BỒ TÁT
NGUYỆN
Nếu
lấy sự thành tựu giải thoát luân hồi làm thỏa mãn thì
vẫn chưa thể gọi là đủ.Dù từ trong quan điểm của chí
nguyện mình để bàn thảo thì chính cảnh giới Nhất Thiết
Trí thành tựu Phật quả mới đích thật là sự đạt thành
vẹn toàn cho sự phúc lợi của chính mình.Sau khi phát nguyện
cầu giải thoát và trải qua quá trình tu hành Tam Học;thay
vì chỉ quan tâm đến sự thành tựu giải thoát cho chính tự
thân thì đối với những người có tuệ giác cao,việc tiên
khởi là nên quán tu về Bồ Đề Tâm, đó là nguyện thành
Phật độ khắp chúng sanh và hãy tiến vào con đường đại
thừa (tức là cỗ xe lớn).Quả thật vô cùng bất công và
thất vọng nếu trông thấy người nào đang không ngừng bị
dày vò bởi phiền não và thống khổ,nhưng bạn không nỗ
lực giúp đỡ để mang lại lợi ích cho họ.Bạn chớ nên
hài lòng tự mãn với những công việc để chỉ phụng sự
cho quyền lợi cá nhân của mình.Nên nghĩ suy đến những giới
hạn rộng lớn hơn và hãy nỗ lực vì quyền lợi của nhiều
người. Đó là điểm khác biệt giữa người và động vật;bởi
vì ngay cả động vật cũng ước muốn phục vụ chi quyền
lợi của chính nó và thân tộc của nó. Đặc tính của con
người là:không chỉ mưu cầu phúc lợi cho riêng mình mà còn
quan tâm đến sự lợi ích của tha nhân Đây chính là nét
đẹp và là nét đặc thù của nhân tính.
Những
người như Tổng thống Hoa Kỳ Lincoln và Đại Thánh Ấn Độ
Mahatma Gandhi đã được tôn kính như những bậc vĩ nhân chân
chính vì các vị ấy đã không chỉ âu lo cho riêng tự thân
mình mà còn phụng sự cho quyền lợi của tha nhân nữa.Họ
đã âu lo đến toàn thể xã hội nhân loại, đã vùng vẫy
và phấn đấu cho quyền hạn của người nghèo.Lấy ví dụ
của ngài Mahatma Gandhi: sau khi dành lại độc lập Ấn Độ,ngài
không bao giờ đảm nhận bất cứ chức vụ gì chẳng hạn
như vai trò làm Thủ Tướng mà chỉ ở lại làm một công
dân tầm thường. Đó là ấn tích của một con người tiết
độ.Lúc đầu.Mao Trạch Đông đã khổ công tranh đấu cho
quyền lợi của đa số quần chúng;tuy nhiên sau khi nắm được
quyền hành,chính ông đã trở nên thành viên trong đám người
mà ông đã từng chống đối. Ông đã bị quyền lực áp đảo
và đã trở nên triệt để độc tài chuyên chế,dù chỉ một
bất đồng ý kiến nhỏ nào cũng được xem như là một đại
sỉ nhục cho cá nhân ông.Mao Trạch Đông đã từng được
ca tụng một thời nhưng giờ đây nhân dân đã dần dần thức
tỉnh vì càng ngày càng có nhiều chuyện không tốt bị phơi
bày hiển lộ.
Khi
vầng thái dương chiếu rọi,nó soi sáng một cách bình đẳng
không phân biệt kỳ thị; nó chiếu sáng khắp mọi nơi trong
quốc gia,trong khắp từng xó hốc và khắp mọi góc độ.Chúng
ta cũng nên như vậy.Chúng ta là những hành giả Đại Thừa
không nên chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình mà hãy
sử dụng sự nhất tâm chuyên chú để phát huy một thái độ
can đảm vị ta,gánh vác lên chính vai mình cái trách nhiệm
nỗ lực vì muôn vạn hàm linh.
Bồ
Đề Tâm ,một bi nguyện đạt thành Phật quả vì sự lợi
ích của tha nhân là ngõ vào của con đường Đại Thừa.Khi
phát Bồ Đề Tâm;trên lộ trình đang đi có thể bạn không
tiến thủ gì hơn tuy vậy bạn đã trở thành một hành giả
Đại Thừa.Nhưng ngay cái thời khắc mà Bồ Đề Tâm thối
thất thì dù cho có liễu ngộ cao thâm,bạn vẫn bị rơi ra
ngoài phạm trù Đại Thừa.
Ngài
Tịch Thiên nói:Ngay cái giây phút mà bạn phát tâm Bồ Đề
dù rằng bạn có đang hiện hữu ở một cảnh giới thấp
kém đi nữa,bạn vẫn được gọi là Bồ Tát,là Phật
tử.Do nhờ Bồ Đề Tâm,bạn sẽ có khả năng tịnh hóa mọi
xấu ác một cách dễ dàng và vẹn toàn chí nguyện.Bạn sẽ
vô nhiễm với mọi trở ngại nguy khốn,bởi vì nếu có được
năng lực của tâm Bồ Đề thì bạn sẽ xem tha nhân tựa hồ
quan trọng và quí giá hơn chính mạng sống mình.Khi các yêu
ma ác độc tri hiểu được điều này,chúng sẽ ngần ngại
mỗi khi muốn hãm hại bạn.Và do nhờ tâm nguyện Bồ Đề
mà bạn có thể tịnh hóa mọi uế trược và tích tụ công
đức một cách rộng lớn thì bạn sẽ gặp nhiều thuận cảnh
cần thiết để tinh tiến vững bước trên lộ trình Đại
Thừa.Bồ Đề Tâm và Đại Bi Tâm là những mạch nguồn và
nền tảng của mọi thiện mỹ cho đời này và cho Niết Bàn.Bạn
hãy xem Bồ Đề Tâm như một tính chất chủ yếu của sự
tu hành và chớ nên chỉ đặt để tâm nguyện ấy ở một
tầng thứ tri giải.Bạn chớ nên lấy làm thỏa mãn nếu sự
tu trì tâm nguyện Bồ Đề của bạn chỉ thuần túy bao gồm
dò tụng một vài câu kinh vào lúc khai kệ tịnh tọa.Bạn
hãy tìm cách xuyên qua sự ứng dụng thể nghiệm để khởi
phát tâm nguyện Bồ Đề.
