GIÁO PHÁP
Hơn
2500 năm về trước, sau khi chứng đắc được quả vị giải
thoát giác ngộ,từ trong quán tu xuất định, bài pháp đầu
tiên mà Đức Phật đã giảng dạy, đó là “Tứ Diệu Đế”
(bốn chân lý hay bốn sự thật).
Đệ
nhất Thánh đế là Khổ Đế: sự vui sướng của chúng ta
không ngừng bị dần dần tiêu hao, bất cứ sự vật nào chúng
ta có cũng đều rất ngắn ngủi và rất tạm bợ.Thông thường
cái chúng ta xem là tồn tại chân thật thì lại không phải
là vĩnh viễn thường hằng.Vô minh,tham chấp và sân hận là
những nguyên nhân khiến chúng ta đau khổ kịch liệt.Vì thế
đệ nhị Thánh đế là muốn tìm hiểu nguyên nhân gây khổ.Sau
khi bạn gột sạch được căn nguyên đau khổ phiền não thì
đạt đến trạng thái diệt khổ-đó là đệ tam Thánh đế
hay Niết Bàn. Đệ tứ Thánh để là con đường chỉ dẫn
hướng về sự diệt khổ. Để tâm linh mình đạt đến cảnh
giới Niết Bàn, bạn cần phải tuân theo một con đường chân
chánh.
Không
cần phải chờ đến khi thấu triệt được luật “nhân quả”
hay “nghiệp”mới có thể khơi dậy lòng ham muốn dấn thân
của chúng ta để đi trên con đường chân chánh nhằm chấm
dứt khổ đau.Những tư tưởng và hành vi tiêu cực sẽ mang
đến những hậu quả và điều kiện nhân duyên tiêu cực;cùng
thế ấy,những tư tưởng và hành vi tích cực sẽ mang đến
những kết quả và điều kiện nhân duyên tích cực.Chỉ khi
nào phát khởi được tín tâm sâu chắc vào luật “nhân quả”
thì chúng ta mới cảm biết được những nguyên nhân đau khổ
của chính mình.Sự vui sướng hoặc bất hạnh hiện nay ít
nhiều đều là kết quả của những hành vi tạo tác trước
kia.Kinh nghiệm của chúng ta đã xác quyết sự tồn tại của
mọi khổ đau vì sự hiện diện của chúng đã quá rõ ràng
lộ liễu.Do đó, nếu muốn hết khổ,thì ngay từ bây giờ,chúng
ta phải tập ý thức cách nào để nhổ sạch gốc rễ của
nhân duyên đau khổ.Trải qua kinh ngiệm thấu hiểu được
đau khổ và nguyên nhân duyên khởi của nó,chúng ta có thể
ý thức được một trạng thái tịch diệt,một trạng thái
hoàn toàn diệt lặng mọi vô minh và mọi phiền não đã từng
phát xuất từ đó.Khi sự hiểu biết đó phải thâm nhập
đến nỗi có thể làm rung chuyển cả bản tánh nội tại
của chúng ta và đồng thời khiến chúng ta phát khởi ra ý
muốn đạt đến cảnh giới ấy cho kỳ được.Một khi chúng
ta đã tự nhiên phát khởi ý muốn đạt đến sự tịch diệt
này thì một nỗi niềm tri ân sâu xa cũng sẽ dấy lên trong
tâm tư chúng ta đối với những ai đã thấu triệt được
sự tịch diệt.Sự tri nhận về những thành tựu viên mãn
của Đức Phật càng trở nên mạnh mẽ.Những lợi ích thù
thắng và nét đẹp của các giáo pháp của Ngài trở nên sáng
sủa rõ ràng.
Giáo
pháp Bồ Đề Đạo Thứ Đệ đã được truyền sang Tây Tạng
từ Ấn Độ.Cho mãi đến thế kỷ thứ tám Tây Nguyên,Phật
giáo mới được truyền vào Tây Tạng,nhưng qua đến thế
kỷ thứ chín thì Phật giáo đã bị vua Lang-dar-ma cấm chỉ.
Ông đã đóng cửa những trung tâm giảng dạy chánh yếu, giống
như việc Trung Cộng đã làm ngày nay.Sự hủy diệt Phật pháp
của vua Lang-dar-ma rất khủng khiếp và rộng lớn,nhưng người
ta vẫn còn có thể tu hành được ở những vùng xa xôi hẻo
lánh và truyền thống của Phật giáo đã được bảo tồn.Đến
thế kỷ thứ mười một thì bắt đầu có sự rối loạn
trước sự xuất hiện của hai giáo phái. Đó là Hiển tông
(Sutra) hay còn gọi là con đường học hỏi và tu trì trải
qua nhiều đời nhiều kiếp để thành tựu sự chứng đắc
quả vị giác ngộ; và Mật tông (Tantra),một phương pháp tu
trì bí mật có thể thành tựu sự chứng đắc quả vị giác
ngộ ngày trong một kiếp.Vào thế kỷ thứ mười một có
một vị tăng Ấn Độ tên Atisha đã trở nên nổi tiếng về
khả năng giảng dạy và biện luận Phật pháp với nhiều
triết gia ngoại đạo.Ngài có thể tổng tập tất cả các
loại kiến giải Phật học đã từng phát triển từ nhiều
trăm năm trước như các hệ thống tu hành của hàng tại gia
và xuất gia. Ngài đã được tất cả các Tông phái triết
học ủng hộ và kính ngưỡng như một vị đạo sư uy quyền
siêu việt.
