Phần
6
Cuộc
Chiến Hai Bàn Tay
Chiếc
Lu Vô Tận
Chú
Chuột Vô Hình
Bàn
Tay Ðã Mất
Mối
Tình Có Duyên
Tưới
Dưa Cho Người
Câu
Hỏi Khó Trả Lời
Phá
Táo Ðọa
Tử
Uyên Thê
Khi
Quạ Trổ Tài
Chiếc
Gương Soi Mặt
Ngựa
Nhà
Cụ
Già Tu Mướn
Ương
Quật Ma La
Vakkali
Khi
Công Tử Chê Tiền
Ni
Ðề
Pháp
Sư Ðậu Hũ
Xa
Ðầu Tụ Lạc
Tôn
Giả Thất Lai
Cuộc
Chiến Hai Bàn Tay
Xưa
có anh chàng con nhà giàu đẹp trai học giỏi, nhưng chỉ có
cái tật cố chấp cùng mình. Một hôm, dùng búa đóng
đinh lơ đễnh thế nào mà bàn tay trái của anh nện phải
tay mặt một cái đau điếng. Từ đó, anh đâm ra ác cảm
cố chấp đối với bàn tay trái. Luôn luôn anh rấp tâm
tìm dịp trả thù.
Bữa
nọ, tay trái đóng cửa vô ý làm kẹt bàn tay phải đau điếng.
Anh chàng liền nổi giận lôi đình, mở một cuộc chiến sống
chết giữa hai bàn tay.
Kết
cuộc người ta không rõ bàn tay nào thắng trận, chỉ biết
thân nhân anh phải chở anh vào nhà thương để bó bột hai
cánh tay và chữa bệnh tâm thần.
Em
thân mến!
Không
có câu chuyện nào vô duyên và vô lý bằng câu chuyện trên
đây cả. Trên thực tế, ta không bao giờ thấy có một
trận thư hùng giữa hai bàn tay.
Thế
mà trong mỗi con người chúng ta, giây phút nào lại vắng bóng
những cuộc chiến giằng dai giữa những vọng niệm thiện
và ác.
Cũng
như anh chàng trên, hàng tu sĩ chúng ta, ai cũng dành nhiều cảm
tình, sẵn sàng khoan dung đối với những tư tưởng thiện
và ngược lại, chúng ta rất bực bội, đầy thù hằn, ác
ý với những vọng niệm xấu ác của chính mình.
Em
đã từng nghe nói đến Phật tính chân tâm, nhưng chưa bao
giờ em biết cái thực thể ấy nằm ở đâu, trong ngõ ngách
nào. Từ không thể tin nó ở bên ta. Trên xác thân
vô thường sinh diệt này và chỉ có một lối cuối cùng là
tìm nó nơi tâm mình mà thôi.
Nhưng
hỡi ơi! Khi nhìn lại bản tâm của mình em sẽ thấy
không biết cơ man nào là những vọng tưởng thiện ác đua
nhau trình diễn, chúng sinh diệt loạn động liên miên.
Vì đã được trui rèn từ thuở nhỏ, lúc nào ta cũng có khuynh
hướng thiên về chân, thiện, mỹ và ghét cay ghét đắng những
gì ngược lại. Do đó, mà trong ta, lúc nào cũng có những
cuộc chiến dai dẳng giữa hai thế lực đối nghịch nhau.
Phe nào thắng thì ta cũng mệt nhoài, vì cả hai đều là những
vọng niệm của mình cả.
Em
thân mến!
Nếu
em thấy rằng mình còn sức để mở thêm một cuộc đọ sức
giữa hai bàn tay nữa thì xin em cứ tiếp tục! Bằng ngược
lại, em đã mệt nhoài, nắm không xong mà thả cũng chẳng
ra, thì tôi xin đề nghị, chúng ta hãy thử một lần nhìn
thẳng vào những vọng niệm sinh diệt ấy, bất kể nó là
thiện hay ác, ta vẫn nhìn nó bằng một thái độ từ hòa
như nhìn hai bàn tay của mình không thiên trọng các nào hết…
thì cái gì sẽ xảy ra? Khi anh chàng trên khi không còn
thù nghịch bàn tay trái nữa… thì… anh ta sẽ được ra khỏi
nhà thương điên và tùy tiện sử dụng hai bàn tay. Chỗ
này người xưa bảo: “Lượn sóng nào cũng là nước cả”
hay “Mỗi vọng niệm là một hóa thân Phật vậy.”
Em
có thấy thế không?
Chiếc
Lu Vô Tận
Xưa,
có một chú tiều phu cần cù chất phác rất tốt bụng và
nghèo ơi là nghèo.
Bụt
thương tình, ban cho chàng một chiếc lu kỳ diệu. Sau
khi chỉ dẫn cách sử dụng cái lu cho chú tiều, Bụt biến
dạng sau một đám mây lành.
Chú
tiều mừng lắm, mang chiếc lu về giấu trong buồng và bỏ
vào đó một đồng tiền nhỏ, số tiền bán củi độc nhất
trong ngày.
Sáng
hôm sau, chú lấy đồng tiền ấy ra mua gạo thì một đồng
tiền khác xuất hiện ở đáy lu. Những đồng tiền không
bao giờ chấm dứt và nhờ vậy cuộc sống của chú dễ thở
hơn, dù mỗi ngày, chú chỉ xin cái lu vỏn vẹn có một đồng
tiền.
“Không
nên lạm dụng lòng tốt của Bụt,” chú tiều thật thà nghĩ
và làm thế.
Những
tưởng chỉ có chú tiều và Bụt biết chuyện cái lu, nào
ngờ “nhà có ngạch, vách có tai,” câu chuyện kỳ diệu
này lan truyền khắp nơi và đến tai ông bá hộ trong vùng.
Với
uy quyền sẵn có, ông phú hộ đoạt cái lu của chú tiều
một cách dễ dàng. Ông cho dấu chiếc lu trong phòng kín
và hối hả gom góp vàng bạc đang trữ giấu rải rác về
để trút hết vào lu.
Trong
lúc ông bà phú hộ đang vội vã vận tải vàng bạc vào phòng
thì cậu ấm Tèo, đứa con trai cưng độc nhất của họ đang
nô đùa với bạn bè. Bọn trẻ đang chơi trò đi trốn
đi tìm… Và cu Tèo chợt khám phá ra chiếc lu là một chỗ
núp tuyệt diệu, thằng bé liền chui tọt vào lu.
Nhưng
vào thì dễ… ra mới khó… Mãn cuộc chơi, Tèo vẫn chưa
ra khỏi chiếc lu. Cu cậu la khóc ầm ĩ.
Nghe
tiếng con khóc bà phú hộ vội chạy đến bên cái lu và nhất
bổng thằng bé ra. Vừa đặt cậu con xuống đất, bà
lại thấy thêm một thằng cu nữ, giống hệt thằng trước
đứng trong lu la khóc inh ỏi…
Và
cứ thế, mãi đến lúc bà nhấc thằng cu thứ 100 ra thì cái
lu, sau cái đạp chân quá mạnh của thằng bé, vỡ đôi.
Sự kỳ diệu liền chấm dứt.
Từ
ngày đó, ông bà phú hộ vì phải nuôi đến 100 cậu quý tử
giống nhau như tạc, nghịch ngợm và đòi ăn suốt ngày nên
họ trở thành sa sút, nghèo nàn khổ sở còn hơn là anh chàng
tiều phu nọ.
Em
thân mến!
Mỗi
người chúng ta, dường như ai cũng có một chiếc lu vô
tận như thế. Và tùy theo cách sử dụng mà chúng ta sẽ
lôi ra nhằm “tri kiến Phật” hay “tri kiến chúng sanh.”
Lỗi không phải ở cái lu điều này chắc đứt đuôi đi rồi,
em có thấy thế không?
Chú
Chuột Vô Hình
Bé
mới lên ba, thường đi lẫm đẫm lấy bút, thước, vở của
anh chị nghịch phá. Mỗi khi muốn thu hồi sản vật lại
anh chị bé thường lấy giấu và bảo là “chú chuột tha
rồi”, cho bé khỏi đòi.
Một
hôm bé cầm hộp quẹt của ba đi chơi. Lát sau ba gọi
bé đến đòi hộp quẹt. Bé đưa hai tay không bảo: “Chú
chuột tha rồi.” Ba đành chịu mất chiếc hộp quẹt.
Chú chuột vô hình là như thế đó.
Em
thân mến!
Lúc
mới vào chùa, chúng ta thường được nghe nói về nghiệp
như một nguyên nhân chính chi phối hầu hết đời sống của
con người. Em nhớ mẹ ư? - Nghiệp đó! Em thích ăn quà
vặt ư? - Nghiệp đó! Em hay cãi lời, biếng học, ham chơi,
buồn, thương, giận ghét ư? - Nghiệp đó! Nghiệp được đưa
ra như một chú chuột vô hình mà người lớn dùng để rầy
la hay hăm dọa, trấn an em. Em làm quen với nghiệp như
con bé làm quen với chú chuột vậy.
Cho
đến một ngày nào đó, em thấy bất lực trước cả khối
“nghiệp chướng” nặng nề, em lao đao, mệt mỏi, chán nản.
“Ðường
lỡ đi chân chực bước quay về” mặc kệ những lời rầy
la, hăm dọa, trách móc… em bỏ cuộc tu vì thấy sao mà cái
nghiệp của mình nặng quá sức. Ðây chính là lúc con
bé đưa hai tay lên nói: “Chú chuột tha cái hộp quẹt của
ba” rồi vậy.
Nếu
tình trạng đã đến mức này, thì … cũng đã đến lúc tôi
phải làm người lớn, dù không lớn hơn em bao nhiêu, dắt
em đi tìm chú chuột đó vậy.
Nghiệp
không phải là một định mệnh cứng ngắt, bất di bất dịch
mà chỉ có nghĩa là một cái thói quen. Thói quen này hoàn
toàn do ta tự do lựa chọn và cũng có quyền tự do sửa đổi.
Chẳng hạn lúc mới sinh ra, em hoàn toàn không biết ăn ớt.
Thói quen ăn ớt được em tập dần qua năm tháng. Cho
đến một ngày nào đó, đến bữa ăn thiếu ớt là em bực
bội khó chịu, ăn ớt đã thành một thói quen - một cái nghiệp
vậy.
Như
thế, do những thói quen lâu ngày, em đã có những hành động
xấu, lời nói xấu và ý nghĩa xấu. Ðây tức là những
nghiệp ác chướng đạo… Bây giờ, em sửa đổi dần, đổi
những lời nói dối trá thành lời chân thật, dua nịnh thành
lời ngay thẳng, những hành động xấu như trộm cướp thành
hành động tốt như bố thí, giúp đỡ người… thì lâu ngày
em sẽ tạo thành những thói quen tốt, những nghiệp lành.