Ngài
Tsong-Kha-pa dạy rằng:nếu bạn hy cầu một cách chân thành
để được chứng ngộ,thì bất luận thiện hành nào,dù nhỏ
nhiệm như hành động bố thí thóc lúa cho chim quạ, đi nữa
cũng đều trở thành Bồ Tát Hạnh.Tuy nhiên,nếu thiếu mất
động lực này thì dù có mang cả hằng sa thế giới ắp đầy
bảo vật trân châu để cúng dường muôn vạn hàm linh thì
cũng chẳng thành tựu Bồ Tát Hạnh được.Nếu sự tu tâm
Bồ Đề (tâm giác ngộ)của bạn không được thành tựu viên
mãn thì dẫu cho có tu hành theo Phật pháp lâu đến thế mấy
đi nữa,cũng sẽ là một quá trình rất chậm chạp và vất
vả tựa như dùng dao cùn để cắt cỏ thôi.Nhưng,nếu bạn
đạt được sự thắng giải cứu cánh và toàn triệt đối
với Bồ Đề Tâm thì mọi phương pháp tu hành của bạn đều
có năng lực mạnh mẽ dù phải tiêu hao một ít thì giờ để
xác lập tâm nguyện ấy thành động cơ chủ yếu của bạn.Nếu
bạn không tâm tâm nguyện nguyện để tăng cường,cải tiến,mở
rộng,bổ sung lòng từ của mình; và do bởi chúng sanh thì
vô lượng vô biên nên sẽ có nguy cơ rất lớn là bạn sẽ
đánh mất nhuệ khí và trở nên tiêu trầm.Thay vì hồi báo
ân đức,sẽ có rất nhiều chúng sanh nhiễu loạn,tìm cách
hãm hại bạn.Vì thế,không nên thỏa mãn với một kinh nghiệm
bi mẫn đơn lẻ nào đó,mà phải cố gắng bồi dưỡng cho
đến khi nào lòng từ mẫn của bạn thật sự bắt đầu cội
rễ.Nếu thật như vậy,bạn sẽ không còn quan hoài đến những
vất vả cam go và do đấy mà bạn sẽ tuyệt nhiên không bị
khổ sầu vì ngoại duyên khi phục vụ cho quyền lợi của
tha nhân.Vì sức mạnh của Đại Bi Tâm mà chư Phật vẫn hằng
thường phục vụ cho sự lợi ích của muôn loài. Đức Phật
dạy Bồ Tát không cần phải quan tâm đến nhiều phương cách
tu trên Bồ Đề đạo;Bồ Tát không cần hành trì nhiều pháp
môn khác nhau làm gì.Chỉ cần hành trì một pháp môn thôi
thì quả vị Phật sẽ nằm ngày trong lòng bàn tay của bạn.Cái
pháp môn này là pháp tu Đại Bi Tâm,có nghĩa là ngưỡng cầu
chứng ngộ ngõ hầu giải thoát muôn vạn hàm linh. Để phát
khởi tâm ngưỡng cầu chứng ngộ như trên thì có lòng Đại
Bi và lòng Từ Ái tức là sự mong cầu cho chúng sanh mọi loài
được thoát khổ không thôi vẫn chưa đủ.Thêm vào đó, điều
cần thiết đòi hỏi là sự cảm nhận một trách nhiệm cá
nhân,hòng gánh vác cho họ được giải thoát khổ đau và có
được sự an lạc đích thực (bới khổ thêm vui).
Khi
suy nghĩ đến bản chất khổ đau của chúng sanh,ta sẽ phát
triển được tâm mong cầu để họ được lìa khổ. Để
có thể đào xới,khai phá một trái tim nồng nàn quảng đại,mãnh
liệt, ổn định và cả quyết, điều rất quan trọng là trước
tiên phải có một thái độ thiện cảm đối với muôn loài,xem
họ như báu vật và thân thiết. Đối với chúng sanh,càng
sung mãn thiện cảm bao nhiêu thì càng thân gần bấy nhiêu,và
càng có thể triển khai lòng từ ái chân thật nhiều hơn nữa.Thông
thường,khi để mặc cho những phản ứng tự nhiên của ta
rong ruổi vận hành thì ta sẽ khám phá rằng không thể kham
nhẫn nổi trước những khổ lụy của thân quyến và bằng
hữu ta.Ta thường có khuynh hướng vui thích trước những bất
hạnh,những thất bại của kẻ thù và thờ ơ lãnh đạm đối
với người không quen biết.Tình cảm của ta biến chuyển
tùy theo các đối tượng kể trên.Càng quí trọng người
nào như gần gũi và thân thiết với ta bao nhiêu thì cảm giác
bất kham càng lớn khi người đó gặp khổ.
Hãy
hình dung ba nhân vật trước mặt để cân bằng những xúc
cảm của bạn:một người bạn chí thân;một kẻ thù nghịch
và một người trung lập.Sau khi hình dung ba người kể
trên;hãy để cho tâm thức bạn phản ứng một cách tự nhiên.Bạn
sẽ khám phá rằng tâm thức mình phản ứng một cách không
bình đẳng;rằng mình rất luyến thương người bạn,và xua
đuổi từ khước kẻ thù;còn đối với người thứ ba thì
bạn mang thái độ hoàn toàn thờ ơ lãnh đạm.Sau đó,hãy
thẩm xét lại tại sao mình phản ứng như vậy.Bạn bè có
thể là bằng hữu trong hiện tại,nhưng trong quá khứ có thể
đã từng là kẻ thù và có thể sẽ là kẻ thù chúng ta trong
tương lai.Những ai mà hiện nay ta gọi là kẻ thù có thể
trong quá khứ đã từng và trong tương lai sẽ thành người
bạn tri kỷ hoặc thân quyến tốt nhất của ta.Vậy tại sao
phải có những phân biệt như vậy?Bằng hữu là những người
ta mong họ được an lạc hạnh phúc và vui sống.Ta mong họ
được an vui và thành công,vì họ là quyến thuộc,bạn bè,và
đối đãi tốt đẹp với ta.Nhưng đời vị lai họ có thể
trở thành kẻ thù và ngay cả trong hiện đời họ cũng có
thể chuyển sang chống báng ta.Cùng thế ấy,khi chống trả
với kẻ thù nghịch,ta có khuynh hướng chống trả bằng một
thể thức rất ác xấu,từ trong sâu thẳm và tự nhiên,ta
mong muốn họ gặp phải bất hạnh,trắc trở và thất bại.Ta
phản ứng như vậy vì nghĩ rằng họ đã hãm hại ta.Nhưng
trong hiện đời cho dù họ có thật sự ác quấy đi nữa thì
cũng vẫn có thể trở thành bạn bè của ta trong tương lai.
Không
có gì chắc chắn và nhất định,không có người bạn nào
hoàn toàn đáng tin cậy và vĩnh cửu,cũng không có kẻ thù
nghịch vĩnh viễn.Hơn nữa,tuy một người trung lập không
liên can gì đến ta,và ta cũng rất dửng dưng thờ ơ với
họ,nhưng có thể trong đời quá khứ họ đã từng là bạn
hay là thù của ta.Nếu huấn luyện nội tâm của bạn theo
chiều hướng như thế thì bạn sẽ xem mọi người như nhau
để rồi sự phân biệt,kỳ thị to tát như vậy sẽ bắt
đầu phai nhạt dần.Bạn nên nới rộng lối hành trì này
để bao gồm tất cả mọi người và cuối cùng thì luôn cả
muôn vạn hàm linh. Đấy là cách phát triển phương pháp Bình
Đẳng Xả[1].Điều này không phải là khuyên nhủ chúng ta
không được có bạn hoặc có thù.Những gì chú tâm ở đây
là để tiêu trừ những tình tự phản ứng kịch liệt và
bất bình đẳng đối với kẻ khác.Bình Đẳng Xả là điều
rất quan trọng,chẳng khác nào cần san bằng mặt đất trước
khi cầy cấy.Tuy Bình Đẳng Xả tự nó không phải là một
sự liễu ngộ thâm sâu nhưng nếu bạn đạt được nền tảng
ấy thì mọi tiến bước khác trong việc tu hành sẽ trở nên
rất thuận lợi thành công.
