Phần
5
Thằng
Bạn Bất Lương
Một
Cách Trả Thù
Thuốc
Thành Bệnh
Bắt
Chước Thầy
Một
Bông Hồng Cho Em
Ba
Bà Hoàng Hậu
Làm
Sao Ðây
Ba
Cái Bánh Ít
Kỹ
Thuật Nhà Nghề
Ðông
Thi Nhăn Mặt
Ăn
Trộm Dạy Con
Quyển
Kinh Ði Lạc
Người
Hướng Ðạo
Khi
Người Về
Chỉ
Một Giới Thôi
Dasaka
Bảng
Chỉ Ðường
Bát
Cháo Lú
Hai
Thằng Ðệ Tử
Ô
Sào Thiền Sư
Thằng
Bạn Bất Lương
Ngày
xửa ngày xưa, có một anh chàng nọ mặt mũi cũng dễ coi nhưng
phải cái hơi ngu, chúng ta gọi anh là Tâm cho tiện.
Một
hôm Tâm kết bạn với Ý là một tên du thủ du thực, đa mưu
túc trí, chuyên nghề lường gạt chôm chỉa mà sống.
Thấy Tâm chất phác dễ tin, Ý bèn dỗ ngọt dẫn Tâm đến
một chốn xa xôi hẻo lánh chăn dê cho người để lấy tiền
lập nghiệp. Tên bất lương lấy trước sáu tháng tiền
công của bạn rồi ra đi với hứa hẹn là sẽ tìm nơi tậu
nhà cửa ruộng vườn cho Tâm.
Sáu
tháng sau, Ý đến vui vẻ báo tin:
-
Chú Ba à! Số chú thật là may mắn. Món tiền hôm
trước chú đưa cho anh chả thấm vào đâu… anh phải bù đắp
thêm gấp bội và đã tậu cho chú đầy đủ cả nhà cửa
ruộng vườn khang trang lắm! Anh những ước mong sao chú
được trở về đó để anh lo bề gia thất cho chú xong xuôi
thì có chết anh cũng cam lòng… ngặt vì tiền cưới xin hơi
đắt. Vậy chú hãy cố gắng làm công thêm một năm nữa
nhé.
Chàng
Tâm cảm động trước lòng lo lắng của ông anh kết nghĩa
nên “y giáo phụng hành.” Và tên bất lương lại cuỗm
thêm một năm tiền công nữa… rồi ra đi.
Một
năm sau, Ý lại trở về báo tin là đã lo cưới hỏi xong xuôi
cho bạn. Cô vợ đảm đang hiện ở trong ngôi nhà mới
mua dạo trước và hết lòng chăm sóc tài sản cho đấng phu
quân.
Từ
dạo đó, chàng Ý thường lai vãng đến trại dê để báo
tin nhà và thúc hối Tâm lo tiền thang thuốc cho vợ, hiếu
hỷ cho ông nhạc, quà biếu bà mẹ vợ, đồ chơi cho lũ em
vợ v.v…
Vài
năm sau, Tâm lại phải làm thêm ca đêm để có tiền gởi
cho ông anh kết nghĩa chăm sóc dưỡng nuôi giùm bầy con đông
đúc cả gái lẫn trai.
Ðàn
con tưởng tượng mỗi ngày một gia tăng, bổn phận làm cha
làm chồng càng ngày càng nặng, rút dần mòn sức khoẻ chàng
trai khờ dại.
Một
hôm biết mình sắp kiệt sức, Tâm ngỏ lời với bạn rằng
chàng muốn về nương cậy vợ con trong lúc tuổi già sức
yếu, thì Ý liền sa sầm nét mặt, giọt ngắn giọt dài, báo
hung tin:
-
Chú ơi! Biết nói sao bây giờ đêm qua một cơn hỏa hoạn
đã thiêu rụi cả nhà cửa ruộng vường lẫn vợ con chú
cả rồi… cuộc đời quả thật là vô thường. Anh không
biết làm gì hơn là cùng chia sẻ những cái tang đau đơn này
với chú vậy!
