BỒ TÁT
HẠNH
Dù
chỉ là một khởi niệm trong khía cạnh hy cầu của Bồ Đề
Tâm và trong tự thể của một Thiện Hành không thôi cũng
đã rất vượt thường;nhưng chỉ có thế thôi sẽ không vẹn
toàn nổi tiêu đích viên mãn Phật quả.Mà trọng yếu là
hãy đấn bước tu Bồ Tát Hạnh.Những hành vi này gọi là
Lục Ba La Mật[1] ,kết hợp phương tiện và trí huệ,kiến
tạo nên một chánh đạo chủ yếu và bao quát hướng
đến giác ngộ.Chính Đức Phật đã từng dạy rằng: Bồ
Tát sở dĩ xả bỏ được mọi phiền não là nhờ sức
mạnh của Trí Huệ,nhưng các ngài miên viễn chẳng lìa bỏ
chúng sanh là nhờ vào sức mạnh của phương tiện thiện xảo
Từ Bi.Cả hai phương diện trên đây của Bồ Đề Đạo không
bao giờ nên tách rời biệt lập mà cần phải luôn luôn liên
kết lẫn nhau.Toàn bộ quá trình tu tập của Bồ Tát được
phân hạng thành lục độ Ba La Mật:Bố Thí,Trì Giới,Nhẫn
Nhục,Tinh Tấn,Thiền Định và Trí Huệ.
Nhằm
viên mãn nguyện vọng của tha nhân,tu hạnh Bố Thí là điều
rất quan trọng và hạnh Bố Thí tự nó cần phải được
tôi luyện thêm bằng cách trì giới thanh tịnh để tránh hãm
hại kẻ khác.Sự trì giới cần phải được hoàn mãn bằng
hạnh nhẫn nhục,bởi vì bạn cần phải kham nhẫn nổi những
hãm hại đến với bạn từ phía ngoại nhân..Bạn cần phải
dõng mãnh tinh tấn để tu các hạnh nguyện như vậy.Sự tu
hành của bạn cũng sẽ không được can cường nếu thiếu
Định lực.Và nếu không có trí tuệ để tri hiểu tường
tận tự tánh của vạn pháp,( bản chất của mọi hiện tượng)
thì bạn sẽ không có khả năng dẫn đạo tha nhân một cách
chân xác trên lộ trình hướng đến giác ngộ viên mãn.Bây
giờ, tôi sẽ giảng giải chi tiết về Lục Ba La Mật.
Bố
Thí
Bố
thí là một tâm thái thiết tha ban phát với không một mảy
may rít rắm bỏn xẻn các tài hữu,thân mạng,công đức của
chính mình v.v…Bạn bố thí chính những sở hữu giàu
sang,và ngay cả công đức tích lũy từ hạnh bố thí của
mình cũng cần phải mang ra hồi hướng cho sự phước lợi
của tha nhân.Bố thí Ba La Mật không tùy thuộc vào sự nhổ
tận gốc rễ cảnh trạng nghèo cùng khốn khó của tất cả
chúng sanh;mà là một loại phát triển cứu cánh của thái
độ vị tha quảng đại.Kinh điển đề cập tánh cách quan
trọng của sự bồi dưỡng ý niệm bố thí, đặc biệt là
bố thí thân thể mình cho người.Thân xác chính nó đầy dẫy
tội lỗi và khuyết tật; nhưng với cái thể xác này,bạn
có thể dùng nó để hoàn tất mục đích to lớn là giúp ích
kẻ khác thay vì chỉ chiếm hữu nó.Và điều này cũng áp
dụng luôn cho các tài vật của bạn.Nếu bạn chiếm chặt
tài vật tùy thân,bạn sẽ tích lũy nhiều ác nhiệp hơn do
vì bỏn xẻn keo kiệt.Nhưng nếu hiến tặng cho người các
sở hữu của bạn,chúng sẽ phục vụ mục đích của nó và
đồng thời gia tăng hạnh nguyện bố thí của bạn.Công đức
lành do hạnh ban phát cho kẻ khác cũng nên được mang ra hồi
hướng cho họ tất cả.Kinh điển dạy rằng: nếu tu hạnh
bố thí như vậy,xả bỏ tài hữu,thân xác và xả bỏ luôn
cả những thiện hành đã tích lũy thì công đức tích tập
sẽ rất vĩ đại.Vì thế,không nên chiếm chặt các vật sở
hữu,hoặc cũng không nên cật lực để dành dụm tích trữ
càng ngày càng nhiều,bởi vì mọi sở hữu đều sẽ minh chứng
là một chướng duyên cho hạnh tu bố thí. Đức Phật đã
xả bỏ mọi sở hữu và vật tùy thân cho sự ích lợi
của muôn loài và Ngài đã đạt được cứu cánh giác ngộ.Hiểu
rõ được sự chiếm hữu là hoài công uổng phí; bạn hãy
cố gắng gia tăng niệm cảm quảng đại vị tha của mình
và ứng nghiệm bằng cách ban phát các tài vật của mình cho
tha nhân.Kẻ đã tri hiểu được sự vô ích của lòng chiếm
hữu mà xả bỏ mọi sở hữu của mình do ý nguyện thanh tịnh
muốn giúp đỡ người khác, được gọi là một Bồ Tát.Kinh
điển dạy rằng:do bởi bạn đã từng dâng hiến thân mạng,sở
hữu và luôn cả các công đức tích lũy cho sự phúc lợi
của tha nhân,nên khi cần sử dụng đến chúng,bạn hãy làm
với một tâm thái vay mượn chúng từ người và làm như vậy
cũng vì lợi ích cho người.
Khi
tu hạnh bố thí, nguyện ước giác ngộ một cách vững chắc
và kiên định cần nên là động cơ thúc đẩy của bạn.Bất
cứ điều gì hiến tặng cần phải nhằm mục đích lợi lạc
quần sanh.Tu hạnh bố thí cần phải được hành trì với
một phương cách khéo léo nhắm đến sự phúc lạc của tha
nhân; đó là,liễu tri rằng; tận cùng rồi thì không có tự
ngã ban phát hoặc tự ngã nhận lấy.Tu hạnh bố thí cần
phải được ban phát vì phúc lợi cho người; nhưng nó cũng
đồng thời cần phải được hỷ cúng với điều được
gọi là Thanh Tịnh Thù Thắng[2] có nghĩa là năm loại hạnh
nguyện Ba La Mật kia cũng đồng thời cần phải được hiện
diện.Chẳng hạn như, khi hiến cúng Phật pháp cho người,bạn
nên trì giới để tránh rơi vào tâm thái tự kỷ và đồng
lúc bạn cũng cần phải nhẫn nhục để kham chịu mọi gian
khổ chướng duyên trên suốt lộ trình tu hành.Có ba loại
bố thí: bố thí Pháp; Vô Úy thí-bố thí sự che chở hoặc
ban phát sự không sợ hãi;và Tài thí.