Sau
khi phát triển được tâm xả,lời răn dạy thứ nhất của
lý nhân quả để kiến tạo nguyện vọng được khai ngộ
là hãy thừa nhận rằng tất cả chúng sanh đều đã từng
là mẹ ta trong tiền kiếp. Điều này là do bởi không có điềm
khởi đầu cho vòng tuần hoàn luân hồi;do bởi sinh mạng trong
vòng tái sanh chuyển thế là vô thủy; do bởi ngay cả sinh
mạng của chúng ta cũng vô thủy.Sanh và tử tương tục không
có gián đoạn.Hễ khi nào có xác thân là chúng ta cần phải
có một bà mẹ.Bởi vì luân hồi không có khởi điểm nên
ta không thể chỉ vào bất cứ chúng sanh nào và nói: “Người
này chưa từng là mẹ tôi trong quá khứ.” Chẳng những họ
đã từng là mẹ ta trong tiền kiếp,mà họ còn sẽ là mẹ
ta trong đời vị lai nữa.Nếu bạn có thể vững tin vào sự
thật này thì sẽ rất dễ hồi tưởng và nghĩ nhớ đến
trọng ân của họ, để rồi sau đó có thể khởi phát một
ước muốn báo đền ân đức.Tuy thường được khuyến nhủ
nên xem mọi chúng sanh như mẹ mình nhưng bạn hãy áp dụng
pháp quán tưởng này căn cứ theo kinh nghiệm của chính bản
thân mình.Chẳng hạn như có một số người cảm thấy gần
gũi với cha mình hơn.Người nào mà bạn cảm thấy thân gần
và kính ngưỡng như có từ tâm nhất cần được xem đó như
là đối tượng để làm mẫu chuẩn.Không có bất cứ một
chúng sanh nào đã chưa từng là mẹ,là cha hoặc là quyến
thuộc của ta trong quá khứ,Sự thể mà ta không nhớ hay không
nhận diện được họ không đồng nghĩa là họ chưa từng
làm mẹ chúng ta.Ví dụ như,trong hiện kiếp có những trường
hợp mà cha mẹ và con cái bị chia cách từ khi đứa bé còn
rất trẻ; những đứa con này khi lớn lên không cách gì nhận
nhớ được song thân của chúng.
Đạo
lý kế tiếp là tư duy đến ân đức của tất cả mọi chúng
sanh.Sau khi thừa nhận rằng tất cả mọi chúng sanh khác đều
như mẹ mình,hồi tưởng ân đức của bà ta,hãy lấy người
mẹ ruột của chính mình làm chuẩn dụ;cách quán tu này theo
kinh dạy là thù thắng nhất.Tưởng tượng mẹ bạn ở ngay
trước mặt,và nghĩ rằng bà không những chỉ là mẹ bạn
trong hiện đời mà còn là mẹ của bạn trong vô số kiếp
quá khứ nữa.Sau đó,hãy suy nghĩ là bà đã đối đãi với
bạn nhân từ như thế nào,săn són bảo vệ bạn như thế
nào để bạn tránh khỏi hiểm nguy;và hợp tác giúp đỡ bạn
ra làm sao? Đời này từ lúc bắt đầu mang thai bạn ra sao
và đương trong thời kỳ thai nghén bà đã chăm lo bạn nhiều
đến thế nào?Bà trông nom bạn trọn vẹn chẳng chút do dự.Vì
sự an vui của bạn,bà chẳng quản khước từ mọi sở hữu
và sẵn lòng dùng mọi thủ đoạn và kế sách phản luân lý
để đạt thành những gì bạn cần bất chấp mọi nguy khốn
xảy đến cho bà.Tình thương và tâm ý đối với con trẻ
nhiều đến nỗi thà tự mình gánh chịu bệnh hoạn còn hơn
để con mình đau yếu.Bạn nên nhất tâm trực chỉ quán tu
về ân thâm đức trọng của bà.Trải qua cách tư duy như thế,khi
bạn đối với ân đức vĩ đại của mẹ mà khởi phát niệm
cảm sâu dày trướvc thâm ân nghĩa nặng của bà thì bạn
cũng nên áp dụng phương cách này kể cả với những người
đã từng đối đãi tốt đẹp với bạn như là bằng hữu
và quyến thuộc.Cuối cùng có thể triển khai để bao gồm
luôn cả những người trung lập.Nếu đối với những người
trung lập mà bạn có thể hưng khởi niệm cảm như vậy, thì
hãy chuyển luôn đến cả chính những người thù nghịch với
mình.Dần dần thì tổng nạp luôn muôn vạn chúng sanh vào
trong phạm trù của sự cảm niệm ân đức của bạn.
Kế
đến là pháp quán tưởng để hồi báo ân đức[2] cho họ.Bạn
nên hiểu rằng chỉ vì tái sanh chuyển thế không ngừng nghỉ,nên
chúng ta không có khả năng nhận diện được tất cả chúng
sanh đều đã từng là hiền mẫu,là song thân,là quyến thuộc
của ta.Giờ đây,họ không nơi che chở,không nơi nương tựa.Nếu
chính mắt trông thấy họ đang bị đau khổ nhưng không ai
trợ giúp,mà ta vẫn chỉ mưu cầu quyền lợi và giải thoát
cá nhân thì không những ta đang hành xử rất bất công mà
ta còn cực kỳ vô ân bội nghĩa.Bạn nên phát khởi tâm tình
phụng hiến sâu đậm,tuyệt nhiên không lìa bỏ họ,trái lại,còn
báo đền ân đức cho họ nữa.Ngay cả trên danh nghĩa thế
tục,nếu người nào không báo đền ân đức mà còn hành
xử chống trái lại người khác,cũng bị xem như con người
tồi tệ và vong ân.Huống chi một Đại Thừa hành giả làm
sao có thể tuyệt nhiên ngoảnh mặt đối với sự phúc lợi
và chẳng hề nghĩ suy đến việc hồi đáp ân đức của mọi
loài hữu tình chúng sanh khác được?
Hãy
hình dung đến mẹ bạn,một người mẹ đang bị tâm thần
bất ổn, đôi mắt mù lòa không người hướng dẫn, đơn
độc tiến theo hướng dốc.Bà réo gọi đứa con ruột kề
cận mà bà đặt trọn niềm tin như nơi cậy nhờ duy nhất.Nếu
chính đứa con đó không giúp đỡ bà thì ai sẽ là người
giúp đở bà đây? Chúng ta nên tư duy đến quan điểm này:từ
vô thủy đến nay,tâm tình chúng sanh chưa từng ổn định
vì họ đã từng trót làm nô lệ cho phiền não,họ đã đánh
mất tuệ nhãn để nhìn ra con đường dẫn đến Niết Bàn
và khai ngộ; và họ cũng thiếu cả sự hướng dẫn cần thiết
của một vị đạo sư tinh thần.Dần dần,họ chìm đắm trong
những hành vi tiêu cực để cuối cùng đưa dẫn đến sa đọa.Nếu
những bà mẹ này không thể tìm được sự đỡ đần từ
các con,thì còn phó thác hy vọng vào ai nữa đây?Thể hội
được trách nhiệm, bạn hãy nên đáp đền nghĩa trọng tình
thâm của mẹ bạn.