Em đã chuyển nghiệp dữ thành nghiệp lành, việc này được
gọi là tu.
Tiến
thêm một bước nữa… là dứt nghiệp. Nghiệp được
chia làm ba: thân, miệng và ý. Ý là cái chủ động, thân
miệng chỉ thừa hành. Dứt được cái chủ động thì
thân miệng hết còn mệnh lệnh để thừa hành, lúc ấy hành
giả không biến thành một con búp bê mà thành một ông Phật
đó em… Về cách tu dứt nghiệp có rất nhiều đường lối,
nếu muốn biết em có thể tham hỏi các bậc cao minh.
Phần tôi, tôi chỉ muốn dắt tay em đi tìm con chuột.
Em đã thấy rõ nó rồi chưa? Không đáng sợ lắm phải
không nào?
Bàn
Tay Ðã Mất
Xưa,
có một chàng trai lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự.
Giặc tan, chàng trở về và bỏ lại một bàn tay ở chiến
trường.
Từ
dạo đó, trong những đêm hôm khuya khoắt chàng mơ hồ cảm
thấy mình đau nhứt dữ dội ở bàn tay đã mất. Cơn
đau ngày càng gia tăng, bệnh tưởng đã thành bệnh thật,
chàng tìm đến một y sĩ. Y sĩ hỏi:
-
Anh đau ra sao?
-
Thưa tôi bị nhức nhối ở bàn tay mặt nhất là khi về đêm.
Y sĩ
mỉm cười:
-
Anh đưa bàn tay đau cho tôi xem nào.
Bệnh
nhân sửng sốt hồi lâu ấp úng:
-
Thưa bác sĩ, bàn tay mặt của tôi không có ạ!
-
Thế thì tôi đã chữa bệnh cho anh rồi.
Bệnh
nhân liền ra về với một nụ cười. Hóa ra lâu nay chàng
mắc loại bệnh tưởng.
Ít
lâu sau thanh niên cùng đến thăm y sĩ với một thanh niên bạn,
người bạn này cũng mắc một chứng bệnh tương tự để
nhờ y sĩ chữa giùm. Lần lần bệnh nhân tự bảo:
-
Thưa bác sĩ, dù rằng đã biết bàn tay mình không có nhưng
trong giấc ngủ chập chờn tôi lại thấy đau nhức dữ dội
ở bàn tay đã mất xin bác sĩ chữa bệnh cho tôi.
Y sĩ
liền hí hoái biên toa, xong căn dặn:
-
Toa thuốc này có hai loại, một để uống và một để thoa
lên vết thương. Anh về điều trị tuần sau khám lại.
Bệnh
nhân thứ hai y lời về mua thuốc, nhưng chàng không biết bôi
thuốc vào đâu, vì bàn tay đã không còn thì làm gì có vết
thương. Loay hoay tìm kiếm hồi lâu anh bật cười bảo:
-
Lão bác sĩ này gạt mình thật!
Từ
dạo đó anh lành bệnh. Hai anh bệnh nhân đã lành bệnh
trên, về sau lại gặp một người bạn cũng mang chứng bệnh
tương tự. Cả hai đều trổ hết kinh nghiệm và sở
trường của mình điều trị song cơn đau vẫn không thuyên
giảm. Bệnh nhân liền được đưa đến phòng mạch.
Y sĩ hỏi:
-
Những lúc nào anh bị đau nhức?
-
Thưa, tôi bị đau nhức liên tu bất tận.
-
Thế không có lúc nào ngừng đau à?
-
Thưa có, những lúc nào tôi say mê đọc sách hay nghe nhạc
thì cơn đau dường như không còn nữa.
-
Thế thì… toa thuốc của anh đấy, khi nào thấy đau đớn
hãy lấy sách báo đọc hoặc là nghe nhạc…
Bệnh
nhân y lời, bệnh tình ngày một thuyên giảm.
Em
thân mến!
Có
phải chúng ta tất cả đều mang một chứng bệnh tưởng như
ba anh chàng trên đây không?
Chúng
ta cứ than van suốt ngày “Tôi buồn, tôi khổ, tôi mệt mỏi,
tôi chán nản, tôi tuyệt vọng…” Và nếu có ai hỏi
“cái tôi” ấy ở đâu thì chúng ta không khỏi giật mình.
Thấu đáo cho rõ CÁI TÔI này thì căn bệnh mới chữa tận
gốc. Tôi là thân hay tâm?
Thông
thường, chúng ta cho cái suy nghĩ phân biệt, thương ghét, buồn
giận đó là tôi. Và cái tôi này quả là loạn động,
rối bời, xao xuyến. Chúng ta nghe cuộc gặp gỡ giữa
hai người y sĩ Bồ Ðề Ðạt Ma và bệnh nhân Huệ Khả như
sau:
Bệnh
nhân thưa:
-
Tâm con bất an, xin Ngài dạy con phương pháp an tâm.
Y sĩ
mỉm cười bảo:
-
Ðưa tâm ra đây ta xem!
Bệnh
nhân lúng túng:
-
Con tìm tâm không ra
Y sĩ:
-
Vậy thì ta đã chữa bệnh an tâm cho ông rồi.
Huệ
Khả liền đại ngộ, tức là hết bất an, hết kêu than là
khổ sở, đau đớn quá nữa.
Trường
hợp của Tổ Huệ Khả tương tự như trường hợp anh thương
binh thứ nhất, sau một lần đến phòng mạch là lành bệnh.
Trường
hợp bệnh nhân thứ hai là những hành giả phải gia công quán
chiếu tu trị những tâm thức vọng động của mình bằng
các phương pháp trị tâm hay tu tâm. Cho đến bao giờ
hành giả chợt thấy rằng “năm uẩn đều không” thì “vượt
qua tất cả khổ ách” Ðây là lúc anh chàng thương binh
đang loay hoay tìm cách rịt thuốc lên vết thương thì bỗng
khám phá ra bàn tay mình không có, vết thương cũng không luôn
nên vứt gói thuốc đi và lành bệnh.
Trường
hợp thứ ba, chỉ những lúc hì hục tu hành, say mê hạ thủ,
tụng kinh lễ bái, niệm Phật trì chú… hành giả mới cảm
thấy vơi sầu, bớt khổ não, tâm dần an định… giống như
anh chàng thương binh thứ ba, khi nghe nhạc hoặc đọc sách
thì không thấy đau đớn gì cả.
Ba
chàng thương binh trên đây mang bệnh tưởng vì ngờ rằng
bàn tay có thật, bàn tay có thật nên sự đau nhức cũng có
thật, sự đau đớn có thật nên thưốc chữa cũng có thật:
“Có
thì tự mảy may”
(Tác
hữu trần sa hữu)
Bệnh
của họ được chữa lành khi họ khám phá ra rằng bàn tay
không có, bàn tay không có nên bệnh cũng không, bệnh không
nên thuốc cũng không.
“Không
thì cả thế gian này cũng không.”
(Vi
không nhất thiết không)
Chúng
ta cũng thế, bao nhiêu khổ đau rắc rối đều thành hình khi
ta ngỡ rằng mình là một cái này, một cái nọ… Do có “ta”
nên có cái “của ta.” Và hỷ, nộ, ái, ố… cũng bắt
đầu từ đó. Hành giả chỉ hết khổ khi thấu hiểu
được rằng “cái ta không có.” Chỗ này, Lục Tổ
bảo rằng: “Bản lai vô nhất vật” vậy!
Thầy
thuốc xem bệnh nhân bình đẳng như nhau, nhưng tùy theo tình
chấp của mỗi người mà cách chữa trị có khác. Các
pháp môn tu của Phật cũng thế, tùy theo tình chấp của chúng
sanh mà có thiên sai vạn biệt. Chúng ta không thể nói
rằng pháp môn này cao pháp môn kia thấp… mà chỉ có thể
nói rằng: “Cố chấp của tôi nhiều, tình chấp của anh
ít hơn mà thôi.”
Em
có thấy như thế không?
Mối
Tình Có Duyên
Vua
Kinh có một người thiếp rất xinh đẹp mà vua đặc biệt
sủng ái. Hoàng hậu thấy vậy cũng đem lòng yêu mến
cưng chìu mỹ nhân này như con gái yêu của mình. Một
hôm hoàng hậu bảo người thiếp:
-
Bệ hạ bảo em rất xinh đẹp, duy có chiếc mũi hơi thô.
Nếu em tìm cách che mũi đi mỗi khi diện kiến ngài thì chắc
bệ hạ sẽ yêu em hơn.
Thiếu
nữ ngây thơ tin lời. Mỗi khi giáp mặt vua, nàng thường
dùng một chiếc khăn lụa che mũi. Vua trông thấy thế
ngạc nhiên hỏi hoàng hậu. Hoàng hậu nhất định không
nói. Vua gạn hỏi mãi, bà mới thưa:
-
Muôn tâu thần thiếp nghe cô ta bảo rằng mồ hôi của bệ
hạ có mùi khó ngửi quá! Xin bệ hạ rộng lòng dung thứ
cho…
Vua
nổi giận lôi đình, truyền cắt mũi mỹ nhân. Hoàng
hậu chỉ chờ có thế, liền sai một người tâm phúc đang
chực sẵn, thi hành ngay mệnh lệnh.
Nàng
ái thiếp bị thất sủng từ đó.
Em
thân mến!
Tham
sân và tật đố là những thứ phụ tùng mà ai ai cũng có.
Vua Kinh yêu mến nàng ái thiếp là do lòng tham lam háo sắc
mà ra. Hoàng hậu hại nàng là do tâm tật đố ganh ghét.
Và vua truyền lệnh cắt mũi mỹ nhân là do lòng tự ái - tự
yêu mình - bị tổn thương nên đổi thành sân hận. Mối
tương giao của loài người chúng ta được lập cước trên
những tâm sở vô thường như thế… nên tình yêu, tình thương
chỉ là những thứ tham lam, sân hận, ganh ghét trá hình mà
thôi. Nếu bây giờ, có ai bảo rằng họ yêu em thì em
phải coi chừng cái lỗ mũi của mình và lòng đố kỵ của
người chung quanh đấy nhé!
Trong
các kinh, đức Phật có đề cập đến lòng từ vô duyên -
tức là tình yêu thương vô điều kiện – hoàn toàn vắng
bóng sư toan tính, lọc lừa của bản ngã. Ta cảm thấy
yêu thương người chung quanh vì lòng ta vắng bóng muộn phiền,
nhìn người quay quắt khổ đau, ta cảm thấy thương xót nên
tìm đủ mọi cách giúp đỡ cho người vơi khổ. Ðó
là một sự tương giao hoàn toàn vắng bặt những ý niệm
về ta, của ta, không có sự đam mê nồng nàn, ganh ghét nháng
lửa và sân hận lôi đình… nên hỏng có ai bị xẻo mũi
hết. Muốn chiêm nghiệm và thể hiện tình yêu này, lòng
chúng ta phải vắng bóng các tâm sở - tức là những vọng
niệm thương ghét sanh khởi liên miên ấy - thấu rõ “mình
là ai.”