Em
thân mến!
Câu
chuyện được ngừng lại nơi đây, vì khó mà tin nổi rằng
trên đời này lại có một người khờ dại như chàng Tâm.
Nhưng…
phần chúng ta, có lầm chăng khi chấp nhận những vọng tưởng
điên đảo chợt có chợt không là bản tâm của mình?
Dưới sự dẫn dắt của cái tâm này chúng ta có đầy đủ
quê hương cha mẹ họ hàng thân quyến. Và nếu thêm
nữa là những thứ phụ tùng rắc rối như vợ chồng con cái.
Cho
đến lúc sức mòn lực kiệt… thì cuộc đời vô thường
đòi lại tất cả những cái “có” của chúng ta… Phần
ta còn trơ trọi hai bàn tay không.
Một
Cách Trả Thù
Tý
bắc ghế định lấy kẹo ăn vụng. Ngờ đâu trợt chân
té nhào. Tý lồm cồm bò dậy, tức tối muốn khóc…
Chợt
thấy con nô đứng bên cạnh, Tý móc cho nó một đá, mắng:
-
Ai bảo mày nhìn lom lom cho ông té vậy? Ðồ khốn khiếp!
Xin
lỗi nhỏ:
Mỗi
lần té nặng vì bắc ghế trèo lên cao để ăn vụng kẹo
ngũ dục, chúng ta có nên tìm một con chó để đá cho đỡ
tức và trút hết trách nhiệm lên cái mông vô tội của nó
không? (Ðỡ tức lắm thưa chư tôn giả! Nhất là loài
cẩu vốn không biết nói nên chỉ biết cong đuôi vừa chạy
vừa kêu ăng ẳng… Nhưng coi chừng! Ðừng đá nhằm
loài người mà bị chửi và bị đòn đấy!)
Tóm
lại cách tốt nhất là trút hết trách nhiệm lên đầu ông
trời, thượng đế, con tạo hoặc nhân quả, nghiệp báo, định
mệnh… còn khối thứ đỡ đòn cho chúng ta đấy, bạn ạ!
Thuốc
Thành Bệnh
Bé
đi về thăm ngoại, bà ngoại đãi bé Tý một tô cháo gà nóng
hổi, thơm phưng phức. Tý húp liền một miếng nhăn mặt:
-
Sao hổng ngon chi hết ngoại ơi!
Ngoại
nghe Tý chê, vội vã đem lên một ít muối bỏ vô tô khuấy
đều.
Tý
thưởng thức xong reo:
-
Ngon số dzách ngoại ơi! Hỏng dè có thêm một chút xíu
muối mà cháo ngon chi lạ!
Lúc
chào ngoại ra về, Tý xin ngoại một gói muối bự, đến một
chỗ vắng, Tý trút hết gói muối vào miệng… Eo ơi!
Nó mặn đến dộp lưỡi, bỏng miệng.
Em
thân mến!
Tất
cả các pháp dù là Phật pháp đi nữa, chúng ta đều dùng
một cách dè dặt như là muối biển vậy. Vừa miệng
hay dộp lưỡi đều tùy thuộc vào cách sử dụng của ta chứ
muối thì hoàn toàn vô tội.
Nếu
bây giờ khi đọc sách bắt gặp những đoạn văn kể chuyện
người xưa tu hành quên ăn, nhịn ngủ ngồi mãi chẳng nằm…
em cảm thấy thán phục và nghĩ rằng có lẽ nhờ những điều
đó mà cổ nhơn đắc đạo và em bắt chước cái hình ảnh
mà em vừa tưởng tượng ra và thán phục ấy, em cũng nhịn
ăn, bỏ ngủ, cái mặt chừ bự thì coi chừng em sẽ bị dộp
lưỡi như bé Tý vậy.
Tô
cháo ngon lành là do rất nhiều yếu tố đóng góp chứ đâu
phải chỉ nhờ muối không thôi đâu, phải không nhỏ?