Điều
thứ tư là quán tu Từ Tâm[3].Định nghĩa của Phật giáo đối
với Từ Tâm là nguyện tất cả mọi hữu tình chúng sanh đều
có thể hưởng thụ sự an lạc và vĩnh viễn không lìa xa
an lạc.Kinh sách dạy,chỉ một sát na quán tu Từ Tâm,còn thắng
xa công đức tích lũy từ vô số sự cúng dường cho vô lượng
Chư Phật.Chính bởi pháp tu Từ Tâm mà đức Phật đã đánh
bại ma vương trong nỗ lực kềm giữ ngăn chặn Ngài đạt
đến cứu cánh giác ngộ.Pháp quán Từ Tâm là một sự bảo
hộ vô thượng.Sự phối hợp chân chính của pháp quán Từ
Tâm là, tiên khởi nên bồi dưỡng Từ Tâm đối với chính
những bằng hữu của bạn,sau đó chuyển sự chú tâm đến
các người trung lập, để rồi sau rốt đến luôn cả những
người thù nghịch.Dần dà bao gồm luôn tất cả các chúng
sanh khác mà bạn gặp gỡ.
Thứ
đến là pháp quán Đại Bi Tâm[4].Có hai loại Đại Bi Tâm,một
là chỉ nguyện cho tất cả chúng sanh được lìa đau khổ
và loại Đại Bi Tâm kia thù thắng hơn: “Tôi xin cưu mang
trách nhiệm giúp chúng sanh thoát khổ.” Trước tiên,bạn
hãy quán tưởng đến chính song thân,bằng hữu và quyến thuộc
của mình,sau đó đem sức chuyên tâm chú ý đến những người
trung lập và sau rốt hướng đến cả những người thù nghịch
để rồi cuối cùng mọi chúng sanh mà bạn gặp gỡ sẽ trở
thành một phần của pháp quán tưởng của bạn.Việc làm
này mang một ý nghĩa vô cùng trọng đại bởi vì khi bạn
có thể chuyển rộng pháp quán của mình hướng về muôn vạn
hàm linh thì Đại Bi Tâm và Từ Tâm của bạn sẽ trở nên
nhuần thắm đến độ ngay cái giây phút mà bạn chứng kiến
khổ đau thì Đại Bi Tâm sẽ tự khắc bộc phát.Trái lại,nếu
bạn chỉ cố công tu quán Đại Bi Tâm và Từ Tâm đối với
tất cả chúng sanh;nghĩ đến “Tất Cả Chúng Sanh” mà không
trước hết phân chia họ một cách riêng rẽ; thì cái ý niệm
“Tất Cả Chúng Sanh” sẽ cực kỳ mơ hồ và Bi Tâm của
bạn cũng sẽ không thật sự vững mạnh kiên định.Khi vừa
hội ngộ một vài cá nhân nào đó,bạn sẽ bắt đầu hoài
nghi rằng là phải chăng mình đang chân thành mong muốn họ
được an vui hạnh phúc.Mặt khác,nếu tuần tự bồi dưỡng
Bi Tâm; bằng cách trước hết lựa chọn ra từng hạng người
riêng rẽ và với một nỗ lực đặc biệt của sự bồi dưỡng
Từ Tâm và Bi Tâm chuyên chú đến kẻ thù của bạn chính
là tiêu đề khó khăn nhất; nhiên hậu tấm lòng từ ái và
bi mẫn đối với tha nhân sẽ trở nên rất dễ dàng và Đại
Bi Tâm của bạn sẽ có khả năng nhẫn chịu bất cứ trạng
huống nào mà bạn có thể gặp phải.
Trong
khi thực thụ quán tưởng,bạn hãy tư duy đến những cách
thức trôi lăn trong luân hồi và tất cả những hình thức
dày vò khổ đau của mọi chúng sanh cũng như của chính bản
thân mình. Để được thành công trong việc phát triển Từ
và Bi Tâm,sự thấu hiểu và tri nhận các việc sai trái và
khuyết điểm của luân hồi là điều rất trọng yếu.Nếu
bạn có khả năng làm được điều ấy,bằng chính những
quán sát của mình thì xuyên qua sự thể nghiệm;bạn có thể
nới rộng sự thông cảm của mình đến tất cả các chúng
sanh khác.Trái lại,nếu chưa tự phát khởi được tâm cầu
Xả Ly và ý hướng gờm tởm đối với toàn bộ các kinh nghiệm
trong vòng luân hồi này thì bạn không cách gì bồi dưỡng
được Bi Tâm cả.Tâm ý Xả Ly la điều không thể miễn trừ
được trong công việc bồi dưỡng Bi Tâm.Bi.Tâm và Xả Ly
chỉ khác nhau ở đối tượng:Xả Ly thì chuyên nhắm đến
chính tự thân của bạn, đó là ước nguyện “chỉ có mình”
được giải thoát.Bi Tâm thì trực nhắm đến các loài chúng
sanh khác, đó là ước nguyện “muôn loài” được giải
thoát.
Quả
thật rất quan trọng để điều nghiên và thông hiểu được
nhiều hình thức khổ đau.Nhờ gặt hái được một kiến
thức rộng lớn bằng cách đọc tụng và nghiền ngẫm kinh
điển;bạn nên suy gẫm về các sai trái và khiếm khuyết của
vòng luân hồi sinh tử cùng thể thức mà các loài chúng sanh
đã trôi lăn trong chuỗi xích chuyển phản ứng này.Ví dụ
như,trong các phòng thí nghiệm khoa học,các bộ phận của
heo đã bị dày xéo bởi đủ loại máy móc dụng cụ. Để
tìm hiểu cách thức hoạt động của một bộ óc,các khoa
học gia đã dùng động vật để thí nghiệm.Quả thật là
một chuyện kỳ quái bởi vì mục tiêu chánh yếu của họ
là giúp kéo dài đời sống của nhân loại. Đây là một mục
đích cao thượng trong một khía cạnh nhưng cũng đồng thời
rất khó biện giải được.Dẫu rằng họ có thể dùng thuốc
mê để trấn định;nhưng các khoa học gia đã thực hiện
các cuộc thí nghiệm kể trên bất kể lòng từ bi và trắc
ẩn đối với thú vật.Tại Tây phương,có những đoàn thể
chống đối những cách đối xử với thú vật như thế không
phải vì tinh thần tôn giáo mà do vì thái độ bi thương đối
với các loài cầm thú.Tôi đặc biệt tán đồng nỗ lực
này.
Lúc
khở đầu có thể hoàn toàn khó khăn để phát khởi bất
luận kinh nghiệm bi thương nào đối với tất cả chúng sanh;nhưng
một khi đã bắt đầu sanh khởi được rồi thì nó sẽ trở
nên kiên định,chân thật và không thể lay chuyển được
bởi vì nó đã được đặt để trên một nền tảng tri thức
và lý tính vững chắc.Nếu bạn có được kinh nghiệm Bi Tâm
nào rồi, điều hết sức trọng yếu là hãy nỗ lực quân
bình hóa bằng cách củng cố nó với những lý giải và sự
hiểu biết rộng lớn của bạn.Chỉ thuần túy dựa dẫm trên
một vài hình thái trực giác đơn thuần nào đó không thôi
thì quả thật khó tin cậy.Bởi vì sẽ có nguy cơ là các loài
kinh nghiệm ấy sẽ tan biến với không một dấu vết nào
lưu lại.Điều này đúng không phải chỉ đối với pháp quán
Bi Tâm và Từ Tâm mà còn đúng đối với tất cả các pháp
tu khác nữa.