Biết
rõ ta là ai? Ta là gì? Rồi mới thoát khỏi lầm lẫn khi đem
cái ta ấy đi yêu thương người khác, và cũng không “tá
hỏa tam tinh” tim đập loạn xạ khi nghe người ta tuyên bố
là yêu mình say đắm. Và khi ấy, chúng ta mới có thể
yêu thương tha hồ, vô kể mà không sợ làm hại mình và khổ
người. Ðó chính là chỗ mà người xưa nói: “Ða tình
thị Phật tâm” nghĩa là “Tâm Phật rất nhiều tình.”
Do nhiều tình nên Phật mới yêu thương muôn loài… còn tâm
chúng sanh chỉ có một tình yêu duy nhất, đó là lòng yêu
thương độc nhất có một cái mạng mộc của mình mà thôi.
Tưới
Dưa Cho Người
Lương
và Sở là hai nước láng giềng ở cạnh nhau vào thời Chiến
quốc.
Ở
một vùng biên giới của hai nước, dân chúng đều trồng
dưa. Dân nước Lương siêng năng chăm sóc tưới nên dưa
tốt. Trái lại, dân Sở lười biếng nên dưa xấu.
Dân Sở thấy vậy, sanh lòng đố kỵ, mỗi đêm lén chạy
qua nước láng giềng Lương cào dưa của người. Dân
Lương thấy dưa của mình mỗi ngày chết một ít, lấy làm
lạ, theo dõi và phát giác ra nguyên nhân, bèn dự định sẽ
lén qua rẫy của dân Sở cào dưa để trả thù.
Quan
huyện nước Lương là Tống Tựu, biết được ý đồ ấy,
bèn ngăn lại và dạy dân mình rằng:
-
Thay vì đi cào dưa mỗi đêm, ta hãy lén sang bên ấy tưới
dưa cho người thì có phải tốt hơn không?
Dân
Lương bèn y lời. Nhờ đó mà rẫy dưa của dân Sở ngày
một xanh tốt. Dân Sở ngạc nhiên, theo dõi và biết được
nguyên do, lấy làm hổ thẹn.
Chuyện
đến tai quan huyện, rồi vua Sở. Nhà vua bèn sai người
mang lễ vật sang tạ tội vua Lương và kết tình giao hữu.
Em
thân mến!
Lòng
đố kỵ, ganh ghét là một trong những tật xấu của con người
ở trần gian này. Ta tật đố khi ta thèm thuồng, ước
mơ những gì mà người khác được còn ta thì mất, người
khác có và ta thì không. Ta ganh ghét vì mê mờ không rõ
lý nhân quả… như bọn người nước Sở trên đây chẳng
hạn. Ðâu phải khi không mà dưa người ta tốt hơn
là dưa của mình? Người ta siêng, ta lười biếng… Vậy
mà khi thấy kết quả tốt đẹp của người ta, mình lại
vác cào sang phá hoại kết quả ấy thì thật là thô lỗ và
hết sức trẻ con!
Cũng
thế, đâu phải đương không mà người ta đẹp đẽ ta xấu
xí, người giàu sang thông minh, còn ta nghèo hèn ngu tối?
Khi đã thấu rõ lý nhân quả thì không còn ganh ghét và tật
đố nữa.
Thời
Chiến quốc, Phật giáo chưa phổ cập đến Trung Hoa nhưng
Tống Tựu đã có một cách sử lý nột vụ thật tài tình.
“Lấy đức báo oán” và dạy mọi người lý nhân quả bằng
hành động thiết thực nhất: “Tưới dưa cho người” để
dưa người cùng mình đều được sai quả, nhờ đó mà hai
nước tránh khỏi những sự hiềm khích, đổ vỡ, có thể
đưa đến chiến tranh.
Ðọc
xong câu chuyện này tôi và em, những người còn đầy nhóc
lòng đố kỵ, có nên vòng tay bái phục ông Tống Tựu và
sắm sẵn một cặp thùng thay vì cái cào để “tùy hỷ công
đức” với đồng loại cho kịp mỗi khi ta nổi cơn ganh ghét
hay không đây, hở nhỏ?
Câu
Hỏi Khó Trả Lời
Mạnh
Tử hỏi vua Tề Tuyên Vương:
-
Giả sử có người đem vợ con tài sản gởi gấm cho một
người bạn thân nhờ trông nom giùm, vì anh ta bận việc đi
xa. Lúc trở về mới hay người ấy để vợ con mình
đói rét, tài sản bị chiếm đoạt hết thì nên có thái độ
với người bạn ấy như thế nào?
Vua
đáp:
-
Tuyệt giao!
Mạnh
Tử lại hỏi:
-
Giả sử có người làm quan, công việc cẩu thả, bê trễ
mọi việc thì bệ hạ sẽ xử y ra sao?
Vua
đáp:
-
Cách chức!
Thầy
Mạnh lại hỏi:
-
Thế thì, người làm vua một nước mà không chăm lo đời
sống dân chúng cho no ấm, bình trị lại đắm mê tửu sắc…
thì nên xử như thế nào?
Ðức
vua tìm cách nói lảng sang chuyện khác.
Em
thân mến!
Tại
sao Tề Tuyên Vương không trả lời câu hỏi thứ ba? Nếu
nhà vua kém trí hay chậm chạp thì ông đã không trả lời
hai câu hỏi trên một cách mau lẹ và dứt khoát như thế.
Cái gì đã làm cho ông vua này “chuyện người thì sáng mà
chuyện mình thì quáng” như thế?
Thời
quân chủ đã qua rồi, các ông hoàng bà chúa cùng thầy Mạnh,
thầy Khổng đều biến mất nhưng câu hỏi trên vẫn chưa
được trả lời.
Chúng
ta chưa hề làm vua và cũng sẽ không bao giờ làm vua nên ta
cũng không biết trả lời giùm Tề Tuyên Vương ra sao hết.
Chỉ nhân câu hỏi em cũng có nghĩa là tôi tự hỏi chính mình
vậy.
-
Nếu có người nhận tiền hàng xóm gởi, đi ra chợ mua gạo.
Lúc trở về, người bạn đến hỏi, gạo cũng không mà tiền
đã xài hết, thì nên đối xử với họ ra sao?
-
Lại có người, nhận một số tiền lớn của bạn hứa sẽ
mua giùm đất đai, nhà cửa ruộng vườn… rồi quỵt luôn,
nên xử với họ ra sao?
Và,
có người nhận tiền của, nhà cửa, y phục, thuốc men, ẩm
thực, quà bánh, sự thanh nhàn, lòng cung kính tôn trọng…
của người chung quanh đóng góp, với lời hứa sẽ đi tìm
đạo giải thoát cho mọi người. Xong, người ấy sáng
ngắm kiểng, chiều xem huê, nay dạo làng thăm thân thuộc,
mai rảo xóm viếng người quen, chưa đói đã lo ăn, chưa lạnh
đã lo đắp, mùa nào thức nấy, vui thú thanh nhàn. Nhận
lãnh của mọi người từ những thứ phụ tùng xa xỉ cho đến
các nhu cầu cần thiết… để rồi suốt ngày vào than ra thở,
đòi hỏi tìm cầu không chán mỏi… Những hạng người như
thế nên đối xử ra sao đây?
Câu
hỏi này, đức Phật đã trả lời giúp cho tôi và em khỏi
lúng túng:
“Thọ
của tín thí, tiêu dùng không đúng chỗ sẽ bị đọa vào
tam đồ, chịu sự khổ sở, mang lông đội sừng mà đền
nợ cũ…”
Ðây
không phải là lời hăm dọa suông đâu. Chúng ta chớ
có xem thường, các thiền sư cũng đã từng nhắc nhở chúng
ta:
“Liễu
đạo rồi thì ngày tiêu muôn lượng vàng ròng cũng được.
Bằng ngược lại thì một hạt cơm, giọt nước cũng không
tiêu nổi.”
Hay:
“Học
đạo bất thông lý
Hoàn
thân đều tín thí…
v.v…
và v.v…
Phá
Táo Ðọa
Xưa
có một thiền tăng vô danh, đi hành cước. Trên đường
du phương, sư có đi ngang qua một miếu thờ thần táo, được
cư dân đồn đãi là rất mực hiển linh. Tò mò, sư đến
trước miễu thờ Táo thần, xem xét. Thấy miếu thờ
chỉ có ba viên gạch bắt sơ sài, sư ngạc nhiên buột miệng:
-
Ủa, chỉ là ba viên gạch nung kê thành cái bếp, hiển linh
ở chỗ nào cà?
Sư
vừa nói xong, ba viên gạch liền nát vụn, miếu thờ cũng
sụp đổ. Sợ cư dân nghi mình phá miếu, sư vội vàng
rảo bước.
Ði
được một quãng sư gặp một ông cụ áo xanh quỳ bên vệ
đường, kính cẩn thưa:
-
Xin tạ ơn thầy đã vì con mà thuyết pháp vô sinh.
Thiền
tăng ngạc nhiên:
-
Tôi đã gặp cụ lúc nào nhỉ?
Ông
lão mỉm cười:
-
Thưa con nguyên là vị Táo thần ở ngôi miếu thờ khi nãy.
Ðã từ lâu con mê muội tưởng đâu ba viên gạch là thân
mình nên cứ phải lẩn quẩn quanh ngôi miếu mà ban phúc giáng
họa. Ai đến cung kính lễ bái ba viên gạch ấy thì con
tự cao hãnh diện, gặp kẻ khinh dễ ba viên gạch thì con nổi
giận lôi đình. Hôm nay nhờ câu nói của thầy mà con
tỏ ngộ lý vô sinh. Một lạy này xin đền ơn tri ngộ.
Lễ
xong, cụ già biến mất. Từ đó người ta gọi vị tăng
này là Phá Táo Ðọa, tức là người đã giúp ông Táo hóa
kiếp vậy.
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên hư thực ra sao chưa ai rõ. Song điểm kỳ
thú của câu chuyện là sự giác ngộ của ông táo. Ai
đã bắt ông ta phải làm thần Táo để ban phúc giáng họa
cho cư dân trong vùng? Gây tạo không biết bao nhiêu nghiệp
thiện và ác? Và ai đã giải thoát cho ông thoát khỏi
kiếp Táo?
Chỗ
này em hãy nhớ lại câu chuyện giữa Tam Tổ Tăng Xán và chú
Sa di Ðạo Tín:
Ðạo
Tín thưa:
-
Xin thầy dạy cho con pháp môn giải thoát.
Tổ
hỏi:
-
Ai trói buộc chú?
Ðạo
Tín liền đại ngộ.
