THƯỢNG
SƯ
Quá
khứ có vô số Đức Phật xuất thế,chúng ta đã không có
đủ phước báu để gặp gỡ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã
đến với cõi đời ác trược này để hóa độ chúng sanh
trong thời Mạt Pháp.Ngài đã thị hiện xuống thế gian này
cách đây trên 2500 năm trước và từ đó đến nay đã khai
hiển chánh đạo nhằm giải thoát sự đau khổ luân hồi cho
vô số chúng sanh.
Tuy
nhiên,chúng ta không có phước báu để được Đức Phật
trực tiếp dẫn dạy; do vậy,tâm niệm vẫn còn phàm phu chưa
được thuần thục.Tại Ấn Độ và Tây Tạng đã từng có
biết bao vị đạo sư đã đến được cảnh giới giác ngộ
viên mãn.Nhiều vị khác cũng đã đạt đến trình độ liễu
ngộ cao thâm trong khi một vài vị khác chỉ mới cất bước
hướng theo con đường giác ngộ.
Giáo
pháp đã hiện diện cách đây từ nhiều thế kỷ; nhưng điều
quan trọng trong sự hiện diện của giáo pháp không phải ở
chỗ là sự lưu truyền có được miên viễn hay không,mà ở
chỗ là Phật pháp có tồn tại trong lòng chúng ta hay không,có
sống động trong hành vi của chúng ta hay không?Nếu chúng ta
hài lòng chỉ vì giáo pháp hãy còn hiện hữu trên thế gian
thì sẽ có nguy cơ bị hủy hoại vì không còn ai có thể thuyết
giảng bằng kinh nghiệm thực tư của chính mình nữa.Ngài
Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 13 sau khi viên tịch năm 1933,người
Tây Tạng đã tự cách ly.Mặc cho sự canh tân rộng lớn của
nhiều quốc gia khác trên thế giới,người Tây Tạng lại
tự cô lập lấy mình và đó là nguyên nhân mở đường cho
Trung Quốc xâm lược Phật giáo Tây Tạng hiện nay nhược
điểm bị suy thoái từ sau cuộc lưu ly thất tán của toàn
dân; do vậy, điều quan yếu là phải thật sự dồn nỗ lực
vào việc tu học Phật pháp.Ngay trong những thời điểm nguy
kịch này,chính vị đạo sư là người đã bảo hộ và cứu
độ chúng ta.Vị Thượng Sư[1] chính là người đã giới thiệu
một giáo pháp thậm thâm vi diệu đã từng được khai mở
bởi Đức Phật trong một phương cách xứng hợp với căn
cơ hiểu biết của chúng ta.Mặc dầu tất cả Chư Phật đều
tích cực nổ lực vì lợi ích của các loài hữu tình chúng
sanh nhưng chúng ta có thể thưởng thức cảm nhận được
những ích lợi ấy hay không cũng còn tùy thuộc vào mối quan
hệ của chúng ta với vị đạo sư.Vị đạo sư là cửa ngõ
duy nhất dẫn đưa đến sự chứng ngộ bởi vì ngài là vị
thầy sống mà chúng ta có thể trực tiếp liên lạc được.Nếu
chúng ta không tuân chỉ theo sự khuyến dạy tu hành và theo
cách thức hướng đạo đời mình thì gặp gỡ được một
vị đạo sư không chưa đủ.Nếu có phước báu nhận lãnh
được những huấn thị trên đây, điều này nói lên ý nghĩa
rằng chúng ta đã tránh được đa số chướng ngại then chốt
trong việc tu tập Phật pháp,do đó điều quan trọng là hãy
tự làm cho cuộc đời còn lại của chúng ta đượm nhiều
ý nghĩa bằng cách dấn thân hành trì chánh pháp.Nếu nhập
cuộc ngay bây giờ,chúng ta sẽ đương nhiên có thể thẳng
tiến trên con đường giác ngộ.