Bắt
Chước Thầy
Thuở
xưa tại một vùng biên địa hạ tiện dân chúng đều mù
chữ. Mãi cho đến một hôm có người đến tự xưng
là thầy giáo đến thăm làng và dõng dạc tuyên bố:
-
Mọi người ai ai cũng có khả năng biết chữ hết. Nhiệm
vụ của tôi khi xuất hiện ở ngôi làng này là giúp cho bà
con cô bác phát triển khả năng đó, để thành một người
biết chữ như tôi không khác. Mọi người nghe nói đều
hồ hởi phấn khởi với sự hướng dẫn của thầy giáo.
Nhiều lớp học được thành lập, nhiều người đến lớp
học. Thầy giáo phát cho mỗi người một quyển vần
A B C.
Trong
nhóm người tụ hội nơi lớp học người ta ghi nhận có những
sự kiện sau:
Một
số người cho rằng khả năng biết chữ chỉ là một ân sủng
thiên liêng dành cho hạng người ưu tú nhất trong nhân loại,
nên sau khi trêu chọc số người ghi danh học, họ bỏ về.
Riêng
phần học trò với chút ít niềm tin rằng mình có thể biết
chữ, đã tìm cách phát triển khả năng ấy bằng những cách
như sau:
1-
Những người rất cảm kích trước tấm lòng của thầy giáo
đã khổ công lặn lội đến đây, nên họ xin ảnh của thầy
giáo về thờ chung với quyển vần A B C, sớm hôm lễ bái
dâng hương hoa không hề chểnh mảng.
2-
Hạng người kế vô cùng cảm phục tài năng của thầy giáo
nên cùng nhau rắp tâm bắt chước thầy từ cách đi đứng,
nói năng, ăn mặc đến nếp sinh hoạt hàng ngày. Họ
bắt chước tài tình đến độ giống thầy giáo như đúc
có
khác chăng là họ hoàn toàn không biết chữ.
Dĩ
nhiên bằng lối học trên, chúng ta dự đoán được kết quả
là sau bao nhiêu cố gắng không anh học trò nào biết chữ
cả.
Em
thân mến!
Câu
chuyện được dừng lại nơi đây vì trên thế gian này không
có một lớp học nào kỳ quặc như thế cả. Các học
trò đi học dần dần đều được biết chữ hết. May
mắn biết là chừng nào… Nhưng còn chúng ta, những người
học Phật và chưa giác ngộ (như Phật), có nên xét lại lối
học của mình không? Như ông thầy giáo kia, chư Phật
đều tuyên bố: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và
chư Phật ra đời đều một lý do duy nhất: chỉ cho chúng
sanh nhận ra và hằng sống với tri kiến Phật của chính mình.”
Và chúng ta đã học đạo giác ngộ bằng cách nào?
Nếu
chúng ta chỉ tôn thờ lễ bái và cúng dường kinh tượng bên
ngoài thì coi chừng, ta sẽ vấp phải lỗi lầm của hạng
học trò thờ cuốn vần A B C như trên.
Hoặc
chúng ta chỉ hâm mộ tôn kính thầy, tổ chư Phật, rồi rập
khuôn cuộc đời ta y hệt như cuộc sống của những người
mà ta hâm mộ thì có lẽ, bề ngoài chúng ta sẽ có một cái
vỏ đĩnh đạc nghiêm trang, nhưng bên trong lại dẫy đầy
phiền não, tương tự như hạng học trò bắt chước thầy
trên không khác.
Vậy
thì chúng ta học Phật bằng cách nào đây?