Cùng
thời ấy,có một vị vua ở miền Tây của Tây Tạng,chịu
ảnh hưởng tín ngưỡng một cách kiền thành đối với Phật
giáo từ các tổ tiên ông. Ông đã từng đọc rất nhiều
kinh điển và nhận xét là đã có nhiều mâu thuẫn giữa các
hệ phái tu tập khác nhau nhất là về Hiển tông và Mật tông.Những
người Tây Tạng thời ấy,do vì hiểu lầm giác sắc định
vị giữa hai hệ thống giới luật nên đã nghĩ rằng một
người không thể cùng một lúc tu theo Hiển và Mật tông được.Tuy
vị quốc vương này vẫn biết rằng khi Phật giáo truyền
đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ tám thì cả hai hệ phái
đều đồng xuất hiện một cách êm đềm.Một đại sư Ấn
Độ có tên là Shantarashita (Tịch Hộ) đã truyền dạy cả
hai hệ phái;phương thức tu trì giới luật hoằng truyền Hiển
tông tự viện[1]và phương thức tu trì quảng đại bi tâm[2].Cũng
trong thời gian ấy, bậc đại hành giả du già Padmasambhava
(liên Hoa Sanh) đã hoằng dương hệ phái Mật tông và đã điều
phục những mà chướng đang quấy nhiễu Tây Tạng vào thời
bấy giờ.Hai vị đại sư này đều cùng nhau hoằng dương
Phật pháp và không có gì đối lập thù nghịch nhau cả.Sau
khi quốc vương tri nhận được rằng Hiển tông và Mật tông
đều phát xuất từ Ấn Độ,thế là từ Tây Tạng,nhà vua
đã phái hai mươi học sinh thông minh tài giỏi đến Ấn Độ
để cầu học với một ý muốn tương lai họ sẽ trở về
và minh bạch hóa tất cả giáo pháp cho nhân dân Tây Tạng.Rất
nhiều vị đã chết ở dọc đường,chỉ còn hai vị trở
về và báo cáo cùng quốc vương là pháp tu Hiển Mật ở Ấn
độ đều có thể hành trì cùng một lúc mà không có gì trở
ngại và khó khăn.Họ đã tìm được một vị đại diện
tên là Atisha (A Để Hạp) tại tu viện Vikramashila ở Bengal
(Mạnh Ca La). Những học sinh này cho rằng ngài Atisha là người
có thể giúp cho Tây Tạng.Vì thế,quốc vương đã đích thân
quyên góp đầy đủ số vàng để dùng làm phí tổn nhằm
cung thỉnh đại sư Atisha từ Ấn Độ sang.Nhưng ông đã bị
một quốc vương đối lập với Phật giáo bắt giữ.Vị quốc
vương này cho ông lựa chọn một trong hai điều kiện, đó
là bảo vệ lấy mạng sống hay truy cầu Phật pháp. Ông đã
bị giam cầm ngay sau khi ông không chấp nhận từ bỏ công
cuộc cầu học giáo pháp.Một người cháu đã tìm cách cứu
ông nhưng vị quốc vương này bảo rằng: “Ngươi đừng vì
ta mà lo lắng,chớ tốn hao một miếng vàng nào để làm tiền
chuộc mạng ta.Hãy mang tất cả vàng sang Ấn Độ để cung
thỉnh ngài Atisha đi”. Người cháu không tuân theo chỉ thị
của chú, đã dâng tất cả khối vàng cho vị quốc vương
này vẫn từ chối, bảo với người cháu rằng: “Số vàng
này ngươi mang đến chỉ mới nặng bằng thân thể của chú
ngươi thôi,chưa nặng bằng cái đầu được”. Ông ta quyết
liệt từ chối thả con tin trừ phi mang thêm vàng đến.Người
cháu bèn đem sự việc trình lại với chú rằng: “Nếu cháu
phát động cuộc chiến tranh cứu chú”, người cháu trình
bày tiếp: “sẽ tạo nên một cuộc đổ máu vĩ đại.Vì
thế cháu sẽ cố gắng tìm đủ số vàng thế nạp cho đầu
của chú.Xin chú hãy cầu nguyện cho cháu được thành công”.Người
chú trả lời: “Nguyện vọng của ta là mang ánh sáng Phật
pháp đến Tây Tạng để làm sáng tỏ tất cả những nghi
kỵ và mâu thuẫn.Nếu nguyện ước của ta được thành tựu
thì cho dù có bỏ mạng tại đây ta cũng không ân hận.Ta nay
đã già rồi,chết chóc chỉ là việc sớm tối thôi.Quá khứ
nhiều đời ta đã mãi luân hồi lưu chuyển nhưng thật là
vô cùng hy hữu để được hy sinh tánh mạng cho sự lợi ích
của Phật pháp.Hôm nay ta đã có được cơ hội này.Cho nên
xin chuyển lời đến Atisha, hãy trình với Ngài rằng ta đã
dâng hiến tính mạng lý do là ví muốn Ngài đáp lời mời
của ta đến Tây Tạng. Ước nguyện cuối cùng của ta là
cung thỉnh Ngài vào Tây Tạng để hoằng truyền giáo pháp
Phật Đà và minh bạch hóa mọi sự hiểu lầm của chúng ta”.Sau
khi nghe xong quyết định của chú,người cháu vô cùng
cảm động,và cáo biệt giã từ với một nỗi niềm bi thương
vô hạn.
Người
cháu gửi một nhóm dịch sư đến Ấn Độ để tìm ngài Atisha.Sáu
vị đồng bạn này đã mang theo bảy trăm đồng tiền vàng,cuối
cùng đến được tu viện của Ngài Atisha để diện kiến
vị trụ trì.Dù chưa kịp thổ lộ mục đích của mình vị
trụ trì đã phát biểu: “Không phải vì ta có ý chiếm giữ
Atisha nhưng rất tiếc là vị không có nhiều bậc đại sư
như ngài và nếu ngài rời khỏi Ấn Độ thì Phật pháp nói
riêng và toàn thể đại chúng nói chung sẽ phải đối diện
với một nguy cơ to lớn.Sự hiện diện của Ngài ở Ấn Độ
rất quan yếu.” Cuối cùng những dịch sư Tây tạng đã được
diện kiến đại sư Atisha trong sự xúc động vô bờ đến
nỗi không thể nào có thể cầm được những giọt lệ nóng
Atisha thấy thế nên đã bảo họ rằng: “Xin đừng lo lắng,ta
biết Tạng vương đã vì ta mà hy sinh rất nhiều.Ta sẽ suy
nghĩ cẩn thận đến sự thỉnh cầu của ông,nhưng hiện nay
ta đã là một lão già,và lại còn vướng mắc trách nhiệm
trông lo tu viện nữa.”Tuy vậy,cuối cùng rồi Atisha cũng
đồng ý đến Tây Tạng.Sau khi đặt chân đến Tây Bộ Tây
Tạng,thể theo lời yêu cầu của người cháu của vị quốc
vương,Ngài đã biên soạn một bộ sách và bộ sách này đã
đem lại rất nhiều lợi ích cho toàn thể Phật giáo Tây Tạng.Ngài
đã lưu lại cho chúng tôi bộ “The Lamp On The Path To Enlightenment”
(Bồ Đề Đạo đăng luận).Tác phẩm này đúc kết toàn bộ
phương pháp tu hành chân chánh do sự tổng hợp từ các giáo
phái sở hữu để soạn thành một bộ luận với nội dung
thiết thực thích hợp với những như cầu của nhân dân Tây
Tạng.