Mục
tiêu mà bạn tu hành bố thí là ý nguyện đạt đến toàn
giác vì phúc lạc của muôn vạn hàm linh.Khi thật sự dấn
thân vào việc bố thí,thì tâm thái của bạn đối với người
nhận của ban phát không nên là một tâm thái trác ẩn thương
cảm.Bạn hãy trông thấy nơi họ như là một lạch nguồn
Đại Ân Sủng đang phụng hiến vào tiến trình tu đạo của
mình.Dù rằng bạn không nên kỳ thị phân biệt,nhưng bạn
cần phải chú tâm đặc biệt đến những kẻ thiếu thốn
vật chất và đến những kẻ đang chịu nhiều khổ đau.Tóm
gọn lại,bất cứ khi nào tu hạnh bố thí thì bạn cũng nên
luôn nhìn thấy và đề cập đến các ưu điểm của người,và
hãy tuyệt nhiên không nói lỗi của người.Tâm thái của bạn
không nên bị ảnh hưởng bởi lòng mong muốn được tưởng
thưởng hoặc danh thơm hoặc với lòng hy vọng được đền
trả.Và sau khi cho rồi,bạn chớ bao giờ ôm lòng tiếc nuối
là bạn đã bị tổn hao tài vật.Hãy nỗ lực thăng hoa niềm
hỷ lạc trong hạnh bố thí,và hãy tuyệt nhiên không thối
lui trước những trạng huống mà có thể bạn phải thật
sự đích thân dấn bước nhằm xả bỏ ban phát.
Để
tăng cường và phát huy ý niệm bố thí,bạn nên bắt đầu
bằng cách ban phát một vài sở hữu nho nhỏ.Thực tập dần
dần thì điều này sẽ đưa dẫn đến sự việc là bạn không
còn một mảy may quan ngại hoặc chấp giữ lấy cả việc
bố thí ngay chính thân mạng mình.Kinh điển dạy rằng trạng
thái tâm linh của một con người luôn luôn tùy thuộc vào
những gì người ấy thân quen.Ví dụ như ta bắt đầu học
từ vần điệu chữ cái khi học một loại ngôn ngữ nào.Ban
sơ dường như rất khó khăn.Chẳng có ích lợi gì nếu bấy
giờ ta được trao truyền cho cả một bài văn phạm phức
tạp.Nhưng nếu khởi sự với các mẫu tự một cách thuần
thục thì chung cuộc rồi dù cho văn phạm có phức tạp đi
nữa cũng dường như rất giản đơn.Cùng thế ấy, nếu ta
tự huấn luyện để ban phát các sở hữu vật chất,thì về
sau dù cho có xả bỏ thân mạng đi nữa cũng sẽ dường như
rất tự nhiên.
Bạn
không nên trì hoãn trong việc bố thí hoặc trông chờ người
khác làm việc thiện.Bạn không nên cho món quá này khi đã
lỡ hứa tặng món quà khác và cũng không nên nghĩ đến công
ơn của mình khi ban phát để khiến cho người nhận phải
mang ơn mình.Khi bố thí,bạn nên hiến tặng với sự hoan hỷ
và ưu ái,thể hiện bằng tấm lòng phỉ lạc.Bạn hãy tự
mình thực hành bố thí và khuyến khích kẻ khác cùng làm
để giúp cho mọi người đều cùng phát nguyện bố thí. Điều
gì có thể xúc hại dù trong nhất thời hoặc trường kỳ,mang
đến thống khổ,bất an cho người đều không phải là quà
tặng thích nghi hợp cách.
Những
gì có thể mang lại an lạc trong đoản kỳ hay trường kỳ
đều rất thích hợp để hiến tặng tha nhân.Khi thực hành
hạnh pháp thí; trước hết bạn hãy phân tích căn cơ của
người thỉnh pháp xem họ sẽ tìm được những lợi lạc
gì trong giáo pháp mà bạn dự tính trao truyền.Nếu không,giáo
pháp truyền ra, chẳng những không giúp ích gì, lại còn gây
thương tổn cho họ và người thọ pháp còn có thể bị mất
tín tâm.Ngoài ra,bạn cũng chớ nên hiến tặng các vật dụng
giết thú hoặc chỉ bày các kỹ thuật giết thú cho những
người thợ săn.Trong một đôi trường hợp,sự cự tuyệt,từ
chối được chứng minh là lợi lạc hơn cả bố thí hiến
dâng.Bồ tát cần nên rất khéo léo trong những trường hợp
như vậy.
Nếu
bạn khám phá rằng tự mình không thể buông bỏ được tài
vật thì nên tư duy đến sự vô ích của các sở hữu vật
chất và hãy tri nhận lẽ vô thường ngắn ngủi tạm bợ
của đời sống mình.Sớm hay muộn,bạn đều phải xa lìa
các sở hữu của mình;do vậy,thay vì chết trong sự vây hãm
kềm kẹp của lòng bỏn xẻn thì tốt hơn hãy buông bỏ ngay
các sở hữu của mình để tránh khỏi sự đê tiện bủn
xỉn.Hãy tự nghĩ rằng: “ta đã từng trải qua biết bao dày
vò khổ đau trong vòng luân hồi này chỉ vì ta chưa hề quen
thuộc với thái độ hiến tặng các của cải mình.Từ nay,
ta phải thay đổi thái độ và phát triển tâm niệm bố thí
của mình.” Để thực hiện công việc nầy,bạn hãy tưởng
tượng đến đủ loại tài vật bất khả tư nghì và quán
tưởng rằng mình mang chúng ra để bố thí cho tha nhân.
Trì
giới
Trì
giới là Ba La Mật thứ hai.Trì giới là một trạng thái nội
tâm tránh kỵ vướng mắc vào các biến sự có thể gây tổn
hại cho kẻ khác.Trì giới Ba La Mật sẽ hoàn mãn khi nào lòng
xác tín không hãm hại kẻ khác của bạn được phát huy đến
mức độ cứu cánh tuyệt đối.Giới luật ở đây, được
liệt kê một cách rộng rãi dưới mười tiêu đích,tức là
tránh kỵ mười ác nghiệp.Giới luật như trận mưa tươi
mát,dập tắt ngọn lửa tham,ngọn lửa sân và ngọn lửa phẫn
nộ trong chính tự thân bạn.Khi tu trì giới luật,chủ tâm
của bạn nên là tâm vô chấp[3],vô hận[4] và chánh tri kiến[5].Nghiêm
trì giới luật thanh tịnh cần được ảnh hưởng từ nỗi
e sợ các quả báo mà bạn phải trực diện nếu gây tạo
ác nghiệp.Và các ác báo ấy đã được giải thích từ trước
rồi.Thủ trì giới luật thanh tịnh được xem như là một
báu vật trang nghiêm thích hợp cho mọi người,bất kể cao
thấp,mập ốm,tuổi tác và chủng tộc.Những trang sức vật
chất có thể sẽ yêu kiều đối với người này nhưng lại
không đẹp với kẻ kia.Trong khi ấy, sự trang hoàng giới luật
lại được xem là rất đẹp với mọi hành giả bất luận
dáng vẻ bề ngoài của họ thế nào.
Trì
giới thanh tịnh,bạn sẽ tự khắc tạo niềm kính trọng ngay
chính trong cộng đồng nhân loại.Với ảnh hưởng của giới
luật,bạn sẽ tiếp xử nhân loại một cách hợp xứng và
tiết tháo.Bạn cũng sẽ được phòng hộ để tránh gây nên
ác nghiệp.Kinh điển dạy rằng: dẫu là hạt bụi do dấu
chân của người trì giới thanh tịnh dẫm ngang cũng đã là
một vật tôn kính; đấy chính là phẩm chất thù thắng vĩ
đại của giới luật.Tâm niệm trì giới thanh tịnh của bạn
không nên chỉ cục hạn nhằm tự bảo vệ mình tránh tạo
nên ác nghiệp;mà cần phải được nêu ra như một ví dụ
cho tha nhân để mọi người cũng đều được bảo hộ khỏi
sự nguy tổn của ác nghiệp.