Do
nhờ vào phương pháp thiền quán và pháp tu trầm mặc tư duy
một cách liên lỉ,mà niệm bi cảm của bạn đối với muôn
vạn hàm linh sẽ trở nên nồng nàn mãnh liệt,như tình thương
yêu của một hiền mẫu đối với đứa con độc nhất khi
chứng kiến nó quằn quại vì bịnh hoạn.Sự khổ sầu của
con trẻ sẽ tạo nên âu lo và đau đớn cho bà, để rồi ngày
cũng như đêm, bà sẽ đương nhiên nguyện ước cho cậu ta
hoặc cô ta chóng được khỏe mạnh.Nếu thái độ của bạn
đối với các chúng sanh khác cũng giống như thế,thì bất
luận là họ có liên quan đến bạn hay không; bạn đều có
thể khởi phát một tâm từ bi bình đẳng mãnh liệt,không
chút thiên vị ngay cái thời khắc mà bạn chứng kiến được
bất cứ khổ đau nào của họ.Và đó là dấu hiệu đã đạt
đến, đã phát triển được Tâm Đại Bi. Điều này áp dụng
cả luôn cho Từ Tâm.Từ Tâm và Đại Bi Tâm như thế, sẽ
tự nhiên đưa dẫn đến,không cần bất cứ cố gắng nào,một
thái độ thù thắng hơn nhằm gánh vác lên chính đôi vai của
mình trách nhiệm mưu cầu phúc lợi cho quần sanh, để rồi
dần dà sẽ đưa đến cứu cánh liễu ngộ của ý nguyện
chứng đắc.
Trong
khi tu quán hồi báo ân đức,bạn đã tư duy đến đại ân
đức sâu dầy của một “bà mẹ chúng sanh” và tư duy đến
một sự cần thiết là phải tạo niềm an vui hạnh phúc cho
muôn loài. Ở đây,sự quan ngại căn để, đó là vấn đề
bồi dưỡng một niệm cảm thâm sâu về trách vụ mưu cầu
phúc lợi,cùng gánh vác nhiệm vụ cứu khổ ban vui cho tất
cả chúng sanh.Xuyên qua cuộc sống và các sinh hoạt bình nhật,khi
cơ duyên đưa đến,bạn hãy tức khắc nắm bắt cơ hội để
huấn luyện pháp quán tu này.Chỉ có lúc đó bạn mới có
thể khởi sự hy vọng thăng tiến liễu ngộ.Vị luận sư
Ấn Độ Chandragomin (thế kỷ thứ 6 C.E) đã nói: “Kỳ vọng
để thay đổi chất vị của một trái rất chua bằng cách
pha thêm một hoặc hai giọt đường, đó là ngu xuẩn.” Cùng
thế ấy, ta không thể mong cầu hoán chuyển ngay tức khắc
hương vị tâm linh đã bị ô nhiễm bởi chất chua phiền não
thành hảo vị ngọt ngào Bồ Đề Tâm và Đại Bi Tâm chỉ
với một hay hai lần quán tu.Nhẫn chịu tinh tấn và miên mật
liên lỉ chính là điều tối ư trọng yếu.
Giai
đoạn cuối cùng là phát Bồ Đề Tâm chân chánh, đó là một
tâm nguyện được khai ngộ vì mục đích lợi tha.Vì thế
bạn không nên hài lòng thỏa mãn chỉ vì đã tri hiểu được
tầm mức quan trọng của sự khai ngộ nhằm phụng sự chúng
sanh này.Không thể nào đạt đến mục tiêu cứu cánh được
nếu không đạt được sự thành tựu cảnh giới Nhất Thiết
Chủng Trí của quả vị Phật; mà do từ nơi đó bạn có thể
mang sự lợi ích tuyệt đối đến cho muôn loài. Đối với
cảnh giới khai ngộ,bạn nên phát khởi một niềm tin sâu
dầy thiết tha vô tận từ nơi đáy lòng,và chính điều đó
sẽ dẫn đưa đến một ước nguyện khao khát được chứng
đắc.Thông thường mà nói; có rất nhiều điều kiện nhân
duyên để vun xới Bồ Đề Tâm nhưng trọng yếu nhất trong
tất cả các thứ ấy vẫn là Đại Bi Tâm.
Ta
nên tri hiểu rằng mục đích để được sinh ra trong thế
giới này là nhằm giúp ích quần sanh.Nếu không thể làm được
điều ấy thì ít nhất ta cũng không nên hãm hại các chúng
sanh khác.Ngay cả những người từng phản đối tôn giáo,vẫn
tán dương thái độ vị tha từ ái.Dù trên mặt tư tưởng,người
Trung Cộng thường bài xích tôn giáo nhưng họ cũng bàn thảo
đến ước muốn xây dựng phúc lạc cho đám đông quần chúng.Nếu
những người này thực sự có thái độ vị tha từ ái thì
họ có thể chu toàn ước nguyện của một chủ nghĩa xã hội
hoàn thiện hoàn mỹ.Ngược lại,nếu cứ tiếp tục sử dụng
những chính sách bạo động để củng cố tập quyền chuyên
chế thì nguyện vọng của họ không sao thực hiện được.Mỗi
quốc gia đều có những thể chế chính trị khác nhau,nhưng
phần lớn mọi xã hội đều có một nhân tố cơ bản là
thái độ lợi tha-đó là ước nguyện nỗ lực vì người,vì
sự phúc lạc của nhân dân đại đồng.Thái độ lợi tha
là gốc rễ của mọi an vui hạnh phúc ngày chính trong cộng
đồng nhân loại.Mọi tôn giáo chánh yếu trên hoàn cầu đều
khích lệ bồi dưỡng tâm thái lợi tha mặc dù hệ thống
triết học có khác nhau.Một cách ngắn gọn,nếu bồi dưỡng
được thái độ lợi tha,nó không chỉ tạo được một môi
trường bình yên chung quanh bạn nữa. Đó là một trong những
kết quả thực tiễn mà bạn có thể thấy được.Mục tiêu
cứu cánh khi bồi dưỡng thái độ lợi tha, là thành tựu
chứng ngộ ngõ hầu đáp ứng viên mãn và thỏa đáng mọi
nguyện vọng của chúng sanh.Vì thế, đối với tính cách trọng
yếu của việc bồi dưỡng Bồ Đề Tâm, Đức Phật không
chỉ lưu lại như một lời khuyến dạy giản đơn;ngài còn
đã đồng thời chỉ bày các loại kỷ xảo và phương pháp
mà do nhờ vào đấy chúng ta có thể hưng phát một tâm nguyện
lợi tha như trên.