Còn
chúng ta, ai đã trói chúng ta vào những niềm sầu khổ, sự
lo âu, bối rối, dằn vặt thường xuyên? Nếu ông Táo
chỉ vì chấp vào ba viên gạch nung cho là thân mình, nên phải
làm thần Táo. Một ông Táo có nhà cửa, tên tuổi, đồ
đệ, người thương kẻ ghét hẳn hòi… thì chúng ta chỉ
do chấp vào thân tứ đại vô thường này cho là mình, nên
cũng thành một kẻ có tên họ, cha mẹ, quê hương, thân thuộc,
kẻ oán, người thân… và luôn cả hỷ, nộ, ái, ố.
Khi
ông Táo không còn bám víu vào ba viên gạch, ông ngộ lý vô
sinh – vô sinh tức là hiểu rõ lý vô ngã và thật ngã –
ông không phải là ba viên gạch này, không là niềm vui khi
được thờ phụng, không là nỗi buồn tức khi bị khinh dễ,
ông không là những thứ đó, nhưng không phải vì thế mà
ông trở thành hư hỏng… Do đó mà ông đến lạy tạ vị
sư để đền ơn khai ngộ.
Vậy
thì, khi em không còn nghĩ, không còn chấp rằng mình là cái
thân này, là dáng dấp kia là khuôn mặt nọ… là những đức
tánh, những cố tật, những sở thích, những buồn thương
giận ghét đắp đổi liên miên… thì cái gì sẽ xảy ra?
(xin bảo đảm với em rằng, chúng ta sẽ không nát ra thành
bụi như ba viên gạch kia đâu!)
Hiểu
rõ được chỗ này, chúng ta sẽ thoát được kiếp đọa
đày của loài người, tức là “phá nhân đọa” vậy.
Tử
Uyên Thê
Tử
Uyên Thê là một quan đại thần thờ vua Tề Giản Công đời
Chiến quốc. Vua Tề bị một quyền thần giết.
Giết xong, y sai bộ hạ đến dụ Tử Uyên Thê theo phe mình,
Tử Uyên Thê ung dung nói:
-
Người muốn cho ta vào cùng phe là vì cho ta là người trí
chăng? Bầy tôi giết chết vua mà ta không can ngăn
nổi, tức là vô trí. Cho ta là nhân chăng? Nếu thấy
lợi mà làm chuyện bất chánh thì ta là hạng bất nhân, cho
ta là dũng chăng? Bị người uy hiếp mà sợ hãi thì chẳng
phải là dũng. Nếu ta không có đủ ba điều kiện ấy
thì dù có về cùng bè đảng với ngươi cũng chẳng lợi ích
gì cho ngươi. Còn nếu ta đủ ba điều kiện ấy thì
đời nào ta chịu theo ngươi mà dỗ với dành.
Tên
quyền thần nghe xong đành chịu, không thể bắt tội mà cũng
không dụ dỗ Tử Uyên Thê được.
Em
thân mến!
Người
quân tử thời xưa lấy ba đức tính TRÍ NHÂN DŨNG làm tiêu
chuẩn để thờ vua giúp nước. Câu đáp ung dung mà hay
tuyệt diệu của Tử Uyên Thê đã giúp ông thoát khỏi một
tình trạng nan giải. Ðây không phải là một điều luận
biện suông ngoài môi mà thật là phải thực nghiệm mỗi ngày,
ông mới có một câu đáp đơn giản mà hiệu dụng như vậy.
Nho
gia có ba tính TRÍ NHÂN DŨNG để xử thế thì chúng ta – hàng
tăng đồ nhà Phật cũng TRÍ BI DŨNG là ba đức mà không ai
có thể thiếu được.
Trên
bước đường học đạo, tu đạo, hành đạo, người tu Phật
thường vấp phải lỗi lầm vì thiếu TRÍ, BI và DŨNG.
Do thiếu Trí nên nhiều lúc chúng ta luống cuống không biết
đặt để tay chân vào đâu, thiếu Bi nên chỉ thấy có mỗi
một cái bản ngã của mình cùng với những niềm vui nỗi
sầu của nó, thiếu Dũng nên mỗi khi gặp bát phong nghịch
cảnh là nước mắt đoanh tròng.
Học
đạo, tu đạo, hành đạo là ba danh từ nhưng chỉ là một
giai đoạn mà thôi. Cả ba đều được thực thi trong
mỗi khoảnh khắc ngắn ngủi của hiện tại. Nếu kẻ
sĩ người đời, trên đường phò vua giúp nước, bị sa vào
cảnh “thân bại danh liệt” vì bị rơi vào cạm bẫy của
ngũ dục: tài sắc danh thực thùy (tài, sắc, danh, ăn và ngủ)
thì hàng sứ giả của Như Lai cũng bị lâm vào một hoàn cảnh
tương tự.
Thông
thường chúng ta sợ bệnh hoạn, đói khác làm gián đoạn
đường tu, sợ công việc đa đoan trong một tập thể đại
chúng làm phí thời giờ tu học. Vậy mà oái ăm thay,
như em thấy đó, chúng ta chưa nghe hay thấy một vị tăng hay
ni nào bị chết vì sốt rét, kiệt sức vì những công việc
rẫy bái ruộng nương, bỏ tu vì những chức vụ đa đoan trong
tu viện… Mà nhan nhản trước mắt em và tôi vô số tu sĩ
bỏ cuộc vì chạy theo những miếng mồi “tài, sắc, danh
lợi…”
Như
vậy ta có nói như Tử Uyên Thê mỗi khi có người đến rủ
rê ta cộng tác làm những việc khu danh trục lợi, được
mệnh danh là Phật sự rằng:
-
Nếu bần đạo có đủ Trí, thì bần đạo biết rõ điều
gì nên làm, nếu bần đạo đây có đủ Bi thì chuyện lợi
tha là một điều dĩ nhiên, nếu bần đạo có đủ Dũng lực
thì không bị tiền tài danh lợi quyến rũ được. Ngược
lại, nếu bần đạo thiếu ba đức tính đó, thì quý vị
có rủ rê cũng chẳng ích lợi gì đâu!
Ậy…
tôi xin nhắc lại, câu nói trên chỉ nên nói thầm trong bụng
thôi nghe… kẻo lọt vào tai người khác, họ sẽ bực ghê
lắm đó! Tự nói thầm với mình để ngăn ngừa những
tâm niệm tham đắm vừa nảy sinh trước miếng mồi ngũ dục.
Nhưng,
còn ba đức tính Trí Dũng Bi thì chúng ta phải kiếm nơi đâu
đây?
Em
thân mến!
Thật
là vui mừng biết bao khi trong một bản kinh như Hoa Nghiêm chẳng
hạn, đức từ phụ đã quả quyết: “Tất cả chúng sanh
đều có đầy đủ đức tướng trí huệ như ta không khác.”
Như
vậy muôn đức còn có nữa là ba đức. Và muốn phát
huy ba đức này, nói theo Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma thì chỉ cần
quán tâm là đủ. Công việc quán tâm là chuyện chúng
ta làm hằng ngày. Hay nói một cách giản dị hơn, khi
nào em tỉnh táo, lòng rảnh rang, không vướng mắc về những
ý niệm, tính toán TA và CỦA TA… lúc ấy, chính là TRÍ.
Chính cái tâm không việc này mới làm em an vui thoải mái,
do đó mà ta mới có một tình yêu thương giao cảm thật sự
với tha nhân, đó chính là BI. Và cũng chính nhờ cái
tâm không ấy em mới có thể tiếp ứng dễ dàng với ngoại
cảnh đương đầu với bát phong, mà không phải sụt sịt
khóc. Ðây chính là DŨNG vậy.
Như
thế, học đạo chính là học những “đường đi lối về
của vọng tâm, của những ý niệm ngã và ngã sở.”
Tu đạo là “bình tĩnh sáng suốt, không để những ý niệm
ấy đánh lừa phi phối.” Hành đạo tức là thực hành
những điều mình đã học và tu ngay trong cái khoảnh khắc
hiện tại này vậy.
Tự
lợi bao gồm cả lợi tha – tu đạo tức là hành đạo.
Em có thấy như vậy không? Nếu em chưa thấy rõ điều
này, thì tôi xin… thú thật với em rằng, những điều vừa
viết trên đây, chỉ thỉnh thoảng mới có trong tâm tôi, chứ
chưa được thường hằng. Do không thường hằng nên
ba đức BI TRÍ DŨNG dù có sẵn đầy đủ như lời Phật
dạy, chúng ta cũng thật là lúng túng và vụng về mỗi khi
đem ra sử dụng. Vì vậy mà thỉnh thoảng, tôi cũng như
em vẫn thường cứ bối rối không biết đặt để tay chân
vào đâu, có lắm khi không thương ai hết (nếu dám nói là
ghét, là ganh…) và òa lên khóc mỗi khi thấy bát phong lảng
vảng đến gần.
Nhưng
mà không sao đâu! Lúc lúng túng ta cứ việc lúng túng,
lúc ghét ganh cứ biết rõ là mình ghét ganh, khi muốn khóc
cứ òa lên khóc, xong chúng ta chậm rãi hỏi mình rằng: “Ai
lúng túng? Ai ghét? Ai ganh? Ai buồn? Ai khóc?” Chẳng có
gì đáng sợ hãi khi phải lâm vào những tình trạng đó vì…
ai cũng như ai “như nhau dọc mũi ngang mày” mà lị.
Trăng
khuyết nhưng sẽ có ngày tròn. Xin hẹn gặp em vào một
ngày mà “lòng ta vằng vặc trăng rằm trung thu” vậy!
Khi
Quạ Trổ Tài
Một
chú quạ đang đậu trên cành cây cao, thấy chim đại bàng
cắp một chú cừu con tha đi, liền lên tiếng phẩm bình:
-
Ðồ ngốc! Tha một con cừu bé tí tẹo thế kia làm gì cho
bõ công. Phải tay tôi thì…
Muôn
chim nghe thế liền hỏi:
-
Thế bác làm sao?
-
Tôi chọn con to nhất đàn kia chứ!
-
Nói thì dễ nhưng làm thì khó lắm bác ơi!
Quạ
liền trổ tài, giăng cánh bay lượn mấy vòng. Xong giương
móng quặp vào lưng một con cừu to béo nung núc. Nhưng
khốn nỗi sức quạ không tài nào nhất nổi con cừu… mà
quạ cũng không biết làm sao để gỡ đôi chân ra khỏi đám
lông cừu dày cộm. Ông chăn cừu thấy thế đến nện
cho quạ một trận thừa chết bán sống.
Em
thân mến!
Chê
bai dèm pha, chỉ trích việc của người là một điều rất
dễ dàng, nhưng làm bằng người là một điều rất khó khăn
gấp bội. Có lẽ vì vậy mà chúng ta thường làm chuyện
dễ dàng ấy hằng ngày chăng?