Đầu
thế kỷ thứ 15,một Đại sưTây Tạng tên là Tsong-Kha-Pa đã
viết một quyển sách mang tựa đề Lam Rim hay là “Stages Of
The Path to Enlightenment” (Đạo Thứ Đệ hay Bồ Đề Thứ Luận).
Ngài đã nghiên cứu một cách kỹ lưỡng sâu xa đến quan
điểm của Ngài Atisha và đã dung hợp một cách hoàn chỉnh
những giáo nghĩa này để giúp cho mọi người dễ dàng ứng
dụng trong việc tu hành. Đạo Thứ Đệ là một bộ luận
chứa đựng những giáo lý căn bản nhất.
Ngoài
việc trình bày tất cả những thứ yếu của Bồ Đề Đạo,
Đạo Thứ Đệ còn khai triển phương cách dung hợp mọi giáo
phái-làm thế nào để Phật pháp bao gồm cả hai Hiển Tông
là phương pháp cộng thông đạo và Mật Tông là phương pháp
bí mật đạo.Những giáo lý này lắm khi tỏ ra rất mâu thuẫn
nhau,nhưng nếu ứng dụng một cách thỏa đáng theo tiến trình
tuần tự thì lại chẳng có gì mâu thuẫn cả. Đối với
việc hướng tới Bồ Đề đạo,tất cả mọi giáo pháp đều
là những sự hướng dẫn trọng yếu.Có một số người nghĩ
rằng họ có thể hành trì pháp tu bí mật (Mật pháp) mà không
cần phải thông hiểu những giáo lý căn bản của Phật giáo.Một
người nếu không đạt được nền tảng căn bản chính xác
để thông hiểu đạo pháp thì vào Mật thừa sẽ không đạt
được bất cứ sự tiến bộ nào.Nếu không vì hướng dẫn
con người nhắm đến con đường giải thoát bằng tâm nguyện
đại bi giác ngộ thì Mật pháp sẽ trở thành sự trì tụng
chú ngữ và việc tu hành Mật pháp sẽ bị giới hạn trong
việc trình tấu các dụng cụ như phèng la,chập chả và những
chiếc kèn làm bằng xương đùi để tạo ra một rừng âm
thanh mà thôi.The Perfection Of Wisdom Sutra (kinh Đại Bát Nhã)
đề cập đến:tu hành các hạnh Bố thí,Trì giới,Nhẫn nhục,Tinh
tấn,Thiền định,Trí huệ. Đó là con đường duy nhất mà
chư Phật trong quá khứ đã từng đi qua để hướng đến
sự giác ngộ,dù là tu theo phương pháp Hiển hay Mật.Quả
thật là một sai lầm to lớn nếu bạn quên hẳn những tầng
diện cộng thông chánh đạo.
Vì
thế, đạo sự Tsong-kha-pa (Tôn Cách Ba) tác giả quyển “Bồ
Đề Đạo Thứ Đệ Luận” đã khuyên nhủ tất cả những
người tu hành nên tìm một vị đạo sư tinh thần có kinh
nghiệm để dẫn đạo và nên cố gắng thể nhận mọi giáo
pháp Phật Đà một cách đích đáng và thích ứng với phương
pháp tu hành của mình.Cũng không nên loại bỏ những khía
cạnh nào bạn không thể áp dụng liền được.Trái lại,
bạn hãy tự hỏi là có ứng dụng phương pháp ấy trong tương
lai không?Nếu bạn có thể làm được như vậy thì viễn kiến
của bạn đối với mọi giáo phái của Đức Phật sẽ rất
uyên thâm.
Tất
cả mọi chuẩn tắc pháp quy của Phật giáo đều rất cần
thiết và thích ứng đối với một người tu.Khi một người
đã vẽ một bức Đường Khá[3] (một Phật họa Tây Tạng),người
họa sư phải cảm nhận sự cần thiết của mọi loại hình
vẽ.Nhưng vẫn chưa đủ, họ phải biết lúc nào cần loại
hình nào,phải vẽ khuôn mẫu trước, sau đó mới tô màu.
Điều rất quan trọng là phải biết sự phối hợp hiện hữu
của chúng.Cũng giống như vậy,chúng ta cần phải biết tất
cả trọng điểm của Phật pháp cũng như khi nào và làm cách
nào để ứng dụng tất cả những giáo pháp ấy.Khi những
yếu tố trên đây được hiển thực thì tất cả mọi sự
ẩn khúc và khó khăn đã từng gắn liền với sự tu hành
của bạn sẽ tự nhiên được hóa giải.