Một
Bông Hồng Cho Em
Em
Tôi
định viết cho em
Một
bài thơ tuyệt diễm
Kết
hợp bằng những ngữ từ
Chân
thành và âu yếm
Xong
Tôi
sẽ trang trọng đặt cho nó một cái tên thật kêu
Như
“Tình yêu” chẳng hạn
Tôi
định vẽ cho em
Một
bức tranh cực kỳ thanh tú
Những
nét mực sẽ nhẹ nhàng
Như
sóng vỗ lao xao
Và
trước khi ký tên
Tôi
sẽ hạ một dòng chữ bay nghiêng
(A
ROSE TO…)
“Một
bông hồng cho…”
Cầm
bút tay run
Hồn
say lảo đảo
Tim
đập dập dồn
Tôi
bối rối nhìn lên
Giữa
những cành lá xanh tươi của khu vườn mùa hạ
Bình
minh lên rực rỡ
Dịu
dàng êm từng đọt là chồi cây
Mộng
đêm qua…
…
Chỉ còn là…
…
Một thoáng mây…
Bất
chợt
Tôi
nhận ra rằng:
Em
Chỉ
là một hình bóng của chính tôi
Một
nhân dáng về em
Dù
đẹp như thiên thần
Hay
tệ như ác quỷ
Cũng
chỉ là
Một
ảo tưởng
Trong
trăm nghìn ảo tưởng
Sinh
khởi liên miên
Bất
kể đêm ngày
Nếu
tôi bảo rằng: “Ðã yêu em”
Thì
hóa ra
Tôi
đã yêu
Một
ảo tưởng của chính mình
Cũng
vì thế mà
Thay
vì
Làm
một bài thơ tuyệt diễm
Chân
thành và âu yếm
Hay
Vẽ
một bức tranh
Ðẹp
như mơ
Tôi
đành chỉ bật cười
Với
những giọt nắng long lanh
Trên
ngàn cây hoa lá
Từ
dạo đó
Trên
những con đường trải cỏ xanh
Hay
phủ đầy gốc gai sỏi đá
Tôi
vẫn đi bằng bàn chân trần trụi
Với
nụ cười và ánh mắt sơ khai
Ngôn
từ đã khép lại
Như
những lối mòn sau bước chân phiêu lãng
Và
Những
bước chân ra đi
Cũng
chính là những bước quay về.
Ba
Bà Hoàng Hậu
Ngày
xửa ngày xưa, có một ông vua trẻ. Ðức vua cai trị
một vương quốc giàu có xinh đẹp nhưng đẹp nhất có lẽ
là ba bà hoàng hậu của đức vua.
Ba
vị hoàng hậu này vừa có sắc vừa có tài nên cả ba đều
được đức vua sủng ái như nhau. “Mỗi người có một
vẻ, mười phân vẹn mười.”
Cho
đến một hôm, nhà vua bỗng nảy ra một ý nghĩ: “Trong
ba mỹ nhân này thế nào cũng có một người tuyệt diệu hơn
hai người kia… Nhưng ta không tài nào nhận ra được, có
lẽ vì nhìn mãi có quen mắt đi chăng? Hay là ta hỏi ý
kiến bọn cung phi vậy.”
Ðức
vua bèn mở một cuộc trưng cầu dân ý tại hậu cung để
tìm xem trong ba mỹ nhân ai là người đẹp nhất, kết quả
cũng không lấy gì làm sáng sủa lắm vì ai cũng cho rằng cả
ba vị hoàng hậu đều đẹp ngang nhau.
Nhà
vua lại đem nội vụ ra bàn với đình thần. Kết quả
cũng tương tự như trên. Quan tể tướng khuyên đức
vua nên dừng cuộc khảo nghiệm lại vì e nó chẳng được
lợi ích gì mà đôi khi lại mang đến hậu quả khó lường
được. Thay vì nghe theo lời khuyên sáng suốt của vị
trung thần lão thành ấy thì đức vua của chúng ta lại nổi
cơn thịnh nộ, truyền lệnh cho quan tể tướng phải giải
quyết cho xong công việc trong vòng ba hôm.
Sau
một lúc im lặng, quan tể tướng kính cẩn thưa:
-
Muôn tâu thần trộm nghĩ rằng bọn hạ thần chỉ sở trường
về chuyện cung kiếm văn thơ… còn chuyện đẹp xấu, tướng
hảo ra sao thì chắc phải nhường cho những vị bốc sư.