Chiếc
Gương Soi Mặt
Xưa,
có một anh nhà quê lên phố chơi. Ðến hàng bán gương
soi mặt, cầm lấy một tấm, thấy gương mặt của mình phản
chiếu trong đó, anh ngạc nhiên thầm nghĩ:
-
Hay là ta mua chú chàng này về để sai vặt vậy!
Và
anh liền mua tấm gương.
Về
đến nhà, anh vội vàng gọi vợ:
-
Bu nó ơi! Ra mà xem. Tôi lên phố mua được cái này
hay lắm!
Chị
vợ tất tả chạy ra, anh mỡ giấy báo, chìa tấm gương cho
chị vợ xem. Nhác trong thấy chị đã ngồi bệt xuống
nền nhà, bù lu bù loa khóc kể ầm ĩ.
-
Hu hu… hu hu…! Anh đi lên phố rước con quỷ cái đó
về đây… để tôi tự vận, tôi chết, tôi giết hết mấy
đứa nhỏ cho anh rảnh rang mà sống với con quỷ cái đó..
hu hu hu hu…
Anh
chàng chưng hửng, không biết nói gì thì chị vợ đã vật
vã kể lể:
-
Ối, cha mẹ ơi! Ðàn ông năm bảy lá gan… lá ở với
vợ… lá toan cùng người… Một tay tôi trong nhà ngó cửa,
nuôi mẹ dạy con… để người ta đi lên phố mà rước con
quỷ cái đó về…
Bà
mẹ chồng ở nhà sau, nghe tiếng ồn ào, chạy ra, cầm lấy
tấm gương nguýt con dâu:
-
Mụ đó già cúp bình thiết rồi, đáng tuổi tao mà mày còn
ghen tương nỗi gì… không biết.
Em
thân mến!
Ðây
là một câu chuyện vui mà chúng ta nghe kể thường trong những
lúc trà dư tửu hậu. Nhưng có bao giờ em thấy rằng,
mỗi người chúng ta đều lầm lẫn giống hệt các nhân vật
trong câu chuyện trên chăng?
Trong
cuộc tương giao với em, tôi ít khi nào được nhìn em như
hiện diện trước mắt tôi, hồn nhiên, vui tươi, trong sáng
như tiếng nói nụ cười, khuôn mặt của em đang hiện hữu.
Mà, dường như bao giờ, tôi cũng phủ chụp lên hình ảnh
em những bóng dáng của quá khứ, trong những lần tương giao
trước, khi em xúc phạm hay làm vừa lòng tôi ra sao đó.
Hay nói đúng hơn là tôi chỉ nhìn em bằng những gì trong tâm
thức tôi phóng chiếu ra. Và theo hình ảnh phóng chiếu
đó, tôi sẽ mỉm cười như anh chồng hoặc bù lu bù loa khóc
như chị vợ trong câu truyện trên đây.
Ngược
lại, em cũng nhìn tôi bằng tất cả những gì em nghĩ hay tưởng
tượng về tôi… rồi buồn thương giận ghét tiếp liền
theo đó.
Sự
lầm lẫn này, danh từ chuyên môn của duy thức học gọi là
“BIẾN KẾ SỞ CHẤP.” Do cái tình chấp này mà tôi
cũng như em, sống giữa cõi đời đầy trăng thanh gió mát
nhưng muộn phiền khôn nguôi.
Hiểu
rõ những hình ảnh đó chỉ tùy duyên thôi, không có tính
cách cố định, nhất thời chứ không vĩnh cửu trường tồn…
thì chúng ta cũng sẽ đỡ khổ ghê lắm. Hiểu như thế,
duy thức học gọi là Y THA KHỞI.
Và
cho đến khi nào, chúng ta gỡ hết những hoài niệm, ngôn từ,
không để chúng xen vào giữa ta và nhân vật đối diện…
Vẫn thấy nghe, hiểu biết, lãnh hội rất rõ ràng nhưng không
còn dấu vết của tình chấp nữa… Cái nhìn này được gọi
là VIÊN THÀNH THẬT, đó em!
Như
thế, trong sự tương giao, nhìn ai, ta cũng thấy sự phản chiếu
của chính mình. Do đó mà đức từ phụ của chúng ta
nhìn thấy chúng sanh nào ngài cũng bảo: “Các con đều có
đầy đủ Phật tánh.” Còn chúng ta thì luôn luôn cằn
nhằn: chị này sân, anh nọ tham, bà kia xảo quyệt, mụ nọ
làm hồ, anh nớ chanh chua… Ối, giời đất ơi! Làm sao
tôi ở với mấy người cho nổi? Cây muốn lặng mà sao
gió chẳng ngừng…”
Vì
thế, chúng ta chỉ còn một lối thoát cuối cùng là cầu về
cõi cực lạc để câu hội cùng Phật và thánh chúng Bồ Tát
mà thôi.
Ngựa
Nhà
Ngựa
rừng thấy ngựa nhà bèn phân bì và khen ngợi:
-
Anh trông mập quá, thức ăn của anh mới ngon ngọt làm sao!
Ðến
khi thấy người ta chất đồ lên lưng ngựa, tra hàm thiếc
vào và thúc nó bằng roi gậy, bắt kéo xe thì ngựa rừng bèn
nói:
-
Ồ, này người anh em! Bây giờ thì tôi không ganh tỵ nữa,
vì tôi đã biết anh trả giá cho cuộc sống sung túc bằng
những gì rồi.
Em
thân mến!
Không
có món quà nào mà cuộc đời trao tặng cho ta lại không ghi
giá phải trả ở phía dưới.
Cụ
Già Tu Mướn
Thiền
sư Bạch Ẩn Huệ ở Nhật Bản có một tục gia đệ tử.
Ông đệ tử này thường đến than phiền rằng cha già của
y, dù tuổi đã cao, vẫn cứ mải mê làm việc kiếm tiền
chứ không chịu tu hành gì ráo. Mỗi lần y nhắc nhở
thì ông cụ quả quyết khẳng định:
-
Nếu chuyện tu hành mà té tiền té bạc thì hãy nói với ta,
bằng không thì đừng hòng!
Hôm
nọ nghe xong nỗi băn khoăn của người đệ tử, thiền sư
bảo:
-
Chiều nay con hãy về bảo với cha con rằng: Hòa thượng Bạch
Ẩn bận bịu công việc quá đỗi nên không thể tu hành như
ý muốn được. Ngài nhờ con tìm một người tu mướn.
Cứ 10 chuỗi niệm Phật là một quan tiền. Cần chọn
người trung hậu làm ăn sòng phẳng để ký giao kèo trao đổi.
Người làm mướn có thể lãnh tiền mỗi ngày hoặc hàng tuần
cũng được.
Ông
đệ tử y lời, trở về thưa với cha mình. Nhận thấy
rằng đây quả là một công chuyện làm ăn té tiền té bạc
hẳn hoi, ông lão sốt sắng nhận lời. Thêm vào đó,
ngoài 10 xâu chuỗi niệm Phật ăn tiền ông còn hoan hỷ biếu
không cho Hòa thượng hai xâu nữa.
Giao
kèo đã ký kết, ông cụ cứ đến chùa lãnh tiền hàng ngày.
Về sau để khỏi mất thì giờ, cụ để dồn hằng tuần
mới lãnh.
Bẵng
đi một thời gian không thấy ông cụ đến lãnh tiền.
Người con theo lời dạy của Hòa thượng, cứ để cha già
làm theo ý muốn. Ngoài ba bữa ăn ông cụ ngồi ngay ngắn
trước điện Phật và làm mướn. Cho đến một hôm,
thấy cha mình cơ hồ đã ngưng lần chuỗi, mắt khép nhẹ,
hơi thở điều hòa, nhẹ nhàng. Người con liền đến
báo tin cho Hòa thượng hay.
Thiền
sư Bạch Ẩn đến tận nơi quan sát. Thấy cụ già dáng
ngồi có hơi nghiêng, do tuổi tác chất chồng, nhưng mặt mũi
hồng hào. Gương mặt ông phảng phất một niềm bình
thản khinh an.
Hòa
thượng nói khẽ với người con, nhẹ như một hơi gió thoảng:
-
Cha con đã nhập định.
Thiền
sư đã dạy thiền cho ông cụ bằng cách này.
Ương
Quật Ma La
Ương
Quật Ma La là tên mà dân chúng Kiều Tất La đặt cho Ahimsaka
từ khi chàng bắt đầu chuỗi ngày tàn bạo giết người,
chặt lấy ngón tay và đeo lên cổ như một vòng hoa (Tên Ahimsaka
do cha chàng đặt có nghĩa là “Người vô tội”)
Ahimsaka
nguyên là một thanh niên khôi ngô anh kiệt của vương quốc
Kiều Tất La (Kosala). Chàng được sinh ra từ một vọng
tộc Bà La Môn. Cha chàng làm quan quốc sư cho vua Ba Tư
Nặc.
Ðược
gởi đến Hoa Thị Thành (Taxila) từ thuở bé, Ahimkasa chỉ
thụ giáo với danh sư Mani, và trở thành một sinh viên lỗi
lạc. Tài năng và đức hạnh của Ahimsaka chỉ chiếm
được lòng tin yêu của sư phụ chàng nhưng lại chuốc lấy
nhiều sự ganh tỵ ghét ghen của bạn đồng môn. Ðể
lung lạc ông thầy, các bạn đồng môn của Ahimsaka phao tin
rằng chàng có tình ý với cô vợ của Mani. Trước những
tin đồn bất chánh ấy, danh sư Mani đều tỏ ra dửng dưng
không chút xao xuyến, nhưng bà vợ trẻ của anh lại xúc động
vì ngỡ rằng chàng trai trẻ thầm yêu mình thật. Thấy
chàng khôi ngô tuấn tú, bà tìm cách lân la dọ ý, và chẳng
bao lâu bà trở nên say mê Ahimsaka một cách điên cuồng.
Một
hôm thừa lúc vắng người, bà cho gọi Ahimsaka đến và ngỏ
hết nỗi lòng. Bị chàng trai thẳng thắn cự tuyệt,
bà Mani xấu hổ đến cùng cực và bèn rấp tâm mưu hại chàng
cho bỏ ghét.
Khi
nghe chính miệng vợ mình thuật lại hành vi đê tiện
của tên đệ tử thân tín. Mani phừng phừng nổi giận.
Nhưng vốn là một tay đa mưu nham hiểm, ông không lộ vẻ
bất bình ra mặt chỉ mời Ahimsaka đến, tỏ lời thân ái
rồi bí mật bảo:
-
Này Ahimsaka! Con theo thầy học đạo đã khá lâu. Lòng
cương trực và ý chí cầu tiến của con khiến thầy rất
đẹp lòng. Vì vậy thầy nhất định chọn con làm người
kế thừa tông môn ta.
Trước
thâm tình của sư phụ, Ahimkasa bồi hồi xúc động, chàng
kính cẩn thốt lời tạ ân, thì Mani đã tiếp:
-
Môn phái của ta có một bí pháp vô cùng tuyệt diệu.