Tu
hành bất luận là đường lối nào đều cần đặt nền tảng
trên những huấn thị bao quát, hàm súc và xác thực.Cần phải
suy xét cẩn thận loại phương thức tu hành nào chúng ta muốn
thực tu và những giáo pháp nào chúng ta muốn đặt nền tảng
để dụng công thực tập. Đại học giả Tây Tạng Sakya Pandita[2]
(1182-1251) từng nói: đối với những việc thế tục như khi
đi mua một con ngựa,người ta rất thiết tha quan tâm.Do vậy,
điều quan trọng là chúng ta càng phải trở nên kén chọn
hơn,khi tuyển lựa phương cách tu tập giáo pháp và chọn lựa
sư trưởng; bởi vì cứu cánh của bạn là thành tựu Phật
Quả chứ không vị phương tiện vận chuyển.Một vị Thầy
có chân xác hay không chưa hẳn tùy thuộc vào khả năng dẫn
thuật từ Phật Kinh.Bạn cần nên phân tích ngôn hạnh và
cử chỉ của vị ấy.Xuyên qua sự phân tách tỉ mỉ không
ngừng, bạn sẽ có thể phát sinh lòng kính ngưỡng sâu xa
đối với vị ấy.
Vị
đạo sư Tây Tạng Po-To-Wa[3] (1031-1106) đã nói:khởi điểm
của con đường giác ngộ viên mãn là học tập kiến ngôn
của Đạo sư; còn kinh nghiệm liễu ngộ nhỏ nhất hay sự
đoạn trừ được phiền não nhỏ nhất nào cũng đều là
thành quả giáo huấn của vị đạo sư tinh thần.Nếu không
có một luật sư giỏi cố vấn chỉ dẫn thì chúng ta không
sao xử lý được công việc; nếu phải tiến bước trên con
đường chưa quen thuộc nhằm thánh tựu Phật quả thì tính
cách trọng yếu cỏa một đạo sư tinh thần là điều không
có gì để còn phải đặt thành nghi vấn.
Có
một số tình huống đã xảy ra, đó là một số người vốn
sẵn thông minh tài trí có vẻ như rất khéo léo và tinh anh;nhưng
khi muốn chuyên tâm quay hướng theo Phật pháp thì tâm thức
lại trở nên tê cóng. Điều này biểu hiện rằng họ chưa
tích tập đủ tiềm năng của thiện căn.Còn một số trường
hợp khác là,có người tuy rất tinh khôn và sở đắc được
một kiến văn quảng bác về Phật pháp,nhưng kiến văn này
lại không gây được ảnh hưởng nào cho tâm thức họ cả.Họ
chẳng đem sự hiểu biết để dụng công tu hành.Dưới tình
huống này, đạo sư tinh thần rất cần yếu.Sự liễu ngộ
cao thâm đặc biệt chỉ đạt được xuyên qua sự chỉ giáo
tuần tự của một vị đạo sư có kinh nghiệm thực chứng.Vị
sư trưởng trở nên một gương sáng để noi theo và là mạch
nguồn hứng thú để hành trì chánh pháp.Dù duyệt đọc những
kinh văn nói về cách tu luyện Đại Bi Tâm,cũng có thể khiến
ta phát khởi lòng xác tín kiên định; nhưng gặp gỡ được
một vị hiện tiền đã từng thật tu và còn có thể trao
truyền lại cách thức luyện Đại Bi Tâm bằng chính kinh nghiệm
của vị ấy nữa thì sự khích lệ càng mạnh mẽ hữu lực
hơn con đường chưa quen thuộc nhằm thành tựu Phật quả
thì tính cách trọng yếu của một đạo sư tinh thần là điều
không có gì để còn phải đặt thành nghi vấn.
Đại
sư Tsong-Kha-Pa nói rằng: trừ phi nội tâm sư trưởng
đã được điều phục,nếu không thì khó hy vọng rằng ngài
sẽ điều phục được tha nhân.Cử chỉ và ngôn hạnh của
sư trưởng cần được tiết chế,nội tâm cần phải được
phòng vệ tránh xao lãng loạn động do nhờ vào động lực
chuyên chú.Họ nên dùng huệ lực[4] để trang bị,và thấu
triệt xuyên suốt mọi hiện tượng bề ngoài.Nội tâm của
một người sẽ được cho rằng là đã thuần thục nếu người
này đạt được sự rèn luyện nghiêm mật hơn trên phương
diện giới luật.Trong “Biệt giải thoát giới kinh”[5] bộ
kinh nói về những thệ nguyện xuất gia tu hành,nội tâm được
ví như con ngựa hoang và sự tuân hành các giới luật được
ví như chiếc dây cương để điều phục con ngựa hoang ấy.Vì
thế,khi lòng chưa được thuần nhuyễn và bắt đầu cách
ly hướng đến đạo quả giác ngộ cũng như say đắm theo
những hành vi tiêu cực,thì ngựa hoang cần phải được dây
cương giới luật chế ngự, để ngăn ngừa cho thân tâm không
bị vi phạm những hành vi xấu xa tiêu cực kia.