Khi
tôi đề cập đến sự hành trì Phật pháp;tôi không có ý
muốn nói đến sự buông bỏ tất cả để tìm một nơi cách
biệt mà ẩn tu.Tôi chỉ đơn thuần muốn bày tỏ rằng chúng
ta nên phối hợp một trình độ tỉnh thức cao hơn để áp
dụng vào đời sống thường nhật.Bất cứ khi nào,ngay những
lúc chúng ta đang ăn uống,ngủ nghỉ hoặc làm việc,chúng
ta cần nên thường xuyên kiểm tra mọi ý niệm của mình,thân,khẩu,
ý và mọi hành vi của mình,cho dẫu đó là một sự sai quấy
tiêu cực nhỏ nhất.hãy cố gắng hướng mọi sinh hoạt thường
ngày theo động cơ của từ bi.Mang trí huệ có được từ
sự lắng nghe những giáo pháp và thực tu để hòa nhập vào
mọi hành vi của thân,ngữ, ý.Nhưng nếu người nào có thể
từ bỏ tất cả để hiến dâng đời mình cho việc tu hành,thì
người đó rất xứng đáng để được kính ngưỡng.
Nghiên
cứu học tập giống như một ngọn đèn soi sáng mọi tăm
tối vô minh và kiến thức gặt hái được sẽ là vật sở
hữu tối thượng vì nó không thể bị đánh cắp dù với
một tên trộm giỏi nhất.Nghiên cứu học tập là một vũ
khí dùng để loại trừ kẻ địch vô minh và cũng là một
người bạn tốt nhất đưa dẫn chúng ta thoát khỏi những
giai đoạn khốn khó.Nhờ lòng nhân từ và tâm không dối gạt
ai mà chúng ta sẽ kết thân được với những người bạn
chân thành.Những bè bạn mà ta kết giao được khi đang có
quyền thế, địa vị và sức ảnh hưởng của chúng ta mà
thôi.Khi gặp cảnh bất hạnh hoặc bị khánh tận thì những
loại bè bạn này sẽ lìa bỏ chúng ta ngay.Còn người bạn
không phản bội và chân thành nhất của ta chính là sự nghiên
cứu học tập các giáo pháp. Đây chính là một loại lương
dược không có bất cứ tác dụng đảo ngược hay nguy hiểm
nào cả.Kiến thức giống như một quân đội hùng mạnh có
thể giúp nghiền nát mọi sức mạnh của những phiền não
nội tại.Với những kiến thức như thế,chúng ta có thể
phòng vệ để tránh làm những hành vi bất thiện.Danh vọng,
địa vị, bạc tiền có thể là kết quả của kiến thức
con người;nhưng chỉ có sự học hỏi và tu tập để loại
trừ những lỗi lầm phiền não mới mang đến niềm hỷ lạc
trường cửu của sự chứng đắc.
Nếu
không có sự hiểu biết các giáo pháp thì sự khai ngộ sẽ
không theo đó mà sanh ra được.Những giáo pháp mà ta nhận
được có ý nghĩa là chúng phải được kế tục sanh tồn.Khi
chúng ta huấn luyện một con ngựa đua thì nó phải được
chạy trên con đường giống như ở trường đua vậy.Cùng
thế ấy,những chủ đề nghiên cứu học tập của bạn là
những giáo pháp mà bạn nên mang ra thực tập tu hành.Mục
đích của sự nghiện cứu học tập là nhắm vào ích lợi
của công việc tu hành.Ngài Tsong Kha-pa dạy rằng nếu bạn
có thể thấu triệt được những ý nghĩa thâm sâu uyên áo
của kinh điển như là lời khuyến dạy cho cảnh giới của
riêng mình thì bạn sẽ không có chút trở ngại nào trong việc
thể nhận những Mật pháp và mật tục (chú thích của Mật
Pháp) để thực tập, ứng dụng vào việc tu trì như là lời
chỉ dạy cho riêng mình trên tiến trình chứng ngộ.
Điều
này sẽ giúp chúng ta tránh được tà kiến cho rằng một vài
giáo pháp nào đó không cần thiết cho việc tu hành và một
vài giáo pháp nào đó chỉ cần thiết cho sự thành tựu trên
phương diện học thuật.
Cúi
đầu và chắp tay trước khi tiếp nhận giáo pháp là phương
pháp đối trị kiêu căng và tự đại. Đôi khi bạn thấy
một người chưa hiểu đạo bằng bạn,nhưng họ lại có thái
độ khiêm cung và lễ phép hơn.Do vì sự hiểu đạo của bạn
mà bạn càng nên khiêm cung hơn người kia.Nếu không,quả tình
bạn còn thấp kém hơn cả người đó nữa.Vì thế khi học
tập,nên tìm cách kiểm soát trạng thái nội tâm,và đem sự
dung nạp vào phương thức tư duy của bạn.Nếu làm được
như vậy thì dần dần sẽ đến một giai đoạn mà bạn có
thể thấy được một vài ảnh hưởng,một vài thay đổi
hoặc một vài thành quả nào đó trong chính tâm thức mình.Đó
là dấu hiệu cho thấy công việc tu hành có sự tiến bộ
và mục đích của việc nghiên cứu học tập cũng đã được
thực hiện một cách vẹn toàn.
Chinh
phục phiền não là khóa học cần học cả đời.Nếu chúng
ta có thể lấy thái độ kiên trì chịu đựng để tu hành,trải
qua nhiều năm tháng sẽ thấy được sự chuyển hóa tâm thức.Nhưng
nếu chúng ta trông mong được chứng ngộ hoặc những tư tưởng
và tình tự được điều phục tức khắc, ắt hẳn chúng
ta sẽ trở nên thất vọng và chán nản.Hành giả du già Milarepa
của thế kỷ thứ mười một là một trong những đạo
sư vĩ đại nhất của lịch sử Tây Tạng,vì muốn đạt đến
sự chứng ngộ tối cao, đã tốn nhiều năm trời,trải qua
mọi gian khổ và sống cuộc đời không khác gì dã thú.Nếu
có thể đầu tư thời giờ và tâm sức giống như vậy thì
sẽ thấy sự lợi ích tu hành của chúng ta tiến triển một
cách nhanh chóng hơn.
Sau
khi đạt được một niềm tin nào về hiệu năng của những
giáo pháp,điều quan trọng là phải phát huy ngay tức khắc
niềm tin sắt son về giá trị của việc dụng công tu tập.
