I
NIÊN
ÐẠI VÀ CON NGƯỜI
Về
lai lịch, vì hai trang đầu của Hương Hải thiền sư ngũ lục
đã bị mất trong bản in chúng tôi hiện có, nên nếu dựa
vào những ghi chép của Lê quý Ðôn trong Kiến văn tiểu lục
9, thì ta biết Minh Châu Hương Hải thuộc vào một danh gia
thế phiệt của miền Nam nước ta vào thời ông. Tổ tiên
4 đời là Khởi nghĩa kiệt tiết công thần Trung lộc hầu,
người Áng Ðộ, Nghi Lộc, Nghệ An, theo phò Nguyễn Hoàng và
đến sống tại Quảng Nam. Hương Hải đã sinh ra tại vùng
đất này, tại làng Bình An thượng, phủ Thăng Hoa, tỉnh Quảng
Nam hiện nay vào năm 1628. Năm 18 tuổi ông thi đỗ Hương tiến
và được bổ làm tri phủ Triệu phong. Năm Mậu Thìn (1652),
ông đến thụ giáo với thiền sư Lục Hồ Vân Cảnh, được
đặt pháp tự Minh Châu Hương Hải và pháp hiệu Huyền Cơ
Thiện Giác, tiếp đến lại tới học đạo với thiền sư
Viên Khoai Ðại Thâm. Rồi 3 năm sau, ông từ quan và đi xuất
gia lúc mới 30 tuổi. Một thời gian sau ông đóng thuyền đến
cù lao Chàm ở ngoài cửa biển Hội An, dựng 3 gian am nhỏ
để ở và tu trì. Thời gian thiền sư ở đảo này khoảng
chục năm, tiếng tăm tu thiền của ông được nhiều người
biết đến, trong số đó có Hoa lễ hầu là Tổng thái giám.
Hoa Lễ Hầu tâu với Dũng quốc công Nguyễn Phúc Tần (1649-1687)
về thiền sư và thiền sư được quốc công mời về trụ
trì viện Thiền tịnh ở núi Qui Kỉnh. Mẹ của Nguyễn Phúc
Tần và 3 con là Phúc Mỹ, Hiệp Ðức và Phúc Tộ đều đến
quy y cùng đông đảo quan lính .
Bấy
giờ sau trận đánh năm 1648, mà kết quả là quân Trịnh đã
thua và trong số tù binh quân Nguyễn bắt được có Gia quận
công đã đến theo học với thiền sư. Có người dèm pha Gia
quận công muốn bàn tính chuyện vượt biển về Bắc với
thiền sư, Nguyễn Phúc Tần cho điều tra không có kết quả,
bèn đưa thiền sư trở về Quảng Nam. Từ đó, thiền sư có
ý vượt biển ra Bắc vì bị nghi ngờ . Ðó là vào tháng 3
năm Nhâm Tuất (1682), lúc sư đã 55 tuổi. Cần nói thêm ở
đây là Hương Hải thiền sư ngũ lục ghi thời điểm ấy
sư 53 tuổi. Ghi thế rõ ràng là một nhầm lẫn, bởi vì cuối
sách chép sư mất năm Ất mùi, lúc đã 88 tuổi. Chữ ngũ dễ
khắc lộn thành chữ tam .
Sư
bèn cùng hơn 50 đồ đệ đi thuyền đến Vinh, vào yết kiến
Yến quận công Trịnh Ðiềm (1629-1696), đang giữ chức trấn
thủ vùng đất này. Sau khi khám xét và điều tra được một
tháng thì Trịnh Tạc (1653-1682) đã cho Ðường quận công đi
đón thiền sư về kinh đô tiếp tục điều tra với những
người như Lê Hy v.v… và đã xác định đúng thiền sư là
người Áng Ðộ, Nghệ An. Bấy giờ, Trịnh Tạc mới mất
, Trịnh Căn nối ngôi và ban cho sư áo mão, lương thực và
tiền bạc, rồi cho về trấn Sơn Nam, giao Tước quận công
Lê đình Kiên (1623-1704) giúp đỡ và thành lập viện Thiền
tịnh, sau đó là chùa Nguyệt Ðường ở tại phố Hiến. Chính
trong thời gian ở tại chùa Nguyệt Ðường này, thiền sư
đã diễn dịch ra tiếng Việt 20 bộ kinh luận cùng sáng tác
một số thơ văn khoảng 5 bài. Cuối cùng thiền sư đã mất