Một
vị sư trưởng xứng đáng còn cần phải được khéo léo
rèn luyện định lực tu tập ở một tầng bậc cao hơn,cụ
thể hóa bằng cách vận dụng phương pháp quán chiếu và tự
kiểm không ngừng.Gần đây,những người còn ở lại Tây
Tạng, đã đạt được kinh nghiệm to lớn trong pháp tu chánh
niệm[6]; và chánh tri phản tỉnh[7] vì bất cứ hành vi nhỏ
nhiệm nào để diễn đạt sự kháng nghị cũng đều gây phẫn
nộ cho chế độ Trung Cộng.Họ phải luôn cẩn thận và giữ
tâm chánh niệm để lưu ý thử xem phải chăng mình đã vượt
quá qui định nào.Vị sư trưởng còn cần phải được vẹn
toàn an định bởi sự tôi luyện cao đẳng của tuệ giác
để thấu triệt được thể tánh của mọi hiện tượng hư
ảo.
Ngài
Tsong-Kha-Pa nói:chỉ có điều phục nội tâm của mình không
chưa đủ mà phải cùng lúc có tri thức đối với giáo pháp
nữa.Ngài Lạt Ma Drom-ton-pa [8] từng nói: khi một vị tôn sư
diễn giảng về một tiêu đề đặc biệt nào đó,ngài cần
có khả năng liên kết tiêu đề ấy với toàn bộ hệ thống
kinh điển của con đường tiến đến Phật quả.Sư chưởng
cần chuyển đạt được sự thấu triệt của mình về toàn
bộ tiêu đề đó thành một phương thức lợi lạc và dễ
dàng áp dụng.Như kinh sách đã dạy: chư Phật không thể rửa
sạch nghiệp chướng của muôn loài,cũng không thể tẩy trừ
được khổ đau cho muôn loài,càng không thể chuyển nhượng
sự liễu ngộ của các ngài sanh chúng ta được.Chỉ cần
khai mở một chánh đạo cho chúng ta tuân phụng thực hành;
đó là chư Phật đã giúp cho mọi loài chúng sanh đạt được
giải thoát rồi.
Mục
đích chủ yếu trong việc giảng dạy muôn loài là giúp họ
thấu hiểu được đạo mầu.Vì thế,trọng yếu là phải
có một phương thức thuyết pháp thu hút,làm đủ mọi điều
cần thiết đề diễn đạt đúng được tiêu đích.Tâm cơ
truyền giáo phải thuần chánh.Không nên vì động cơ mong cầu
danh tiếng hoặc lợi dưỡng.Nếu tiền bạc là động cơ thúc
đẩy thì việc truyền giáo chỉ trở nên một sinh hoạt của
thế tục thôi.Năm 1951,trước khi Trung cộng xâm nhập,một
số người tại Lhasa lấy việc tụng kinh hoặc xướng ca để
kiếm tiền. Điều này vẫn còn xảy ra tại Tây Tạng.Khách
du lịch tụ tập chung quanh và chụp hình lưu niệm.Tôi cảm
thấy khá đau lòng khi Phật pháp được dùng như một công
cụ để xin ăn chứ không phải để thăng hoa đời sống tâm
linh.