Để tăng tiến trên đường giác ngộ, sự hiểu biết một
cách chính xác về con đường mình đi rất là quan trọng và
chỉ đạt được bằng cách chịu lắng nghe giáo pháp.Do đó,
hãy phát khởi lòng mưu cầu đạt được giác ngộ toàn triệt
nhằm đem đến lợi ích cho tất cả chúng sanh hữu tình và
lấy duyên cớ thúc đẩy như vậy để tham học hay duyệt
đọc các giáo pháp.
Khi
có ai đang truyền dạy Phật Pháp thì người ấy đang phục
vụ như một kẻ rao truyền thông điệp của Chư Phật.Bất
chấp sự thực chứng của sư trưởng,trọng yếu là kẻ nghe
pháp cần kính phục vị đạo sư như kính trọng Chư Phật
không hai và không khác.Những kẻ nghe pháp không cần tốn
thì giờ để soi mói suy tìm lỗi lầm của đạo sư.
Jataka
Tales (Bản Sanh Kinh) có đề cập:cần phải ngồi ở địa
vị thật thấp,lấy tâm ý thuần thục và đại hoan hỷ để
chiêm ngưỡng dung diện thượng sư và uống từng giọt cam
lồ cốt tủy của pháp ngữ do ngài khai thị giống như bệnh
nhân cẩn thận lắng nghe những lời chỉ dạy của vị y sĩ.
Đức Phật đã từng khai thị:Không nên mong chờ gì ở bản
thân đạo sư cả và trên hết là hãy trông cậy vào bản
thân pháp,tức là chủ thể truyền thụ của họ,là giáo thị
của Phật.Kính ngưỡng vị giáo thọ trên bình diện tự thể
linh hiển của những giáo pháp là điều tối ư quan trọng.
Khi
lắng nghe hay đọc tụng những giáo pháp,chúng ta chẳng khác
nào như chiếc bình được dùng để thu nạp trí tuệ.Nếu
dốc ngược đầu xuống thì cho dù trời có xối xả mưa pháp
cam lồ thì cũng bị hao chảy theo hai bên thành bình mà thôi.Nếu
bình chứa hoen ố thì bẩn lây cam lộ.Nếu bình chứa rạn
nứt thì cam lộ sẽ chảy mất.Khi chúng ta dự một buổi khai
thị giáo pháp và nếu để tâm dễ dàng phân tán thì chúng
ta chẳng khác nào chiếc bình bị lật úp xuống.Cho dù tâm
có chuyên chú nhưng lại mang tâm trạng vấy động bởi những
ý niệm tiêu cực,chẳng hạn như đi nghe giáo pháp vì muốn
tự chứng tỏ là mình có tài trí siêu việt hơn người thì
chẳng khác nào như chiếc bình đang bị ô uế dơ bẩn.Sau
cùng, cho dù có tránh được mọi lỗi lầm vừa kể,nhưng
giáo pháp đã nghe mà chẳng ghi nhớ trong lòng thì cũng như
chúng vào lỗ tai này và thoát ra lỗ tai kia thôi.Khi thời khai
thị kết thúc,chúng ta hoàn toàn trống trơn giống như ra về
nhưng không sao mang giáo pháp đã được khai thị xuyên qua
khỏi cánh cửa. Đó là lý do tại sao ngày nay chúng ta nên
ghi chép hoặc dùng máy để ghi âm lại những lời khai thị.Mọi
khả năng tiếp nhận những lời khai thị đều tùy thuộc
vào sự thuần thạo luyện tập mà ra.
Trong
lần thảo luận cùng Khun nu-Lama (Khôn Na La Ma), ông đã diễn
tả một cách sống động về một số sự việc từng xẩy
ra trong cuộc đời ông,rất lâu từ thuở tôi còn chưa sinh
ra.Năm nay tôi năm mươi chín tuổi.Tôi có khuynh hướng hay
quên thậm chí luôn cả những kinh văn đương thời tôi đang
nghiên cứu.Khôn Na la Ma nói:không kiên trì học tập là
do khuyết điểm không có được sự hỷ lạc khi tinh tấn
dụng công mà ra.Và tôi nghĩ điều này rất đúng.Bởi không
đủ thì giờ,tôi không thường xuyên đọc trọn kinh văn,chỉ
lược đọc một lần để có một ý niệm khái quát về nội
dung của nó.Bởi vì có chút thông minh nên tôi không thường
xuyên mà chỉ duyệt đọc các kinh văn một cách rất nhanh
chóng.Như một câu ngạn ngữ đã nói: “Người có trí thông
minh lớn chẳng khác nào một cánh đồng đang bốc cháy-ngọn
lửa sẽ thiêu rụi nó một cách nhanh chóng”.
Nếu
bạn đọc quyển “Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận” của Tsong-Kha-pa
chín lần thì bạn sẽ thông hiểu lý giải về bộ luận này
chính cách khác nhau.Khi bạn đọc một đề mục nào trên tờ
báo,thường không thấy lý do cần thiết để đọc lại lần
nữa vì bạn không cảm thấy hứng thú mà chỉ cảm thấy
nhàm chán.Khi bạn đọc thật kỹ càng những bài kinh văn thâm
áo được viết với một phương thức biện luận chừng hai,
ba, bốn lần; có lúc bạn sẽ kinh ngạc tại sao mình sơ sót
trọng điểm này hay trọng điểm nọ,cho dù trước đây đã
từng đọc quá nhiều lần. Đôi khi bạn sẽ có lối lý giải
mới hoặc cảm quan khác biệt.Vì thế nỗ lực không ngừng
nghỉ sự luyện tập thuần thục là phương pháp chánh yếu
để tránh bị quên lãng.Những người muốn đạt đến Nhất
Thiết Trí[4] cần phải một lòng chuyên chú,mang tâm thái khiêm
cung và nhất tâm mong cầu cứu giúp mọi loài chúng sanh hữu
tình,cũng như phải tập trung mọi loài chúng sanh hữu tình,cũng
như phải tập trung mọi tư tưởng để chú ý ngắm nhìn đạo
sư bằng chính mắt mình và lắng nghe đạo sư bằng chính
tai mình.