Kinh thành ta có một vị bốc sư nổi tiếng. Hay là bệ
hạ cho mời y vào y sẽ phân biệt rõ ràng hơn chăng?
Nhà
vua nguôi giận. Một ông thầy bói được lập tức triệu
vào cung để chiêm ngưỡng dung nhan ba người đẹp. Vị
bốc sư không chịu cho biết kết quả ngay mà xin khất lại
ngày hôm sau để về “tra tự điển” lại.
Lão
bốc sư đi rồi, quan tể tướng bèn bỏ nhỏ với đức vua:
-
Muôn tâu thánh thượng! Hạ thần trộm nghĩ rằng quý
đức bà mỗi người một vẻ đẹp riêng, tùy theo nhãn quan
và sở thích của từng người, ý kiến của chúng thần có
thể bất đồng nhau, nhưng vì sợ uy quyền của đức bà nên
bọ hạ thần không dám nói lên ý kiến của mình mà chỉ
kết luận chung rằng cả ba đều tài sắc ngang nhau… Nếu
thần không lầm thì lão bốc sư này cũng lâm vào một tình
thế khó xử như bọn hạ thần nên lão mới khất lại vào
ngày mai đó thôi!
-
Thế thì khanh giải quyết bằng cách nào?
-
Muôn tâu bệ hạ giả mạo ba bức thơ, ký tên của ba đức
bà, hẹn lão ấy đến ba địa điểm riêng. Nếu y đến
địa điểm nào thì đức bà ấy sẽ là người đẹp nhất.
-
Hay lắm! Khanh hãy thi hành ngay cho trẫm.
Ba
bức thư tức tốc được gởi đi và lão bốc sư liền đi
đến chỗ hẹn với bà hoàng đẹp nhất.
Ðức
vua truyền lệnh chém đầu lão thầy bói.
Và
từ đó đức vua đặc biệt sủng ái vị hoàng hậu vào chung
kết này. Hai bà hoàng hậu còn lại vô cùng tức tối,
họ âm mưu với nhau dùng độc dược giết chết bà hoàng
hậu đẹp nhất.
Chuyện
bại lộ, đức vua truyền lệnh xử tử luôn hai hoàng hậu
còn lại.
Ba
vị hoàng hậu xinh đẹp nhất nước đều chết hết.
Ðức vua còn lại một mình để thấy hoàng cung sao mà trống
trải lạnh lẽo, bất kể xuân hạ thu đông.
Em
thân mến!
Vạn
pháp trên thế gian này mỗi pháp đều có một đặt tính riêng
những chi chúng ta bắt đầu “ưu tiên một” cho pháp nào
tức là hệ tâm vào nó thì sự việc bắt đầu trở nên rắc
rối. Có lẽ vì vậy mà đức Phật thường khuyên chúng
ta là hãy để yên cho các pháp trụ ở bản vị của nó, chớ
xen vào phân biệt để tự chuốc khổ cho mình và làm di họa
cho người chung quanh.
Cũng
thế, trong sự tương giao với bạn bè lân cận, mỗi người
của chúng ta đều mang một cá tính riêng biệt, chiếm một
vị trí, cách thế khác nhau, chẳng ai giống ai… Và chúng
ta cũng khó mà kết luận rằng ai quan trọng cho ai… Mùa xuân
có hoa lan, mùa thu có hoa cúc, mỗi loài hoa đều có hương
sắc riêng của nó, không thể bắt loài hoa này bắt chước
hoa kia được. Em có thấy rằng số phận rủi ro luôn
luôn đến với người mà chúng ta đặc biệt ưu ái không?
Vậy thì, ta có nên ngu ngơ đem cái tình thức phân biệt của
mình xen vào các mối tương giao ấy, để cảm thấy cuộc
đời này sao mà lạnh lẽo, bất kể bốn mùa xuân hạ thu
đông hay không?