Ngài
Po-To-Wa đã nói:mặc dù truyền giảng rất nhiều giáo pháp
nhưng thâm tâm ngài chưa hề chấp nhận bất luận sự khen
ngợi nhỏ nhất nào, bởi vì ngài đã truyền giáo bằng tấm
lòng bi mẫn đối với mọi loài chúng sanh.Ngài tôn quý sự
truyền dạy như là trách nhiệm của chính mình vị mục đích
ban sơ vẫn là sự giúp đỡ tha nhân.Không có lý do nào để
khiến kẻ khác cảm thấy mang nợ ta,những gì ta đang làm
chỉ là đang hoàn mãn lời nguyện thề của chính mình mà
thôi.Giống như khi bạn ăn thì cũng không có lý do để cảm
tạ chính mình vì ăn uống chỉ là một việc mà bạn
cần phải làm.
Ngài
Tsong-Kha-Pa nói: vị đạo sư tinh thần là đạo diễn của
bạn trên chánh đạo hướng đến giác ngộ,y hệt như một
nền tảng hay một gốc rễ để được chứng ngộ.Vì thế
những ai đang tìm kiếm một vị đạo sư tinh thần cần biết
rõ những tư cách cần thiết để có thể phán đoán xem vị
đạo sư ấy đã hội đủ tiêu chuẩn chưa.Trên thế gian này,
nếu không có một vị lãnh đạo xứng đáng thì không thể
cải thiện xã hội được.Trừ phi đạo sư tinh thần có tư
cách thích đáng,dẫu rằng với tín tâm kiên định nhưng nếu
bị hướng dẫn sai đường thì đeo đuổi theo vị đạo sư
này vẫn bị nguy hại.Do vậy,trước khi thật sự chọn lựa
một vị đạo sư cho mình, điều thiết yếu là phải xem xét,dò
hỏi nhiều người khác về vị đạo sư này và cũng nên tự
kiểm chứng lại nữa.Khi đã tìm được một vị nào thích
hợp rồi thì lúc ấy mới bắt đầu quan tâm liên hệ với
vị ấy. Đối lại,một vị đạo sư tinh thần muốn tiếp
nhận một người nào đó thành đệ tử của mình; quan trọng
nhất phải tự châu toàn đầy đủ phẩm hạnh để xứng
đáng là một vị thầy lãnh đạo.
Một
vị Lạt Ma chỉ vì có một số tùy tùng hoặc người hậu
cần vẫn không đủ yếu tố để trở thành vị đạo sư
tinh thần.Có sự khác biệt giữa một đạo sư và một Tulku
vừa là Lạt Ma,có một số vị chỉ là Tulku chứ không phải
là Lạt Ma,và một số vị là Lạt Ma nhưng không phải là
Tulku.Trong dòng tộc đoàn thể Tây Tạng,Tulku có địa vị
cao và rất được sùng kính.Nếu họ không có phẩm hạnh
đạo sư thì cũng chỉ là một danh vị của xã hội thôi.Trong
xã hội Tây Tạng và ngay cả ở Tây phương,nơi có rất nhiều
các vị Lạt Ma đang truyền giáo; người ta thường quy kính
ngay tức khắc những vị nào được tôn xưng là Tulku.
Một
số vị khác,tuy cũng thực tu nghiêm mật nhưng không được
sùng kính nhiều như vậy chỉ vì họ chưa được ấn chứng
là Tulku.Một triết gia vĩ đại nhất ở Ấn Độ,Ngài Long
Thọ [9],được nhiều hành giả hậu bối tôn là đạo sư
tuy trằng tên tuổi ngài đơn giản;hơn nữa chẳng có sự
ghi chép nào rằng là ngài đã từng có tùy tùng hoặc bí thư.Lạt
Ma Tây Tạng chúng ta thường có danh xưng rất dài,thậm chí
có những danh xưng còn khó phát âm nữa.Trên thực tế,không
cần thiết danh xưng nào khác hơn là Tỳ kheo (Tăng lữ)-danh
xưng đã được chính Đức Phật phong cấp. Đây là một vài
sai lầm của xã hội Tây Tạng.Người Tây Tạng chúng tôi
không đặt sự chú ý đến chiếc cà sa màu vàng do Đức Phật
đích thân cấp phát nhưng lại quan tâm nhiều đến những
y phục dùng để biểu lộ cấp bậc của một người cao trội.Các
đạo sư Ấn Độ cận đại đã đội mũ đỏ,và những đệ
tử của các vị ấy ở Tây Tạng lập tức đặc biệt chú
ý đến chiếc mũ đỏ này thay vì chú ý đến những gì thật
chân chánh trọng yếu.
Không
nên quá nhấn mạnh đến tầm mức quan trọng phải tìm cho
ra vị sư trưởng đáng tin cậy,và tôi thiết nghĩ tình hình
chính trị đất nước Tây Tạng đã tỏ ra điên rồ khi chẳng
biết hoài nghi về người lãnh đạo.Ngụy trang dưới hình
thức người bảo trợ và người có chánh nghĩa,Trung quốc
đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với Tây Tạng.Chúng
ta không ngờ Trung Hoa làm thế với ý đồ miêu tả Tây Tạng
như một tỉnh trong chính quốc gia họ để rồi sau rốt dùng
luận cứ này biện minh cho sự xâm lăng.Nếu không có tinh
thần trách nhiệm trong việc chỉnh đốn nội tình của chúng
ta trên cả hai phương diện tôn giáo và xã hội; ắt hẳn
chúng ta không tránh khỏi sự hối tiếc về sau.
Vị
đại tăng sĩ Geshe Sang-Pu-wa [10] (vào thế lỷ thứ 12) đã
có rất nhiều sư phụ tinh thần.Có lần,khi đang du hóa từ
Tạng Đông,ngài đã gặp một cư sĩ tại gia đang giảng kinh.Geshe
Sang-pu-wa liền đến nghe pháp.Những tùy tùng của ngài đã
hỏi tại sao ngài lại cần đi nghe một cư sĩ tại gia giảng
pháp.Geshe Sang-pu-wa trả lời rằng: tôi đã từng nghe qua hai
quan điểm rất hữu ích.Bởi vì có thể vừa phát khởi lòng
hâm mộ kính phục vừa có cả sự tín tâm đối với nhiều
người,nên không có gì trở ngại khi ngài có nhiều thầy
cùng một lúc.Những người như chúng ta với nội tâm chưa
được thuần thục nên thường dễ dàng trông thấy những
khuyết điểm của vị đạo sư và tín tâm lại còn có khuynh
hướng bị lung lạc một cách dễ dàng-tốt hơn là nên có
ít sư phụ nhưng lại liên hệ tốt đẹp với các sư phụ
của mình khi mà mình vẫn còn có khuynh hướng trong thấy
khuyết điểm và đánh mất niềm tin chỉ vì sự thấy biết
những lỗi lầm phiến diện hoặc tưởng tượng nơi các vị
này.Bạn có thể tự do tha hồ có càng nhiều đạo sư càng
tốt nếu bạn không vấp phải những trở ngại này.
Khi
bạn xem vị đạo sư tinh thần là hiện thân của tất
cả Chư Phật mà quy y thì loại tịnh tín đó được xây đắp
dựa trên nhận thức rằng vị Thượng Sư được ví như là
căn bản và cội rễ của mọi tăng trưởng thì loại tịnh
tín đó được xây đắp dựa trên nền tảng là một sự
xác tín kiên định.Khi phát triển niềm tin đối với vị
đạo sư bằng cách tuân thủ theo lời chỉ giáo của ngài,
điều đó được gọi là tịnh tín gia trì.Thông thường mà
nói,tịnh tín được nêu ra như là cội rễ hay cơ sở của
mọi đạo đức thiện niện.Khi có thể thấy rằng đạo sư
của mình cũng bình đẳng như chính bản thân đức Phật,thì
bạn có thể tự chấm dứt nhìn ngó những sai trái và sẽ
chỉ tri nhận mọi ưu điểm tốt đẹp của ngài.Nhưng tịnh
tín phải dựa trên thử thách và trắc nghiệm.Vì vậy, bạn
cần phải cố gắng không ngừng và hãy suy đoán cẩn thận
để tránh bớt nhìn ngó các khuyết điểm và hãy nỗ lực
tìm kiếm những ưu điểm to lớn của sư trưởng; bởi vì
tất cả những soi mói tìm kiếm các khuyết điểm như vậy
trên thực tế rất có thể chính là do sự dụng tâm trù dự
của bạn.Kinh điển dạy rằng đạo sư tinh thần của bạn
trên thực tế có thể không phải là một vị Phật hiện
thực nhưng nếu xem ngài hệt như Phật sống thì bạn sẽ
đạt được nguồn cơ cảm như thể từ một vị Phật chân
chính.Hay nói ngược lại,dù đạo sư tinh thần của bạn trong
hiện thực có thể là một vị Phật toàn bích đi nữa,nhưng
nếu không thể lấy kinh tâm đối với Phật mà đối đãi
thì bạn chỉ gặt hái được một sự cơ cảm gia trì của
một con người thông thường mà thôi.
Trong
thời đại mạt pháp những vị Thượng sư (Guru) thường đại
biểu cho tất cả Chư Phật, Chư Bồ Tát để tận lực vì
mục đích giải thoát mọi loài hữu tình chúng sanh ra khỏi
vòng luân hồi đau khổ.Trong nhiều mật pháp đã từng được
tiên tri từ trước rằng, Đức Phật sẽ lấy hình tướng
của Thượng sư (Guru) để thị hiện vào thời buổi lộ ra
ngoài một cách mạnh mẽ hơn vào thời Mạt pháp; điều này
có thể gây hoang mang xáo trộn cho những ai kỳ vọng một
hình thức cố định đối với Đại Bi Tâm.Nếu không dễ
dàng tiếp nhận lòng bi mẫn và sự minh huấn của Chư Phật
thì không có sư trưởng nào có thể giúp đỡ gì nhiều cho
chúng ta được.Nhưng,tín ngưỡng và lòng xác tín kiên định
sẽ thông hướng chúng ta đến pháp lực của Chư Phật.Bi
tâm lớn mạnh của Chư Phật hướng về tất cả chúng sanh,không
có biệt lệ nào cả.Điều này bao gồm cả bạn và tôi.
Có
một bài giáo thị nói rằng: “Khi ta đang phiêu du trong luân
hồi sanh tử,Ngài (Đức Phật) đã tìm đến ta và soi sáng
mọi tăm tối vô minh của ta.Ngài đã hướng dẫn ta bằng
một con đường quang minh chính đại và giải phóng ta vượt
thoát mọi trói buộc phiền não”. Dựa vào quá trình của
sự Chỉ Diệt,chúng ta có thể phát hiện rằng Phật đang
vì ta mà nỗ lực.Hãy tự vấn: ai trong số những người cận
kề đã chỉ đạo cho bạn thoát xa khỏi vòng luân hồi đau
khổ vì vô minh,tham đắm và sân hận? Là một trong song thân
bạn chăng?Bằng hữu bạn chăng? Vợ hay chồng bạn chăng?
Bằng hữu bạn không thể,thân quyến bạn không thể, song
thân bạn cũng không thể nốt.Vậy thì,nếu có một vị Phật
nỗ lực vì bạn, ắt hẳn vị ấy là người đã dẫn đạo
để bạn chứng đắc được quả vị giác ngộ.Sư trưởng
của bạn đấy. Đó là nguyên nhân ta nên xem sư trưởng hệt
như một vị Phật châu toàn viên mãn.Quá khứ từng có nhiều
dẫn chứng,do chướng ngại nội tâm,người tu đã trông thấy
một vị Phật chân thật mang hình tướng tầm thường.Ngài
Asanga[11] (thế kỷ thứ 4 C.E.) đã từng trông thấy ngài Di
Lặc Bồ Tát [12], đức Phật đời vị lai thị hiện thành
một con chó cóc ghẻ đầy mình; và ngài Sang-pu-wa [13] thì
trông thấy vị Phật Mẫu hiện thành một bà lão cùi hủi.Nếu
chúng ta có thể hội ngộ được những vị đại sư của
quá khứ,các vị này đã từng chứng ngộ trong cùng một hiện
kiếp; thoạt nhìn họ chỉ như một đoàn hành khất bình dị
ở Ấn Độ,dạo quanh khắp vùng áo quần lõa thể và trên
trán có xâm vẽ nhiều hành chữ.
Khi
tôi đề cập đến sự quan trọng của lòng kính ngưỡng đối
với sư trưởng và sự nhận tri rằng sư trưởng như một
vị Phật;xin chớ hiểu lầm tôi đang ám chỉ cá nhân tôi
là Phật. Đây không phải là trường hợp đó ,vì tôi biết
tôi không phải là Phật.Bất cứ là tôi được tôn sùng,tuyên
dương hay bị kết án;tôi sẽ luôn là một tăng lữ Phật
giáo bình phàm như hiện giờ tôi đang là một tăng sĩ,và
tôi cảm thấy rất thoải mái và an lạc.Người ta gọi tôi
là Đại Bi Bồ tát, bồ tát Quán Thế Âm;nhưng điều này
không làm tôi trở thành Quán Thế Âm [14] Bồ Tát được.Người
Trung Cộng gọi tôi là con chó sói mặc áo cà sa,nhưng điều
này cũng không khiến tôi thua một con người và hơn một con
chó sói.Tôi vẫn nguyên vẹn là một tăng sĩ tầm thường.
Nếu
tuân theo những huấn thị của sư trưởng khiến bạn hành
động trái luân lý hoặc giả khi giáo pháp của họ mâu thuẫn
với giáo lý Phật thì bạn nên làm thế nào? Bạn nên kiên
trì với những gì thuộc phần đạo đức và xa lìa những
gì không nhất trí với chân lý Phật pháp.Tại Ấn Độ,từng
có một vị lão sư có nhiều đệ tử,muốn học trò ông đi
trộm cắp.Lão sư này thuộc Bà La Môn giáo và rất nghèo.Ông
bảo với các đệ tử khi người Bà La Môn trở nên nghèo
khó thì có quyền trộm cắp. Ông nói,do được sủng ái của
đấng sáng tạo thế giới. Đại Phạm Thiên Thần,[15]làm
thân một người Bà La môn trộm cướp không bị cho là vô
đạo đức.Khi nhóm môn đồ sắp sửa kéo nhau lên đường
hành nghề móc túi.Vị Bà La Môn bỗng chú ý đến một đệ
tử đang đứng lặng yên,chiếc đầu cúi thấp xuống.Vị
Bà La Môn hỏi: tại sao con chưa ra tay hành động?
Người
đệ tử đáp rằng: “Hiện tại thầy đang dạy chúng tôi
làm điều phản lại Phật pháp nên thiết nghĩ tôi không nên
làm.” Điều này đã khiến cho vị Bà La Môn rất hài lòng,
ông bảo: “Ta đang trắc nghiệm sở học các ngươi.Tuy các
ngươi đều là đệ tử trung thành của ta nhưng sự sai biệt
giữa các ngươi chính là khả năng phán đoán.Thằng bé này
đối với ta rất trung thành,nhưng khi ta dạy điều sai ,nó
đã có khả năng tri nhận được lời chỉ bảo ấy trái ngược
với Phật pháp và nó đã không thi hành. Điều này rất hợp
cách.Ta là thầy của các ngươi,nhưng các ngươi phải cân
nhắc lời khuyên dạy của ta,khi nó trái ngược với giáo
pháp Phật đà,các ngươi chớ tuân theo.”
[1]
Thượng Sư hay Cổ Như dịch từ chữ Guru
[2]
Sakya Pandita dịch là Tát Ca Bang Trí Đạt
[3]
Po-Ta-Wa dịch là Bác Ta Va
[4]
Huệ lực:năng lực của trí huệ dịch từ “Faculty of wisdom”
[5]
Biệt giải thoát giới kinh: Pratimoksha sutra
[6]
Pháp tu chánh niệm; (application of) mindfulness
[7]
Chánh tri phản tỉnh: (application of) introspection
[8]
Drom-tom-pa;Chung Đôn Ba
[9]
Long Thọ: Nagarjuna.
[10]
Geshe Sang-pu-wa: Cách Tây Tang Bố Va
[11]
Asanga:Ngài Vô Trước
[12]
Maitreya:Ngài Di Lặc Bồ Tát
[13]
Sang-Pu-Wa: Ngài Tang Bố Ba
[14]
Avalokiteshvara:Quán Thế Âm Bồ Tát
[15]
The God Brahma: Đại Phạm Thiên Thần