Bí pháp này chỉ được truyền trao cho những căn cơ siêu
việt. Trước khi thụ huấn bí pháp này con phải tuyệt
đối thanh tịnh vô nhiễm. Những ác nghiệp quá
khứ của con phải được rửa sạch bằng máu người thay
vì máu cừu dê như bọn phàm phu tục tử. Vậy bây giờ
ta trao cho con thanh gươm thừa kế này, con phải lập tức khởi
hành đi đến rừng Jalam để khởi đầu cuộc sám hối, con
chỉ trở về đây gặp ta khi đã giết xong một nghìn người
không hơn không kém.
Ahimkasa
sững sờ, chàng không muốn tin rằng những lời vừa nghe lại
được thốt ra từ miệng của con người khả kính thánh thiện
mà chàng đã hết dạ kính yêu. Thấy chàng trai do dự,
Mani liền đem hết tài hùng biện ra thuyết phục. Cuối
cùng Ahimsaka đành phải vâng lời, gắng gượng ra đi mà lòng
hoang mang khôn tả.
Khi
vừa hạ sát xong nạn nhân đầu tiên, Ahimkasa kinh hoàng đến
điên dại. Từ đó gặp ai chàng cũng vung gươm chém liền,
bất kể nam nữ, già trẻ thân sơ. Tiếng than khóc của
các gia đình nạn nhân vang đến tai vua quan, nhưng tất cả
đều bất lực, bó tay trước tài nghệ vô song của Ahimsaka.
Dân chúng run sợ gọi chàng là vô não - tức là người mất
trí.
Vô
não chặt lấy ngón tay út của nạn nhân sưu tập thành một
chuỗi dài treo lòng thòng trên cây, về sau sợ quạ diều tha
mất bộ sưu tập độc đáo ấy, chàng lại đeo vào cổ giữ
khư khư như một bảo vật. Dân chúng lại đổi tên chàng
thành Angulimala, có nghĩa là “chuỗi ngón tay.”
Câu
chuyện về Angulimala đến tai Phật, nên một hôm trên đườngg
du hóa, đấng đạo sư cố ý chọn con đường xuyên qua rừng
Jalini, nơi tên hung thủ khát máu đang hùng cứ, bất chấp
những lời can ngăn của cư dân vùng lân cận.
Trong
các kinh sách còn ghi lại rằng: Ðức đạo sư xuất hiện
lúc chàng Angulimala vừa giết xong nạn nhân thứ 999. Thấy
bóng ngài Angulimala vô cùng mừng rỡ, nghĩ rằng đây là một
cơ hội tốt để chàng hoàn tất sứ mạng mà tôn sư chàng
đã giao phó. Angulimala rảo bước đuổi theo Phật, chiếc
gươm đẫm máu cầm sẵn nơi tay, đức đạo sư dùng thần
thông khiến Angulimala không tài nào đuổi kịp ngài, dù y đã
thi triển hết tài nghệ. Cuối cùng Angulimala đành dừng
chân cất tiếng gọi:
-
Ðứng lại! Ðứng lại! Bớ sa môn!
Ðấng
đạo sư bình thản đáp:
-
Này Angulimala! Dù Như Lai đang đi Như Lai đã dừng bước. Còn
con, con đã dừng bước hay chưa?
Angulimala
ngạc nhiên thầm nghĩ:
-
Hàng sa môn đầu trọc này không bao giờ nói láo. Vậy
mà ông sư này ổng lại nói là ổng đã dừng chân, còn ta
thì đang đi. Thế nghĩa là sao?
Angulimala
liền hỏi:
-
Này sa môn! Ông đang đi chính tôi mới là người dừng chân.
Sao ông lại nói năng tương phản thế, ông muốn nói gì?
-
Ðúng vậy, này thanh niên! Như Lai đã dừng chân và dừng
chân mãi mãi. Như Lai đã khước từ, vứt bỏ không còn
hành hung hay gây thương tổn cho một sinh vật nào. Còn
con, bàn tay đang đẫm máu của đồng loại. Sao con lại
đem sự đau khỗ hãi hùng cho người khác để mưu cầu hạnh
phúc cho riêng mình? Vì thế mà ta bảo rằng Như Lai đã
dừng còn Angulimala thì đang tiếp tục.
Angulimala
bối rối. Chàng im lặng, lặng lẽ nhìn đấng đạo sư
hồi lâu. Thái độ từ ái cùng dung mạo phi phàm của
ngài khiến chàng cảm thấy an tâm và lấy lại được sự
bình tĩnh khi xưa: “Trước đây còn thơ ấu, ta có nghe
thiên hạ đồn đãi rằng sa môn Cồ Ðàm là một bậc giác
ngộ. Ngài có một dung nhan sáng rỡ và một giọng nói
rất là từ hòa thân ái, có lẽ đây là ngài chăng?
Angulimala
bèn vứt gươm và quỳ gối trước mặt đức Phật, hỏi:
-
Bạch sa môn! Ngài có phải là sa môn Cô Ðàm không?
Là con của đức vua Tịnh Phạn?
-
Ðúng vậy, này Angulimala! Con đã vứt bỏ thanh gươm đẫm
máu kia, có nghĩa là con đã vứt bỏ con đường lầm lạc
cũ, con có cần Như Lai giúp đỡ điều gì không?
-
Bạch sa môn, đã từ lâu, con không hề quỳ lạy một ai, mà
ngược lại ai thấy con cũng run rẫy quỳ mọp van xin được
tha mạng. Con đường này không ai dám lai vãng một mình,
mà thiên hạ thường rủ nhau đi từng đoàn hàng trăm người.
Bạch sa môn! Con đã từng nghe rằng có những sinh vật bị
khắc phục bằng võ lực, bằng cù móc hay roi vọt. Nhưng
con, một con thú hoang đàng cuồng dại, lại được chế ngự
bởi một người không gươm dao hay roi vọt.
-
Bạch sa môn! Hình bóng từ ái của người đã khiến
con muốn trở về với con đường thuần lương sống yêu thương
và giúp đỡ đồng loại như những ngày xa xưa, lúc con chưa
điên loạn… Nhưng ai, ai có thể cho phép chở che và giúp
đỡ một con người như con - người đã giết chết nghìn
nhân mạng?
-
Này thanh niên, trên thế gian này có hai hạng người được
xem là thanh tịnh: hạng thứ nhất là người không hề gây
tội lỗi, hạng thứ hai là kẻ gây tội nhưng biết ăn năn
và không bao giờ tái phạm. Nếu lòng con tha thiết muốn
hoàn lương Như Lai sẽ giúp con toại nguyện.
-
Bạch sa môn, con không dám nghi ngờ gì về lòng từ bi bao la
của ngài đối với con. Nhưng con đã gây tạo một ác
nghiệp mà có lẽ không một ai trên thế gian này dám làm.
Làm sao con có thể ước mơ làm đệ tử của sa môn Cù Ðàm,
một người mà suốt đời chưa hề làm xúc não bất cứ ai?
-
Này thanh niên! Ví như có một gian phòng tăm tối suốt cả
nghìn năm dài. Nếu muốn thắp sáng cho nó, con cần phải
đốt bao nhiêu ngọn đèn và mất bao nhiêu lâu để dẹp cho
nó tươm tất?
-
Bạch sa môn, bóng tối dù đã ngự trị căn phòng suốt nghìn
năm nhưng chỉ cần mỗi một ngọn đèn được thắp lên thì
bóng tối sẽ tan ngay, và thời gian để dọn dẹp căn phòng
thì tùy thuộc vào khả năng siêng hay nhác của từng người.
-
Cũng vậy, này thanh niên dù con đã sát hại cả nghìn đồng
loại, nhưng nếu con thành tâm cải hối, thắp lên ngọn đèn
bằng ánh sáng trí huệ của con thì bóng tối ác nghiệp u
mê sẽ tan biến ngay. Con vẫn có cơ hội ngộ đạo như
bao nhiêu người khác. Ðó là điều mà Như Lai xác quyết
với con.
Và
trưa hôm ấy đức Thế Tôn đi khất thực về với Angulimala
làm thị giả, chàng đã vứt bỏ chuỗn ngón tay, xuất gia
làm tỳ kheo. Nhưng các bạn đồng phạm hạnh vẫn theo
cư dân gọi chàng là huynh Angulimala.
Một
hôm vua Ba Tư Nặc, vua nước Kiều tát lai đến yết kiến
Phật. Thấy long nhan có vẻ u sầu, đấng đạo sư bèn
thăm hỏi:
-
Này đại vương! Vì sao mà mặt mũi ủ dột như thế?
-
Bạch Thế Tôn, suốt mấy tháng qua con mất ngủ vì hành vi
khát máu của một tên du đãng ở rừng Jalini. Dân chúng
gọi nó là Angulimala vì hắn chuyên giết người để lấy
ngón tay kết vòng đeo cổ. Chính quyền địa phương cùng
quân triều đình mất không biết bao nhiêu công của mà vẫn
chưa trừ khử được tên vô hại ấy. Ngày nào con cũng
nghe báo cáo có người bị giết về tay hắn. Chính vì
vậy mà trong thời gian qua con không có thời giờ rảnh rỗi
đến thăm viếng đức Thế Tôn.
-
Ðại vương! Nếu hiện giờ có người báo cáo với đại
vương hay rằng Angulimala đang ở cách đại vương chưa đầy
50 bước thì đại vương nghĩ sao?
Vua
Ba Tư Nặc liền đứng phắt dậy dòm nhớn nhác tóc râu đều
dựng ngược, mặt biến sắc nói nhanh:
-
Con sẽ huy động quân sĩ giết hắn ngay lập tức để trừ
hậu hoạn cho cư dân Kiều Tát La.
-
Nhưng nếu Angulimala cạo bỏ râu tóc xuất gia làm tỳ khưu,
thì đại vương sẽ đối xử với y như thế nào?
-
Bạch Thế Tôn! Nếu đó là một chuyện có thật thì con sẽ
đầu thành đảnh lễ đấng điều ngự hy hữu của muôn loài.
Nhưng con không tin rằng tên mất dạy ác ôn đó lại có thể
thay tâm đổi tánh cho được.
Ðức
Phật mỉm cười, đưa tay chỉ một sa môn trẻ tuổi, hình
dung tuấn tú, uy nghiêm đang ngồi trầm tư trên một tảng
đá gần hương thất bảo:
-
Này đại vương! Vị tỳ kheo có dáng điệu từ hòa kia
trước đây ba ngày được dân chúng gọi là hung thần rừng
Jalini.
Vua
Ba Tư Nặt giật mình kinh ngạc hồi lâu mới nói:
-
Bạch Thế Tôn! Nếu những lời nói trên không được
thốt ra từ kim khẩu của Thế Tôn thì con không thể nào tin
được. Bạch Thế Tôn! Con muốn được diện kiến cùng
tôn giả ấy.