Làm
Sao Ðây
Một
hôm đến ngày chợ phiên, bác Xả dắt con đi chợ mua một
con lừa. Hai cha con vui mừng leo lên lưng lừa cho nó chở
về nhà. Ði được một quãng bác nghe tiếng người bình
phẩm:
-
Trời đất ơi! Ác thế thì thôi. Cả hai cha con đều
thượng lên lưng con lừa thì nó sống làm sao cho nổi.
Bác Xả nghe nói có lý, vội tụt xuống để con cỡi lừa
còn mình đi bộ. Khi ấy bác lại nghe người qua đường
bình phẩm:
-
Thật là thời thế đảo điên, con đi lừa, cha đi bộ… bất
hiếu thế thì thôi, thảo nào!
Bác
Xả lại lên lừa, thằng con xuống đi bộ. Bấy giờ
người ta liền nói:
-
Tôi chưa từng thấy thằng cha nào nhẫn tâm như thế, con thì
đi bộ còn mình thì ngất nghểu trên lưng lừa… chao ôi!
Hai
cha con đành đi bộ, con lừa lững thững theo sau. Khách
bàng quan lại bình phẩm:
-
Rõ khổ! Có một con lừa để làm gì mà cả hai bố con
phải đi bộ. Ngu ơi là ngu…!
Em
thân mến!
Trong
cuộc tương giao với người chung quanh, chúng ta cần lưu ý
đến dư luận để sửa sai những khuyết điểm của mình.
Nhưng dư luận không phải là một thước đo hoàn hảo lắm
nên đôi khi chúng ta không khỏi lúng túng như hai cha con bác
Xả trên đây. Có phải thế không em?
Ba
Cái Bánh Ít
Xưa
có một lão thầy pháp đi hành nghề, dắt theo một chú đệ
tử nhỏ.
Trong
lúc cầu đảo cho gia chủ, lão lén lấy được ba cái bánh
ít và dúi cho thằng đệ tử đang đứng quạt hầu sau lưng.
Ðám
xong, hai thầy trò ra về. Trên đường về lão thầy pháp
bảo đồ đệ lấy bánh ít ra ăn lót dạ. Thằng bé ấp
úng nói:
-
Khi ấy con tưởng thầy cho con nên con ăn hết cả rồi…
Hai
thầy trò đành tiếp tục đi, thầy trước trò sau. Ðược
một quãng, ông thầy quay lại mắng đệ tử:
-
Bộ tao là tù nhân sao mà mày đi tò tò phía sau như công an
áp giải tội phạm vậy?
Trò
nghe quở, lật đật chạy đi trước. Ông thầy lại
nạt nộ:
-
Bộ mày là thầy tao sao mà dám đi trước tao?
Chú
bé liền đi ngang hàng với ông thầy, bấy giờ ông thầy liền
trợn mắt quát:
-
Bộ mày là bạn bè tao sao mà dám đi ngang hàng với tao?
Chú
học trò khổ sở, lúng túng, đành vòng tay thưa:
-
Bạch thầy, vậy đệ tử phải đi cách nào cho đúng lễ đây?
Ðến
lúc này, ông thầy pháp mới chịu nói rõ ý mình:
-
Mày muốn đi kiểu nào cũng được… miễn sao có ba cái bánh
ít trả lại tao thì đúng lễ ngay.
PC:
Sự thật, đôi khi khó nói biết là bao. Có lẽ vì vậy
mà loài người phải có thật nhiều từ ngữ để nói một
cách dài dòng như lão thầy pháp trên đây vậy.
Kỷ
Thuật Nhà Nghề
Xưa,
có một vị quan muốn may áo mới. Quan cho vời một chàng
thợ may đến. Thợ may nhận vải đo ni tấc xong kính
cẩn thưa:
-
Bẩm quan, xin Ngài cho con biết Ngài đã làm quan được bao
nhiêu năm rồi ạ?
