hàm sênh thủy để xuy
Nhược
đạo bất văn cừ vị hiểu
Dục
tầm kỳ hưởng nễ hoàn nghi
Giáo
quân xướng họa nhưng tu họa
Hưu
vấn cung thương trúc dự ti
Kiến
văn tiểu lục 9 không thấy chép, nhưng đây là bài thơ khác
của Ðồng an Sát thiền sư trong Thập huyền đàm chép ở
Cảnh Ðức truyền đăng lục 29, ÐTK 2076 tờ 455c21-24, song
câu thứ 4 thay vì hàm sanh nó có hàm sênh, và câu thứ 6 thay
vì nễ hoàn nó có nhĩ hoàn .
Bài
thơ 33 :
Vũ
tẩy đạm hồng đào ngạc nộn
Phong
xuy thiển bích liễu ti khinh
Bạch
vân ảnh lý quái thạch lộ
Lục
thủy quang trung cổ mộc thanh
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31a1-2 chép y nguyên và đây là bài 8 đề
trên bức tranh của thiền sư Phù Dung ở truyện thiền sư
Hương Sơn Pháp Thành trong Tục truyền đăng lục 12 ÐTK 2077
tờ 542c18-19. Nhưng truyện thiền sư Hoa Dược Trí Bằng ghi
ở Ngũ đăng hội nguyên 14 tờ 272b7-8 và Thiền tông chính
mạch 7 tờ 247b3-4 (124b3-4) lại chép đó là của Bảo Phong,
thầy của Trí Bằng, tự đề vào tượng của mình, còn Thiền
tông tụng cổ liên châu thông tập 4 tờ 44b6-7 (22d6-7) lại
chép của Tiềm Am Quang .
Bài
thơ 34 :
Nhất
địch địch phiên tứ đại hải
Nhất
quyền quyền đảo Tu di sơn
Phật
tổ vị trung lưu bất trụ
Hựu
xuy ngưu địch bạc la loan
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31a2-4 cũng chép y như trên, đây là bài
kệ của thiền sư Ðức Sơn Tuệ Sơ chép ở Ngũ đăng hội
nguyên 18 tờ 358a17-18, Thiền tông chính mạch 9 tờ 317a8-9 (159b8-9)
và Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 12 tờ 141b13-14
(71b13-14) .
Bài
thơ 35 :
Hảo
sự đôi đôi điệp điệp lai
Bất
tu tạo tác dự an bài
Lạc
lâm hoàng diệp thủy thôi khứ
Hoành
cốc bạch vân phong chuyển hồi
Hàn
nhạn nhất thanh tình niệm đoạn
Sương
chung tài động ngã sơn tồi
Bạch
dương cánh hữu qua nhân xứ
Tận
dạ hàn lô bát nguyên hôi
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31a4-7 cũng chép, nhưng thay vì câu thứ
hai tạo tác chép thành tạo hoá và câu thứ 6 sương chung thì
viết thành sương trung, đây là bài thơ của thiền sư Bạch
dương Thuận ghi trong Ngũ đăng hội nguyên 20 tờ 390a6-9 và
Thiền tông chính mạch 10 tờ 344b6-345a1 (172d16-173a1), mà câu
thơ cuối thay vì có bát nguyên hôi nó có bát tử hôi .
Bài
thơ 36 :
Liễu
vọng qui chơn vạn lụy không
Hà
sa phàm thánh bản lai đồng
Mê
lai tịnh thị nga đầu diệm
Ngộ
khứ phương tri hạc khử lung
Phiến
nguyệt ảnh phần thiên giản thủy
Cô
tùng thanh nhậm tứ thời phong
Trực
tu mật khế tâm tâm địa
Thỉ
ngộ sanh bình thụy mộng trung
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31a7-9 cũng chép, nhưng câu thứ nhất thay
vì liễu vọng thì chép thành phản vọng, câu thứ 4 khử lung
chép thành xuất lung, câu thứ 8 sanh bình chép thành bình sanh,
đây là bài thơ Tặng thiền khách của Tăng nhuận thi ghi trong
Cảnh Ðức truyền đăng lục 30 ÐTK 2076 tờ 456b24-27, trong
đó câu thứ nhất thay vì vạn lụy chép thành vạn lự, câu
thứ hai thay vì bản lai đồng lại chép thể thông đồng;
câu thứ ba tịnh thị lại chép tận tợ; câu thứ 4 phương
tri hạc khử lung lại chép giai như hạc súc lung; và câu cuối
thay vì thỉ ngộ sanh bình, thì lại chép thành hưu khổ lao
sanh .