Lấy
tâm thức trung thực để nghe pháp cũng là điều vô cùng trọng
yếu.Trước tiênnên xem mình là một bệnh nhân,còn đạo sư
là vị thầy thuốc.Thi nhân lỗi lạc Ấn Độ Shantideva (Tịch
Thiên) nói rằng khi chúng ta khổ về một số bệnh thông thường,cần
phải nghe theo lời của thầy thuốc.Huống hồ, bệnh phiền
não có đến hàng trăm loại, được tạo ra do vì tham dục
và sân hận thì không chút nghi vấn nào về việc chúng ta
cần nghe theo những lời khai thị của một vị đạo sư cả.Phiền
não thường rất hư dối.Vì khi bị phiền não như là sự
phẫn nộ hiển hiện lên,chúng ta thường mất đi sự khống
chế,tự chủ.Và những ưu tư vì tham đắm thường làm trở
ngại giấc ngủ và ăn uống kém ngon miệng.Như một bệnh
nhân không muốn phí phạm mà lại còn rất trân quý những
thuốc men do y sĩ chu cấp; giáo pháp cũng vậy,khi đã được
truyền thọ bởi vị đạo sư,cũng nên được bảo tồn như
một báu vật.
Bệnh
nhân vì muốn khỏi bệnh nên cần phải uống thuốc.Chỉ duy
trì thuốc sẵn trong lọ không thôi chẳng giúp ích gì cả.Tương
tự như vậy, để đời sống tâm linh được giải thoát căn
bệnh phiền não mãn tính,cần phải đem giáo pháp ứng dụng
vào việc hành trì và chỉ xuyên qua sự tu trì mới có thể
giúp ta giải thoát được chứng bệnh phiền não.Chỉ trong
một thời gian ngắn, sức nhẫn nhục của bạn càng mạnh
thì lòng sân hận càng giảm và sự cung kính lễ độ đối
với tha nhân càng tăng trưởng.Khi sự kiêu căng và lòng ngã
mạn giảm xuống thì những ảnh hưởng của phiền não cũng
dần dần vơi bớt.Ngài Tsong-Kha-pa nói:một người không thể
trị dứt chứng bệnh phong cùi mãn tính với một vài lần
uống thuốc mà phải uống thuốc không ngừng nghỉ.Cùng thế
ấy,lòng chúng ta từ vô thủy đến nay cứ mãi bị kềm kẹp
trong vô minh phiền não, đâu thể vội nghĩ tu hành một đôi
lần là giải thoát được?Làm sao chúng ta có thể kỳ vọng
rằng chỉ đơn giản xem qua một tập sách y khoa là có thể
trị lành được một chứng bệnh?
Phật
giáo Tây Tạng có bốn giáo phái: Nyingma[5] Sakya[6] Geluk[7] và
Kagyu[8]. Tuyên xưng giáo phái nào cao hơn giáo phái kia là sai
lầm to lớn.Họ được truyền thừa từ chung một vị đạo
sư, Đức Thích Ca Mâu Ni; họ đều kết hợp toàn bộ hệ
thống Hiển Tông và Mật Tông. Đối với tất cả bốn giáo
phái tôi đều bồi dưỡng đồng nhất một tín niệm: đó
là lòng kính ngưỡng tán thán.Tôi làm như thế không nhằm
để bày tỏ một cách thức ngoại giao,mà do lòng tin kiên
định, Điều này cũng đồng thời phù hợp với vai trò của
tôi là một Đạt Lai Lạt Ma muốn có sự hiểu biết đầy
đủ những giáo pháp của cả bốn giáo phái để có thể
dâng kiến ngôn chi những ai tìm đến tôi.Nếu không,tôi giống
như một bà mẹ mắt thấy con mình chết chìm mà không có
tay để cứu vớt.Có lần,một vị hành giả phái Nyingma đến
hỏi một vài phương pháp tu trì mà chính tôi không hiểu mấy.Tôi
đã hướng dẫn ông ta đến một vị Đại sư có thể giải
đáp được thắc mắc của ông,nhưng tôi cảm thấy buồn
chán vì không thể đáp ứng như nguyện sự thành khẩn cầu
giáo của ông.Nếu nguyện vọng người khác vượt quá khả
năng của mình thì đó là một chuyện khác,nhưng nếu nguyện
vọng này còn nằm trong phạm trù năng lực của chính mình
thì điều tối ư quan trọng là phải thỏa mãn được mọi
nhu cầu tâm linh của càng nhiều chúng sanh hữu tình càng tốt.Chúng
ta cần phải học tập mọi khía cạnh của giáo pháp và cần
phát triển lòng tùy hỷ tán thán đối với tất cả.
Cũng
không nên xem Phật giáo Tây tạng cao hơn các sự truyền thừa
của những nước Phật giáo khác.Tại Thái Lan,Miến Điện
và Tích Lan v.v… các vị xuất gia chân chính đã rất thâm
tín và đã giữ gìn phương thức tu hành của Tăng Đoàn.Không
giống như người xuất gia Tây Tạng, họ vẫn bảo tồn phong
tục có hơn 2500 năm trước của chính Đức Phật và tăng
đoàn của Ngài là phương thức nâng bát khất thực.Tôi từng
ở Thái Lan,tham gia tăng đoàn và theo họ tu chung.Một ngày
oi ả và chói chang bởi ánh nắng mặt trời,vì theo truyền
thống đi chân không nên chân tôi đã bị phỏng nặng.Ngoài
việc này ra,trông thấy sự tu hành của các bậc tăng già
tại Thái Lan đã làm cho mọi người rất cảm kích,phấn chấn.