vào ngày 12 tháng 5 năm Ất Mùi 1715, sau khi đã phó chúc lại
bài kệ :
Thời
đương bát thập bát
Hốt
nhiên đăng tọa thoát
Hữu
lai diệc hữu khứ
Vô
tử diệc vô hoạt
Pháp
tính đẳng hư không
Sắc
thân như bào mạt
Ðông
độ ly ta bà
Tây
phương liên ngạc pháp
(tuổi
đương tám mươi tám
Tọa
thoát tự nhiên bỗng
Có
đến cũng có đi
Không
chết cũng không sống
Pháp
tính giống hư không
Sắc
thân như bọt mọn
Ðông
độ rời ta bà
Tây
phương đài sen đón)
Trong
cuộc đời 88 năm của mình, Minh Châu Hương Hải đã có những
đóng góp cho dân, cho nước qua thời gian mấy năm làm quan
khi còn tuổi thanh niên. Rồi đến lúc xuất gia, Minh Châu Hương
Hải vẫn còn đóng góp sức mình bằng mối quan hệ chặt
chẽ với những nhà lãnh đạo chính trị quân sự đương
thời mình. Minh Châu Hương Hải đã có quan hệ chặt chẽ
với họ Nguyễn đàng trong, đặc biệt với Hiền vương Nguyễn
Phúc Tần, rồi sau đó với vua Lê Hy Tông (1676-1704) và Lê
Dụ Tông (1705-1728) cùng các chúa Trịnh Tạc (1653-1682), Trịnh
Căn (1683-1709) và Trịnh Cương (1709-1729) với các quan lại
cao cấp của triều đình như Ứng quận công Ðặng Ðình Tướng
(1659-1735) Tước quận công Lê Ðình Kiên (1623-1704) v.v… và
đã có ảnh hưởng nhất định với những vị này .
Chẳng
hạn, vụ cấm đạo năm 1714 đã xảy ra với sự tham dự ít
nhiều của chính thiền sư Hương Hải, như Hương Hải thiền
sư ngũ lục đã ghi : "Vào một ngày rảnh, trưởng quan lại
đến Nguyệt Ðường gọi 3 thầy người đạo Hoa lang cùng
đến trong chùa Nguyệt Ðường đối đàm giảng đạo với
tổ sư để xem thắng bại thế nào. 3 thầy đạo Hoa lang một
tên là Tài Gia, hai tên là Tài Hữu và ba tên là Tài Chi. Trưởng
quan hỏi Ðạo một câu, hỏi Thích một câu. 3 thầy đạo
3 lần không nói được. Chỉ còn một Thích lời nói không
dứt. Trưởng quan bảo : Ðạo không bằng Thích. Hoa lang ngoa
dối lời dụ dỗ để xiêu lòng người, đó gọi là tà đạo,
chẳng biết nghĩa lý. Trưởng quan lại bảo, họ Thích thông
lời chí lý, có sự có tích, báu pháp vô biên. Từ đó ông
biết đạo là ngụy chẳng chân, liền trở về báo lên cửu
trùng. Ðức Thánh thượng trải 8 tháng sai quan đuổi đám
Hoa lang trở về nước nó, không được ở chỗ hiến trấn
nữa "
Việc
đối đàm với 3 giáo sĩ Ki tô giáo này, kiểm tra lại các
tư liệu củaToà thánh Ki tô giáo La Mã, cho đến nay chưa thấy
có dấu hiệu ghi chép nào cả. Tuy nhiên đây là một thông
tin đầu tiên về việc quan hệ giữa Phật giáo và Ki tô giáo
tại Việt Nam do phía Phật giáo truyền lại. Ðiều này chứng
tỏ Phật giáo không đứng ngoài cuộc đấu tranh tư tưởng
xảy ra trong các thế kỷ có cuộc giao lưu và quan hệ với
phương Tây như có người đã lầm tưởng. Và Phật giáo giai
đoạn này, chỉ qua quan hệ một mình cá nhân Minh Châu Hương
Hải đã có những tác động to lớn đối với chính sách
của triều đình, điều này chứng tỏ đây là thời kỳ Phật
giáo phát triển rực rỡ, thể hiện đóng góp của mình trong
quá trình dựng nước và giữ nước như từng xảy ra trong
quá khứ .
Hương
Hải thiền sư ngũ lục cũng ghi lại cuộc đàm đạo của
Hương Hải thiền sư với vua Lê Dụ Tông vào năm 1714 và kết
thúc bằng bài thơ tiếng Việt do Trịnh Cương (1709-1729) tặng
cho thiền sư :
Danh
lam từng trải đã hay danh
Trình
độ này âu hợp chốn trình
Pháp
giới chăm chăm tuyên diệu pháp
Kinh
luân rỡ rỡ diễn chân kinh
Công
nhiều nhờ có công vô lượng
Thế
thuận vầy nên thế hữu tình
Ngăn
tục mựa hề mùi tục lụy
Lòng
thiền tua kín chốn thiền khuynh
Và
Ứng quận công Tiến sĩ Ðặng đình Tướng cũng làm thơ ca
ngợi việc giảng kinh của thiền sư như Trịnh Cương đã
làm :
Xuân
hoa nhân vọng mộc thiều dương
Hà
nhật giai nhân thưởng Nguyệt đường
Lão
bá đình tiền trương thuý tán
Nộn
hà hạm ngoại tiến kỳ hương
Băng
tâm trì ấn tuyên kinh tẩu
Thiết
diện tuần tường vọng đạo lương
Kỷ
chủng hữu tình qui bút để
Huyền
huyền vị đắc nhất thiên trường
(Hoa
xuân người ngắm tấm thiều dương
Ngày
rảnh giai nhân viếng Nguyệt đường
Tùng
cỗi trước sân trương lọng thúy
Sen
non ngoài cửa ngát mùi hương
Lòng
băng trì ấn truyền kinh lão
Mặt
sắt men tường ngắm giáo lương
Bao
thứ hữu tình tuôn đổ bút
Thơ
huyền thưởng thức một vài trương).
Và
sau khi được tặng thưởng những bài thơ của vua quan như
thế này, Minh Châu Hương Hải cũng không thiếu những bài
thơ đáp lại. Bài sau đây là một thí dụ và chắc chắn
là bài thơ của chính thiền sư tặng cho Ðặng Ðình Tướng
:
Hướng
minh qui mạng sự quân vương
Yết
kiến tôn công khánh thọ trường
Tài
dụng kinh luân kiêm đức hạnh
Ân
thi lễ nghĩa quí văn chương
Ngoại
trừ đạo tặc binh nhân ái
Nội
dưỡng trinh liêm sĩ tốt cường
Quyền
trấn nam giao danh tứ hải
Khuông
phò quốc chính lạc quần phương
(Vua
sáng trở về giúp vận nên
Tôn
công thăm hỏi tuổi mừng thêm
Kinh
luân đức hạnh tài dùng đủ
Lễ
nghĩa văn chương ý đáp đền
Ngoại
trừ đạo tặc quân dân thích
Trong
dưỡng trinh liêm sĩ tốt bền
Quyền
trấn cõi nam tên bốn bể
Khuông
phò đất nước sướng muôn bên) .
Qua
những quan hệ như thế, ta thấy con người của Hương Hải
có nhiều tài nhiều vẻ. Ông đã sống trong thời kỳ đất
nước đang vươn mạnh về phía Nam, biên cương tổ quốc ngày
càng mở rộng tưởng như không bao giờ chấm dứt, sức sống
dân tộc trào dâng dào dạt. Ðây là thời kỳ của những
thiên tài khoa học như Chân An Tuệ Tĩnh (?-1711) thiên tài văn
sử học như Chân Nguyên Tuệ Ðăng (1647-1726) v.v…Họ đã
ra sức đóng góp cho dân tộc và thời đại mình, cố gắng
xây dựng đất nước thanh bình, giàu mạnh và văn minh. Cuộc
đời và con người của Minh Châu Hương Hải đã xuất hiện
trong một bối cảnh như thế .
Ðó
là đối với đời. Còn đối với đạo, Minh Châu Hương Hải
đã đào tạo ra một loạt những thế hệ người kế thừa
sự nghiệp truyền bá Phật giáo của mình mà tên tuổi còn
được ghi lại trong Hương Hải thiền sư ngữ lục. Theo tài
liệu này và căn cứ bài kệ truyền pháp của thiền phái
Lâm Tế dòng Trí Bảng Ðột Không :
Trí
tuệ thanh tịnh
Ðạo
đức viên minh
Chân
như tính hải
Tịch
chiếu phổ thông
Thì
những đệ tử trực tiếp vào hàng chữ Chân của bài kệ
gồm có Chân Lý Hiển Mật, Chân Tạng Mật Hạnh, Chân Chiếu
Hoa Mỹ, Chân Tông Quảng Trí, Chân Quý Phổ Ứng, Chân truyền
Quang Tán, Chân Tịch Khổ Hạnh, Chân Thành Bồ Ðề, Chân Thường,
Chân Cảnh, Chân Thước, Chân Ý, Chân Thị, Chân Thuần, Chân
Ðẳng, Chân Bình, Chân Pháp, Chân Quản, Chân Trí, Chân Bảo,
Chân Thưởng, Chân Ðông, Chân Dung, Chân Quả, Chân Viên, Chân
Kinh, Chân Tịnh, Chân Quang, ngoài ra cộng thêm 1 số vị thành
hơn 70. Ðến những đệ tử hàng chữ Như của những vị
có chữ Chân vừa kể, ta có tăng thống Như Nguyệt Hoa Quang,
Như Tông, Như Túc, Như Khoản, Như Nhật, Như Ðài, Như Bảo,
Như Sơn, Như Thừa, Như Cống, Như Thiên, Như Hiền, Như Nhẫn,
tăng thống Như Toàn, Như Biện, Như Ðề, Như Viên, Như Kiên,
Như Phái, Như Mật, Như Cảnh, Như Hải, Như Khanh, Như Nghiệm.
Rồi đến hàng đệ tử của những vị vừa nêu, có pháp
danh bắt đầu với chữ Tính, ta có tăng thống Tính Thanh,
Tính Liễn, Tính Kế Ðạm Hạnh, Tính Khả, Tính Lâm, Tính
Duệ, Tính Thước, Tính Tường, Tính Mẫn, Tính Nhu, Tính Ðịnh,
Tính Mỗ, Tính Ánh, Tính Trác, Tính Ðức, Tính Trí, Tính Lãng,
Tính Năng, Tính Tiếp, Tính Phụng, Tính Xán, Tính Tuyên, Tính
Hằng. Ðến hàng đệ tử của những vị vừa kể, bắt đầu
pháp danh với chữ Hải ta có tăng phó Hải Bồi, tăng phó
Hải Triều, Hải Ðường, Hải Nhã, Hải Ðồng, Hải Diên,
Hải Lịch, Hải Khoát, Hải Liên, Hải Trung v.v…
Qua
bản danh sách này, 30 năm sau khi Minh Châu Hương Hải mất,
dòng thiền của ông đã phát triển rực rỡ, trong số ấy
có những người là những đại biểu long tượng cho Phật
giáo như Như Nguyệt Hoa Quang mà tiểu sử phần nào đã được
Lê Quý Ðôn ghi lại trong Kiến văn tiểu lục 9 tờ 33b3-34a4.
Cũng có những người đã kế nghiệp thầy mình trong địa
hạt sáng tác như tăng chính Như Sơn, tác giả bộ Ngự chế
thiền điển thống yếu kế đăng lục, và có những người
đã đóng góp vào việc in lại những sử sách xưa như Tính
Lãng, người bạn thiền của thiền sư Tính Quảng Ðiều Ðiều
đã đứng ra in lại danh tác Thánh đăng ngữ lục và yêu cầu
Tính Quảng viết tựa và đến thế kỷ thứ 19 dòng thiền
của Minh Châu Hương Hải còn được biết qua những người
như Tịch Truyền, Tịch Yên, và đệ tử của những vị này
như Chiếu Khoa, Chiếu Tân v.v…Chiếu Tân là người đã đứng
ra in bộ Pháp hoa quốc ngữ kinh của Pháp Liên vào năm 1856.
Chiếu Kiên góp vào việc in lại Giải tâm kinh ngũ chỉ vào
năm Minh Mạng thứ 14 (1834). Như vậy trong hai thế kỷ 18 và
19, dòng thiền của Minh Châu Hương Hải đã phát triển rầm
rộ .
Ðể
dựng nên một dòng thiền phát triển rầm rộ như thế, Minh
Châu Hương Hải đã biến viện Thiền tịnh đơn sơ ban đầu
vào những năm 1683, 1685 thành một ngôi tổ đình làm trung
tâm văn hoá giáo dục, liên tục đào tạo ra những thế hệ
thiền sư có danh tiếng vừa kể. Ngôi tổ đình này được
ghi lại khá kỹ quá trình xây dựng và kết cấu cơ sở vật
chất tương đối đầy đủ trong Hương Hải thiền sư ngữ
lục, đóng góp vào việc tìm hiểu cách kiến trúc và lối
thờ tự của dân tộc ta vào thời ấy. Ðiều đáng tiếc
là tổ đình này chỉ mới hơn 200 năm qua, bây giờ không còn
một dấu vết gì nữa ngoài 2 tháp mộ là nơi yên nghỉ cuối
cùng của Minh Châu Hương Hải và người cao đệ Viên Thông
phương trượng hoà thượng Chân Lý Hiển Mật. Nhờ sự giúp
đỡ nhiệt tình của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Hưng Yên,
chúng tôi đã có dịp vào thăm tận nơi hai ngôi tháp mộ này,
bây giờ đang nằm trong khuôn viên của nhà dân. Chúng tôi
có đề nghị với chư vị lãnh đạo Giáo hội tỉnh Hưng
Yên xin khôi phục tổ đình Nguyệt đường. Nếu chưa được
thì tối thiểu xin khôi phục lại khuôn viên hai tháp mộ của
thiền sư Minh Châu Hương Hải và thiền sư Chân Lý Hiển Mật
thành những di tích lịch sử văn hoá, làm nơi thăm viếng
và giáo dục truyền thống yêu nước cho con cháu về sau .
Tuy
nhiên, đóng góp to lớn nhất cho đạo của Minh Châu Hương
Hải vẫn chủ yếu nằm trong sự nghiệp trước tác, thể
hiện những suy nghĩ của bản thân và âu lo trước tiền đồ
của Phật giáo cũng như dân tộc .