Một
khi đã thác sanh trong thế giới này rồi,ngày nào còn làm
người thì ngày đó sự sinh tồn của chúng ta còn tùy thuộc
vào nhiều chúng sanh khác nữa.Chúng ta không thể đơn độc
sinh tồn. Đó là bản tính của loài người.Do đó,chúng ta
nên trợ giúp các đồng loại của chúng ta và giúp họ vơi
được thân khổ và tâm khổ. Đấy là phương thức đứng
đắn để tiếp xử với những người đồng loại của ta.Côn
trùng như các loài ong kiến chẳng hề có một thể chế giáo
dục gì cả;tuy nhiên trên thực tế,vì phải nương tựa lẫn
nhau để sinh tồn nên dẫu có thiện cảm hay Bi Tâm mãnh liệt
hay không chúng vẫn giúp đỡ nhau.Khi kiến tìm được mẩu
bánh mì nào lớn thì chúng giúp nhau vận chuyển.Loài người
cũng cần nương tựa vàođồng loại để sinh tồn nhưng lại
không cư xử với nhau như người đồng chủng.Tất cả loài
người đều có khuynh hướng tự nhiên ham sướng tránh khổ.Nghĩ
đến điều này quả tình tối trọng yếu để bồi dưỡng
một thái độ lợi tha nhằm giúp đỡ quần sanh.
Chúng
ta đã mang được thân người trong kiếp sống này.Làm cho
nó đượm đầy ý nghĩa hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào
chính tâm thái của ta.Nếu lựa chọn một thái độ bất chính
nhưng lại phô bày một vẻ mặt ân cần lương thiện thì
chúng ta đang lầm lẫn rồi vậy.Nếu cưu mang thái độ lợi
tha và cư xử với quần sanh như thể họ xứng đáng được
đối đãi như vậy; thì sự an lạc của chính chúng ta sẽ
được bảo đảm như một kết quả tất yếu trong việc mưu
cầu phúc lạc cho tha nhân.Khi chúng ta hưởng thụ an lạc,nên
vui mừng hoan hỷ vì đây là kết quả hành thiện từ đời
quá khứ. Đồng thời, nên đem phước báo này hồi hướng
cho khắp tất cả chúng sanh trong niềm kỳ vọng là họ cũng
được thị hưởng niềm an vui này.Nếu chúng ta thọ khổ,nên
tri nhận rằng đây là kết quả ác nghiệp tạo tác của ta
từ đời quá khứ,vì thế,nên phát nguyện: xuyên qua các kinh
nghiệm khổ đau này ta ước mong sao cho tất cả những khổ
đau ách nạn mà các chúng sanh phải nhẫn chịu có thể tiêu
trừ được.Thệ nguyện rằng dù có được giác ngộ hay không,bạn
vẫn sẽ nỗ lực lưu cầu phước lạc cho mọi loài chúng
sanh.Một khi đã thọ nhận được các huấn chỉ về phương
pháp khắc phục các thái độ xem tự ngã như trung tâm điểm
rồi thì bạn có thể chết không chút hối tiếc.Khi giảng
giải phương pháp ngưỡng cầu của tôi để phát khởi nguyện
vọng giác ngộ này thì tôi cảm thấy rất may mắn có phước
bao được làm như vậy.Miệng lưỡi tôi đã phụng sự cho
tiêu đích của nó rồi.Thính chúng và độc giả nên hoan hỷ
với đại phước báo được trở nên quen thuộc với những
giáo pháp bất khả tư nghị như vậy,mà sự tu hành sẽ cống
hiến những ân huệ to lớn cho cả hiện tại lẫn vị lai.
Tu
Tâm Bồ Đề là một điều không thể thiếu được đối
với những ai ngưỡng cầu thành tựu được quả vị giác
ngộ.Tất cả Chư Phật,Bồ Tát quá khứ đều nhờ bồi dưỡng
thái độ lợi tha này mà thành đạt sự liễu ngộ cao thâm.Một
vài nhà tư tưởng học đã đánh mất tính tương thông hợp
lý này theo dòng thời gian.
Chư
Phật đã khai thị rằng sinh mạng là vật sở hữu đáng trân
quý nhất của ta và hãy xem sinh mạng kẻ khác còn quan trọng
và quý giá hơn cả chính sinh mạng của mình.Thông điệp và
lời huấn thị này vẫn muôn thuở giữ được sự túc lý
của nó.Trong thời buổi cận đại ngày nay,với hiểm hoạ
to lớn là thế giới sẽ bị hoàn toàn hủy diệt; chúng ta
phát hiện rằng thông điệp của Đức Thế Tôn càng ngày
càng hữu lý hơn.
Một
pháp tu khác nhằm phát triển lòng hy cầu vị tha đạt được
toàn giác là pháp tu Tự Tha Bình Đẳng[5] và Tự Tha Tương
Hoán [6].Giai đoạn đầu tiên của pháp tu này là tri nhận
những ưu và khuyết điểm của Tự Tha Tương Hoán.Tất cả
những phẩm chất ưu việt của vạn hữu vũ trụ đều là
hoa trái của sự trân tiết phúc lợi của tha nhân; và tất
cả mọi thất bại,hoang mang,khổ nạn đều là sản phẩm
và hậu quả của những tâm thái vị kỷ.Tuy nhiên,Tự Tha
Tương Hoán có là điều khả thi chăng? Kinh nghiệm chứng thực
rằng:ta có thể thay đổi thái độ đối với một vài hạng
người nào mà trước kia ta từng cự tuyệt và kinh sợ ; rằng
ta có thể thay đổi thái độ một khi ta tiếp cận với họ
hơn và thông hiểu họ hơn.
Tự
Tha Tương Hoán không có nghĩa là bản thân ta thay đổi thành
người khác mà đó là cách thức đối đãi đặt địa vị
hoàn cảnh của mình vào hoàn cảnh và tâm trạng của người
khác, để có thể cảm thông với họ một cách tự nhiên
trong nỗ lực mang lại niềm hạnh phúc an vui cho tha nhân thay
vì chính bản thân mình.
Có
hai chướng duyên chánh yếu khi khai triển một thái độ như
vậy.Thứ nhất là phân biệt ta và tha nhân một cách mãnh
liệt; xem ta và tha nhân như hoàn toàn độc lập và riêng rẽ.Kỳ
thật,mình và người đều quan hệ với nhau giống như “bên
này núi” và “bên kia núi” vậy.Theo nhãn quan của tôi,
thì tôi chính là mình còn bạn là kẻ khác.Chúng ta đều có
chung một cảm giác thờ ơ lãnh đạm bởi vì ta cảm nhận
hạnh phúc và khổ lụy của người không phải là vấn đề
có can dự gì đến ta.Thế thì, ta cần phải nhớ nghĩ đến
một vài người mà ta xem rất thân thương,như quyến thuộc
của ta chẳng hạn.Cho dù thân bằng quyến thuộc của bạn
không phải là bạn nhưng mọi khổ vui mà họ gặp đều có
tác hưởng đến bạn.Lại nữa,dù trên thực tế,thân thể
của ta bao gồm nhiều phần-đầu,tay,chân-nhưng ta vẫn cư
xử với chính thân thể ta,một sự tổng hợp của nhiều
cơ phận đều rất quí giá.Cùng thế ấy,ta nên thẩm xét
về những gì đã liên kết chúng ta lại; một đặc chất
cộng hữu mà vạn vạn chúng sanh như chính tự thân chúng
ta đang cùng nhau san sẻ; đó là ý nguyện tự nhiên-mong được
an lạc và xa lánh sự khổ đau.Chúng ta xưng tôn kẻ nào đã
vì phúc lạc của tha nhân mà hy sinh cuộc đời họ là người
cao thượng nhưng ta lại cho rằng điên rồ khi hy sinh mười
người để cứu lấy một người. Điều này không có gì
liên hệ đến tín ngưỡng cả,nó chỉ giản đơn là một
giải đáp có tính cách nhân bản thôi.Do vậy,xả bỏ quyền
hạn,lợi lộc và ưu tiên của dăm ba người cho sự phúc lạc
của nhiều người là hợp cách và công bằng. Đó là những
gì Đức Thế Tôn đã tuyên dạy: “Xả bỏ những ưu tiên
và đặc quyền của một cá thể cho sự an ninh của chúng
sanh đại đồng nhiều bất tận,nhiều tựa hư không,là hợp
cách và công bằng.”