-
Ðại vương cứ tự tiện.
Vua
Ba Tư Nặt bèn rời chỗ ngồi, e dè đến chỗ tôn giả Angulimala
đang rồi vái chào và hỏi:
-
Thưa tôn giả, ngài tên là gì?
-
Thưa đại vương, tên của tôi là Vô Hại, nhưng vì một ác
nghiệp trước ngày xuất gia nên mọi người đều gọi tôi
là Angulimala, nghĩa là “Chuỗi ngón tay.”
-
Thưa tôn giả, trước đây một tuần, ngài ở đâu và làm
gì?
-
Tâu đại dương, tôi trú ngụ tại rừng Jalini và làm tên
hung thần ở vùng ấy.
-
Bạch đại đức, thật là hy hữu! Thật là kỳ diệu.
Xin đại đức cho phép trẫm được cúng dường y bát và ngọa
cụ.
-
Thưa đại vương! Các bạn đồng phạm hạnh đã cho tôi
đầy đủ mọi thứ cần dùng…
Và
đại vương Ba Tư Nặc sau khi đảnh lễ đấng đạo sư tán
thán và cáo từ ra về, lòng nhẹ nhõm như một phiến mây.
Tỳ
kheo Angulimala tuy đã xuất gia và được đấng đạo sư ân
cần khai thị nhưng lòng thầy luôn luôn bị xao động.
Lúc nào và ở đâu, thầy cũng nghe văng vẳng tiếng than khóc
cùng rên la của các nạn nhân bị chính thầy sát hại
dạo trước. Trên đường đi khất thực dân chúng thường
nhìn thầy với đôi mắt thù hận lẫn sợ hãi. Tuy đã
có lệnh bảo hộ của vua Ba Tư Nặc, nhưng cũng rất nhiều
khi, thầy trở về tinh xá với y bát tả tơi, thương tích
đầy mình, thầy vẫn im lặng chịu đựng không hề kêu van
hay lẩn trốn.
Ngày
kia, lúc đi thọ bát tôn giả Angulimala gặp một thiếu phụ
đang lâm bồn. Gặp sản phụ nằm rên siết bên đường,
động lòng bi mẫn, thầy trở về bạch đức đạo sư, xem
có cách gì cứu giúp nạn nhân không? Phật dạy:
-
Con hãy đến gặp người thiếu phụ ấy và chúc lành cho nàng
như thế này:
-
Thưa chị, từ ngày sinh ra đến nay, tôi chưa hề cố ý tiêu
diệt đời sống một sinh vật nào. Do lời nói chân thật
này, ước mong chị được mẹ tròn con vuông.
Tỳ
kheo Angulimala bối rối:
-
Bạch Thế Tôn! Làm sao con dám thốt ra câu ấy… khi con
là “chuỗi ngón tay”?
-
Này tỳ kheo, từ ngày sinh ra cho đến nay có nghĩa là từ khi
con xuất gia, sanh vào thánh tộc vâng giữ đời phạm hạnh.
Thầy
tỳ kheo trẻ tuổi liền hoan hỷ hối hả ra đi. Người
thiếu phụ vẫn còn nằm rên siết bên vệ đường. Tôn
giả Angulimala liền gởi lời chúc lành đến cho nàng sau một
bức mành trúc. Kỳ diệu thay, một chú bé kháu khỉnh
liền chào đời trong sự vui mừng của tất cả mọi người
hiện diện… Từ ngày đó các bạn đồng phạm hạnh gọi
thầy Angulimala là Paritta có nghĩa là “chúc lành.”
Và
cũng kể từ ngày hôm ấy, tôn giả Paritta thêm vững niềm
tin, tinh cần tu tập, chẳng bao lâu thầy đắc quả A La Hán.
Câu chúc lành của thầy gởi đến người thiếu phụ lâm
bồn dạo nọ được xem như một bài kệ cầu an và được
lưu truyền làm mọi người đều kinh ngạc. Người ta
muốn biết rằng tại sao một con người hung bạo, đầy dãy
nghiệp chướng như thế mà lại có thể đạt đến A La Hán
quả, một quả vị mà các bậc hiền nhân đầy phước báu
như tôn giả A Nan vẫn chưa chứng đắc.
Ðể
giải đáp, đức đạo sư đã dạy:
-
Trên thế gian này, mọi người đều bình đẳng với nhau ở
khổ đau cũng như giác ngộ. Thầy Angulimala trước kia
là người hung bạo, đầy dãy nghiệp chướng như thế, nhưng
về sau thầy đã tinh cần miên mật phát huy trí huệ sẵn
có của thầy, đánh bạt hết ác nghiệp, giống như vầng
trăng ló dạng ra khỏi mây mù, chiếu sáng thế gian. Lời
dạy của đấng đạo sư đã được kết tập thành câu pháp
cú 173 lưu truyền cho đến ngày nay. Cũng như trong kinh
Pháp cú câu thứ 422 đã ghi lại lời khen ngợi của đấng
đạo sư khi ngài đề cặp đến đức vô úy lòng khiêm tốn
của tỳ kheo Angulimala tức là La Hán Paritta:
“Người
vô úy, cao thượng như một bậc đại thánh, người đã tự
khắc phục không còn dục vọng, người đã rửa sạch mọi
nhiễm ô, đã giác ngộ, người ấy Như Lai gọi là Bà La Môn.”
Danh
từ Bà La Môn trên được người Ấn Ðộ dành để gọi những
kẽ thuộc giai cấp cao sang quyền quý nhất trong xã hội loài
người.
Vakkali
Vakkali
là một thanh niên Bà La Môn thành Xá Vệ. Thời niên thiếu
và thanh xuân của chàng trôi qua bình thản trong tình yêu của
cha mẹ và các bạn hữu đồng trang lứa. Cho đến một
hôm, tâm tư chàng trẻ tuổi bỗng dưng bị xáo động bởi
một hình bóng của sa môn áo vàng. Tư thế uy nghiêm,
cốt cách phi phàm cùng tướng hảo vô song của vị tu sĩ khiến
chàng trai trẻ vô cùng kinh ngạc. Vakkali đứng ngây người
ra chiêm ngưỡng phong cách vị tu sĩ và bỗng cảm thấy lòng
nhem nhúm một sự tôn kính vô bờ đối với con người xa
lạ đó. Chàng nghĩ thầm:
-
Quái lạ! Không ngờ trên cõi đời này lại có một người
đẹp trai lạ lùng đến thế! Ôi! Ước gì ta được kề cận
bên người để nhìn cho thỏa thích.
Vakkali
dò hỏi và được biết rằng vị sa môn đó xưa kia là một
ông hoàng vương giả, đã từ bỏ ngai vàng đi tầm đạo và
giác ngộ. Người ta bèn gọi Ngài là sa môn Cồ Ðàm
và hàng đệ tử thì cung kính gọi Ngài là Thế Tôn.
Vakkali
bèn xin xuất gia vào tăng đoàn sống đời khất sĩ. Vì
mục đích xuất gia của chàng không lấy gì làm cao xa cho lắm,
nên hằng ngày ngoài những giờ đi bát cần thiết, tỳ
kheo Vakkali luôn luôn tìm một chỗ ngồi thuật tiện để được
chiêm ngưỡng từ dung đức đạo sư cho thỏa thích. Thầy
chẳng quan tâm gì đến việc học kinh hay những bổn phận
của một chú tiểu sơ cơ. Ðấng đạo sư biết rõ tâm
niệm của Vakkali nhưng Ngài vẫn im lặng chờ đợi, như chờ
đợi ngày “trăng đến rằm thì tròn” vậy. Và ngày
ấy đã đến.
Một
hôm, đức đạo sư quay lại bảo Vakkali khi chàng đang say đắm
nhìn Ngài:
-
Này Vakkali! Ðâu có gì thích thú khi nhìn ngắm một hợp
thể bất tịnh gọi là thân ta. Chỉ khi nào Vakkali nghe
lời Như Lai dạy, thấy được pháp sinh diệt thì mới gọi
là thấy Như Lai.
Nhưng,
bất kể lời khuyên của Phật, Vakkali không thể nào buông
tầm mắt khỏi đức đạo sư… Cuối cùng đức đạo sư
đành rời Xá Vệ và cấm không cho Vakkali đi theo.
Ba
tuần trăng trôi qua Vakkali không được nhìn thấy hình bóng
và nghe pháp âm của đấng đạo sư. Lòng sầu khổ vô
hạn, chàng tự nghĩ rằng: mình đã từ bỏ gia đình, cởi
lớp áo cao sang của một chàng công tử danh giá để vào cuộc
sống bần hàn khất sĩ, chỉ với một mục đích duy nhất
là được gần gũi chiêm ngưỡng đấng đạo sư. Thế
mà Ngài hất hủi ghét bỏ chàng trong khi Ngài rất mực từ
bi dịu dàng đối với tất cả chúng sanh, chí, đến con sâu
cái kiến.
Một
hôm quá sầu não, Vakkali nảy ra ý định quyên sinh, chàng leo
lên một đỉnh núi cao, định buông mình xuống vực sâu cho
rảnh nợ. Biết được ý định ngông cuồng của người
đệ tử trẻ tuổi, đức đạo sư hiện thân đến gần Vakkali
và cất tiếng gọi:
-
Này Vakkali! Hãy đến đây với Như Lai.
Vakkali
run lên vì vui mừng:
-
Có thật chăng? Có thật Thế Tôn gọi con? Ngài không
xua đuổi con nữa chứ?
Và
dưới bóng mát của một cội cây rừng bên tảng đá, đức
đạo sư ôn tồn bảo:
-
Này Vakkali! Tại sao con có ý định quyên sinh?
-
Bạch Thế Tôn, vì con cảm thấy quá sầu khổ, quá phiền
muộn. Con không tìm thấy niềm vui nào trong cuộc đời
khất sĩ đạm bạc này, ngoài sự chiêm ngưỡng tướng mạo
phi phàm của Thế Tôn.
-
Này Vakkali! Niềm vui nào cũng phải úa tàn… sắc thân Như
Lai dù là phi phàm đi nữa rồi cũng phải chịu sự chi phối
của già, bệnh, chết. Bất cứ pháp gì trên đời này
có sinh đều phải có diệt. Ðó là một định luật
đương nhiên. Nếu biết rõ điều ấy, ta có nên đặt
hết lòng hy vọng, ước mong bám víu vào những pháp sinh diệt
ấy mưu cầu một hạnh phúc vĩnh cửu không?
Vakkali
im lặng cúi đầu. Ðấng đạo sư liền giảng trạch
thêm cho chàng về tính chất phù du tạm bợ của hợp thể
gọi là sắc thân Ngài. Sau thời thuyết pháp, Vakkali xúc
động thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu rồi. Từ lâu con đã chạy
theo những bóng dáng phù hoa do tâm thức con phóng chiếu ra,
lấy đó làm niềm vui độc nhất của mình. Khi niềm
vui ấy bị cản trở con đâm ra buồn phiền, sầu khổ, con
quá si mê không biết rằng cái gì có sinh cũng phải có diệt.