Nhiều
người gần đây chỉ thấy toàn những điều tiêu cực trong
truyền thống của những khóa tu hay nghi thức tôn giáo.Họ
chỉ thấy những tổ chức tôn giáo lợi dụng những khóa
lễ để bóc lột của cải tín đồ.Tuy nhiên những sai trái
mà họ thấy không phải là sai trái của những truyền thống
tôn giáo,nhưng chính là của người tự xưng là tín đồ của
tôn giáo,chẳng hạn như những thành viên của các tu viện
hay các chùa chiền đã viện dẫn các lý do tâm linh để tự
lợi bằng những chi tiêu của các thành viên khác.Nếu tự
thân những người lãnh đạo tinh thần bất cẩn, sẽ ảnh
hưởng đến mọi người đang tu.Mọi cố gắng để sửa chữa
những sai lầm thường bị gán cho là một hành động đã
kích toàn bộ truyền thống.Nhiều người đã kết luận rằng
tôn giáo chỉ làm hại và chẳng giúp ích được gì cho họ.Họ
khước từ bất cứ hình thức tín ngưỡng nào.Một số người
khác thì hoàn toàn thờ ơ lãnh đạm với mọi tu sửa tâm
linh và tự mãn với lối sống thế tục của họ.Họ có những
thoải mái về thể chất và vật chất và do đó họ không
tán thành cũng chẳng phản đối tôn giáo.Dầu sao thì tất
cả đều bình đẳng trên phương diện tự nhiên muốn sướng
và tránh khổ.
Nếu
khước từ sự dụng công tu sửa tâm linh,trong trường hợp
này là khước từ Phật giáo,chúng ta cũng không còn tin vào
thuyết nghiệp lực và cũng sẽ không thể thấu hiểu được
rằng những bất hạnh của mình chính là kết quả của những
hành vi tạo tác xấu ác trong quá khứ.Những bất hạnh này
có thể được hiển lộ ra ngoài như là những lỗi lầm của
xã hội,của cộng đồng hay của người quen gây ra.Từ đó
chúng ta bắt đầu oán trách người khác về những lỗi lầm
mà rõ ràng là do chính tự thân mình gây ra.Sự oán trách này
sẽ làm gia tăng những thái độ cố chấp như tự xem mình
là trung tâm điểm,như tham đắm,như ân hận…chẳng hạn.Liên
kết với những loại tâm thái giả dối như vậy,chúng ta
sẽ trở nên chấp luyến vào mọi tài vật của mình và sẽ
bị gò bó trong định kiến hồ nghi hoặc thậm chí ngay cả
trong bệnh vọng tưởng. Đảng Cộng Sản Trung Quốc vì lý
tưởng giải phóng mà đã hủy bỏ tôn giáo.Họ gọi nhau bằng
đồng chí,và đã hy sinh rất nhiều trong trận chiến cho cuộc
giải phóng quê hương của họ.Sau khi nắm quyền, họ tạo
ra những tranh đua chính trị và hiện giờ thì thường xuyên
chống đối lẫn nhau.Phe này muốn thắng phe kia và cuối cùng
là phe này tiêu diệt phe kia.Tuy chủ nghĩa Xã Hội có mục
tiêu lý tưởng mưu cầu phước lợi chung cho tập thể nhưng
cách thức để đạt được mục tiêu ấy lại tương phản
với tập đoàn dân chúng và tâm thái nhân dân cũng đã biến
thành đối nghịch.Dưới mô thức này,chủ nghĩa Cộng Sản
trở nên quá tàn ác và tai hại vì tất cả mọi tinh lực
nhà nước đều chủ hướng về phần cấm ngăn đàn áp hơn
là tháo gỡ giải phóng.
Tương
phản với Cộng Sản, biết bao vị đại hành giả đã đi
trên con đường Phật pháp, lấy tâm từ bi làm căn bản để
định hướng cho cuộc đời của họ.Với những động cơ
như vậy,chủ tâm căn bản của bạn là phục vụ cho sự lợi
ích của mọi hữu tình chúng sanh mà bạn đang cố công vun
bồi tâm niệm chánh hướng cho họ.Cho dù sự tổn thất gây
ra bởi đảng Cộng Sản Trung Quốc tại Tây Tạng và Trung
Hoa đã được phối hợp bằng một kế hoạch tương đối
lớn lao nhưng tôi vẫn hoài nghi là họ có thể kiến thiết
nên một xã hội tiến bộ hơn; lý do là vì họ thiếu mất
động lực của Đại Bi Tâm.
Khi
chúng ta quan sát cuộc đời của chính Karl Marx và nguồn gốc
đích thật của chủ nghĩa Marxism,chúng ta sẽ khám phá rằng
ông đã trải qua biết bao khổ đau vĩ đại trong đời mình
và đã đề xướng chiến đấu liên tục nhằm lật đổ giai
cấp trung sản.Viễn kiến của ông dựa trên căn bản đối
nghịch.Bởi vì động lực chánh yếu như vậy,nên toàn thể
cơ cấu hoạt động của chủ nghĩa Cộng Sản đều bị thất
bại.Nếu động cơ ban đầu được đặt để trên nền tảng
của lòng từ bi và vị tha,có lẽ mọi sự mọi việc đều
rất khác biệt.
Tại
những quốc gia phát triển mở mang,có biết bao người thờ
ơ với mọi hính thức tu sửa tâm linh,dù rất giàu có về
vật chất nhưng họ cũng không hoàn toàn hài lòng thỏa mãn.Tuy
giàu nhưng không biết đủ.họ quằn quại thống khổ vì”muốn
thêm”;vì vậy dù vật chất có sung mãn nhưng nội tâm vẫn
nghèo nàn.Khi khám phá ra rằng không thể nào sở hữu được
mọi vọng cầu thì phiền não thực sự phát khởi.Họ trở
nên chán nản bi quan và sự bồn chồn lo âu sẽ kéo ập đến.Tôi
từng hàn huyên với một số thân hữu rất giàu,do họ lấy
vật chất làm nhân sinh quan,miệt mài bởi công việc và không
còn rảnh tay để tu hành ngõ hầu có thể giúp họ đạt được
một vài viễn kiến nào đó.Trong tiến trình ấy, họ
đã thật sự đánh mất đi giấc mơ an vui hạnh phúc mà đáng
lẽ ra đồng tiền phải mang lại cho họ.
Trong
cách tu hành theo Phật giáo,chúng ta cẩn thận trọng thẩm
định đau khổ thay vì tìm cách tránh né nó –sanh khổ,lão
khổ,cái khổ biến động thân phận trong cuộc đời,cái khổ
phưởng phất bất định,và tử khổ.Cố gắng cẩn thận
để thẩm tra,tư duy chúng ngõ hầu chúng ta có được sự
chuẩn bị khi phải thật sự đối diện với chúng.Khi đối
đầu với cái chết,chúng ta biết rằng đại hạn đã đến.
Điều đó không nói lên là chúng ta không tự bảo vệ thân
thể mình.Khi lâm bệnh chúng ta vẫn uống thuốc để tránh
thoát tử thần.Nhưng nếu cái chết là điều không thể tránh
khỏi thì người tín đồ Phật giáo sẽ được chuẩn bị
trước.Hãy tạm thời gác qua một bên câu hỏi về sự sống
sau cái chết, sự giải thoát hay trạng thái Nhất Thiết Trí.Cho
dù ngay trong đời này, chỉ cần tu duy đến nghĩa lý Phật
Pháp và đặt sự tin tưởng nơi Phật Pháp thì cũng có nhiều
lợi ích thực tiễn rồi.Tại Tây Tạng,dẫu rằng Trung Cộng
đã phá hoại tận cùng và dày vò một cách hệ thống,nhưng
người Tây Tạng vẫn không đánh mất đức tin và lòng quyết
tâm.Tôi cho rằng đó là do truyền thống Phật giáo mà có.
Sự
bức hại Phật Giáo dưới ách thống trị của Trung Cộng
tuy không kéo dài lâu bằng dưới thời kỳ của vua Lang-dar-ma
vào thế kỷ 9,nhưng mức độ tàn phá lại vĩ đại hơn nhiều.Khi
vua Lang-dar-ma hủy hoại Phật Pháp,chính Ngài Atisha là người
đã đến Tây Tạng và dựng lại toàn bộ phương pháp tu học
Phật Giáo.Hiện tại,trách nhiệm thuộc về chúng ta dù chúng
ta có đủ hay không đủ khả năng trùng hưng lại những sự
hủy hoại một cách có hệ thống của Trung Cộng.Phật giáo
được xem như một kho tàng bảo vật chung cho cả thế giới.Truyền
thụ và lãnh hội giáo pháp là một đóng góp vào sự phong
phú của nhân loại.
Có
thể còn nhiều vấn đề mà bạn chưa mang ra tu hành ngay tức
khắc được.nhưng hãy giữ trong tâm bạn,ngõ hầu có thể
sử dụng đến cho năm sau hoặc năm năm sau hoặc mười năm
sau đó miễn là những giáo pháp ấy chưa bị chìm vào quên
lãnh.Dẫu rằng người Tây Tạng chúng tôi đã và đang sống
một cuộc sống lưu vong bi thiết,phải chịu cảnh mất cả
ruộng vườn nhà cửa, xứ sở,quê hương chúng tôi vẫn có
đầy đủ cơ hội để hành trì Phật Pháp một cách không
chướng ngại.Dù cư ngụ trên bất cứ quốc gia nào,chúng
tôi cũng lãnh hội được Phật Pháp qua các vị giáo thọ
lưu vong và chúng tôi còn biết tạo điều kiện nhân duyên
cho việc tu thiền hữu ích nữa.Nhân dân Tây Tạng đã làm
như vậy ít ra từ thế kỷ thứ 8 đến nay.Những người còn
ở lại Tây Tạng sau cuộc xâm lăng của Trung Hoa năm 1959 đã
phải trải qua nhiều sự khổ đau nghiêm trọng của thân xác
và tâm thần.Tự viện bị bỏ hoang, sư trưởng bị bắt bớ
và mọi việc tu hành trở thành lý do để phạt giam hoặc
để xử tử.
Cần
phải tận dụng mọi cơ hội để thực hành chân lý, để
tự trau dồi thay vì trông đợi đến khi mà chúng ta nghĩ rằng
ít bận rộn hơn.Giống như ngài Gung-thang Rin-poche đã nói,mọi
sinh hoạt trên thế gian này đều giống như sóng nước trong
ao hồ: lớp này tan biến thì lớp khác trồi lên,chẳng bao
giờ cùng tận.Mọi biến động của những sự vật trên thế
gian này sẽ tiếp diễn mãi cho đến giờ phút lâm chung; chúng
ta hãy nên cố gắng dành một ít thời gian trong sinh hoạt
thường ngày để tu tập theo giáo pháp Phật.Ngay trong thời
điểm hôm nay,khi đã mang được thân người hiếm qúy, đã
gặp được Phật Pháp lại còn có được niềm tin vào Phật
Pháp nữa-nếu như không biết dụng công tu hành thì quả tình
chúng ta khó lòng gánh vác được việc tu tập trong những
kiếp sống vị lai khi mà chúng ta không còn những điều kiện
nhân duyên như vầy nữa.
Hiện
tại,chúng ta đã gặp được một pháp môn thâm sâu mầu nhiệm-trong
đó, bao gồm những phương pháp có thể đạt đến cảnh giới
khai ngộ giải thoát,rất dễ hành trì và chứng đắc.Nhưng
nếu chúng ta không chịu nỗ lực để tạo ra một số ảnh
hưởng trong đời sống bằng Phật pháp thì đáng buốn tiếc
biết bao!
[1]
Phương thức tu trì giới luật hoằng truyền hiển tông tự
viện:the practice of monastic discipline.
[2]
Phương thức tu trì quảng đại bi tâm:the vast and compassionate
practice of sutra.
[3]
Đường Khá: AThangka (A Tibetan Buddhist scroll)
[4]
Nhất Thiết Trí: năng lực trí huệ mà Phật có sẵn.
[5]
Nyingma: Ninh Ma
[6]
Sakya: Tát Già
[7]
Geluk: Cách Lỗ
[8]
Kagyu:Cát Cử