Nhẫn
nhục
Nhẫn
nhực là một trạng thái nhẫn nại tự chế khi đối diện
với những hãm hại trừng phạt của kẻ khác.Có ba loại
nhẫn nhục; điều đầu tiên là không phiền não trước những
hãm hại của ngoại nhân; điều thứ nhì là tự nguyện gánh
vác các khổ đau ách nạn và điều thứ ba là có khả năng
kham nhẫn mọi cực khổ khi dấn thân tu hành theo giáo pháp
của Phật.Tư duy đến các phẩm chất và lợi lạc thù thắng
to lớn của hạnh nhẫn quả là một điều tối cực trọng
yếu.Những ai không tu hạnh nhẫn nhục sẽ bị đoanh vây bởi
niệm cảm hối hận sâu dày vào lúc lâm chung,vì những ác
nghiệp đã từng tạo ra trong kiếp sống của họ.Trong khi
ấy, những người nào tu được hạnh nhẫn nhục và kham chịu
nổi ám hại của kẻ khác sẽ không bị ăn năn hối tiếc
gì cả vào giờ phút lâm chung.Linh dược xảo diệu tối thượng
nhất cho tâm thái hỷ xả đối với người khác,là thực
hành hạnh nhẫn nhục.Hạnh nhẫn nhục còn sống đồng thời
bảo hộ người tu tránh khỏi sự nguy hại của sân hận.Kinh
điển dạy rằng: dù là một khởi niệm sân hận nhất thời
đối với một vị Bồ Tát cũng có thể thiêu hủy tất cả
mọi công đức tích tụ được từ nghìn kiếp.Do vậy, “nhẫn”
cũng đồng thời bảo vệ bạn trong những tình huống mà cơn
thịnh nộ của bạn có thể thiêu hủy toàn bộ công đức
mà bạn đã tích tập. Đấy chính là món trang sức được
chiêm ngưỡng bởi tha nhân; là giáp bào gìn giữ,giúp bạn
tránh được lòng sân tức của chính mình và tránh được
mọi sự hãm hại đến từ kẻ khác.Hậu quả tức khắc khi
bạn nổi sân là sự đánh mất tâm thức bình tĩnh.
Những
người chung quanh cũng sẽ không được an lạc vì sự sân
tức đã gây tạo nên bầu không khí xấu xa quanh bạn.Phẫn
nộ và sân hận thiêu đốt khả năng phán đoán của bạn;
thay vì hồi báo ân đức,cuối cùng bạn lại phiền muộn
và thậm chí sanh tâm trả thù.Nếu nội tâm chất chứa dẫy
đầy thịnh nộ và sân hận,thì dẫu với những sung mãn vật
chất,bạn cũng sẽ chẳng có mảy may vui sướng nào vì bạn
sẽ liên tục bị tình cảm dày vò.Tri nhận được điều
này,bạn hãy tận lực tu hạnh nhẫn nhục và hãy cố gắng
lìa bỏ tâm sân và tâm hận.
Khi
có người nào hãm hại bạn,bạn chớ nên cáu giận và trả
thù,mà hãy tri nhận rằng kẻ kia không tự kềm hãm được
tình cảm của họ.Người đó chẳng làm như vậy vì cố ý
mà chỉ tại vì bị ảnh hưởng bởi những tình tự tiêu
cực đó thôi.Nguyên do chánh yếu khi người nào đó sân tức
và hãm hại bạn là vì y đã không ngừng bị khống chế bởi
phiền não.Bạn hãy phát khởi tâm niệm trắc ẩn và bi tâm
thay vì nổi giận. Điều giản đơn nhất là,nếu những người
nào có thể chế phục được tình cảm của họ thì họ chẳng
bao giờ hãm hại bạn bởi vì những gì họ tầm cầu cũng
là an lạc hạnh phúc mà thôi.Họ cũng chẳng tự nỗ lực
để bị sa đọa bằng cách tích tập các ác nghiệp do sự
hãm hại kẻ khác.Ta không có lý do gì để phải sân tức
bởi vì họ không thể chế phục được tình tự của họ
mà thôi.
Bạn
hãy phân tích xem vả chăng sự sân hận và khuynh hướng hãm
hại là những bản chất chánh yếu của nhân loại.Nếu sự
phẫn nộ là bản chất chánh yếu của nhân loại như hơi
nóng là thể tánh của lửa,thì con người cũng không thể
làm gì để khắc phục nó và cũng không có lý gì để báo
thù khi bị ám hại.Mặt khác,nếu sự phẫn nộ không phải
là đặc tính cơ bản của nhân loại mà nó chỉ là một đặc
chất ngẫu nhiên thôi; thì ta lại một lần nữa không có
lý do gì để sân tức và muốn báo thù bởi vì trên thực
tế; khí giới mà con người sử dụng như dao nhọn, côn chùy
mới là vật gây nên thương tổn.Ta nên sân tức các khí giới
này,thay vì sân tức con người.Và thực tế,ta đã không làm
vậy.Chỉ như ta đã chẳng hề bộc phát sự giận dữ đối
với các vật thể vô tri như côn chùy,thì ta hãy nên bình
tĩnh và không nên tức giận gì cả.Trái lại,nên cố gắng
thăm dò tìm hiểu nguồn cội sâu xa của sự thương tổn.Bạn
sẽ phát hiện ra rằng chính những nghiệp báo xấu ác tạo
ra từ quá khứ của bạn đã khiến xui người ta hãm hại
bạn.Do vậy,nếu sẽ cáu giận và báo thù,thì bạn hãy cáu
giận và báo thù ngay chính những phiền não và nghiệp báo
của mình đi.Không có lý do gì để bộc phát sự giận dữ
đối với ngoại nhân.Chính tự các phiền não của ta đã
khiến ta trực diện với những hậu quả và khổ đau như
vậy.
Nếu
đối với các kinh nghiệm đau khổ nhỏ nhoi mà không thể
nhẫn chịu để phải sanh tâm cáu giận và báo thù thì ta
sẽ tích tập thêm nhiều nghiệp báo xấu ác có thể gây tác
hưởng lâu dài cho tương lai.Ngược lại, đối với kẻ hãm
hại; ta hãy cảm thấy như mang nợ y vì y đã giúp ta cơ hội
khảo nghiệm sức nhẫn nhục.Nến cảm ơn kẻ hãm hại ta
thay vì giận dữ và báo thù.Khi bị đả thương sự nhức
chính là kết quả bình đẳng của cả vết thương và của
cả tự thân mình.
Nếu
không có thân này thì ta không thực chứng được kinh nghiệm
của niềm đau thể chất.Vì vậy,nếu phải sân giận thì
ta nên sân giận với chính thân xác của ta.Hành trì hạnh
nhẫn nhục là điều rất trọng yếu để khắc phục được
lòng phẫn uất và lòng đố kỵ đối với sự thành công
và hạnh phúc của tha nhân.Chúng ta nên vui mừng vì có một
đôi người đã tự có khả năng mưu tìm được sự
phúc lạc cho họ;thay vì chúng ta phải nỗ lực để tạo an
vui cho tất cả mọi người.Khi chứng kiến sự thành công
như vậy,ta nên vui mừng và hoan hỷ.Ta cần phải khắc phục
cảm thọ vui sướng khi nghiệm chứng được sự sa cơ thất
thế của kẻ thù nghịch mình.Và ta cũng không nên phẫn uất
hoặc buồn chán khi đối diện với sự thành công của kẻ
thù mình.Sự căm phẫn không những chỉ gây tác hại cho người
mà còn đồng thời khiến ta tích tập nhiều ác nghiệp hơn;
những ác nghiệp này sẽ khiến xui cho tự thân chúng ta bị
sa đọa trong tương lai.
Trong
đời sống bình nhật,ta thường gặp nhiều khổ hoạn hơn
vui. Điều rất trọng yếu là mình có khả năng quán chiếu
để thấy được rằng tất cả những kinh nghiệm khổ đau
này đều rất hữu ích trên bước đường hành trì chánh
pháp của Phật.Nếu vun bồi được hành trì chánh pháp của
Phật.Nếu vun bồi được hạnh nhẫn nhục; theo ý nghĩa tình
nguyện tự gánh vác mọi khổ đau thì cho dù bản thân ta chưa
có khả năng cưu mang lấy cái khổ của chúng sanh đi nữa
thì ta cũng sẽ không tự làm mất tiềm năng phán đoán.Ngay
trong đời sống hàng ngày, hai người dù bệnh tình giống
nhau; nhưng vì thái độ và cách thức quán sát vạn pháp khác
nhau;nên có một người sẽ cảm nhận khổ thị nhiều hơn
vì y chưa được trang bị thái độ chánh đáng để đối
phó với hoàn cảnh;trong khi người kia thì có thể trực diện
với hoàn cảnh một cách tài ba hơn và y cũng đồng thời
có khả năng tránh né được niềm khổ đau dày vò tâm linh
khá hơn.Ta cần nên nhớ rằng nếu không thể sửa đổi được
hoàn cảnh thì không có lý do gì để phiền muộn; trái lại
ta hãy đơn giản dốc sức gắng công để thay đổi nó.
Nếu
chẳng hề gặp khổ thì ta sẽ không ôm chí cầu đạt được
thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.Đó chính là một khía cạnh
tích cực của khổ đau.Không khổ đau thì làm sao bạn có
được kinh nghiệm muốn từ bỏ thoát ly?Trong tiêu đề này,
quả thật trọng yếu để suy gẫm đến một sự thật rằng:
từ vô thỉ kiếp đến nay, ta không ngớt bị đày đọa trong
vòng luân hồi khổ đau dày xéo;chẳng bao giờ xả bỏ những
xu hướng vị kỷ;tìm cách bám chặt vào sự quan trọng của
tự kỷ,và nỗ lực cho những mục tiêu ích kỷ của chính
tự thân.Giờ đây,ta hãy thấu triệt tầm mức quan trọng
trong việc thay đổi thái độ và hãy nỗ lực phục vụ cho
sự lợi lạc của tha nhân.Nếu ngay trong tiến trình ấy,ta
cần phải trực diện với khổ đau thì ta sẽ có đủ năng
lực để kham nhẫn mà không phải đánh mất sức phán đoán
cũng như không bị suy suyển nản lòng vì những kinh nghiệm
khổ đau như vậy.Xuyên qua những kinh nghiệm do từ các thói
quen thông thường,cuối cùng rồi bạn có thể kham nhẫn mọi
chướng duyên một cách dễ dàng.Nhẫn chịu các khổ đau trên
tiến trình của chánh đạo giác ngộ là điều mà chúng ta
có thể thông quen được.
Quả
thật rất trọng yếu để phải cương quyết định đoạt
can đảm và phấn khởi lên trong chí nguyện của bạn.Các
vị anh hùng khi trông thấy máu mình tuôn ra giữa trận mạc,thay
vì thối chí thất tâm,họ càng trở nên quyết liệt hơn;
và điều đó đã phục vụ như là một động lực tác chiến
dữ dội hơn. Đấy chính là loại tâm thái mà Bồ Tát nên
sử dụng khi đối diện với những trạng huống phải kham
nhẫn chịu khổ.Chúng ta cũng phải chấp nhận các khổ đau
thể xác trên tiến trình tu hành.Và nhận chịu những muộn
phiền gây nên từ những người mắng chửi hoặc chống bác
mình.Và cũng nên chịu đựng cảnh bệnh khổ và lão khổ
của chính bản thân mình.Không nên để các loại khổ đau
này áp đảo,mà hãy kiên gan nhận chịu.Trên quá trình hăng
say hành trì theo chánh pháp với ý nguyện mưu tìm phúc lạc
cứu cánh cho muôn loài; chúng ta hãy chuẩn bị để đương
đầu với những khốn đốn xảy ra.Vĩnh viễn không nên thối
thất sự tinh tấn dõng mãnh mà hãy trì tục tu hành và không
bao giờ nên căm phẫn trước nghịch duyên.Dựa trên nền tảng
nhẫn nhục kiến cố này,ta đã có thể đắp xây được một
sự thâm ngộ cho chính tương lai của mình.
Tinh
Tấn
Thứ
đến là Tinh Tấn Ba La Mật.Tinh tấn là một trạng thái nội
tâm hảo lạc đối với các thiện hành.Tinh tấn đã giúp
tạo một nền tảng tu đạo,nhờ vào đấy chúng ta tránh khỏi
bị đọa xuống cảnh giới thấp hơn.Kinh điển dạy rằng:
tinh tấn là người đi tiên phong trong mọi thiện nghiệp.Tất
cả mọi nghiên tầm sở học và tu hành đều sẽ được thành
tựu nếu bạn được trang bị bằng sức chuyên cần tinh tấn
bởi vì bạn sẽ chẳng hề mang một khởi niệm hoặc ý nghĩ
nản chí thối lòng hoặc ý niệm không thể ứng hợp được
thì không có bất kỳ sở nguyện nào mà bạn không thể thành
đạt.Mặt khác,nếu ràng buộc bởi lười biếng giải đãi,bạn
sẽ chẳng thể nào tấn bước nổi trên phương diện phát
triển tuệ giác hay bất cứ trên phương cách tu hành nào cả.Thiếu
mất tinh tấn sẽ mang đến suy vi không phải chỉ cho hiện
đời mà còn cho nhiều kiếp dài lâu nữa.
Trên
quá trình phụng sự cho công ích của tha nhân, áo giáp tinh
tấn sẽ có năng lực giúp bạn chịu đựng nổi bất cứ
hình thái đau khổ hay khốn khó nào.Sự tinh tấn sẽ bảo
vệ bạn tránh khỏi thối thất và buồn chán khi trực diện
với những cam go khốn khổ.Chiếc áo giáp tinh tấn của bạn
cần nên dõng mãnh đến mức độ rằng:nếu phải sinh vào
địa ngục trong vô lượng kiếp chỉ để thỏa mãn nguyện
vọng của một cá nhân thôi,thì bạn cũng sẵn lòng làm.Nhằm
đạt được mức tinh tấn cần thiết để tích lũy công đức;
trước hết,bạn phải xác định chướng ngại vật của đức
tinh tấn, đó là sự lười biếng giải đãi.
Có
ba loại giải đãi: 1/giải đãi của sự biếng nhác,muốn
kéo dài trì hoãn việc phải làm; 2/giải đãi vì cảm thấy
thấp kém, đó là ý niệm rằng mình không đủ khả năng hành
sự; 3/ giải đãi vì chấp thủ vào các hành động tiêu cực
hoặc tận sức gây nên ác nghiệp.Nhằm vượt qua sự giải
đãi biếng nhác,bạn phải tư duy rằng hành trì theo giáo pháp
Phật, bạn sẽ có được những thiện báo thù thắng.Bạn
phải trông thấy được sự tổn hại và vô bổ chỉ dính
líu đến các thị phi bỉ thử vô nghĩa…Sự luận bàn vô
căn cứ và thường xuyên xao lãng hay cuốn hút theo thế sự
đã chứng minh là tảng đá chướng ngại to lớn nhất của
quá trình tu hành.Nhằm vượt qua được mặc cảm tự ti,bạn
phải tư duy rằng,xuyên qua quá trình tinh tấn mà tất
cả chư Phật quá khứ đã thành tựu mục tiêu giác ngộ tối
hậu.Từ nguyên thủy,các ngài cũng chưa thành Phật mà chỉ
là các chúng sanh bình thường như chúng ta.Nhưng nhờ nỗ lực
tinh tấn hành trì theo giáo pháp mà các ngài đã tựu thành
sở nguyện sau cùng. Để khắc phục được lòng thiếu tự
tin,nên thấu hiểu rõ ràng,vì cầu Phật quả,chúng ta cần
phải chuẩn bị hy sinh.Nếu nhận thấy rằng mình chưa tinh
tấn đủ để có thể xả bỏ được mọi tài vật,thì hãy
tri nhận một cách thấu đáo rằng sớm muộn gì chúng ta cũng
phải lìa xa các tài hữu và luôn cả thân mạng mình.Ta hãy
buông bỏ thay vì bị cưỡng bách phải rời xa chúng vào
lúc lâm chung,mà điều này cũng chẳng giúp ích vào đâu cả.
Ít ra thì ta cũng sẽ rút tỉa được một vài điều lợi
lạc xuyên qua ý lực bố thí ấy.Tỷ như khi lâm bệnh,bạn
phải nhẫn chịu các loại dày vò khổ đau thể xác do y sĩ
chích thuốc.Cùng thế ấy,nhằm khắc phục nỗi khổ đau to
lớn của sự phiền nhiễu luân hồi sinh tử,trên bước đường
hướng đến bến bờ giải thoát,bạn phải kham nhẫn chịu
đựng một số những nguy khốn và đau đớn thể chất.
Chúng
ta không nên buồn nản và thối thất vì sự thể rằng: chúng
ta phải tích lũy nhiều công đức và trí huệ trong vô lượng
vô biên kiếp số nhằm đạt được giác ngộ.Mục tiêu hy
cầu giác ngộ của chúng ta là niềm an vui hạnh phúc của
muôn vạn hàm linh.Con số chúng sanh thì vô hạn mà khổ đau
của họ thì vô tận.Quá trình cứu rỗi vô lượng vô biên
chúng sanh thoát khỏi vô lượng vô biên đau khổ chắc chắn
là một lịch trình dài đăng đẳng và nhiều gian khổ.Chúng
ta cần phải chuẩn bị để hy sinh trên bước đường đi
ấy.Bồ Tát là một chúng sanh; do từ bi,yêu thương và trắc
ẩn đối với mọi khổ đau của muôn loài mà chẳng hề dấy
lên một niệm hối tiếc,buồn chán nhỏ nhất nào khi phải
trực diện với thương đau và nguy khốn.Sẽ chẳng bao giờ
có trường hợp mà một người nào đó sẽ đạt thành được
bất cứ sự việc gì bằng tinh thần thiếu tự tin cả.Trái
lại,nếu phát khởi sự dũng cảm và tận dụng mọi năng
lực; cho dù vốn là việc phức tạp khó khăn,nhưng cuối cùng
rồi cũng sẽ biến thành đơn giản dễ dàng.Khi dấn bước
để gánh vác việc gì, điều tiên khởi vô cùng trọng yếu,
đó là cần phải thẩm định trạng huống,phân tích tình
thế và tự lượng sức mình xem có đủ khả năng hoàn tất
công việc hay không.Nếu khám phá thấy việc đó vượt quá
khả năng hiện tại của mình:thay vì cố sức lao đầu vào
ngay tức khắc thì tốt hơn,hãy lùi trở lại và chờ đợi;còn
hơn là bỏ dở nửa đường.Nhưng một khi đã quyết định
nhập cuộc thì bạn hãy kiên trì làm cho đến nơi đến chốn
thay vì buông xuôi dang dở nửa chừng.
Tục
ngữ có câu:mạo hiểm nếu muốn thành công,trọng yếu là
cần phải có lòng tin.Lòng tin ở đây không hàm chứa bất
cứ sự tiêu cực nào mà chỉ giản đơn là một loại dũng
khí.Lòng tin của bạn phải kiên cường đến độ,bạn sẵn
sàng tự làm bất cứ điều gì mà không cần tùy thuộc vào
sự đóng góp hay giúp đỡ của kẻ khác.Bạn hãy suy nghĩ
rằng: do bởi ảnh hưởng của phiền não mà tất cả các
chúng sanh kia đã không đủ khả năng hoặc sức lực để
hành sự cho họ. Bạn phải có lòng tin đủ để cảm nhận
được sự tổn hại của phiền não, để rồi bạn không
thể cho phép mình bị nghiêng ngả ảnh hưởng bởi phiền
não; và bạn có khả năng cũng như sức lực để phụng hiến
cho quyền lợi của tha nhân.Nên có lòng tin và tuyệt đối
không tự đế cho mình bị nghiêng ngả lay động vì phiền
não; mà hãy luôn trực diện,chống trả đánh bại chúng.Nếu
co rút lại,dù đó chỉ là một hãm hại nhỏ nhất cũng có
thể tiêu hủy xô dìm hoặc đánh gục bạn.Khi con rắn chết
thì lũ chim quạ cũng hành xử như loài chim ưng,kênh kênh thôi.
Bạn
cũng nên bồi dưỡng năng lực hoan hỷ (power of joy).Sự tu
hành cần phải được hòa nhịp trong niềm phỉ lạc khi bạn
khởi sự dấn bước để nhập cuộc là điều rất quan trọng.Đối
với tu hành,tâm thức hân hoan tịnh lạc của bạn phải giống
như trẻ em đang hồn nhiên vui chơi.Cái năng lực hân hoan tịnh
lạc trong công việc tu hành theo giáo pháp Phật của bạn sẽ
lấn át luôn cả sự mãn nguyện của bạn đối với một
vài thành tựu nho nhỏ.Nhưng đồng thời bạn cũng chẳng nên
thờ ơ đối với quan năng được thư giãn nghỉ ngơi.Trong
nỗ lực tu hành của bạn,nếu cảm thấy mỏi mệt chán nản
thì điều quan trọng là hãy nghỉ ngơi để bạn tìm lại
được sự sáng suốt,sảng khoái,hồi tỉnh và sẵn sàng tu
tiếp.Nếu không,thì sự kiệt sức của thể xác sẽ đưa
đến buồn nản.Kinh điển dạy rằng,năng lực tinh tấn phải
giống như dòng sông,mà dòng sông thì miên miên bất tuyệt.
Trong
khi vận dụng sức tinh tấn,không những bạn phải nỗ lực
để chiến đấu với các chướng duyên mà bạn còn phải
đồng thời tự bảo trọng để đừng dính mắc vào các hành
động xấu ác khác.Ví dụ như,khi lưu tâm đến cách diệt
trừ vô minh,và nỗ lực không ngừng để phân định và chiến
đấu với vô minh; thì có thể bạn sẽ hoàn toàn quên mất
các loại phiền não khác để rồi cuối cùng lại bị vướng
mắc vào một loại nghiệp xấu khác nữa, đó là sự luyến
chấp.Khi bảo kiếm rơi xuống,người chiến sĩ sẽ tức thì
cúi nhặt một cách không do dự.Cùng thế ấy,trong khi dõng
mãnh tinh tấn,bạn cũng phải đồng thời thường xuyên giữ
chánh niệm để tránh bị ảnh hưởng bởi nhiều trạng thái
tâm lý khác.Chánh niệm cần phải phục vụ như là một yếu
tố căn để nhằm giúp bạn tránh được bao điều phiền
não trên quá trình tinh tấn.Bởi vì, dù là những hành động
xấu ác nhỏ nhiệm cũng có thể đưa đến những quả báo
nghiêm trọng.Vết thương sẽ rất bé khi mũi tên nhỏ đâm
trúng nhưng nọc độc lan tỏa khắp chân thân sẽ cuối cùng
giết chết bạn.Mọi trạng thái tâm lý xấu xa đều cùng
khả năng như thế.Một vài trạng thái dường như không đến
nỗi trầm trọng, nhưng tất cả mọi tình tự kể trên đều
có cùng một khả năng.Sự cẩn tắc của bạn phải giống
như một người bị ép buộc để ly sữa trên đầu,và bị
dọa giết chết cho dù chỉ một giọt sữa rơi rãi. Người
đó sẽ tự khắc rất cẩn thận để tránh đổ tháo.Tu hành
theo giáo pháp Phật,sự cẩn trọng của bạn cũng phải tỉ
mỉ y hệt như vậy.Trong mọi hoàn cảnh,quả thật rất trọng
yếu để sám hối đối với những ác nghiệp quá khứ và
phát khởi một quyết tâm dõng mãnh là không bao giờ tái phạm
nữa. Điều này đã phục vụ như một sự thường xuyên nhắc
nhở không nên để mất chánh niệm.Tựa như mảy lông cuốn
theo chiều gió,thân tâm của bạn cũng nên được thấm nhuần
bởi sức dõng mãnh tinh tấn và niềm hoan lạc trên bước
đường tu.
Thiền
Định
Thiền
Định là trạng thái tâm lý chuyên tâm nhất trí đối với
thiện cảnh.Trạng thái tâm lý thường tình của chúng ta là
vọng tưởng tán loạn.Tâm thức bình thường của ta rất
yếu đuối và khó bề chế phục để có thể tri hiểu được
bản chất đích thật của thực tại giới.Nếu muốn giải
phóng được bất cứ ai,mình và người, thoát khỏi mọi khổ
đau sinh tử luân hồi; căn bản nhất là am hiểu bản chất
của thực tại giới.Vì thế cần biến chuyển tâm thức thành
một dụng cụ thích nghi như là một loại kính hiển vi cực
mạnh nhằm thẩm định thực tại giới.Cần chuyển tâm thức
thành một loại khí giới thích hợp như một bảo kiếm sắc
bén để cắt tận gốc mọi khổ đau.Thiền định là phương
cách thực tập mà từ tâm thức bình thường, tán loạn,không
thể chế phục được của một con người; tâm thức ấy
sẽ được chuyển hóa, để đạt đến mức độ mà người
đó dù đối diện với bất cứ ngoại cảnh nào cũng đều
giữ được sự mạnh mẽ và không cần tốn hao tâm sức để
chuyên tâm nhất trí đến đề mục đã chọn.Bồ Đề Tâm
cần phải được đặt trên nền tảng của sự thực tập
thiền quán.Ngài Tsong-Kha-pa dạy rằng: tâm thức của chúng
ta từ vô thỉ đã chịu ảnh hưởng của phiền não.Công dụng
của thiền định là kiểm soát tâm thức của bạn để có
thể nhắm đến bất cứ thiện cảnh nào mà mình chọn lựa.
Mãi đến giờ này,ta cứ bị tùy thuận theo sự áp chế của
tâm thức,mà tâm thức thì cứ mãi bị phiền não thống trị.Vì
thế,ta bị lôi cuốn đắm chìm theo các ác nghiệp.Kết quả
là ta phải kham chịu những khổ đau ngoài ý muốn. Để chấm
dứt cái vòng nhân duyên xấu ác của khổ đau luân hồi sanh
tử,ta cần phải chuyển hoá và chế phục tâm thức.Tâm thức
như con ngựa cần phải được hướng dẫn theo các sinh hoạt
đạo đức hơn là theo các sinh hoạt bất thiện.Ta không nên
để tâm thức chỉ giản đơn ngao du vào các thiện nghiệp
một cách tình cớ. Để cho sự thiền định của bạn có
hiệu quả,bạn phải thiền quán một cách có hệ thống,với
một trình độ có kiểm soát và có kềm chế.Nếu không, dù
cho ngẫu nhiên bạn có thể bắt đầu kinh nghiêm được một
vài ảo cảnh linh hoạt nào đó;nhưng điều này cũng chẳng
giúp ích gì nhiều khi mà tâm thức bạn còn chưa được điều
phục một cách tinh xác.Bạn sẽ phát triển một tập thói
xấu để cho tâm thức rong ruổi vận hành bất cứ nơi nào
nó muốn.Ngược lại, khi thực hiện được sự tiến bộ
một cách xác thực thì bạn có thể có được sự dễ dàng
và vô chướng ngại khi muốn đem tâm linh mình đặt để vào
một tiêu đích nào đó.
Quả
thật rất quan trọng để phải tiến hành theo một tiến trình
thích ứng cho đến khi đạt tới giai đoạn này; cũng giống
như bạn phải đặt nền móng cho căn nhà một cách chính xác
trước khi xây dựng các vách ngăn kiên cố.Bạn phải hoạch
định một chương trình ngay từ lúc khởi đầu và phải quyết
định trước khi bạn bắt đầu tịnh tọa.Ngay trong giữa
giai đoạn chánh yếu của sự tọa thiền;bạn phải có khả
năng vận dụng cả chánh niệm lần chánh tri để có thể
quan sát thử xem nội tâm có bị suy nghĩ vẩn vơ đến các
đề mục khác không.Sách dạy rằng: tốt hơn là hãy tọa
thiền với những thời khóa ngăn ngắn khi khởi đầu thực
tập; bởi vì sẽ có nguy cơ bị hôn trầm[6] hoặc trạo cử[7]
nếu thời khóa của bạn quá dài.Nếu thời khóa của bạn
kéo dài hai hoặc ba giờ đồng hồ thì dù bạn có cố công
gắng sức nhưng nếu tâm thức không được chuyên chú,lại
còn bị hôn trầm và trạo cử thì sự thiền định của bạn
cũng chẳng mang đến hiệu quả theo như thời gian dự định.Sách
cũng dạy rằng: điều quan trọng là hãy bắt đầu với những
thời khóa tịnh tọa ngắn để bạn tìm được sự hỷ lạc.Nếu
không, với thời gian tịnh tọa dài,kết quả chẳng những
không mang lại lạc thú mà còn sẽ có nguy cơ bị nản chí.Và
bạn sẽ cảm thấy nhàm chán,hoặc gượng ép mỗi khi nhìn
thấy vị trí tịnh tọa của mình sau đó.Nhưng,nếu tiến
hành từng thời khóa ngắn; bạn sẽ thật sự yêu thích khi
bắt đầu thực tập thiền quán trở lại,lý do là vì ảnh
tượng và tâm thức hỷ lạc mà bạn tiếp xúc với khóa thiền
trước đó vẫn chưa hề mờ nhạt.
Khi
tu hành,giấc ngủ sẽ đóng vai trò như thế nào? Điều quan
trọng là không nên ngủ ngày hoặc ngủ vào đầu hôm hoặc
gần sáng.Người Tây Phương có thói quen rất lạ,họ ngủ
khuya dậy trễ.Nếu vì lý do gì đặc biệt thì miễn bàn,nếu
không thì ngủ sớm dậy sớm thì tốt hơn. Điều cần nói
ở đây: giấc ngủ là một thứ nhân tố tâm lý có thể sửa
đổi được.Nếu mang thiện niệm vào giấc ngủ thì sách
vở bảo rằng;toàn thể cảnh mộng sẽ được đổi thành
những niệm tưởng lương thiện.Nên đi ngủ vào một giờ
giấc nhất định và trước tiên hãy bồi dưỡng một vài
thiện niệm như Đại Bi Tâm chẳng hạn thì sẽ có một giấc
ngủ ngon,hừng tâm, với những mộng cảnh hoàn toàn tốt đẹp
an lạc.Ngủ nhiều đủ sẽ thật sự giúp duy trì thể năng
và cơ thể nhằm góp sức nâng đỡ cho việc tu hành của bạn.Nếu
dựa theo thói quen của người Ấn Độ,thì hãy rửa chân trước
khi lên giường.Vì thời tiết giá băng, tôi hoài nghi sẽ không
có bao nhiêu vị sư Tây Tạng chịu làm theo như vậy.Sách vở
nói rằng: khi ngủ, nên nằm nghiêng bên phía tay mặt như thế
nằm của một con sư tử.Tư thế này được truyền tụng
là có nhiều ưu điểm,chẳng hạn như toàn thân bạn sẽ không
buông thả quá đáng.Thế là bạn sẽ chẳng bị mất năng
lực chánh niệm,không bị ngủ mê,và không bị ác mộng dù
với giấc ngủ say sưa.
Khi
lên giường,bạn hãy cố gắng tưởng tượng trông thấy hào
quang để tránh khỏi bị chế ngự bởi bức màn u tối của
vô minh.Bạn cũng đồng thời nên giữ chánh niệm và chánh
tri cùng ý nguyện thức dậy sớm. Để giữ được chánh niệm;
khi đi ngủ bạn cần hồi tưởng hoặc mặc tưởng trong lòng
những sinh hoạt và sự tu tập trong ngày.Nếu tiến hành một
cách thuận lợi như vậy thì bạn sẽ không bị mất quân
bình tự chủ dù đang khi ngủ.Giấc ngủ của bạn không chỉ
trở nên thuần lương không thôi,mà nó còn đồng thời có
thể đượm đầy mỹ ý.Khi thức dậy vời đầu óc tỉnh
giác nhưng vì tâm thần chưa hoàn toàn hồi phục nên đôi
khi tâm thức bạn sẽ rất rõ ràng sáng suốt.Nếu bạn có
thể dùng trí óc minh mẫn ấy để nghiên tầm phân tích thì
nó thật sự có một năng lực phi thường.Do vậy,bạn nên
cố giữ khuynh hướng thức dậy vào một giờ giấc nào nhất
định, và giống như động vật,ngủ với một giấc ngủ
nhẹ nhàng an lạc thảnh thơi.
Với
ý chí đó, bạn sẽ có khả năng thức dậy như bạn trù định.Ngài
Tsong-Kha-pa dạy rằng: nếu khéo dụng việc ăn ngủ thì bạn
có thể biến những sinh hoạt ăn uống ngủ nghỉ theo chiều
hướng thuần thiện và rất nhiều ác nghiệp sẽ được ngăn
ngừa.
Ngài
Stong-Kha-pa cũng bảo: điều quan trọng là tri nhận được
rằng có hai loại Thiền định:An Trú Tu[8] và Nghiên Chiết
Tu[9]. Và trong hai loại tu hành kể trên thì sự quyền biến
khéo léo thực hành năng lực phân tích của tâm thức rất
là trọng yếu.Ví dụ như: để có thể sử dụng được bạc
vàng; người thợ bạc phải trước tiên nung nóng,lau chùi
và rửa sạch chúng,sau đó phải làm đủ mọi cách để có
thể dùng chúng tạo thành những món trang sức với bất cứ
hình dạng nào.Tương tự như thế, vì để khắc phục những
phiền não chánh và thứ yếu; điều quan trọng trước hết
là hãy tư duy đến mọi sai lầm cùng bản chất tổn hại
của phiền não; sau đó là cách thức mà phiền não đã dẫn
đưa đến các hành vi bất thiện và cách thức mà do vì hậu
quả của các hành vi bất thiện này nên con người đã phải
lăn lộn mãi trong vòng luân hồi sanh tử.Phàm những loại
này, đều phải vận dụng đến năng lực phân tích của
tuệ giác để liễu tri, và chỉ có như vậy mới hy vọng
thành tựu được những thệ nguyện tu hành trên con đường
giải thoát giác ngộ.Tất cả quá trình phân tích kể trên
đều tương tự như động tác chủ yếu nhằm chuẩn bị cho
tâm thức đạt được ích lợi từ sự xung kích chánh yếu
của pháp quán tu.Chỉ sau khi đã bồi đắp được một nền
tảng chân xác và phong phú hóa nội tâm bằng vào các quá
trình phân tích như vậy rồi, thì bạn mới có thể tiến
hành bất cứ pháp quán tu nào dù đó là pháp chỉ[10] hay pháp
quán[11].
Khi
tu thiền ta phải vạch ra một mục tiêu ta hãy nỗ lực tinh
tấn.Sự tinh tấn ấy sẽ được tăng trưởng do bởi
nhìn thấy được tiêu đích, mà tiêu đích của pháp quán
tu của chúng ta cần phải được liễu giải một cách tận
tường rốt ráo.Càng am tường mục đích bao nhiêu thì bạn
càng gắn bó với pháp tu của bạn bấy nhiêu.Ngài Tsong-Kha-pa
dạy rằng: tất cả kinh văn có ứng hiện như lời khuyến
dạy cá nhân hay không,còn tùy thuộc rất nhiều vào khả năng
có nhìn thấy được tầm mức cần thiết và quan trọng
của cả hai phương pháp tu: Nghiên Chiết Tu và An Trú Tu.Ngài
bảo: Quả thật đáng buồn không phải chỉ đối với các
hạng người không nghiên tầm, học hỏi một cách chân xác,mà
ngay cả đối với những người đã từng học cao hiểu rộng;
đến khi thật sự dấn bước tu hành thì họ đã bỏ mặc
mọi sở học để rồi chỉ tự hài lòng xứng ý với chủ
thuyết “vô khái niệm”. Đáng thương thay!
Nếu
bạn không tìm cách khai phát năng lực phân tích tâm thức,
mà chỉ tiếp tục trầm mình để được nhuần thắm trong
pháp an chỉ quán tu; và để chỉ giản đơn bảo trì đoạn
kiến thì bạn sẽ trở nên càng ngày càng bớt mẫn tiệp,
tinh anh và trí huệ phân biệt đúng sai cũng theo đó mà giảm
dần.Đây là điều vô cùng nguy hiểm.
Trí
Huệ
Trí
huệ phân tích bản chất của mọi hiện tượng.Có nhiều
loại Trí Huệ khác nhau,chẳng hạn như ngũ minh: Nội minh và
bốn loại Ngoại minh bao gồm Nhân minh,Y phương minh, Thanh minh,
Công xảo minh. Ở đây,tôi chỉ bàn đến Nội minh.Loại Trí
Huệ này là nền tảng của mọi ưu tính thiện bảo.Thiếu
vắng sự hướng dẫn của Trí Huệ thì tất cả các Ba La
Mật kia như Bố thí và Trì giới đều như một tập thể
thiếu người lãnh đạo.Tu hành các Ba La Mật khác mà thiếu
mất năng lực của Trí Huệ thì sẽ không thể đưa dẫn
nổi đến mục tiêu truy cầu hướng về sự thành tựu giác
ngộ.So sánh với các loại Ba La Mật khác như tín tâm,như
chánh niệm,như tinh tấn v.v…thì Trí Huệ được truyền rằng
nó quan trọng hơn cả bởi vì chỉ có xuyên qua thành trì của
Trí Huệ, khi phối hợp với các loại Ba La Mật khác thì con
người mới thật sự có khả năng đối trị phiền não.Các
loại Ba La Mật khác, chẳng hạn như Bố thí và Trì giới,
đều tùy thuộc rất nhiều vào sự liễu giải của Trí Huệ.
Năng
lực của Trí Huệ tựa như năng lực của một quốc vương
đầy uy quyền.Quân vương sẽ chẳng phạm phải bất cứ sự
sai lầm nào nếu ông được phò trợ bởi các cận thần quyền
xảo và minh triết.Cùng thế ấy,và dường như mâu thuẫn:
ví dụ như: khi ta có được lòng yêu thương và từ bi mạnh
mẽ nhưng lại không bị nhiễm tạp bởi những chấp trước
và luyến ái thì đó là do nhờ vào sự trợ lực của Trí
Huệ.Sẵn có Trí Huệ rồi thì dẫu rằng, bạn đối với
tha nhân có khởi phát lòng từ ái mãnh liệt đi chăng nữa
thì cũng tuyệt nhiên không có luyến ái và chấp thủ gì cả.Bạn
sẽ không thể rơi vào lập trường triết học vĩnh hằng
(thường kiến) cực đoan hoặc chủ nghĩa hư vô nếu được
trang bị bằng sức mạnh của Trí Huệ.
Chướng
ngại vật của Trí Huệ là vô minh.Và nguyên nhân đưa dẫn
cũng như làm cho vô minh tăng trưởng là sự thường xuyên
dính mắc vào các sinh hoạt vô mục đích như ngủ quá nhiều
hay giải đãi lười biếng.Vô minh cũng đồng thời xuất phát
từ chỗ không cảm thấy vui thú hoặc hỷ lạc với năng lực
của Trí Huệ.Phương cách đối trị vô minh là xuyên qua nghiên
tầm học hỏi để gia tăng kiến thức. Đối với những người
quyết tâm tu hành theo giáo pháp Phật,thì quả rất quan trọng
để tri hiểu rằng Trí Huệ để minh biện được thể tính
của các pháp,là nguyên nhân chủ yếu cho sự tựu thành giác
ngộ.Nếu người nào chỉ quan tâm đến việc giảng kinh thuyết
pháp,chứ không quan tâm đến sự hành trì thì họ không cần
phải cầu đạt một kiến thức quảng bác; nhưng thay vì chỉ
giảng kinh thuyết pháp không thôi thì những người như vậy,
nếu chỉ giữ sự thầm lặng tu hành xét ra còn lợi lạc
hơn.Cả hai, sự học tập và sự thầm lặng mặc tưởng và
tư duy đều rất quan trọng đối với một hành giả nghiêm
túc.Sự tiến bộ trên đường tu hành của bạn cần phải
xứng hợp với sự tăng trưởng của kiến thức Phật học.Có
được thân người hiếm quý lại được phú cấp cho một
não bộ kỳ tạp,ta phải tận dụng mọi phẩm chất đặc
thù của nó và phải áp dụng cái năng lực duy nhất đã được
ban phát cho, đó là năng lực minh biện đúng sai.Thực hiện
được điều này do nhờ vào sự tăng trưởng của tầm hiểu
biết và lý giải của ta.Kiến thức của bạn càng tăng trưởng
bao nhiêu thì sự hiểu biết và lý giải của bạn càng gia
tăng bấy nhiêu.Trong nỗ lực tiến đến sự thành tựu Trí
Huệ, điều quan trọng là bạn phải tuyệt đối không nên
tách ly sự tu huệ của mình ra khỏi các Ba La mật kia.Một
hành giả nỗ lực để đạt được sự thành tựu giác ngộ,chính
thật ra cần phải liễu ngộ tất cả Lục Độ Ba La Mật
.Ta có thể tìm được nguồn cảm hứng ấy từ tấm gương
sáng chói của Đức Phật.Trên quá trình tu hành,trước tiên
Ngài phải trải qua nhiều khổ hạnh cam go và nhẫn chịu nhiều
khổ nạn to lớn.Sau cùng,dưới cội cây Bồ Đề,Ngài đã
giác ngộ,và đã mang tất cả những gì Ngài đã tự tu chứng
ra để giảng giải cho muôn loài.Dẫu rằng thiên khó vạn
khó cho chúng ta để nhập cuộc thực hành Lục Độ Ba La Mật
ngay từ sơ khởi; quan trọng hơn cả là trước tiên hãy phát
huy lòng hân ngưỡng để rồi hãy dần dần gia tăng sự hiểu
biết về Lục Độ Ba La Mật. Điều này,sẽ chung cuộc dẫn
đưa ta đến một sự thật nghiệm tu trì, sẽ giúp ta tìm
được giải thoát ngay chính từ trong muôn trùng khó khăn của
xích chuyền luân hồi và sẽ giúp ta tìm được an vui trong
quả vị cứu cánh giác ngộ.
Xin
nguyện hồi hướng công đức này để cầu siêu cho hương
linh thân phụ Nguyễn Văn Đại, nhạc phụ Nguyễn Văn Tống,thân
mẫu Nguyễn Thị Mới pháp danh Quảng Nguyện và cầu an cho
nhạc mẫu, Nguyễn Thị Xổi pháp danh Huệ Liên.
Và
cũng xin hết lòng tri ân phu quân Nguyễn Thành Tài, hai trưởng
và thứ nam Nguyễn Bảo Châu, pháp danh Nhật Quang; Nguyễn Bảo
Quốc, pháp danh Nhật Bảo đã khuyến khích và hỗ trợ để
tạo nhiều thiện duyên cho tâm nguyện dịch thuật kinh sách
Phật giáo của dịch giả được tựu thành viên mãn.
Nguyễn
Thúy Phượng
Nguyệt
Tuệ Huy
P.L.2543-D.L.1999
[1]
Lục Ba La Mật/ Lục độ: The six perfections.
[2]
Thanh Tịnh Thù Thắng:sublime purity
[3]
Vô chấp:non attaxgment
[4]
Vô hận: Non hatred
[5]
Chánh tri kiến:right view
[6]
Hôn trầm:trạng thái buồn ngủ,hôn mê không sáng suốt tỉnh
thức.
[7]
Trạo cử:trạng thái tâm thức lăng xăng loạn động,không
an định.
[8]
An Trú Tu: stabilizing pratice: phương pháp thực tập để giữ
cho tâm được an trú trong chánh định (dịch giả chú thích)
[9]
Nghiên Chiết Tu: analytical pratice: phương pháp thực hành năng
lực phân tích để thấy được thật tướng các pháp (dịch
giả chú thích)
[10]
Pháp chỉ: quiescience: đình chỉ,chấm dứt mọi điên đảo
vọng tưởng (dịch giả chú thích)
[11]
Pháp quán: insight: quán chiếu vào một đối tượng nào
đó.Ví dụ như: quán không,quán hơi thở,quán vô ngã v.v…(dịch
giả chú thích)