Bài
thơ 37 :
Tâm
pháp song vong do cách vọng
Sắc
trần bất nhị thượng dư trần
Bách
điểu bất lai xuân hựu quá
Bất
tri thùy trị trú am nhân
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31b1-2 cũng chép, nhưng thay vì câu thứ
hai là sắc trần, nó chép thành sắc không, đây là một bài
thơ của Tính Không Diệu Phổ am chủ ghi trong Ngũ đăng hội
nguyên 18 tờ 347a15-16 và Thiền tông chính mạch 9 tờ 308a12-13
(154c12-13) .
Bài
thơ 38 :
Tạng
thân vô tích cánh vô tàng
Thoát
thể vô y tiệm xí đang
Cổ
kính bất ma hoàn tự chiếu
Ðạm
yên hoà vụ thấp thu quang
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31b2-3 chép y nguyên, nhưng không thấy trong
tập bản dịch Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Ðôn toàn
tập, tập II (Hà Nội : Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1977),
đây là bài thơ của thiền sư Thủy An Sư Nhất ghi ở Ngũ
đăng hội nguyên 20 tờ 404a17-18 và Thiền tông chính mạch
10 tờ 356b13-14, trong đó câu 2 thay vì tiện xí nó có tiện
tư, câu 3 thay vì bất ma nó có bất lao và câu thứ 4 thay vì
hoà vụ nó có hoà lộ .
Bài
thơ 39 :
Quang
minh tịch chiếu biến hà sa
Phàm
thánh hàm linh cộng nhất gia
Nhất
niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục
căn tài động bị vân già
Ðoạn
trừ phiền não trùng tăng bệnh
Xu
hướng chân như tổng thị tà
Tuỳ
thuận chúng duyên vô quái ngại
Niết
bàn sinh tử thị không hoa
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31b4-6 cũng có chép, nhưng câu đầu hai
chữ quang minh lại để trống, câu thứ ba thay vì nhất niệm
nó có bất niệm, câu thứ 6 thay vì xu hướng nó có siêu khởi,
câu thứ 7 thay vì vô quái ngại nó có vô trở ngại. Và đây
là một bài kệ do Trương Chuyết trình cho Thạch Sương Khánh
Chư chép trong Ngũ đăng hội nguyên 6 tờ 100a16-18 và Thiền
tông chính mạch 3 tờ 106a6-11 (53c8-11) trong đó câu thứ 2 thay
vì cộng nhất gia nó có cộng ngã gia, câu 6 thay vì xu hướng
nó có thú hướng và thay vì tổng thị nó có diệc thị, và
câu 7 thay vì chúng duyên nó có thế duyên. Bài này cũng có
chép trong Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 27 tờ
339b8-11 (170b8-11) .
Bài
thơ 40 :
Cảnh
duyên vô hảo xú
Hảo
xú khởi ư tâm
Tâm
nhược bất cưỡng danh
Vọng
tình hà xứ khởi
Vọng
tình ký bất khởi
Chân
tâm nhiệm biến tri
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31b7-8 chép y nguyên, đây là bài kệ do
Ngũ Tổ Ðạo Tín trả lời cho Ngưu Ðầu Pháp Dung về việc
lúc cảnh dấy lên thì tâm phải thế nào trong Cảnh Ðức
truyền đăng lục 4, ÐTK 2076 tờ 227b1-3, ở đó câu 4 thay vì
hà xứ nó có tùng hà, và cả trong Ngũ đăng hội nguyên 2
tờ 21b14-16 và Thiền tông chính mạch 1 tờ 30b4-5 (15d4-5). Cần
nói thêm là cả trong Hương Hải thiền sư ngũ lục và Kiến
văn tiểu lục đều chép lầm hai câu cuối vào trong bài thơ
tiếp theo, tức bài 41, trong khi thực tế là thuộc về bài
thơ 40, như Cảnh Ðức truyền đăng lục, Ngũ đăng hội nguyên,
và Thiền tông chính mạch đã ghi .
Bài
thơ 41 :
Niệm
tưởng do lai huyễn
Chân
tính vô chung thỉ
Nhược
đắc thử trung ý
Trường
ba đương tự chỉ
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31b8-9 chép y nguyên, và đây là bài kệ
do Tuệ Trung đáp lại bài kệ của thầy mình là thiền sư
Trí Thành trong Cảnh Ðức truyền đăng lục 4 , ÐTK 2076 tờ
229a5-6, ở đó câu 2 thay vì chân tính nó có tính tự .
Bài
thơ 42 :
Kiến
đạo phương tu đạo
Bất
kiến phục hà tu
Ðạo
tính như hư không
Hư
không hà sở hưũ
Biến
quan tu đạo giả
Bát
hoả mích phù âu
Ðản
khán lộng khối lổi
Tuyến
đọan nhất tề hưu
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 31b9-32a2 có chép, nhưng câu cuối thay vì
tuyến đoạn nó có duyên đoạn. Và đây là bài kệ của thiền sư
Bản tịnh ghi trong Cảnh Ðức truyền đăng lục 5, ÐTK 2076
tờ 243a3-26, ở đó câu 4 thay vì sở hữu nó có sở tu, và
câu cuối thay vì tuyến đoạn nhất tề hưu thì nó có duyên
đoạn nhất thời hưu .
Bài
thơ 43 :
Suy
chân chân vô tướng
Cùng
vọng vọng vô hình
Phản
quan suy cùng tâm
Tri
tâm diệc giả danh
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32a2-3 chép y nguyên, đây là bài kệ cũng
của thiền sư Bản Tịnh ghi trong Cảnh Ðức truyền đăng
lục 5 ÐTK 2076 243b18-19 và Ngũ đăng hội nguyên 2 tờ 33a4-5
.
Bài
thơ 44 :
Thiện
ký tùng tâm sinh
Ác
khởi ly tâm hửu
Thiện
ác thị ngoại duyên
Ư
tâm thật bất hửu
Xả
ác tống hà xứ
Thủ
thiện lịnh thùy thủ
Thương
ta nhị kiến nhân
Phan
duyên lưỡng đầu tẩu
Nhược
ngộ bản vô tâm
Thỉ
hối tùng tiền cựu
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32a3-6 có chép, nhưng câu 3 thay vì ngoại
duyên nó có ngã duyên và câu 6 thay vì lịnh thùy nó có kim
thùy. Một lần nữa, đây là bài kệ của thiền sư Bản Tịnh
ghi trong Cảnh Ðức truyền đăng lục 5 ÐTK 2076 tờ 243b27-c2
.
Bài
thơ 45 :
Hữu
vật tiên thiên địa
Vô
hình bản tịch liêu
Năng
vi vạn tượng chủ
Bất
trục tứ thời điêu
Kiến
văn tiểu lục 9 không thấy chép. Song đây là bài tụng của
phó đại sỹ Thiện Tuệ (479-?) ghi trăng Ngũ đăng hội nguyên
2 tờ 40b8-9, Thiền tông chính mạch 3 tờ 83a18-b1 (43c18-d1) và
thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 3 tờ 60a5 .
Bài
thơ 46 :
Không
thủ bả sừ đầu
Bộ
hành kỵ thủy ngưu
Nhân
tùng kiểu thượng quá
Kiều
lưu thủy bất lưu
Kiến
văn tiểu lục 9 không thấy chép, song đây là một bài kệ
khác của đại sỹ Thiện Huệ ghi trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 27, ÐTK 2076 tờ 430b6-7, Ngũ đăng hội nguyên 2 tờ
40b7-8 và Thiền tông chính mạch 3 tờ 86a18-b1 (43c18-d1) .
Bài
thơ 47 :
Dạ
dạ bảo Phật miên
Triêu
triêu hoàn cọng khởi
Khởi
tọa trấn tương tùy
Ngữ
mặc đồng cư chỉ
Tiêm
hào bất tương ly
Như
hình ảnh tương tự
Dục
thức Phật khứ xứ
Chỉ
giá ngữ thanh thị
Kiến
văn tiểu lục 9 không thấy chép, song đây là một bài tụng
khác của phó đại sỹ Thiện Tuệ ghi đầy đủ trong Ngũ
đăng hội nguyên 2 tờ 40b5-7. Tục truyền đăng lục 10, ÐTK
2077 tờ 527a16-17 do Lưu Kinh Thần trích dẫn, bảo là của người
xưa(tích nhân) và thiếu hai câu 5 và 6, trong khi Thiền tông
tụng cổ liên châu thông tập 3 tờ 59b19 lại ghi rất rõ là
của Phó đại sỹ, nhưng chép thiếu câu 4 và 5. Bài này Thiền
tông chính mạch 3 tờ 86a15-16(43c15-16) chép đủ, chỉ câu 6
thay vì hình ảnh nó có thân ảnh .