Khi
nỗ lực thực hành pháp tu Tự Tha Tương Hoán;chúng ta sẽ
phải đương đầu với một sức khánh cự kịch liệt xuất
phát từ chính khuynh hướng tự nhiên của bản thân và thái
độ xem tự ngã như là trung tâm điểm.Khắc phục được
chúng là điều tối trọng yếu. “Khổ sướng của người
khác không có gì liên hệ đến tôi;và vì thế,tôi chẳng
cần làm gì cho ai cả;” loại quan niềm này là một chướng
ngại to lớn đang kể.Tuy nhiên,ta nên tư duy rằng:dẫu cho
con người của chúng ta trong hiện tại sẽ không giống như
con người của chúng ta trong hai mươi năm sau; nhưng quả là
điên rồ nếu ta không quan hoài đến cái con người mà ta
sẽ trở thành trong tương lai; và cũng quả là điên rồ nếu
chỉ chuyên làm những điều sẽ mang đau khổ đến cho mình
trong tương lai.Ta cũng nên tư duy rằng:khi đạp phải gai nhọn,chân
bị thương; dẫu rằng tay không đau,nhưng một trong hai tay
liền lập tức tháo gỡ chiếc gai kia ngay.Chỉ vì tập quán
lâu ngày quen thuộc mà ta ôm giữ chấp đặt với tự thân,
để rồi cho rằng bất cứ thứ gì liên hệ đến tự thân
mình cũng đều như là những việc vô cùng quí giá và hết
sức trân trọng.Nhưng xuyên qua một tập thói quen thuộc kiên
trì;ta có thể hưng khởi một thái độ trân tiết phước
lợi của tha nhân cũng mạnh mẽ không khác trân tiết phước
lợi của chính mình.Dẫu ta đã từng nỗ lực từ vô thỉ
kiếp đến nay để đạt được an vui,thoát khổ sầu; nhưng
thái độ lấy tự ngã làm trung tâm điểm đã khiến xui ta
trải qua những đau đớn khôn lường.Nếu ở một thời khắc
nào trong quá khứ mà ta có thể thay đổi thái độ này; ta
đã từng trân quí sự phúc lợi của người thay vì sự phúc
lợi của ta,và còn nỗ lực vì sự an lạc của họ nữa thì
giờ đây có lẽ ta đạ thành tựu được cứu cánh Phật
quả rồi.
Vì
thế,chúng ta nên quyết định: “Bắt đầu từ nay,tôi sẽ
phụng hiến chính mình ,bao gồm cả thể xác mình cho sự phúc
lợi của tha nhân.Bắt đầu từ nay,tôi sẽ không làm việc
chỉ vì niềm an lạc của tự thân,mà hơn thế nữa là vì
niềm an lạc của tha nhân.Bắt đầu từ nay,muôn người đều
như sư trưởng của tôi,thân xác tôi sẽ tuân phục và nhận
lãnh mệnh lệnh của người thay vì của chính mình.” Tư
duy về những bất lợi và tổn hại vĩ đại của thái độ
vị kỷ;bạn hãy phát khởi một quyết tâm dõng mãnh,nói với
chính thái độ trân quí tự ngã của mình rằng: “Sự khống
chế nội tâm tôi của bạn chỉ còn là một tiêu đề của
quá khứ.Kể từ nay trở đi,tôi sẽ không tuân vâng theo mệnh
lệnh của bạn nữa.Các phương thức bất chánh của bạn
chỉ gây tạo thương tổn to lớn cho tôi thôi.Kể từ nay trở
đi, đừng giả vờ phục vụ cho chính niềm an vui của tôi
nữa bởi vì tôi đã tri hiểu được rằng bạn chính là kẻ
thù lớn và là cội nguồn của mọi trắc trở và khổ lụy
cho tôi.Nếu tôi không từ bỏ bạn để phục vụ tha nhân;bạn
lại một lần nữa nhận dìm tôi xuống những khổ đau của
chuyển sanh bất hạnh.” Nên hiểu rằng thái độ lấy tự
ngã làm trung tâm điểm là cội nguồn của tất cả “khổ”
còn quan hoài đến tha nhân là cội nguồn của tất cả “an
lạc” và “mỹ đức”.
Nếu
bạn gặp mười kẻ hành khất nghèo khổ ngang nhau,rồi phân
biệt họ,quyết định người này xứng đáng được giúp
đỡ hơn người kia,thì đây là điều sai lầm.Nếu có mười
người bệnh tương đương với nhau thì quả không hợp lý
nếu bắt đầu phân biệt người này với người kia.Cùng
thế ấy,với tất cả chúng sanh,bạn nên phát triển thái
độ bình đẳng đối với những ai đang đau khổ hay đối
với những ai sắp chịu khổ.Những chúng sanh này đã từng
thi ân nhiều vô hạn đối với bạn trong quá khứ. Đứng
trên quan điểm tôn giáo mà nói,cho dù kẻ thù nghịch cũng
vẫn nhân từ,bởi vì họ khiến bạn có cơ hội tu hạnh nhẫn
nhục.Tất cả chúng ta đều có một bản chất như nhau, đều
kham chịu chung cùng vận mệnh thì không lý do gì phải phản
kháng và bất thiện cảm với nhau. Chư Phật chỉ xem phiền
não như khuyết điểm nên trừ khử;các ngài không phân biệt,kỳ
thị các chúng sanh đang bị vây phủ bởi phiền não mà cứu
độ một vài người và bỏ mặc một vài người khác.Nếu
vài chúng sanh thật sự có bản chất xấu ác thì chư Phật
sẽ thấy điều này và từ bỏ những loại người như vậy.Nhưng
vì các ngài liễu tri được bản chất thực tại giới như
là nó đang hiện hữu nên không hành xử theo cách này; vì
thế,ta có thể thanh trừ được.Kinh sách đã dạy rằng:nếu
chư Phật bị thúc ké bởi hai người,một người thì công
kích ngài bằng vũ khí còn người kia thì dùng dầu để thoa
dịu ngài đi chăng nữa thì ngài cũng chẳng hề thiên vị
người này hơn kẻ kia.
Do
vậy,trong ý niệm tột cùng nhất, thù và bạn không còn hiện
diện.Điều này không có nghĩa là không có người đôi khi
giúp ta và không có kẻ khác thì đôi lần hãm hại ta.Những
gì ta lưu tâm đến nôi đây là tìm cách để chế phục các
tình cảm nghiêng ngã của ta. Hãy tư duy đến mối liên hệ
giữa bạn và thù, ngõ hầu giảm bới mối dây ràng buộc
của các phản ứng có tính cách tình cảm.Thế là ta có thể
dễ dàng nhận diện được những ưu điểm to tát của sự
trân quý tha nhân-đó là cửa ngõ thành tựu mọi phẩm đức
cao thượng.Ta sẽ từ đấy,hẳn nhiên nguyện cầu phục
vụ cho tha nhân và sự lãnh đạm mà trước kia ta đã đối
xử với họ có thể giờ đây được ứng dụng cho chính
sự tư lợi của ta. Niệm cảm luyến chấp mãnh liệt một
cách bình thường đối với sự phúc lạc của bản thân ta
xưa kia có thể hiện nay được chuyển hướng cho sự phúc
lạc của mọi người.
Nếu
tư khảo tỉ mỉ,bạn có thể tri hiểu rằng thành tựu được
sự chứng ngộ cho bản thân mình cũng còn tùy thuộc vào người
khác rất nhiều.Không có sự tu hành tam học Giới, Định,Huệ;ta
không cách nào đạt đến Niết Bàn.Tu tập Tâm Học bắt đầu
bằng trì giới,ví như phát thệ không sát sanh.Nếu không có
các chúng sanh khác hiện diện,làm sao ta có thể kềm hãm tâm
sát sanh chứ? Tất cả những phương cách tu hành này đều
tùy thuộc vào sự đóng góp của kẻ khác.Tóm gọn lại,ngay
từ khởi thủy thai nghén đến nay,chúng ta đã trọn vẹn nương
tựa vào ân đức và sự đóng góp của kẻ khác.Người Tây
Tạng không thể vui hưởng được món trà Tây Tạng mà không
có sự đóng góp của các loài động vật như bò cái.Sữa
vốn là quyền hưởng thụ đương nhiên của bò con nhưng ta
đã lấy đi và dùng làm bơ.Nếu không có sự đóng góp từ
các chúng sanh khác thì chúng ta sẽ không có các vật dụng
này. Điều này cũng đúng luôn đối với nơi trú ẩn, đối
với thực phẩm và đặc biệt đối với danh vị.Trong xã
hội hiện đại,không ai có thể trở nên danh tiếng nếu không
hề có những sinh hoạt của các ký giả.Dù cho có hô to hét
lớn,một người cũng không thể trở nên nổi danh được
bằng thể thức như thế.
Ta
phát hiện rằng sự nhất thiết tồn tại của ta là một
điều gì nương tựa vào tha nhân. Điều này chẳng những
đúng đối với thế tục,mà nó cũng còn đúng đối với
Bồ Đề đạo: vạn pháp đều tùy thuộc vào sự đóng góp
và ân đức của người khác.Cho nên, nếu nương theo những
mối ranh như vậy mà tư duy,thì sự hồi tưởng ân đức của
muôn loài sẽ có một kích thước rộng rãi hơn.Tôi thường
lưu ý rằng nếu bạn muốn ích kỷ,bạn hãy nên thực hành
nó theo phương pháp khôn ngoan.Phương pháp tự tư ích kỷ mê
mờ là cách thức ta đã mãi miết làm,chỉ mưu tìm an lạc
cho chính tự thân và tiến trình trở nên càng ngày càng bi
đát khốn khổ hơn.Phương pháp tự tư ích kỷ thông minh là
phục vụ cho sự phúc lợi của quần sanh; bởi vì bạn sẽ
được thành Phật ngay chính trong quá trình thực hiện ấy.
Nhằm
vĩnh viễn không lìa xa nguyện vọng được thành Phật để
mang lợi ích đến cho tha nhân kể cả ở kiếp vị lai,ta cần
phải kiên trì với một vài huấn tập nào đó.Một cách cụ
thể rõ ràng,ta nên từ bỏ bốn hành vi tiêu cực xấu ác
và hành trì bốn Thiện Hành liên quan đến sự huấn tập
này.Hành vi xấu ác thứ hất là phỉnh gạt vị đạo sư tinh
thần của bạn, đặc biệt là nói dối.Hành vi trái nghịch
thứ hai là gây cho một vị tu hành nào đó khởi niệm hối
tiếc trong khi vị này nguyên trước kia không hế hối tiếc
về các thiện hành quá khứ của vị ấy,chỉ vì ngôn ngữ
của bạn.Hành vi xấu ác thứ ba là lăng nhục Bồ Tát, đó
là những vị đã từng hưng khởi Bồ Đề Tâm; bằng cách
bôi nhọ và nhục mạ các vị ấy.Chúng ta có khuynh hướng
dễ bảo rằng ai là Bồ Tát và ai không phải là Bồ Tát.Chúng
ta nên tối cẩn tắt để tránh phạm vào điều này.Kinh Đại
Bát Nhã[7] giải thích tầm mức nghiêm trọng của sự phẫn
nộ.Nếu phát hiện bạn đã lỡ giận dữ đối với một
vị Bồ Tát;hãy tức khắc sám hối và dấn bước trong nhiều
phương thức để thanh tịnh hóa ác nghiệp của bạn bằng
cách cương quyết rằng: điều tối quan trọng là ta sẽ mãi
mãi tránh không tái phạm vào điều lỗi lầm nầy nữa.Tảng
đá chướng ngại lớn nhất trong việc bồi dưỡng tâm đại
bi và nguyện vọng giác ngộ là niệm sân hận tha nhân.Hành
vi xấu ác thứ tư là phỉnh gạt kẻ khác một cách vô lương
tâm; đặc biệt là che đậy lỗi lầm của bạn và giả vờ
như đã đạt được liễu ngộ cao thâm rồi.
Bốn
Thiện Hành là bốn việc trái ngược với các điều kể trên.Điều
thứ nhất là không bao giờ nói dối với bất cứ chúng sanh
nào.Có vài trường hợp ngoại lệ mà có thể bạn phải nói
dối,nhằm hộ trì Phật pháp hoặc bảo hộ người khác.Ngoại
trừ điều này ra,bạn nên tránh nói dối đối với bất cứ
ai.Thiện Hành thứ hai là chánh trực và thứ ba là tán thán
và kính ngưỡng Bồ Tát,là những vị đã không ngừng phục
vụ quần sanh.Một lần nữa, quả thật rất khó phán đoán
ai là Bồ Tát và ai không phải là Bồ Tát; vì thế,an toàn
hơn cả là nên hưng phát kính ý mạnh mẽ đối với tất
cả chúng sanh; luôn luôn tôn vinh và ngợi khen phẩm cách cao
quí của họ.Thiện Hành thứ tư là cổ súy tha nhân hãy nỗ
lực nhằm tựu thành Phật quả,một quả vị đại giác viên
mãn.
[1]
Bình Đẳng Xả: equanimity
[2]
Pháo quán tưởng để hồi báo ân đức:meditation on repaying
the kindness
[3]
Quán tu Từ Tâm: meditation on love
[4]
Tu quán Đại Bi Tâm: meditation on compassion.
[5]
Tự Tha Bình Đẳng: Equalizing self ang others:mình và người đều
bình đẳng
[6]
Tự Tha Tương Hoán: Exchanging of self and others: đặt mình vào
hoàn cảnh tâm trạng người khác để có thể hiểu được
sự khổ đau của họ nhằm cưu mang trách nhiệm cứu độ
[7]
Kinh Đại Bát Nhã: The perfection of wisdom sutra.