Sắc thân Như Lai tuy đẹp đẽ vô song thật nhưng trước kia
không nay có, thì thế nào cũng sẽ trở về không. Nguồn
vui của con cũng chính là một cảm xúc nhất thời, nếu không
được nuôi dưỡng thì nó cũng sẽ lụi tàn. Con đã
hiểu rồi và con cũng xin hứa cùng Thế Tôn là từ nay Vakkali
chỉ thực hành những lời giáo huấn của Như Lai thay vì chiêm
ngưỡng từ dung của Ngài như dạo trước.
-
Hay lắm! Này tỳ kheo, nếu lòng con đầy phỉ lạc, đầy niềm
tin nơi lời dạy của Như Lai thì chẳng bao lâu con sẽ đạt
được hạnh phúc tối thượng.
Và
thế rồi, Vakkali từ giã đức đạo sư, độc cư thiền định
ngay trên đỉnh núi mà chàng định quyên sinh dạo nọ.
Ðúng như lời tiên đoán của đấng đạo sư, chẳng bao lâu
Vakkali đắc quả A La Hán. Từ đó đức Thế Tôn xếp
Vakkali vào hàng môn đệ có lòng tin chân thật nhất.
Lời dạy của Ngài cho Vakkali trên đỉnh núi dạo nọ cũng
được kết tập vào kinh tạng, thành câu pháp cú 381 lưu truyền
cho đến ngày nay:
“Thầy
tỳ kheo nào tâm đầy hoan hỷ thành tín theo lời Phật dạy
sẽ đạt tới cảnh giới tịch tĩnh, an lạc giải thoát khỏi
các hành” (pháp cú 381)
Khi
Công Tử Chê Tiền
Kàla
là con trai của nhà cự phú Cấp Cô Ðộc, một vị trưởng
giả đầy lòng kính tin, đã xuất của cải kho vàng ra mà
mua vườn cây của Thái tử Kỳ Ðà về xây tinh xá cúng dường
Phật. Vậy mà công tử Kàla lại không có cảm tình với
đức Thế Tôn và tăng chúng tí nào cả.
Vốn
được sinh trưởng trong một gia đình thế phiệt lại thông
minh tài giỏi nên Kàla được vời làm quan cận thần dưới
triều vua Ba Tư Nặc khi hãy còn rất trẻ.
Một
hôm, vua Ba Tư Nặc cùng hoàng hậu Mạt Lợi thiết trai cúng
dường Phật và tăng chúng tại hoàng cung, toàn thể triều
thần và hoàng tộc đều hoan hỷ, duy có công tử Kàla là
nhún vai phẩm bình:
-
Hoàng thượng tiêu xài thật vô lối, chẳng khác gì ông bố
của ta. Mấy ông lão áo vàng kia ăn no nê xong đi về
tịnh xá đánh một giấc tới chiều, thật là vô ích.
Ðức
Thế Tôn đoán biết được ý niệm của Kàla nên sau buổi
lễ Ngài đọc một bài kệ: “Người xan tham không thể sanh
lên cõi trời, kẻ ngu không ưa việc bố thí. Nhưng người
thiện trí lại sanh lòng tùy hỷ và do đó cũng được dự
phần an lạc.” (Pháp cú 177)
Chuyện
đến tai vua Ba Tư Nặc, Kàla liền bị đuổi ra khỏi hoàng
cung, chàng công tử nhân đó càng thêm ác cảm với Phật và
tăng chúng.
Kàla
thường tìm cách lánh mặt Phật mỗi khi cha chàng thiết trai
cúng dường. Trước thái độ của cậu con cưng, trưởng
giả Cấp Cô Ðộc rất lấy làm khổ tâm. Sau nhiều phen
rầy la vô hiệu, ông nghĩ ra một diệu kế, gọi con đến
dỗ ngọt:
-
Này Kàla! Mai này cha bận việc không thể đi đến Kỳ
Viên thọ bát quan trai được. Nếu con đi giúp cha sẽ
thưởng cho 100 đồng tiền vàng.
Vừa
nghe nhắc đến tịnh xá, Kàla đã cau mày, nhưng số tiền
quá hấp dẫn khiến chàng phân vân.
-
Mấy cái giới đó có khó giữ lắm không, thưa cha?
-
Dễ ợt! Tụi con nít trong nhà này còn làm được huống
chi là thanh niên như con.
-
Ðâu cha nói sơ cho con nghe thử…
-
Có gì đâu! Con chỉ phải giữ vỏn vẹn tám điều răn sau
đây trong 24 giờ thôi. Ðây này:
Không
giết
Không
trộm cắp
Không
dâm dục
Không
nói dối
Không
uống rượu
Không
trang điểm
Không
nằm giường cao chiếu rộng
Không
ăn quá ngọ
Ðó,
dễ quá phải không con?
Kàla
chặt lưỡi thầm tính:
-
Thôi kệ! Mình chịu khó ép xác trong một ngày một đêm để
lãnh 100 đồng tiền vàng, ngày mốt ta ăn bù cũng được.
Và
Kàla bằng lòng, không quên mặc cả:
-
Nhưng cha phải nhớ giữ đúng lời. Một trăm đồng tiền
vàng hẳn hoi đấy nhé!
-
Ðược rồi! Con yên tâm!
Hai
cha con đều yên lòng vui mừng.
Sáng
hôm sau, công tử Kàla cởi hết đồ trang sức, khoác một
manh áo thô, ăn một bữa điểm tâm thịnh soạn đến căng
bụng và gọi gia nhân thắng kiệu đi thẳng đến tinh xá Kỳ
Viên. Ðến nơi chàng cho kiệu về, tảng lờ như không
thấy ai hết, kiếm một chỗ mát mẻ, trải rơm nằm đánh
một giấc cho qua “tai nạn.”
Tờ
mờ sáng hôm sau Kàla đã đến nhà khua vang ầm ĩ và quát
tháo, hối thúc gia nhân dọn điểm tâm.
Ăn
uống và phục sức đỏm dáng xong, Kàla đến gặp cha đòi
tiền công:
-
Con đã hoàn tất nhiệm vụ mà cha giao phó, xin cha cho con số
tiền đã hứa.
Tất
cả hành động của người con không lọt khỏi cặp mắt người
cha tốt bụng. Ông trưởng giả vẫn không nản lòng,
trao tiền cho con và điềm tĩnh bảo:
-
Này Kàla! Tốt lắm! Con đã làm một việc tốt đẹp lòng
cha. Và ngày mai này cha muốn đi nghe đức đạo sư thuyết
pháp nhưng lại không rỗi rảnh. Nếu con đi giúp cha,
cha sẽ thưởng cho con 200 đồng tiền vàng. Con nghĩ sao?
Kàla
nghe nói đến tiền là sáng mắt, chàng vội vã nhận lời
và nghĩ bụng:
-
Cha mình ngó bộ mê mấy lão đầu trọc đó dữ dội rồi!
Thây kệ! Cờ tới tay ai nấy phất. Ðấy quả là
một cách kiếm tiền lương thiện và khoẻ khoắn nhất.
Thế
là hệt bữa trước, công tử Kàla lại đến Kỳ Viên len
vào giữa đám thính giả chen chút trước pháp tòa dự thời
pháp của đấng đạo sư, chàng hết ngoáy mũi đến gãi tay,
rung đùi… Không một pháp âm nào lọt vào đôi tai hờ hững
của chàng.
Và
Kàla lại được lãnh 200 đồng tiền vàng sau những thủ tục
như bữa trước.
Vài
hôm sau, trưởng giả Cấp Cô Ðộc lại gọi Kàla đến bảo:
-
Này con độ rày chuyện nhà quá bề bộn khiến cha không thể
nào đến hầu thăm đức đạo sư và nghe Ngài thuyết pháp
được. Nếu con có thể đi nghe và về nói lại cho cha
biết dù chỉ một bài kệ ngắn thôi, cha cũng sẽ thưởng
cho con 500 đồng tiền vàng.
Ðã
có kinh nghiệm qua hai lần trước, Kàla lập tức bằng lòng
ngay vì chàng nhận thấy rằng không có công cuộc làm ăn nào
mau phát tài bằng việc đi thăm khu vườn của mấy ông sư
đầu trọc.
Sáng
hôm ấy, Kàla đến Kỳ Viên thật sớm định bụng sẽ chỉ
nghe và nhớ một bài kệ thôi rồi sẽ bỏ trở về đi xem
hát. Với trí thông minh sẵn có, Kàla thuộc lòng ngay
một bài kệ mà đức đạo sư vừa đọc, chàng vội vã quay
về. Ði được một quãng, sực nhớ ra là mình chưa rõ
ý thú của bài kệ. Không muốn ấp úng trước mặt cha,
Kàla đành phải quay lại chăm chú nghe đức đạo sư thuyết
pháp. Như một trái cây vừa chín tới gặp phải cơ gió
giao mùa liền rơi rụng, nhờ những cơ duyên lành đời trước,
sau thời thuyết pháp của đức đạo sư, Kàla chứng ngay sơ
quả Tu Ðà Hoàn.
Lần
đầu tiên, công tử Kàla đến quỳ bên gối đức đạo sư,
đặt vầng trán thông minh, chưa có một vết nhăn của chàng
lên đôi chân trần của đức đạo sư, bày tỏ một niềm
tri ân vô bờ bến. Ðức Thế Tôn bình thản bảo chàng:
-
Này Kàla, hôm nay cha con có mời Như Lai đến nhà thọ trai…
đã sắp đến giờ ngọ rồi, chúng ta đi thôi.
Kàla
cung kính đón lấy chiếc bát của Phật và khép nép đi sau
Ngài như một chú thị giả thuần thục chính hiệu.
Cử
chỉ của Kàla ngày hôm ấy đã khiến trưởng giả Cấp Cô
Ðộc rất đẹp lòng, ông hân hoan mang tiền ra thưởng con
trước mặt quan khách:
-
Này con trai cưng! Thái độ của con làm cha vui sướng vô hạn,
dù con chưa thuyết giảng lại cho cha nghe một lời pháp nào
của đấng đạo sư, cha vẫn sẵn sàng trao cho con 1000 đồng
vàng thay vì 500 đồng như cha đã hứa.
Công
tử Kàla thẹn đỏ mặt, cúi đầu nói nhỏ:
-
Thưa cha, con không cần tiền…
-
Hãy cầm lấy tiền thưởng của cha cho con cơ mà!
Kàla
vẫn khăng khăng từ chối. Người cha ngạc nhiên sửng
sốt nhìn con rồi quay sang bạch Phật.
-
Bạch Thế Tôn! Lần đầu tiên cháu nó mới chê tiền.
Ðức
Phật mỉm cười giải thích thái độ của Kàla: