Phần
9
Chiếc
Chăn Còn Lại
Ðồng
Một Chiếc Xiêm
Năm
Con Lừa
Chiếc
Gương Khả Ố
Một
Nhà Bác Học
Người
Ði Chợ
Ba
Loại Học Trò
Huyễn
Sư
Chú
Sói Thông Minh
Cặp
Kính Mới
Những
Chiếc Ngục Vô Hình
Một
Ngón Tay
Thiền
Sư Niệm Phật
Kẻ
Mạnh Nhất
Con
Người Hạnh Phúc
Chàng
Xạ Thủ
Mũi
Tên Vàng
Tu
Hành
Trăng
Sao
Khi
Phật Làm Thầy Ðám
Chiếc
Chăn Còn Lại
Thuở
xưa có một vị tu sĩ nổi danh là thánh thiện, đạo cao đức
trọng. Toàn thể vật sở hữu của Ngài trên thế gian
này chỉ vỏn vẹn có hai chiếc chăn da sờn rách và một cái
muổng dừa dùng để khất thực sống qua ngày. Tu sĩ
sống một cuộc đời vô định, rày đây mai đó, hạc nội
mây ngàn, ngũ dưới cội cây ăn cơm của bá gia bá tánh.
Hương
danh của tu sĩ bay theo các chiều gió nam, bắc, đông, tây tản
mạn qua các đầu lưỡi của bàng dân thiên hạ và chui vào
tai của một đức vua cao tuổi, đã quá chán ngán với sự
vô thường thay đổi của sự vật và lòng người.
Một
hôm, đức vua của chúng ta ngự giá đến thăm tu sĩ, lúc ấy
đang tĩnh tọa dưới bóng mát của cội đa ở phía nam ngoại
thành.
Vị
tu sĩ đón tiếp đức quân vương của mình bằng những lời
khuyên minh triết vô giá, chứa đựng trong các thời pháp cao
siêu... mà khả năng hạn hẹp của ngôn ngữ trần gian có
thể diễn đạt được.
Trong
bầu không khí thanh cao đó, đức vua ngồi nghe mê mẩn, quên
hết mọi buộc ràng của thế giới cung đình. Ngai vàng,
điện ngọc, bầu đoàn thê tử... đối với đức vua trong
giây phút ấy chính là những trò hợp tan của mây nổi.
Thình
lình, ngự lâm quân thảng thốt bước đến, lắp bắp:
-
Muôn tâu, kinh thành đang có biến, xin bệ hạ hồi cung gấp!
Ðức
vua bình tĩnh bảo tên cận vệ thân tín:
-
Im ngay, ta không muốn gián đoạn thời thuyết giảng vô giá
của tôn sư.
Và,
đức vua vẫn từ tốn, bình thản nghe những lời nói của
vị tu sĩ đã bắt đầu rời rạc. Sau cùng tu sĩ bảo
vị quân vương kính tín:
-
Muôn tâu, xin đại vương cho phép bần đạo được chấm
dứt cuộc hội kiến này vì một việc riêng vô cùng khẩn
cấp.
Nhà
vua đành bái tạ, cáo từ tu sĩ với một tấm lòng sùng kính
và luyến tiếc rồi cùng đoàn ngự lâm quân hồi cung.
Tu
sĩ hối hả đi vào kinh thành, đến một bờ rào ở mạn hồ
tây, nơi ông đã phơi chiếc chăn ban sáng vì e rằng cơn binh
lửa có thể thiêu hủy một nửa gia sản hiếm hoi của mình.
Không
ai biết được tu sĩ tên gì, tịch lúc nào và ở đâu, nên
câu chuyện này đành lấy tựa đề là “Chiếc chăn
còn lại” vậy.
Em
thân mến!
Chúng
ta có thể biểu diễn sự tu hành, phong thái cao siêu thoát
tục của mình bằng cách buông xả hết các thứ sở hữu,
ngoại trừ các món phụ tùng hết sức cần thiết như vị
tu sĩ trên đây chẳng hạn.
Nhưng
em ơi! Ðôi khi, chúng ta xả bỏ các thứ phụ tùng gồ
ghề như quốc thành thê tử, vàng bạc châu báu... cho bàng
dân thiên hạ nom thấy thật là dễ dàng... nhưng buông bỏ
các thứ sở hữu gớm ghiếc, rẻ mạt như chiếc chăn rách
thì lại đòi hỏi một sự nỗ lực kiên trì hơn nhiều.
Và, việc buông xả khó khăn, tối quan trọng của một tu sĩ
không phải chỉ nằm trong phạm vi các vật sở hữu bên ngoài,
mà chính là các thứ phụ tùng ngủ ngầm trong tâm thức của
mỗi con người chúng ta như tham, sân, mạn...
Chiếc
áo không làm nên nhà tu là vì vậy.
Bậc
trí như vách đá
Gió
cuồng nộ chẳng lay
Lời
tán dương hủy báng
Không
sao gợn đôi mày.
Ðồng
Một Chiếc Xiêm
Chuyện
xảy ra tại một tu viện.
Tôn
giả nọ, trong giờ chấp tác, đi ngang giếng nước, nhòm xuống,
chợt thấy một cái quần đen nổi lều bều trong đó, liền
hét toáng lên:
-
Chèn đét ơi! Cái giếng nước này người ta dùng để
nấu ăn, nấu uống, rửa hoa cúng Phật, rửa chén cập tăng...
mà ai ăn ở bất nhơn, làm rớt cái quần xuống đây, hỏng
biết nữa...
Sau
một hồi la lối, đương sự bèn dòm dáo dác, tìm tới tìm
lui xem có ai đứng gần đâu đó để ngoắc tới phân bua...
Nhưng thật xui xẻo, chung quanh vắng bặt như tờ.
Tôn
giả này bèn dòm xuống giếng một cách bực tức... Và chợt
bụm miệng la lên:
-
Í, chết cha rồi!
Lập
tức đương sự vội vàng lấy cây khoèo cái quần đa sự
lên, vừa dáo dác canh chừng xem có ai nom thấy không.
Và cũng thật là may mắn.. chưa có ai nom thấy hết.
Ðương
sự vội vàng làm thinh, đi phơi cái quần và giữ im lặng
như là thánh vậy.
Em
thân mến!
Ðây
là một mẩu chuyện nhỏ rất thường xảy ra trong đời sống
thường ngày của chúng ta. Cũng đồng thời là một sự
kiện đó, một lỗi lầm đáng trách nhưng nếu do người khác
gây ra thì chúng ta sẽ sẵn sàng hô hoán la rùm beng lên.
Nhất là nếu người ghét cay ghét đắng thì... ta chỉ còn
thiếu một việc là bắt loa phóng thanh lên để rao cho làng
trên xóm dưới cùng nghe, cùng biết, cùng hay.
Nhưng,
nếu lỗi lầm đó, do chính ta vô tình hoặc cố ý gây nên
thì phải dáo dác nhìn xem có ai ngó thấy không và khỏa lấp
đi thật lẹ... như vị tôn giả trong câu chuyện trên đây
vậy.
Có
lẽ vì vậy mà Phật khuyên chúng ta như thế này:
Không
nên nhìn lỗi người
Có
làm hay không làm
Hãy
nên nhìn lỗi mình
Có
làm hay không làm.
(PC 50)
Và:
“Thấy
lỗi người thì dễ, thấy lỗi mình mới khó. Lỗi người,
ta cố phanh tìm như tìm thóc lẫn trong gạo, còn lỗi mình,
ta cố che giấu như kẻ cờ gian bạc lận thu giấu quân bài.”
(PC 252)
Trong
pháp Bảo Ðàn Kinh, Lục Tổ cũng có một lời khuyên chúng
ta như thế này:
“Nhược
chân tu đạo nhân
Bất
kiến thế gian quá...”
Nghĩa
là:
Nếu
thật người tu đạo
Ðừng
thấy lỗi thế gian.
Ghi
lại câu chuyện này cùng lời Phật Tổ dạy, để gởi cho
em, người bạn đồng hành nhỏ tuổi của tôi, cũng có nghĩa
là tôi tự viết cho riêng mình vậy.
Năm
Con Lừa
Xưa,
có một anh chàng nọ, thuộc hàng danh gia vọng tộc, con nhà
nhàu có, đẹp trai hẳn hoi nhưng lại ngu ơi là ngu. Vì
thế, thời nhân gọi anh ta là chàng ngốc.
Hôm
nọ, Ngốc đi chợ phiên mua được năm con lừa với một giá
rất phải chăng. Lòng mừng khấp khởi, anh thót lên lưng
một con lừa và dắt bốn con kia về.
Dọc
đường, Ngốc chợt nảy ra ý định phải kiểm lại số lừa
của mình:
-
Một, hai, ba, bốn... Chết cha! Ðâu mất một con rồi?
Hốt
hoảng, Ngốc tụt xuống lưng lừa, đếm lại cẩn thận:
-
Một, hai, ba, bốn, năm... A, đủ rồi!
Yên
tâm, Ngốc leo lên lưng lừa. Ði một đỗi anh bắt đầu
đếm:
-
Một, hai, ba, bốn... Í, đâu mất một con rồi?
Ngốc
lại tuột xuống:
-
Một, hai, ba, bốn, năm... đủ rồi!
Sự
tình cứ thế mà tiếp diễn, hễ chàng Ngốc cỡi lừa thì
cả bầy chỉ còn lại bốn con, nhưng nếu chàng đi bộ thì
bầy lừa còn đủ năm con. Cuối cùng, Ngốc đành tuột
xuống đi bộ.
Khách
qua đường thấy anh mồ hôi nhễ nhại, chạy lúp xúp theo
bầy lừa, ngạc nhiên:
-
Sao anh không cỡi một con đi cho đỡ mệt?
Ngốc
đáp một cách quả quyết:
-
Cứ mỗi lần tôi leo lên lưng lừa là mất một con. Vì
vậy, thà rằng tôi đi bộ để còn nguyên cả bầy... Cực
khổ một chút mà không phải mất mát, mỗi con đến hàng
trăm quan đấy, bác ạ!
Em
thân mến!
Trên
đây là một câu chuyện vui, có thể là không bao giờ xảy
ra, nhưng tôi và em, há chẳng ngốc nghếch giống hệt anh chàng
trong truyện đó sao?
Chả
phải là mỗi lần hạ thủ công phu, giải quyết sinh tử,
miên mật, tinh tấn, khẩn thiết, ta đều bị mệt nhoài vì
đã phí không biết bao nhiêu tâm lực để chăn trâu, hàng
phục, điều ngự vọng tâm... Những lúc ấy, có ta, có
pháp, có người tu và có pháp tu hẳn hòi đấy nhé! Có
tất cả nhưng mệt ơi là mệt!
Rồi
cũng có những lúc lòng ta êm ả, trống vắng, không còn phảng
phất một ý niệm nào về ta và người, thiện lẫn ác, phải
quấy, tốt xấu, tăng tục... những phút giây như thế, ngày
nào chả có? Thật thoải mái, khỏe khoắn, nhẹ nhàng...
nhưng eo ơi! Sao mà trống trải, mất mát quá đỗi!
Ta đâu rồi, cái gì là ta đó nhỉ? Cái ta thân yêu cùng
vô vàn phụ tùng quen thuộc nhưng không kém phần rắc rối
của nó bỗng dưng biến đâu mất như chú lừa của chàng
ngốc trên đây.
Anh
chàng ngốc trong câu chuyện đã tuột xuống lưng lừa vội
vàng ra sao thì chúng ta cũng khởi niệm mau lẹ như thế đó.
Phải tu, phải hành, phải hạ thủ, phải dán chữ tử trên
trán, phải hì hà hì hục... Một, hai, ba, bốn, năm... A, đủ
cả rồi! Cả ta lẫn người, ta và pháp đấy nhé!
Bởi giống hệt nhau nên thay vì vô tâm, buông xả hoàn toàn
những thứ vướng vít trong lòng thì lúc nào ta cũng đăm đăm,
đau đáu, nhăn nhăn, nhó nhó lo chuyện tu hành. Chẳng
thà mệt một chút mà được có, được còn... hơn là
khỏe khoắn mà mất sạch sành sanh.
Ðể
kết thúc câu chuyện này, tôi kể em nghe một giai thoại nhà
thiền:
Tăng
hỏi thiền sư Cư Tuần ở Lang Nha:
-
Trong 12 giờ, dụng sức như thế nào?
Sư
đáp:
-
Như người không tay muốn đánh người.
Tăng
khác hỏi:
-
Người xưa được cái gì liền thôi?
Sư
đáp:
-
Như giặc vào nhà trống.
Chiếc
Gương Khả Ố
Thuở
xưa, có một cô gái tầm thường và bình thường như bao nhiêu
cô gái khác trên thế gian này. Nghĩa là, cô không đẹp
nhưng cũng không xấu, không giàu cũng không nghèo..., lứa tuổi
dậy thì đã giúp cô khá mặn mà duyên dáng... và cũng như
bao nhiêu thiếu nữ đồng trang lứa khác, cô ao ước muốn
biết được mặt mũi của mình ra sao.
Dịp
may đã đến, thiếu nữ mua được một tấm gương soi mặt.
Vừa nhác thấy nhan diện mình hiện trong gương, cô đã rú
lên như một cánh chim bị đạn, lòng đau khổ tột độ vì
thấy sao mà mình không giống như mình tưởng.
Chuyện
xảy ra sau đó rất thường tình, nghĩa là, khi nào phải chường
mặt ra giữa đám đông, thiếu nữ không còn hồn nhiên vô
tư như dạo trước nữa. Cô thường xấu hổ, cúi mặt
xuống hết cắn môi đến vân vê tà áo, lúng túng không biết
để tay chân vào đâu, chớp mắt nhíu mày, cười mỉm chi
theo một cách mà cô nghĩ là có duyên nhất v.v... và v.v...
Và,
trong những lúc vắng người, cô gái đáng thương kia thường
ngồi hàng giờ trước tấm gương soi, tỉ mỉ tỉa từn sợi
lông mày, tẩn mẩn nặn từng hạt mụn... và cũng nhíu mày
trợn mắt mỉm cười để tìm cho ra một kiểu thức nào đó,
hy vọng mình sẽ dễ coi hơn trước mắt mọi người...
Em
thân mến!
Một
thiền sư Nhật Bản có dạy chúng ta như thế này:
“Ta
hãy đặt một tấm gương soi bên trong lòng mình. Mọi
tư tưởng, ý niệm, toan tính vừa xuất hiện trong tâm trí
đều được phản chiếu trong tấm gương một cách đầy đủ
trọn vẹn. Tấm gương tuy thu trọn vẹn các hình ảnh
diễn biến của các tư tưởng, ý niệm nhưng hoàn toàn không
phê phán.
Và,
khi các tư tưởng, ý niệm toan tính đó tan biến thì gương
vẫn trong suốt, không hề vương vấn một dấu vết nào của
tư tưởng, ý niệm, toan tính vừa qua.”
Self-Knowledge,
Meditation course
B.H.
Viên Thông
Ðây
là một lời khuyên sáng suốt nhưng thật khó thực hiện vì
chúng thường hành động hệt như thiếu nữ soi gương trong
câu chuyện trên.
Suốt
ngày và suốt đời, chẳng phải chúng ta cứ lải nhải:
“Tôi thiết nghĩ, tôi quan niệm, tôi muốn, tôi cần, tôi
yêu cầu...” Nhưng, TÔI là ai, là gì nhỉ? Bất
cứ người tu hành nào cũng thao thức muốn thấy được gương
mặt thật của mình, nhan diện đích thực của cái TÔI đó.
Và, mỗi giờ tĩnh tọa chính là những lúc ta soi gương vậy.
Việc
gì xảy ra cho cô gái trên cũng na ná như những chuyện xảy
ra cho tôi và em vậy.
Phản
ứng đầu tiên thì chúng ta vừa nhìn lại bản tâm mình thì...
thật là hỡi ơi! Ta đã từng nghe nói rằng mình có chân
tâm, Phật tánh chơn như... ở đâu thì chả biết. Nhưng
nơi lòng ta, chỉ phản chiếu bóng dáng của một khuôn mặt
thật khả ố. Ðó là những cái tôi thoáng hiện: tham
lam, bực tức, ganh tỵ, thù hằn, dối trá, siểm nịnh... ôi,
ta không đẹp như mình lầm tưởng mà thật là quá đỗi xấu
xa! Ta không phải là con người mà là một con thú, một
ác quỷ hiện hình. Phải làm sao đây? Tại sao như
thế nhỉ? À, tại vì nghiệp chướng nặng nề, tội
nhiều phước ít chăng?
Và
cũng y hệt như cô gái soi gương trên, ta thường xử lý như
thế này:
Cách
tốt nhất là lui vào khuê phòng, tức là nhập thất kín ấy,
rút tấm gương ra (leo lên bồ đoàn ngồi), nhìn thật chăm
chú (bất đầu tĩnh tọa), tỉa bớt mấy sợi lông mày mọc
vô trật tự (đàn áp những tâm niệm xấu), nặn mấy hạt
mụn (dẹp trừ tham sân si), cười đủ kiểu: mỉm chi, cười
ruồi... để xem cách nào dễ coi nhất... (ráng uốn nắn tâm
thức mình, lôi ra cho bằng được mấy đức tánh từ bi, hỷ
xả), õng ẹo đi vài bước, ngước mắt nhìn lên ngó xuống...
theo kiểu một tài tử xi-nê nào mà mình ái mộ... (tập nhìn,
tập đi, tập đứng hệt như những lời diễn tả về oai
nghi của Phật và các bậc tu hành đắc đạo mà sách vở
còn ghi lại...
Xong,
khi nào bất đắc dĩ phải giáp mặt cuộc đời, ta sẽ từ
từ bước ra, đi đứng nói cười nín thinh... một cách lúng
túng, cứng nhắc, thiếu hồn nhiên như cô gái trên hoặc là
điêu luyện như một kịch sĩ đại tài.
Có
phải phản ứng của tôi và em đối với con người thật
“bản lai diện mục” của chính mình là như thế không?
Bây
giờ tôi xin chép ra đây lời khuyên của thiền giả trên thay
cho lời của chính mình vì thú thực với em, tôi cũng rất
ư là khổ tâm khi thấy bóng mình trong gương và vô vàn lúng
túng khi phải hiện diện trước đám đông, hệt như em vậy:
“... Khi bắt gặp một cơn giận nổi lên, ta hãy thản nhiên
theo dõi như xem anh hề đóng kịch trên sân khấu, theo dõi
với tất cả sự chăm chú của một kẻ tò mò, từ khi cơn
giận bắt đầu cho đến lúc nó tan biến. Rồi quý vị
sẽ học được nhiều điều hay, phát giác ra lắm cái lạ
lùng thích thú. Ðừng tỏ một thái độ nào hết.
Khi thái độ được đưa ra là vấn đề bị méo mó rồi.
Và ta cũng sẽ không phát giác được điều gì, cũng như không
giải quyết được vấn đề.
Ðối
với nỗi buồn, đừng tìm cách lẩn trốn. Mỗi lần
trốn không giải quyết được vấn đề. Hãy bình thản
đối diện với nỗi buồn đó, theo dõi tất cả diễn biến
và chuyển hướng của nó, lắng nghe cái ray rứt của nó,
trong tâm trí cũng như trong bắp thịt, các tế bào, trong hơi
thở... lắng nghe, theo dõi trọn vẹn tiến trình của nó, xem
cách thức nó hình thành và biến dạng ra sao. Rồi quý
vị sẽ khám phá ra nhiều điều thật lạ lùng. Các vấn
đề khác cũng được áp dụng như thế.
Buổi
đầu hẳn hơi khó, nhưng dần dần, từng lớp tư tưởng hỗn
độn sẽ trở nên trong suốt, rõ ràng, khả năng tự tri của
ta, mỗi lúc một cao hơn...
...
Tâm trí lần lần rỗng rang, tĩnh lặng, tất cả những tư
tưởng ý niệm thoáng qua đều được nhận diện một cách
trọn vẹn mà không cần đến một cố gắng nào...
...
Các vấn đề xưa kia thường gây hỗn loạn và làm nặng
trĩu tâm trí thì nay khó mà hình thành và tồn tại được
lâu. Ðây là cao độ mà một tỉnh thức nội tại đương
nhiên phải xảy đến. Khi một tỉnh thức trỗi dậy
sẽ gọi nhiều tỉnh thức kế tiếp và các quan niệm của
ta sẽ nối đuôi nhau sụp đổ ngay khi một tỉnh thức đầu
tiên trổi dậy... Cá nhân bắt đầu buông rơi các kinh nghiệm
để sống theo một đường hướng mà tỉnh thức nội tại
đã soi sáng. Nhân cách cá nhân cũng bắt đầu thay đổi,
cá nhân bắt đầu nhìn đời một cách bình thản tỉnh táo,
hành động trong sự xuất hiện qua tâm trí được giải quyết
tức khắc. Trong mọi sinh hoạt, cá nhân luôn ý thức
được con người mình, ý thức một cách trọn vẹn, tự nhiên
không cần đến một cố gắng nào.”
Self-knowledge
Meditation course 18-10-1986
Một
Nhà Bác Học
Thuở
xưa, có một nhà bác học rất ư là tài ba, và giàu tâm huyết.
Ông sống một cuộc đời giản dị, cô độc, không vợ con,
quyến thuộc, dành hết thì giờ vào việc nghiên cứu hoa học.
Nhà bác học của chúng ta may mắn có một gia sản vừa đủ
sống qua ngày, công trình nghiên cứu của ông thuộc lãnh vực
toán học nên chỉ tốn phấn và giấy mực. Do đó, cuộc
sống của nhà bác học tuy không dư giả lắm nhưng chẳng
đến đỗi nào. Ông chi rất dè xẻn, các nhu cầu ăn
mặc giải trí, giao thiệp, đọc sách, nói năng đều được
hạn chế tối đa. Hầu hết thì giờ của nhà bác học
đều được sử dụng để giải các bài toán hóc búa, rắc
rốt nhất.
Một
hôm, có vài nhà hảo tâm giàu có đến thăm và đề nghị
ủng hộ nhà bác học hoàn toàn đầy đủ các nhu cầu cần
thiết để ông an tâm dành hết thì giờ và tâm sức cho cuộc
nghiên cứu. Từ đó, thế giới loài người không còn
thấy được bóng dáng của con người tài ba ấy nữa, nhà
toán học đã khép chặt “khuê phòng,” thề chẳng ra ánh
sáng mặt trời nếu ông chưa tìm được cách giải bài toán
hóc búa nhất của thế hệ mình. Năm mươi năm trôi qua…
Một
hôm, nguồn tin nhà bác học đã mở cửa để công bố kết
quả nghiên cứu loan ra khắp nơi như một trái bom nổ chậm.
Báo chí, đài phát thanh, truyền hình, thâu băng… đều được
chuẩn bị để tiếp kiến với con người tài ba vĩ đại
đó.
Buổi
gặp gỡ giữa nhà bác học và cộng đồng nhân loại sau 50
năm xa cách thật là éo le và cảm động. Trong khi đám
đông nín thở, thán phục nhìn con người già nua, râu tóc
bạc phơ, khoác những y phục của ông bà họ, ngỡ ngàng bước
ra ánh sáng của những ngọn đèn 220v thì nhà bác học cũng
sững sờ không kém! Ông hấp háy nhìn đám người lạ
lùng, khoác các thứ y phục kệch cỡm đủ màu sắc, lố lăng
và trân tráo nhất… Một thanh niên chững chạc đến bắt
tay ông, tự xưng là con trai người bạn cố tri, thay mặt đám
đông, xin được nghe và thấy công trình khám phá của nhà
toán học.
Cố
nén vẻ khó chịu, nhà bác học tội nghiệp của chúng ta trao
cho chàng trai một tập giấy dày cộm, đầy chi chít chữ rồi
bước lui vào thư phòng, tiếp tục công trình nghiên cứu khác.
Ngày
hôm sau, báo chí nhất loạt đăng tin mới và sốt dẻo nhất
về nhà bác học như thế này:
“…
Theo nguồn tin đáng tin cậy nhất, nhà toán học, sau 50 năm
ròng rã nghiên cứu, bỏ ngủ quên ăn, cắt đứt duyên trần,
chẳng giao thiệp với cộng đồng nhân loại, đã tìm ra cách
giải phương trình bậc hai… và đang tiếp tục nghiên cứu
cách giải phương trình bậc ba…”
Câu
chuyện về nhà bác học chỉ gây xôn xao trong dư luận khoảng
một tuần lễ rồi rơi vào quên lãng, vì kết quả 50 năm
dài nghiên cứu của ông đã được nhân loại tìm ra cũng
gần 50 năm rồi. Và các học sinh cấp ba đang giải phương
trình bậc ba bằng những công thức ngắn và giản dị nhất.
Nhưng
vì lòng kính trọng người cao tuổi, toàn thể nhân loại đều
im lặng, không ai nói cho nhà toán học biết được điều
ấy. Các nhà hảo tâm vẫn tiếp tục cung cấp các nhu
cầu cần thiết để ông có thể… tiếp tục nghiên cứu
cách giải các bài toán hóc búa mà các thế hệ con cháu đã
tìm ra đáp số từ lâu.
Em
thân mến!
Có
những cuộc thí nghiệm được thực hiện và thành công trong
phòng thí nghiệm nhưng không ít các nhà bác học đã phát
minh ra cái sáng kiến vĩ đại ở ngoài phòng thí nghiệm.
Newton đã khám phá ra định luật hấp dẫn, sức húc của
trái đất tác dụng lên mọi vật khi đi dạo tình cờ nhìn
thấy một quả táo rơi. Archimède khám phá ra sức đẩy
của nước lúc đang tắm… có những cuộc thí nghiệm thành
công do công trình của một người nhưng cũng có những cuộc
thí nghiệm cần sự đóng góp của tập thể.
Mỗi
hành giả chúng ta đều là các nhà thí nghiệm. Có khác
chăng, đối tượng nghiên cứu của chúng ta không phải bên
ngoài mà chính là tâm thức của mình. Những thời tĩnh
tọa nghiên cứu trong các tịnh thất vắng lặng, rất ư cần
thiết cho hành giả, như những lúc đi dạo trên bờ đê, dưới
các tàn cây rậm lá, khi cuốc đất, lúc bửa củi, nhổ cỏ,
trồng rau tiếp khách, trò chuyện… đều không phải là vô
bổ… cho việc tu hành.
Trong
các bộ Nikaya hay kinh A Hàm, đức Phật thường khuyên hàng
môn đệ sơ cơ:
-
Này các tỳ kheo! Hãy tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi
ngồi, khi nằm, khi co, khi duỗi, khi cúi, khi ngước, khi mặc
áo hay ăn cơm, khi đại tiểu tiện…
Ngài
muốn nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ hạn cuộc việc tu
hành của mình trong một thời gian không gian cố định…,
mà nên uyển chuyển, linh động để tùy thuận tu tập theo
ngoại cảnh. Về sau, kinh Duy Ma Cật, một bộ kinh thuộc
hệ phát triển, có nêu lên đề nghị: “Nơi nào cũng có
thể tu tập, đâu cũng là đạo tràng” cũng không ngoài việc
khai triển và tiếp tục lời nhắc nhở của đức đạo sư
trên.
Trong
việc tương giao với tha nhân, chúng ta sẽ gặp nhiều việc
phiền phức nhưng không kém phần thú vị. Những điều
làm ta ngạc nhiên khi nhìn thấy ở người chung quanh chẳng
phải là các khám phá lạ lùng đó sao? Gặp một việc
bất như ý, bực bội, quạu quọ… phát ra ngôn ngữ, hành
động rồi ân hận nuối tiếc… Ðó là một diễn trình tâm
lý thường gặp mà ta khó tìm được khi ở một mình.
Và đôi khi, trong trạng thái cô lập ta phát minh ra nhiều việc
mới mẻ hay ho, đối với riêng ta… nhưng thật tầm thường
và cũ rích đối với mọi người…, y hệt như công trình
của nhà toán học trên đây vậy.
Người
Ði Chợ
Xưa,
có một bà đi chợ, nhằm ngày rằm, bà xác làn vào chợ,
định bụng chỉ mua ít rau cải, đậu khuôn về cho cả nhà
dùng vì toàn thể gia đình bà đều ăn thập trai. Nhác
trông thấy bà, mụ bán cá đã đon đả mời:
-
Mua ký cá tươi chị hai!
Bà
đi chợ bực dọc, cau mặt đáp:
-
Hôm nay tôi ăn chay.
Ði
được vài bước, nghe cô hàng thịt gọi:
-
Có mấy ký bắp đùi ngon lắm, chị hai ơi!
Bà
Hai liền sừng sộ:
-
Tui ăn chay, không biết sao mà mời?
Và,
cứ thế, bà Hai của chúng ta cứ nhăn nhó, quạu quọ, cãi
cọ, gây gỗ và suýt chút nữa thì sinh ấu đả với các bà
đã mời bà mua đồ mặn: tôm tép, gà vịt, mắm… Mãi đến
lúc chợ gần tan, bà vẫn chưa mua được món nào mình cần
vì cứ mãi đôi co với những kẻ không biết bà ăn chay.
Em
thân mến!
Trong
thực tế, không có bà đi chợ nào vụng về và ngu ngốc như
bà Hai trên đây cả, các bà nội trợ đều đến chợ vội
vàng tìm và mua các thứ cần dùng, mỉm cười từ chối lời
mời mọc của các bà hàng rồi hối hả quay về với biết
bao công việc đang chờ đợi họ ở nhà.
Nhưng,
nếu chúng ta có thể ví môi trường của mình đang sống với
một cái chợ thì y như là, tôi và em đều giống bà
Hai đi chợ ở trên.
Từ
khi bắt đầu cuộc sống mới, từ giã những rắc rối của
thế gian giới, điều mà chúng ta cần tìm cho mình là sự
giải thoát, giải thoát khỏi những niềm sầu nỗi khổ, những
lo toan tầm ruồng đang ray rứt, vướng bận tâm trí mình.
Trong cuộc tương giao với người chung quanh, ta chỉ giữ một
giới hạn tối thiểu để dành hết thì giờ cho việc hộ
tâm, chăn một con trâu hoang đàng xấu nết.
Và,
thật là bực mình, dễ giận khi những người chung quanh cứ
đến bày hàng, rao hàng, mời chúng ta mua những món mà mình
đang cố tình lẩn tránh (dù hết sức thèm thuồng) như: thị
phi, nhân ngã, bỉ thữ, thương ghét… tin đầu làng cho chí
cuối xóm…, chuyện từ trái đất đến cung trăng chẳng hạn.
Và,
cũng y hệt như bà Hai nọ, chúng ta bực bội, tỏ phản ứng
mạnh mẽ: “Hôm nay tui ăn chay” tức là “tui đang mắc tu
hành đây.” Ta cũng nhăn nhó, quạu quọ, cãi lẫy với
những lời mời mọc, cho đến giận hờn, tuyệt giao… Và
rốt cuộc, món hàng ta cần là sự an tĩnh của tâm thức thì
hoàn toàn vắng bóng.
Ðành
rằng hôm nay bà Hai ăn chay, nhưng hôm qua và ngày mai bà còn
ngã mặn. Vì bà có ăn mặn nên người ta mới cố mời,
phải không nào?
Ðành
rằng, hôm nay ta tỉnh giác, không “ưa” nói chuyện thị
phi, ta nhiếp niệm không muốn tán dóc, nhưng mới ngày qua,
ta còn phê bình anh kia, nói xấu chị nọ… Và ngày mai biết
đâu chừng ai biết được ra sao? Vậy thì, sở dĩ trong
cuộc tương giao, người ta thường mời mọc, tặng mình những
món ấy là vì ta ưa thích, khoái sử dụng đến… Có phải
thế không nào?
Thế
thì, tại sao ta không bắt chước các bà nội trợ khôn ngoan
kia, mỉm cười từ chối các món hàng không cần thiết để
đi thẳng đến sập hàng có món ta cần mua, rồi nhanh chân
về nhà với biết bao công việc đang chờ đón… thay vì gay
gổ, cãi cọ, nhăn nhó cùng các bà hàng như bà Hai trong câu
chuyện trên đây.
Em
có thấy như thế không?
Ba
Loại Học Trò
Trong
bất cứ trường học nào trên thế giới, chúng ta đều có
thể tìm thấy ba loại học trò sau đây khi phải làm một
bài toán của thầy giáo:
1-
Loại một, tự mình loay hoay, kiên nhẫn giải bài toán một
mình.
2-
Loại hai, “cọp dê,” sao y bản chánh của bạn, không cần
tìm tòi thắc mắc chi cả.
3-
Loại ba, nhờ người khác hướng dẫn, biết đáp số và tập
giải cho đến lúc tìm ra đáp số ấy.
Thông
thường ba hạng học trò trên đều có thể được đến số
điểm giống nhau. Nhưng đến lúc vào trường thi, sẽ
có ba kết quả khác nhau:
1-
Hạng một, nhờ đã tự giải một mình nên khi gặp lại đề
cũ hoặc tương tự, trúng tủ liền.
2-
Hạng hai, do “cọp dê” bạn hoặc chép sách nên đến lúc
phải xoay sở một mình, liền bí tịt, xơi luôn một cặp
trứng ngỗng.
3-
Hạng ba, vừa “cọp dê” vừa tập giải theo nên dăm thuở
mười thì, cũng có thể giải lấy một mình.
Em
thân mến!
Cuộc
đời này há chẳng phải là một bài toán nan giải của mỗi
người chúng ta đó sao? Ðức Phật và các bậc độc
giác là hạng học trò số một tự giải lấy bài toán một
mình. Các vị thánh đệ tử của ngài cùng chư tổ…
có thể ví với hạng thứ ba… còn chúng ta, là hạng thứ
hai, chuyên môn “cọp dê” lời của Phật và tổ vậy.
Thế
thì, em đã hiểu tại sao khi thấy có nhiều người, trong số
ấy có tôi và em, nói rất giỏi lưu loát và hay ho hơn cả
Phật tổ và các bậc thầy của mình, nhưng vẫn òa lên khóc,
trốn chui trốn nhủi, dọa sẽ cắn lưỡi tự vận mỗi khi
thấy bát phong lảng vảng đến gần… rồi chứ?
Hèn
chi mà thầy chúng ta đã xem bát phong như trường thi và “xuy
bất động” là số điểm cần thiết để chấm đậu vậy.
Huyễn
Sư
Xưa,
có một anh nông dân chất phác, đang ngồi nghỉ mệt trên
một bờ đê thì gặp một nhà ảo thuật, tức Huyễn sư đi
đến.
(Xưa
có một cô sư ngụ trong tu viện nọ, đang ngừng tay chấp
tác ngồi nghỉ mệt trong vườn chùa thì gặp một cô bạn
từ thành đô đến.)
Hai
người hàn huyên tâm sự, chàng nông dân yêu cầu nhà ảo
thuật trổ ít tài mọn cho anh em.
(Hai
bên tay bắt mặt mừng, cô sư hỏi bạn những chuyện xảy
ra từ phố thị…)
Huyễn
sư bèn thí thố xảo thuật. Ông há miệng và phun ra một
mụ vợ…
(Cô
bạn bèn bắt đầu kể lể: Hôm nọ, em gặp chị Hai ở chợ
Bến Thành…)
Mụ
đàn bà này lại há miệng phun ra một chàng thanh niên…
(Chị
Hai kể lại với em rằng, hôm rằm chị đi chùa Từ Nghiêm
và chị gặp cô Ba…)
Chàng
thanh niên lại há miệng phun ra một thiếu nữ…
(Cô
Ba bảo rằng đích thân cô nghe mụ Tư nói lại rằng…)
Thiếu
nữ há miệng phun ra một bé trai…
(Mụ
Tư bảo có một đứa em là bé Năm, đang tu ở chùa Dược
Sư…)
Bé
trai này há miệng phun ra một, hai, ba, bốn bé gái… Các bé
gái này đồng thanh cất tiếng thóa mạ anh nông dân…
(Cô
bé Năm bảo rằng, rất nhiều người nói về cô sư, họ đồng
ý rằng… cô sư là một người hữu danh vô thực, chỉ được
cái ăn nói lẻo mép chứ bất tài vô tướng, xài không vô,
ngửi không thấu…)
Quên
phứt rằng mình đang xem ảo thuật, chàng nông dân đứng dậy,
vớ lấy cây cuốc, phang vào đám trẻ…
(Quên
phứt mình đang tiếp chuyện với bạn cô sư ứa nước mắt,
chảy nước mủi, đỏ mặt, nghẹn lời, sụt sịt nói: Mô
Phật, tui có làm gì đâu… ôi, cây muốn lặng mà gió chẳng
ngừng…)
Nhà
ảo thuật bị một cán cuốc vào đầu, tức tối bỏ đi…
(Cô
bạn cụt hứng, bụng đói meo, khát nước nữa, ngồi củ
rũ…)
Chú
Sói Thông Minh
Một
sư tử và chín chó sói đi săn với nhau. Chúng bắt được
cả thảy 10 con nai. Ðến lúc chia phần, sư tử hỏi ý
kiến đồng đội:
-
Chúng ta nên chia phần như thế nào đây?
Một
con sói nhanh nhẩu:
-
Bẩm, chúng ta có 10 người, chia đều ra là tiện và bình đẳng
nhất.
Nói
vừa dứt lời, sói đã bị sư tử tát cho một cái, lòi cả
mắt. Xong sư tử lại hỏi:
-
Chúng ta nên chia thế nào đây, hỡi bạn sói thân mến?
Sói
nâu run rẩy thưa:
-
Bẩm, nên để hết 10 con nai cho ngài ăn dần… lấy thảo
ạ!
Sư
tử lại vẫn cho sói nâu một tát, rách toạt cả má, bảo:
-
Mi chừa thói phỉnh nịnh nhé!
Xong,
sư tử cất tiếng hỏi lần nữa:
-
Chúng ta nên chia phần như thế nào đây, hỡi các bạn thân
mến?
Bầy
sói sợ xanh mặt, không dám đáp, sư tử bực bội hỏi:
-
Sói đen, ý kiến bạn như thế nào?
Sói
đen hồi hộp thưa:
-
Bẩm… đoàn chúng ta có cả thảy 10 người săn được 10
nai tơ. Phần ngài chín nai, phần chúng tôi một nai chín
sói. Hai bên tổng cộng đều thành số 10… Ðó
là cách chia khoa học và công bình nhất ạ!
Sư
tử gật gù khen:
-
Hay lắm! Công bình và khoa học lắm. Bạn tốt nghiệp
phân khoa nào mà thông minh thế nhỉ? Ta không muốn là
kẻ mạnh hiếp yếu, ta căm thù sự bất công và phỉnh nịnh
nhất đấy.
Sói
đen cung kính tâu:
-
Bẩm, thần không biết chữ, nhưng nhờ hai trường hợp thực
nghiệm của bạn thần vừa rồi, tự nhiên thần nảy ra sáng
kiến đấy ạ!
Sư
tử gật gù:
-
Giỏi đấy! Này đồ chết tiệt kia… lũ bay phải ngoáy
tai ra mà nghe và học khôn như sói đen đấy nhé.
Bầy
sói đồng thanh dập đầu, gào lên:
-
Vâng ạ!
Em
thân mến
Gã
sư tử trên đây là một tay tham lam hạng nặng. Vừa
tham danh nữa. Nhưng, thật ra, loài vật không đáo để
và gian hùng thế đâu. Theo thú tính, chúng chỉ sát hại
con mồi khi đói lòng và hoàn toàn dửng dưng khi no bụng.
Chỉ có loài người đa sự của chúng ta là khôn khéo và tinh
ranh, lừa gạt đồng loại, cướp công cướp của người
ta… mà vẫn dương dương tự đắc, xem mình là một kẻ công
bình và liêm chính nhất mực vậy.
Và,
những bài học đau thương đó, chúng ta đã thâu lượm qua
nỗi tủi nhục, thất bại của người đi trước… Ðôi khi
là của chính mình nữa.
Em
có thấy như thế không?
Cặp
Kính Mới
Thuở
xưa, có anh chàng nọ, con nhà giàu, đẹp trai học giỏi…
Anh sẽ là mẫu người lý tưởng hoàn toàn nếu không có cái
tật ưa bắt chước thiên hạ chạy theo thời trang.
Thấy
bạn bè đeo kính trắng, có vẻ sang trọng và trí thức, anh
cũng đi khám mắt và mua một chiếc. Bác sĩ tuyên bố
anh bị cận. Thế là anh chàng tậu ngay một cặp kính
cận, gọng vàng hẳn hoi.
Từ
khi mang kính, anh thường bị nhức đầu, chóng mặt và buồn
nôn. Nên được vài bữa, anh lại đi khám mắt ở một
bác sĩ khác. Bác sĩ này tuyên bố anh bị viễn thị và
bắt anh mua một cặp kính viễn.
Anh
chàng mua kính mới, chứng chóng mặt buồn nôn lập tức biến
mất… nhưng khổ nỗi, anh lại bị chảy nước mắt sống
cả ngày. Ðành phải tìm một bác sĩ khác vậy.
Vị
bác sĩ thứ ba, một người du học từ ngoại quốc về, quả
quyết anh bị chứng loạn thị và đề nghị nên mua một cặp
kính khác. Lần này anh thấy sự vật lùi ra xa thay cho
chứng chảy nước mắt sống.
Và,
cứ thế, mỗi cặp kính mới lại mang đến cho anh một chứng
bệnh mới. Ðể trị bệnh, anh đành phải thay kính liên
tục… Cho đến một hôm trợt chân vấp té, anh đột nhiên
thấy trời đất phong quang, mọi vật sáng sủa rõ ràng hiện
ra trước mắt.
Mừng
vô kể anh bước vội về nhà, người nhà chào anh, ngạc nhiên
hỏi:
-
Ủa, cặp kính anh làm sao thế?
Anh
lột kính, cầm lên xem, hóa ra đôi tròng kính đã vỡ đâu
mất, từ cú trợt chân khi nãy.
Từ
đó, anh chàng không thèm mang cặp kính nào nữa cả.
(Theo
Axit Nêxin, trong “Những người thích đùa”)
Em
thân mến!
Qua
câu chuyện trên, em đã hiểu lý do tại sao các kinh A Hàm dạy,
muốn bước vào thánh quả đầu tiên, người ta phải đoạn
KIẾN HOẶC rồi chứ?
Kiến
hoặc là những thứ nhận định, thấy lầm hiểu bậy của
chúng ta về thân, tâm của mình và tha nhân, về môi trường
thế giới của chúng ta đang sống. Những niềm sầu khổ
của chúng ta đều bắt nguồn từ các nhận định sai lầm
đó.
Khi
hành giả đã trừ sạch kiến hoặc, vị đó được gọi là
“Ðắc pháp nhãn tịnh.” Nghĩa là, được con mắt pháp
thanh tịnh. Vẫn đôi mắt ngày xưa, đôi mắt mà thuở
còn kiến chấp, tư dục nặng nề, nhìn đâu cũng thấy bực
dọc, muộn phiền… Một khi đã gột sạch tình chấp, hành
giả sẽ thấy cuộc sống vui tươi, thoải mái, an tịnh hơn,
nên đôi mắt ấy gọi là mắt pháp.
Trong
câu chuyện trên, điều buồn cười và lý thú nhất là anh
chàng đó, vốn biết rõ mắt mình không bệnh, không đau, nhưng
vì lòng háo danh, ưa thích thời trang, chạy theo mốt mà anh
cố tình hành hạ đôi mắt của mình. Từ bệnh tưởng
hóa ra bệnh thật. Ðến lúc tình cờ vấp ngã, bị vỡ
kính, anh mới trở lại với đôi mắt bình thường dạo trước.
Cũng
thế, từ một bản tâm bình thường, thoải mái, trong sáng…
do xã hội môi trường chung quanh huân tập, chúng ta đã khoác
lên nó không biết bao nhiêu là thành kiến, cố chấp, quan
niệm, lý tưởng, truyền thống… cho hợp thời trang.
Từ chủ động biến thành thụ động, dần dần, bị đè
nặng dưới hàng khối vọng tưởng rối ren đó, tâm ta bắt
đầu loạn động, xao xuyến, bất an… rất là thường xuyên.
Muốn
trở lại với bản tâm bình thường, cũng hệt như anh chàng
trong truyện, chúng ta không nên đổi thầy thay kính, không
buông pháp này chụp pháp kia, mà chỉ cần buông xả hết tình
chấp quan niệm, thành kiến mà ta đang khư khư nắm giữ, chấp
nhặt như những thứ gia bảo của mình.
Khi
anh chàng trong truyện thấy trời đất phong quang, mọi vật
rõ ràng là lúc chiếc kính anh đeo bị bể nát. Ðây cũng
là chỗ mà người xưa đại ngộ, la lên: “Chèn ơi!
Ai dè tâm mình vốn không ô nhiễm…” (Lục Tổ) hay là: “Bây
giờ, nói một vật cũng trật lất…”
Sau
khi khám phá ra sự sai lầm của mình anh chàng nọ mới biết
đã bị thầy thuốc, bác sĩ lừa. Vì thế, người xưa
sau khi ngộ, liền quả quyết: “Từ đây không bị ai lừa
nữa…” (Kể cả những bậc thầy trứ danh như Phật và
tổ…)
Và,
một thiền sư, khi có vị tăng năn nỉ dạy cho pháp môn tu
hành đã nhất định:
-
Ta không nói đâu! Nếu ta nói ra, mai kia mốt nọ, khi khám
phá ra được, ngươi sẽ chửi ta.”
Em
có thấy như thế không?
Những
Chiếc Ngục Vô Hình
Ngày
xưa, có một anh chàng, tên là Trí. Trí sinh ra và lớn
lên bình thường như bao nhiêu con người khác. Duy có
một điều là chàng luôn luôn ngạc nhiên, thắc mắc.
Tại sao con người chỉ đi bằng hai chân, trong khi con bò đi
bốn chân? Tại sao con cá biết lội, con chim biết bay?
Tại sao con cò trắng, con quạ đen?... Những câu hỏi liên
tục của Trí về mọi vấn đề đã làm rối trí và bực
mình bà mẹ chàng không ít. Một hôm, chịu hết nổi,
bà mẹ chàng nổi cáu, bảo con:
-
Ði tìm thần mặt trời mà hỏi!
Câu
nói của bà mẹ khơi động dòng máu phiêu linh của chàng trai
mới lớn. Trí liền khăn gói lên đường, tìm thần mặt
trời mà hỏi cho thỏa dạ.
Trên
đường đi, trải qua không biết bao nhiêu là núi sông ao hồ,
làng mạc và phố thị… chàng hỏi thăm rất nhiều người
nhưng chưa có ai chỉ cho chàng mặt trời trú ngụ ở nơi đâu
cả. Tiện thể, người ta còn gởi gấm cho chàng nhiều
câu hỏi, nhờ thần mặt trời giải quyết giùm.
Trong
số đó, có ba câu hỏi sau đây là lạ lùng nhất:
-
Trường hợp thứ nhất là câu hỏi của một anh chàng chuyên
hành nghề bới rác, anh đã hành nghề khá lâu rồi, đến
ngán ngẩm mà cứ phải bới hoài bới mãi, chẳng rõ duyên
cớ tại sao.
-
Trường hợp thứ hai là một anh thanh niên giàu có, suốt ngày
cứ thơ thẩn đứng vịn bờ rào của mình, không sao dứt
áo đi một chỗ khác được.
-
Trường hợp thứ ba, dưới tàng cây rậm lá, trên một tảng
đá bằng phẳng, có anh chàng cứ ngồi mãi nơi đó, không
có cách nào dứt áo ra đi cho được.
Trí
nhận tất cả các câu hỏi của bàng dân thiên hạ, đơn thân
độc mã mà đi tìm thần mặt trời.
Cuối
cùng, tâm thành của anh được đáp ứng: một thiếu nữ đẹp
tợ hằng nga mách cho chàng biết chỗ ở và cách thức để
gặp thần mặt trời.
Ðó
là một ông lão vạm vỡ, toàn thân hừng hực hơi nóng.
Không đợi chàng trai nêu rõ hàng lô hàng lốc câu hỏi, thần
đã vội vã quơ các tia nắng lại, bó thành một cây hèo và
đập lên trán chàng trai dũng cảm.
Ăn
xong ba hèo của thần mặt trời, Trí cảm thấy đầu óc mình
bừng sáng lên. Bao nhiêu băn khoăn thắc mắc bỗng bay
vào đâu mất… nhưng đồng thời, chàng cảm thấy con tim
mình lạnh lẽo như băng giá mùa đông. Các niềm sầu
khổ, những lo toan của kiếp người trở nên nhỏ nhoi, tủn
mủn như trò chơi trẻ con.
Trên
đường về, Trí đáp lại lời khẩn cầu của những kẻ
gởi gấm chàng bằng một nụ cười khinh mạn. Trí óc
chàng thấu hiểu cội nguồn mọi việc nhưng con tim băng giá
không chịu đập cùng một nhịp với tha nhân. Chàng vẫn
ăn ngủ hít thở, nói nín như mọi người, nhưng ánh mắt
làn môi chàng đã như ngọn gió lạnh lẽo cách ly chàng cùng
ngoại cảnh.
Ðến
một ngã ba đường, Trí tình cờ tao ngộ với cô gái đẹp
tợ hằng nga dạo trước chỉ đường cho chàng. Nhan sắc
xinh tươi của thiếu nữ đã sưởi ấm con tim chàng trai thông
thái. Trí ngỏ lời cầu hôn và đưa nàng về nhà.
Nhờ tình yêu của cô gái Trí trở nên từ hòa, cảm thông
với mọi người hơn.
Gặp
lại anh chàng bới rác, Trí đáp ngay:
-
Ban sơ anh là một khách bộ hành đi ngang qua đống rác này,
vô tình làm rơi một đồng xu ten. Anh vội vã ngồi xuống
bươi rác tìm. Bới mãi, anh quên mất mục đích của
mình là bị trói buộc vào công việc. Nếu anh biết rõ
rằng đồng xu đã mất không giá trị bao nhiêu, nên dùng thời
gian bới rác làm những việc hữu ích hơn, có thể tạo ra
hằng trăm hằng ngàn đồng xu mới thì anh sẽ thoát được
đống rác kinh khủng này.
Với
anh chàng vịn hàng rào, Trí giải đáp:
-
Anh đã đóng được một bờ rào rất ưng ý. Vì vậy
anh luôn luôn lo sợ nó bị hư gẫy, hoặc bị phá hoại.
Ðó là lý do tại sao anh cứ đứng bịn rịn với nó mãi.
Nếu anh biết rõ rằng cái gì có sinh thành đều có hoại
diệt. Khi nó hư hoại ta sẽ tu bổ hoặc làm cái mới.
Nên dùng thời giờ vào những việc hữu ích hơn là đứng
lưu luyến mãi một cái bờ giậu.
Gặp
anh chàng cứ bò lê trên tảng đá, dưới bóng một tàng cây,
Trí đáp:- Cách đây
mấy năm, sau khi đi qua một đoạn đường chói chang ánh nắng,
anh tình cờ gặp được tảng đá và bóng cây này. Vì
sợ người khác chiếm mất chỗ nên anh cứ bò lê mãi trên
tảng đá. Cái khung cảnh lúc đầu gây thoải mái dần
dà trở thành chốn ngục tù của anh. Nếu anh biết rõ
rằng nó chính là chiếc cùm vô hình tước đoạt sự tự
do của mình thì anh có thể rời bỏ nó bất cứ lúc nào.
Sau
lời giải đáp của Trí, ba anh chàng đều lìa bỏ những chiếc
ngục vô hình của mình.
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên đây tôi đã tóm tắt, viết theo một cổ tích
của nước cộng hòa Bê Lô Ru Xia. Ðiểm kỳ thú của
câu chuyện là nó vô tình trùng hợp với lời dạy của Phật
tổ, một cách lạ lùng hèn chi mà các thiền sư gọi là “vạn
lý đồng phong” – muôn dặm cùng một ngọn gió. Phải
chăng cổ nhân đã để lại cho chúng ta những bài học nghìn
vàng qua các câu chuyện cổ ngô nghê, thần thoại. Trong
tôi và em dường như có đủ mặt của ba anh chàng trên?
Ðang
sống trong hiện tại, bỗng dưng tâm ta khởi lên một hoài
niệm về quá khứ (đồng xu bị rơi vào đống rác), hoài
niệm này dẫn theo hoài niệm khác (ngồi xuống bới rác liên
tục) cho đến lúc thời gian và khung cảnh hiện thực hoàn
toàn bị ngoại cảnh làm u tối (không làm sao thoát khỏi thói
quen bới rác).
Nếu
không bị chìm ngập trong đống rác quá khứ, chúng ta lại
lo lắng về tương lai. Biết đâu mai này mình sẽ già,
sẽ xấu, sẽ bệnh đau? Người thân yêu sẽ chia lìa
tử biệt? Lúc lo ra, chìm đắm những viễn tượng xấu
tốt của tương lai, chính là lúc chúng ta làm anh chàng bịn
rịn, vịn mãi một cái hàng rào bao quanh khu vườn ngã chấp
của mình vậy.
Nhưng
nếu không hoài niệm về quá khứ, lo lắng cho tương lai, tâm
trí chúng ta cũng không thể nào an tĩnh vì cứ mãi đắm say,
níu bắt, chấp thủ những sự vật vừa lòng thích ý trong
hiện tại (đích thị là anh chàng đang bò lê trên tảng đá
rồi nhé)
Như
vậy, muốn làm một con người tự do sáng suốt, ta phải rời
khỏi đống rác nhơ nhớp của quá khứ, thả tay khỏi chiếc
hàng rào bao bọc chúng ta (khi nào nó đổ thì mình sửa lại)…
và sẵn sàng nhường chỗ mình cho kẻ đến sau… Ðây
chính là điều mà một Tổ sư thiền tông đã nhắc nhở:
“Việc
qua rồi chẳng nhớ
Việc
chưa đến đừng lo
Việc
hiện tại chớ đem lòng đắm trước”
Thiếu thất lục môn
Em
thân mến!
Chỉ
sử dụng trí tuệ trong đời sống không thôi chúng ta dễ
trở thành một con người lạnh lùng khô khan, có trái tim băng
giá như anh chàng trong chuyện. Phải nhờ tình yêu của
cô thiếu nữ xinh đẹp, trái tim chàng trai mới hồi sinh, đập
cùng nhịp điệu với nhân loại. Chính vì vậy mà yếu
tố “từ bi” được đề cập song hành với “trí huệ”
trong Phật điển. Một con người có trí huệ thấy rõ
các pháp trên thế gian này mơ hồ như “mộng huyễn bào ảnh,”
nhưng phải có từ bi mới có thể thông cảm với các “khổ
não, ưu, bi” mà kiếp thường nhân nào cũng vướng mắc.
Từ
bi không phải là một kết quả của quá trình tập luyện
lâu dài, chúng ta sẽ dễ dàng thông cảm và yêu thương những
người đang nằm mộng dữ khi mình đã hoàn toàn thức tỉnh,
ra khỏi cơn mơ của chính mình. Vì thế mà trong kinh Duy
Ma Cật có một đoạn như thế này:
“Do
giác ngộ mà khởi tâm từ, do giác ngộ mà khởi tâm bi, do
giác ngộ mà khởi tâm hỷ, do giác ngộ mà khởi tâm xả…”
vậy.
Một
Ngón Tay
Sư
Câu Chi, một tăng sĩ thời vãn Ðường, lúc đầu ở trong
một tịnh thất và tạm hài lòng với tình trạng tu học của
mình.
Hôm
nọ, có một ni cô tên tên Thực Tế, đi thẳng vào cốc của
sư, nghinh ngang đầu đội mũ ni, tay cầm tích trượng, nhiễu
ba vòng thiền sàng, chỗ sư Câu Chi đang ngồi bảo:
-
Nói đi, nói rồi ta dở nón!
Ni
cô lập lại câu ấy ba lần, Câu Chi không biết nói gì đành
ngậm miệng.
Chiều
đến ni cô toan cáo từ, Câu Chi bảo:
-
Trời tối rồi cô nán lại qua đêm.
Ni
cô đáp:
-
Nói đi! Nói đi, rồi ta ở lại.
Câu
Chi lại ngậm miệng, không biết đáp sao cho ổn. Ni cô
bèn bỏ ra đi.
Sự
kiện xảy ra là một đòn nặng cho Câu Chi. Sư than:
-
Tuy ta mang thân trượng phu mà không có khí trượng phu.
Sư
bèn nhất quyết thu xếp mọi việc, tìm thầy học đạo.
Tình cờ sư gặp hòa thượng Thiên Long đi ngang tịnh thất,
sư bèn đón ngài, lại rước vào tịnh thất, cặn kẽ kể
hết nỗi xấu hổ vừa qua. Nghe xong, hòa thượng im lặng
giơ lên một ngón tay, Câu Chi hoát nhiên đại ngộ.
Từ
đó, ai hỏi gì về thiền, sư chỉ giơ lên một ngón tay.
Câu
Chi có nuôi một đồng tử, có người hỏi chú bé:
-
Thầy chú trông tầm thường như thế, thì dùng pháp gì để
dạy người?
Ðồng
tử bắt chước thầy giơ lên một ngón tay.
Khi
gặp Câu Chi, đồng tử thuật lại tự sự. Sư bèn rút
dao cắt đứt ngón tay của đồng tử. Chú bé sợ quá
cắm cổ chạy. Câu Chi rượt theo cất tiếng gọi.
Ðồng tử ngoảnh mặt lại. Câu Chi bèn đưa lên một
ngón tay, đồng tử hoát nhiên sáng tỏ. Câu Chi gật gù
bảo:
-
Ta được hòa thượng Thiên Long truyền cho một ngón tay, bình
sanh dùng hoài không hết.
(Bích
Nham Lục, tắc 19)
Xưa,
có một lão tiều phu già, hiếm hoi chỉ có một mụn con trai.
Khỏi nói hai vợ chồng ông tiều cưng con như trứng mỏng.
Thói
thường, con cưng là con hư. Theo năm tháng, chú bé đã
trở thành một thanh niên lực lưỡng, khôi ngô, nhưng chỉ
biết ăn chơi tùy thích và sống bám vào cha mẹ. Biết
mình không còn sống được bao lâu, ông tiều dành dụm chút
ít tiền bạc cất vào một nơi kín đáo, hứa sẽ trao cho
cậu con ngay lúc nào mà cậu ta có thể làm ra đồng bạc đầu
tiên do chính sức lao động của mình. Chàng thanh niên
thích hũ bạc nhưng không chấp nhận điều kiện của cha.
Bà tiều thương con, giấu chồng bán một ít gia súc trong nhà
cùng với tư trang của bà, đem cho con trai.
Cậu
con trai mang số vốn độc nhất của mẹ vào một tửu điếm
nhậu gần hết sạch.
Còn
mấy đồng lẻ cậu ta mang về nhà trao cho cha, nói dối rằng
đó là số tiền chàng kiếm được trong ngày. Ông tiều
chẳng nói chẳng rằng, cầm số tiền ấy quăng ngay xuống
ao. Bà mẹ tiếc của ôm mặt khóc, riêng cậu con trai
thì cứ tươi tỉnh như không có chuyện gì xảy ra.
Ông
tiều lập lời giao ước và đuổi cậu con quý ra khỏi nhà
ngay lập tức. Cậu con ra đi tha phương cầu thực.
Ðến lúc đói bụng thì đầu gối phải bò, chàng đành phải
khuân thuê vác mướn, kiếm ăn qua ngày. Ðến lúc dành
dụm được ít tiền chàng mới đi về thăm bố mẹ.
Cầm
số tiền ít ỏi của cậu con, ông tiều vẫn giữ nguyên thái
độ cũ, quăng ngay vào bếp than hồng.
Cậu
con xót của, vội vã cào than ra nhặt tiền quên cả bỏng
tay. Khi ấy ông tiều mới cười ha hả:
-
Bây giờ, cha mới tin số tiền này là do con làm ra, con trai
ạ!
Ông
bèn trao hết gia tài cho con.
Em
thân mến!
Cậu
con trai trong truyện, chỉ biết sống bám vào cha mẹ, chưa
từng làm ra đồng tiền nên chưa biết giá trị của nó.
Ðến lúc phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, chàng mới thấy
quý trọng nó.
Cũng
thế, trong nhà thiền, sự thực nghiệm tu và chứng có giá
trị hơn là tri giải suông. Qua công trình của người
khác, ta có thể sưu khảo, biên chép, dẫn giải, trích yếu…
để làm thành kiến giải, sở tri của riêng. Cái sở
tri đó giống hệt như đồng tiền của kẻ khác, chỉ làm
chúng ta thêm nhác nhúa, ỷ lại… y như anh chàng ăn bám trên.
Ðến
lúc phải giáp mặt với cuộc đời, đối phó cùng bát phong,
chúng ta mới thấy mình là một kẻ ăn bánh vẽ, tri và hành
hoàn toàn khác xa nhau.
Như
ông cha trong truyện đã kiểm chứng sự chơn thật của cậu
con một cách tài tình, các thiền sư cũng thế, các ngài thường
tra vấn, gạn lục để xem đồng tiền nào là của chính mình.
Và may mắn thay, loài người chúng ta có thể mạo, bắt chước
đủ thứ, ngoại trừ sự giác ngộ.
Ðồng
tiền của chàng trai làm ra, tuy ít oi nhưng giá trị gấp trăm
ngàn lần số tiền ăn bám. Vì vậy mà ông tiều đã
cười ha hả khi nhìn thấy thái độ quýnh quáng của cậu
con. Cũng vậy sự thực nghiệm tu chứng của chúng ta,
dù vụng về nhưng có giá trị gấp nghìn gấp trăm lần những
kiến giải mà ta ăn cắp của người khác. Quý báu vì
nó giúp chính đương nhân chống chỏi hữu hiệu với cuồng
phong theo dòng đời mà không hề ô nhiễm, và nhất là nó
có thể giúp hành giả biện biệt rõ chân giả… giúp cho
thế hệ đàn em có được sự vững chãi của chính mình mà
không cần viện đến hằng hà sa số kinh sách, ngôn từ vậy.
Ðó là ý chỉ câu nói của thiền sư Câu Chi.
-
Ta được hòa thượng Thiên Long truyền cho một ngón tay, bình
sanh dùng hoài không hết.
Ðược
uống dòng nước pháp
Lòng
thanh tịnh an lạc
Người
trí thường hoan hỷ
Nghe
bậc thánh thuyết pháp.
PC 79
Thiền
Sư Niệm Phật
Tăng
Nhất Biến (1229-1280) đến học thiền với thiền sư Pháp
Ðăng (1203-1298). Thiền sư muốn kiểm chứng trình độ
của học trò, bắt Nhất Biến làm kệ. Nhất Biến liền
ứng khẩu đọc một bài kệ:
Khi
xưng tụng danh hiệu
Không
Phật cũng không ta
Duy
chỉ nghe có tiếng
Nam
mô A Di Ðà
Thiền
sư không chấp nhận. Nhất Biến bèn trình bài thứ hai:
Khi
xưng niệm danh hiệu
Không
Phật cũng không ta
Chỉ
có
Nam
mô A Di Ðà
Nam
mô A Di Ðà
Thiền
sư bèn gật đầu.
Kẻ
Mạnh Nhất
Thuở
xưa có một con mèo. Vốn yếu đuối và thích nương tựa.
Mèo nghĩ bụng rằng phải tìm một người bạn thật khỏe
mạnh để nhờ cậy. Nhìn tới ngắm lui, chỉ thấy có
sư tử là khỏe nhất trong các loài thú. Mèo liền mon
men đến kết bạn với sư tử.
Một
thời gian sau sư tử bị voi giày chất mất, mèo mới khám
phá ra voi còn mạnh hơn người bạn cố tri của mình.
Thế là mèo đánh bạn với voi.
Hôm
nọ, voi bị một chàng thợ săn bắn chết, mèo liền theo anh
thợ săn về nhà.
Về
đến nhà trông thấy chị vợ của anh thợ săn chạy ra lấy
hết thịt săn, mũ áo và cả khẩu súng của anh đem cất.
Mèo ngạc nhiên nghĩ bụng: “Không ngờ mụ đàn bà này còn
khỏe hơn anh thợ săn. Anh ta bị tước khí giới, đồ
đạc mà chỉ làm thinh chớ không dám hó hé một tiếng.”
Mèo
liền đi theo chị vợ vào bếp, chị ta cho mèo ăn, vuốt ve
nó. Thế là mèo quyết định ở lại làm bạn với phái
nữ, nhân vật mảnh mai, yếu đuối mà lại mạnh hơn cả
đàn ông, voi và sư tử. Nếu bạn không tin thì cứ hỏi
các chú mèo đang lẩn quẩn bên chân các bà ấy.
Em
thân mến!
Người
ta thường gọi phái nữ là phái yếu. Ðiều này chưa
chắc đã đúng. Sự thật lịch sử cho ta thấy rằng
nhiều đấng tu mi vạm vỡ có thể hạ một con bò tót bằng
đôi tay trần của anh ta, nhưng lại bó tay quy hàng khi bị
trói bằng một sợi tóc của mỹ nhân kia đấy. Nụ cười
của Bao Tự đáng giá bằng cả cơ nghiệp của U Vương.
Chính đức đạo sư của chúng ta cũng có lần than thở rằng,
nếu trên thế gian này, có sức mạnh nào tương đương với
nữ sắc thì chắc chắn là không có ai thành Phật nổi…
May mà cõi hồng trần chỉ có mỗi một hạng sinh vật nguy
hiểm nhất: phụ nữ.
Các
bậc tu hành, giáo tổ, thánh nhân là đàn ông… đều nhất
loạt lên án đàn bà… khiến bọn phàm phu nhao nhao bắt chước
nói theo mà quên rằng, chính lòng đam mê, háo sắc của người
đàn ông mới là nguyên nhân chính làm cho họ bủn rủn tay
chân, tiêu tan hết dũng khí. Vì thế, đức Phật thường
canh chừng nhắc nhở đám con trai của Ngài rất kỹ.
Phật thường khuyên các thầy tỳ kheo: “Tốt nhất là tránh
xa phụ nữ, rủi ro có kề cận thì chớ có nói chuyện, nếu
có nói chuyện thì chớ có nhìn (thật là bất lịch sự)…
nên… nếu phải nhìn thì chớ có dại mà nhìn từ mắt cá
chân họ trở lên… Ðừng bao giờ tin tưởng vào tâm
mình khi chưa chứng A La Hán, tức là đã gột sạch các kiết
sử: tham, sân, si, mạn, nghi… v.v…
Con
Người Hạnh Phúc
Ngày
xưa, có một ông vua. Như bao nhiêu vì vua khác, ông có
vô số vợ con, đất đai, vàng bạc châu báu… cùng tất cả
thú vui mà trí óc hạn hẹp của con người có thể tưởng
tượng ra. Ông chỉ thiếu có một điều độc nhất là
hạnh phúc.
Nhà
vua đáng thương của chúng ta ra lệnh cho đình thần phải
tìm đủ mọi cách để ông có được hạnh phúc. Thế
là, người ta dâng lên ông đủ thứ phương án: yến tiệc,
hội hè, ca vũ, săn bắn… Chí đến ngắm trăng cùng sao..
Nhưng… tất đều không kết quả. Ðấng quân vương
của họ vẫn cứ nhăn nhó suốt ngày… than phiền rằng:
“Bao
nhiêu đau khổ của trần gian
Trời
đã dành riêng để tặng chàng.”
Như
thường lệ, một người bình thường mà u sầu, bực bội
thì chỉ làm khổ họ và vợ con, người chung quanh… Nhưng
một vì vua mà nổi sùng (khi buồn… người ta dễ nổi sùng)
thì quả là một đại họa cho thần dân cả nước. Công
việc cấp bách nhất của bàng dân thiên hạ nước đó là
làm sao cho nhà vua được hạnh phúc.
Cuối
cùng nhà tiên tri xủ quẻ rằng: “Phải lấy chiếc áo của
một người hạnh phúc cho vua mặc thì vua sẽ được hạnh
phúc ké…”
Ðáp
số đã tìm ra, nhưng người hạnh phúc đó là ai, ở đâu
mới được chứ?
Thế
là, theo thượng lệnh, hàng trăm, hàng nghìn ngự lâm quân,
công an mật vụ, tình báo được tung ra khắp chốn, từ thâm
sơn cùng cốc chí đến hang cùng ngõ hẻm để tìm ra cái con
người dám tự nhận là hạnh phúc trên trần gian.
“Tìm
ắt sẽ gặp,” Chúa Kito đã bảo như thế nên rốt cuộc,
người ta dẫn về hoàng cung một gã thợ rèn nghèo khổ đã
dại mồm, dại miệng thốt lên:
“Ôi
hạnh phúc thay!”
Ðấng
quân vương bèn truyền lệnh phải lột ngay chiếc áo tên thần
dân hạnh phúc ấy cho ngài lập tức. Nhưng than ôi!
Gia tài của chàng thợ rèn chỉ vọn vẹn có hai chiếc quần
xà lỏn..
Biết
làm sao bây giờ?
Truyện
cổ Phi Châu
Em
thân mến!
Thế
thường, chúng ta thường quan niệm hạnh phúc là khi chúng
ta được có càng ngày càng thêm hơn những cảm thọ lạc
và hỷ… nhưng cảm thọ nào sau sự kích thích mới lạ lúc
đầu, cũng mang đến sự nhàm chán lúc đã quen thuộc.
Ðó là lý do giải thích tại sao ông vua dù đã có tất cả
những phụ tụng mơ ước của trần gian mà vẫn không thấy
hạnh phúc.
Ðộng
lực thúc đẩy đấng đạo sư đi tìm đạo là khi mục kích
sự đau khổ của tha nhân và chính mình. Sau khi giác ngộ,
Ngài đi rao truyền giáo pháp để diệt khổ, khổ đau chấm
dứt, thì đương nhân sẽ chiêm nghiệm một cảnh giới an
lạc, hạnh phúc gọi là niết bàn. Trong một đoạn kinh
đức Phật có dạy:
“Không
có khổ đau với người không sở hữu”. Danh từ “vô
sở hữu” có nghĩa là không chấp thủ, bám víu v.v… và
v.v… nhưng nếu hiểu theo một ý nghĩa khác thì đó là sự
diễn tả cái nghèo của nội tâm, lúc hành giả trực ngộ
cái “vô nhất vật” của chính mình, như ngài Hương Nghiêm
đã nói:
“Năm
xưa nghèo chưa thật là nghèo
Năm
nay nghèo mới thật là nghèo
Năm
xưa nghèo không đất cắm dùi
Năm
nay nghèo đến dùi cũng không có.”
Và
phàm tục hơn, chúng ta có thể nói với chàng thợ rèn như
thế này:
“Ðau
khổ không đến với người chỉ có… hai cái quần xà lỏn”
vậy.
Chàng
Xạ Thủ
Thuở
xưa, có một chàng trai tên là Kỳ Dương. Kỳ Dương nuôi
ước vọng được trở thành một xạ thủ lừng danh, nên
đã tìm đến Vệ Phủ, một đệ nhất thiện xạ thời đó.
Vệ
Phủ hứa sẽ truyền nghề cho chàng trai với điều kiện là
Kỳ Dương phải tự mình tập luyện sao cho khỏi chớp mi mắt
trong bất cứ trường hợp nào.
Kỳ
Dương bèn về nhà, chui xuống dưới khung cửi của vợ, nhìn
không chớp mắt vào con thoi đang chạy thoăn thoắt trên khung
cửi. Tập luyện ròng rã suốt hai năm dài như thế, đôi
mắt của Kỳ Dương đã đạt đến trình độ bất động,
ngay cả lúc con thoi chạm vào mi mắt làm đứt mấy sợi lông
nheo của chàng. Ngay trong giấc ngủ, đôi mắt Kỳ Dương
vẫn mở trao tráo. Ðến lúc ấy, chàng tìm gặp Vệ Phủ.
Lần này, Vệ Phủ bảo Kỳ Dương hãy tập nhìn. Phải
tập nhìn bằng cách nào cho một con sâu biến thành bự như
con gà mới được.
Kỳ
Dương lại trở về, chàng bắt một con sâu nhỏ, dùng dây
cước treo lủng lẳng ở đầu giường và ngồi trên giường,
tập trung hết tinh thần và nhãn lực để nhìn con sâu.
Ngày
này qua ngày khác, Kỳ Dương chỉ ngồi nhìn con sâu, quên hết
ngoại cảnh. Ðược chừng mười hôm, Kỳ Dương thấy
con sâu to hơn trước. Cuối tháng thứ ba, chàng nhìn thấy
con sâu to bằng con tằm, và nhìn thấy rõ cả những sợi tơ
óng ánh trên xác con sâu.
Trong
suốt ba năm, Kỳ Dương không ra đến cửa, chỉ ngồi nhìn
con sâu.
Cuối
cùng, chàng thấy con sâu to bằng con bò, chỉ có mỗi một
con sâu thôi, còn toàn thể vũ trụ đều tan biến đâu mất.
Kỳ Dương bèn đứng dậy, lấy cung tên, lắp tên, lùi ra xa,
tập trung nhãn lực nhìn con sâu rồi phóng tên. Ðầu
mũi tên cắm trúng con sâu vào cánh cửa gỗ.
Kỳ
Dương bèn đến thăm Vệ Phủ. Vệ Phủ bảo:
-
Người đã đến đích rồi.
Từ
ngày hôm đó, Kỳ Dương bắn tên bách phát bách trúng. Chàng
có thể đứng xa hàng trăm thước bắn trúng xuyên tâm chiếc
lá liễu bay phất phơ trước gió. Chàng có thể giương
chiếc cung rất nặng, đặt trên khuỷu tay phải một cái chung
đầy nước rồi bật dây cung phóng tên mà chén nước vẫn
không sánh đổ ra ngoài một giọt. Chàng đã hoàn toàn
làm chủ được tay chân và tâm thức trong lúc bắn cung.
Tài nghệ nghiễm nhiên ngang hàng với Vệ Phủ, không cần
phải học hỏi gì thêm nơi ông ta nữa. Kỳ Dương bỗng
nảy ra một ý nghĩ: “Nếu Vệ Phủ còn sống, Kỳ Dương
không thể nào là đệ nhất xạ thủ trong thiên hạ được.”
Chàng quyết tâm sẽ giết Vệ Phủ nếu tiện dịp.
Dịp
may đã đến. Một hôm, đang đi dạo ven rừng chàng bắt
gặp bóng dáng đơn độc của Vệ Phủ bên kia sườn núi.
Kỳ Dương bèn dương cung, nhắm nhay vị thầy cũng là địch
thủ duy nhất của chàng trên đường danh lợi. Nhưng
Vệ Phủ, nhà vô địch thiện xạ thời danh, cũng không phải
là tầm thường. Ðã từ lâu, ông ngầm đọc được
bản án tử hình của mình trong đôi mắt của đệ tử đầy
tham vọng. Vệ Phủ cũng rút cung, lắp tên, bắn trả
lại kịp thời. Hai mũi tên gặp nhau trong hư không đồng
rơi xuống. Hai người tiếp tục bắn, và lần nào, hai
mũi tên cũng gặp nhau và rơi xuống đất.
Cuối
cùng, Vệ Phủ hết cả tên trong khi gã học trò phản
phúc hãy còn một mũi định mệnh.
Túng
thế, Vệ Phủ bẻ vội một cành cây phóng trả… Nhành cây
gặp mũi tên của Kỳ Dương và cùng rơi xuống đất.
Khi đã bắn hết tên Kỳ Dương cảm thấy hối hận, chàng
vui mừng chạy về phía Vệ Phủ, như gặp lại một người
thân yêu trở về từ bên kia cửa tử. Phần ông thầy
già quá vui thích trước sự thành công của mình và tài nghệ
của học trò nên đã mở rộng vòng tay ôm lấy tên bội bạc.
Cả hai đều bật khóc.
Vệ
Phủ bảo Kỳ Dương:
-
Ðến nay, ta đã truyền cho con hết khả năng của mình.
Nếu con muốn tiến thân nữa, hãy đến ngọn Tây Sơn, bên
sườn núi phía Nam mà thọ giáo với một dị nhân nơi đó.
Tài nghệ của ta so với người cách xa như mặt đất và bầu
trời vậy.
Kỳ
Dương liền bỏ ra đi. Sau nửa năm dài trèo non lội suối,
chàng tìm đến chỗ ở của dị nhân và thành khẩn xin thọ
giáo.
Sau
mười năm học tập, chàng trở về quê nhà mà không mang theo
cung lẫn tên. Trên gương mặt đầy kiêu khí và ngạo
mạn ngày xưa, chỉ còn lại một vầng trán rộng, đôi mày
dài là của Kỳ Dương thuở nọ. Không bao giờ người
ta thấy Kỳ Dương sử dụng cung tên hay nhắc đến chúng.
Duy có một điều là, theo lời người ta kể lại, chỉ cần
một cái nhìn, chàng bắn rơi cả bầy chim đang bay… và những
tên bất lương đều né chàng như gặp đao phủ vậy.
Có
một lần Vệ Phủ tìm đến thăm học trò. Vừa nhìn
thấy Kỳ Dương, ông đã vội vã thi lễ:
-
Bây giờ người mới đích thị là đệ nhất thiện xạ.
Ta không đáng rửa chân cho ngươi.
Và,
nếu lời đồn không ngoa thì, đã có lần Kỳ Dương trả
lời cho những người hiếu kỳ, tại sao chàng không dùng cung
tên nữa:
-
Giai đoạn tối thượng của hữu vi là vô vi. Giai đoạn
tối thượng của lời nói là im lặng. Giai đoạn tối
thượng của nghệ thuật bắn cung là không còn biết đến
cung tên nữa.
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên được đề cập trong quyển Trung Hư Chân Kinh,
thiên 6, một bản kinh của đạo gia Trung quốc. Qua đó,
ta có thể thấy nghệ thuật cung cũng na ná như nghệ thuật
học thiền.
Nếu
Kỳ Dương phải bỏ hai năm tập không nháy mắt, ba năm để
nhìn một con sâu hóa to bằng con gà thì một hành giả thiền
tông cũng phải bỏ một khoảng thời gian vô định để tập
tự chủ và chú trọng vào tâm thức mình bất kể trời đất
xoay vần ra sao.
Một
sự tập trung tư tưởng cao độ có thể giúp hành giả điêu
luyện trong nghệ thuật thiền, nhưng chưa thể hàng phục tham,
sân, si.. mà bất cứ tâm thức điên đảo nào cũng có.
Ðó là lý do giải thích vì sao mà Kỳ Dương nảy ra ý định
giết chết ân sư của mình.
Bây
giờ, chúng ta chưa khám phá ra bộ mặt đích thực của chính
mình thì chúng ta có thể bị sai sử bởi vô minh, ta vẫn thèm
khát những hư danh hoa hòe của trần thế. Và thật là
tai hại khi nghệ thuật, tài hoa được sử dụng bởi một
bản tâm ô nhiễm, đầy dẫy thù hận, ghét ganh.
Sau
10 năm dài thọ giáo với dị nhân, Kỳ Dương không còn là
Kỳ Dương ngạo mạn và hiếu danh thuở trước. Ðến
lúc ấy, Vệ Phủ, vị ân sư của chàng mới thành thật bái
phục: “Ta nay không bằng nhà ngươi.”
Thông
thường, chúng ta cứ nghĩ, hễ là xạ thủ thì phải có cung
tên để sử dụng. Thiền sư thì phải kè kè bồ đoàn
tọa cụ một bên, pháp sư thì phải nói láp váp cả ngày,
tu sĩ thì phải hì hục dụng công đối trị, tập trung tư
tưởng, kềm tâm, chăn trâu v.v… có lẽ vì vậy mà chúng
ta hụt hẫng khi nghe câu nói sau cùng của Kỳ Dương hoặc
ngơ ngác khi đọc các trang kinh đề cập đến hạnh “vô
công dụng” của nhà Phật.
Thiền
sư Viên Ngộ, một cao tăng lừng danh đời nhà Tống, cũng
có lần rơi vào trường hợp của chúng ta:
“Hôm
nọ, Viên Ngộ vào thất để luận đạo cùng thầy mình là
Pháp Ðiển. Lúc cáo từ, sư bắt gặp một nét bất như
ý trên gương mặt của ông thầy. Sư liền hỏi:
-
Bẩm, cuộc luận đạo hôm nay có gì khiếm khuyết?
-
Ngươi đề cập đến Phật, đạo, thiền, tu hành nhiều quá!
Viên
Ngộ ngạc nhiên:
-
Thưa con là một tu sĩ Phật giáo thì đề cập đến những
vấn đề đó… là chuyện thường tình chứ!
-
Người ta hay nói đến cái gì mà người ta thiếu.
-
Nếu không nói những chuyện đó… thì con biết nói gì với
thầy bây giờ?
-
Một cuộc trò chuyện bình thường thôi, đồ đệ ạ!
Mũi
Tên Vàng
Theo
thần thoại Hy Lạp, Eros là một vị thần bất tử, đẹp
trai, trông coi về tình ái của chư thần và nhân gian.
Eros được hình dung là một cậu bé có cánh, một tay cầm
tên, một tay cầm cung, sau lưng là ống tên, tóc quăn đôi
khi bịt mắt.
Eros
thường bay lượn trên đôi cánh bằng vàng, qua các lục địa
và đại dương nhanh như gió, tay cầm chiếc cung bạc và bắng
những mũi tên vàng nhỏ xíu. Không ai có thể thoát khỏi
những mũi tên của thần, “những mũi tên chinh phục mọi
con tim và thắng những lời khuyên sáng suốt.” Tuy không
làm chết ai nhưng lại gieo rắc cái dục vọng mãnh liệt vào
tâm hồn người trúng tuyển. Nhưng Eros cũng không thoát
khỏi những mũi tên của mình. Mối tình Eros và Xisê
khá cảm động và đẹp như mơ.
Xisê
là người trần có sắc đẹp lộng lẫy đến nỗi Aphrôdít,
thần sắc đẹp, là mẹ của Eros phải đem lòng ganh tỵ.
Aphrôdít
sai Eros xuống bắn tên, dàn xếp cho Xisê phải kết duyên với
một con độc long khủng khiếp. Nhưng sắc đẹp của
Xisê làm thần ái tình bàng hoàng, chàng bỡ ngỡ thế nào
mà làm mũi tên vàng cắm sâu vào tim mình. Thế là Eros
mang người đẹp lên lâu đài của chàng cung sống với người
ngọc… nhưng Xisê không bao giờ thấy mặt chồng, nếu nàng
muốn hạnh phúc mãi mãi.
Xisê
bằng lòng sống với tình yêu toàn mãn của con người giấu
mặt đó.
Cho
đến một hôm, hai bà chị Xisê đến thăm, họ nghi ngờ Eros
phải là một con quái vật hung bạo và xấu xí. Vì thế,
Xisê nhất định nhìn mặt chồng.
Ðêm
hôm đó, chờ Eros ngủ say, nàng thắp đèn ngắm dung nhan con
người bí ẩn. Trong ánh sáng lung linh của ngọn nến,
trước mắt nàng là một chàng trai má đỏ môi hồng, tóc
vàng lượn sóng vô cùng xinh đẹp. Xisê đang mê mẩn
ngắm người chồng yêu quý thì Eros bừng tỉnh và biến mất
cùng với toàn bộ lâu đài nguy nga, vườn hoa ngào ngạt hương
thơm.
Xisê
thấy mình ngồi trên tản đá khô cằn, bơ vơ và hối hận,
nàng không biết làm gì hơn là úp mặt vào đôi tay, khóc than
thảm thiết.
Em
thân mến!
Ðó
là một câu chuyện nhỏ trong thần thoại Hy Lạp. Tương
truyền rằng, khi thần ái tình chào đời, thượng đế đã
đoán trước rằng thần sẽ mang lại cho trần gian nhiều thống
khổ bằng những mũi tên vàng, định giết đi nhưng không
đành.
Kể
lại câu chuyện này cho em nghe, tôi muốn nhấn mạnh đến
câu chuyện tình của thần Eros, đến niềm hạnh phúc của
nàng Xisê và điều kiện hạnh phúc: không được thấy mặt
người tình. Ðôi tình nhân phải sống trong bóng đêm
đen k