Bài
thơ 48 :
Nhãn
quang tùy sắc tận
Nhĩ
thức trục thanh tiêu
Hoàn
nguyên vô biệt chỉ
Tạc
nhật dự kim triêu
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32a6-7 có chép, nhưng câu 3 thay vì vô biệt
nó có đương biệt, đây là một bài kệ của Thiền sư Sư
Nãi Giám Chân ghi ở Cảnh Ðức truyền đăng lục 19 ÐTK 2076
tờ 356a19-20, Ngũ đăng hội nguyên 7 tờ 134a8-9 và Thiền tông
chính mạch 4 tờ 130b12 (65d12), trong đó câu cuối cùng đọc
là :
Kim
nhật dự minh triêu
Bài
thơ 49 :
Phiến
nguyệt tẩm hàn đàm
Vi
vân ánh bích không
Nhược
ư đạt đạo nhân
Hảo
cá chân tiêu tức
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32a7-8 chép y nguyên, và đây là bài kệ
của Thiền sư Tu Tuệ Viên Chiếu ghi trong Tục truyền đăng
lục 11, ÐTK 2077 tờ 530b3-4, Ngũ đăng hội nguyên 16 tờ 307a2-3
và Thiền tông chính mạch 8 tờ 275b2-3 (138b2-3), ở đó câu
2 thay vì ánh bích không, chúng có mãn không bích .
Bài
thơ 50 :
Kiến
vật tiện kiến tâm
Vô
vật tâm bất hiện
Thập
phần thông tắc trung
Chân
tâm vô bất biến
Nhược
sanh tri thức giải
Khước
thành điên đảo kiến
Ðỗ
cảnh năng vô tâm
Thỉ
kiến bồ đề diện
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32a8-b1 chép y nguyên. Câu đầu tiên của
bài thơ này lại nằm trong một câu hỏi của Tuyết Phong Nghĩa
Tồn đối với Ðạo Phó Thuận Ðức trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 18 tờ 348c22 và Ngũ đăng hội nguyên 7 tờ 130a11,
bảo là của Qui Sơn Linh Hựu (771-853), nhưng tiểu sử của
Hựu ở Cảnh Ðức truyền đăng lục 9 tờ 264b15-266a2 không
thấy ghi. Thiền sư Ðức Sơn Chí Tiên cũng được một vị
sư dùng câu ấy để hỏi trong Tục truyền đăng lục 3 ÐTK
2077 tờ 481b28, trong đó thay vì vật nó có sắc .
Bài
thơ 51 :
Phật
vị vô tâm ngộ
Tâm
nhân hửu Phật mê
Phật
tâm thanh tịnh xứ
Vân
ngoại dã viên đề
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32b1-2 có chép, nhưng câu đầu thay vì
vô tâm nó có đương tâm, đây là bài kệ của thiền sư Quảng
Huệ Ðạt Cảo ghi trong Ngũ đăng hội nguyên 18 tờ 345b17-18
và Thiền tông chính mạch 9 tờ 306b13-14 (153d13-14)
Bài
thơ 52 :
Phong
động tâm dao thụ
Vân
sanh tính khởi trần
Nhược
minh kim nhật sự
Muội
khước bản lai nhân
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32b2-3 chép y nguyên, đây là bài tụng
của thiền sư Long Tế Thiệu Tu ghi trong Ngũ đăng hội nguyên
8 tờ 154a5-6, Thiền tông chính mạch 4 tờ 144b9-10 (72b9-10) và
Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập 25 tờ 443b11-12 (222b11-12),
cần chú ý là cả Hương Hải thiền sư ngũ lục lẫn Kiến
văn tiểu lục đều chép hai bài 51 và 52 thành một bài, mà
nếu ta không truy nguyên thì không thể nào phân biệt được
.
Bài
thơ 53 :
Ngại
xứ phi tường bích
Thông
xứ một hư không
Nhược
nhân như thị giải
Tâm
sắc bản lai đồng
Kiến
văn tiểu lục 9 tờ 32b3-4 chép y nguyên, đây là bài thơ của
thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm ghi trong Cảnh Ðức truyền
đăng lục 10, ÐTK 2076 tờ 275b26-27, ở đó câu 2 thay vì một
hư không, nó có vật trung kỳ. Ngũ đăng hội nguyên 4 tờ
68b15-16 và Thiền tông chính mạch 2 tờ 73a12 (37a12) chép giống
như bản ta có .<