Ông
quan ngạc nhiên hỏi:
-
Cái nhà chú này thật lắm chuyện! Công việc của chú
là may áo thì cứ gắng mà may cho khéo, hỏi chi thêm những
chuyện chẳng dính dáng gì đến mình làm chi thế?
-
Bẩm quan! Con hỏi câu ấy cũng nằm trong phạm vi nghề nghiệp
của con. Con mà may khéo cũng nhờ những câu hỏi tỉ
mỉ ấy!
Ông
quan ngạc nhiên:
-
Hử! Chú mày nói rõ cho ta nghe… xem sao.
-
Bẩm quan… khó nói quá!
-
Mi cứ nói đi.
-
Bẩm, nhưng nếu có điều gì sơ thất thì xin Ngài thứ lỗi
cho con.
-
Ừ!
-
Bẩm… theo kinh nghiệm nhà nghề của con thì đức ông nào
mới được bổ nhiệm… đều phải may vạt áo trước dài
hơn vạt áo sau, ngực to và bụng nhỏ…
-
Sao thế?
-
Bẩm! Vì các ngài thường hay ngẩng mặt lên và ưỡn
ngực ra phía trước ạ…
Bẩm…
ngược lại, đức ông nào đã nhậm chức lâu năm thì con
phải may vạt áo sau dài hơn vạt áo trước… vì quý ngài
thường phải vào lòn ra cúi với cấp trên mới giữ chức
lâu như thế…
Dạ
bẩm, còn các quan trung niên, nghĩa là được tiến cử không
quá lâu hay quá mau thì con may cả hai vạt bằng nhau. Ngài
đã hỏi thì con xin thưa như thế.
Xin
đức quan thí cho những điều không phải và cho con biết ngài
làm quan đã bao lâu rồi ạ!
Em
thân mến!
Kỹ
thuật của bác thợ này, đâu chỉ áp dụng may áo cho các
quan thôi đâu… có phải thế không?
Ðông
Thi Nhăn Mặt
Thuở
xưa, có một thiếu nữ tên là Tây Thi rất xinh đẹp.
Tây Thi có bệnh đau bụng, mỗi lần gặp cơn đau, nàng ôm
mặt rên rỉ, nhan sắc càng yêu kiều, khiến ai nấy cũng phải
tấm tắc mủi lòng.
Cùng
làng có Ðông Thi một thiếu nữ xấu xí. Nghe dân chúng
trầm trồ về sắc đẹp của Tây Thi trong những cơn đau bụng,
muốn được mọi người chú ý khen ngợi như Tây Thi, Ðông
Thi cũng giả vờ đau bụng và ôm mặt nhăn nhó rên la.
Nào
ngờ, dân chúng tưởng đâu quỷ hiện hình nên gọi nhau bồng
con cõng vợ chạy trốn cả.
Em
thân mến!
Như
một người đẹp thì nhăn nhó, ho hen, tằng hắng gì, người
ta cũng chiêm ngưỡng cả. Một bậc đã giác ngộ thì
nhấc tay cất bước đều là hành vi giác ngộ. Nếu chúng
ta chưa phải là Tây Thi thì chớ có biểu diễn… sắc đẹp,
chưa phải là thiền sư Ðơn Hà thì hãy khoan đốt tượng,
chửi Phật, mắng Tổ đó nghen!
Ăn
Trộm Dạy Con
Xưa,
có một tên đạo chích rất lành nghề, một hôm con trai y
ngỏ ý học nghề của cha, tên ăn trộm liền dẫn con đi thực
tập.
Hai
cha con đến một nhà giàu có đánh bả cho lũ chó chết mê
mệt xong đạo chích đào ngạch khoét vách , dắt con chun vào
nhà.
Cả
nhà đang ngủ say như chết, tên trộm thấy một cái rương
to còn trống bèn giở nắp rương ra, bảo con:
-
Con chun vào đây, hốt hết đồ đạc bỏ vô bao cho cha.
Thằng
con y lời, đạo chích bèn đóng nắp gài khoen lại … rồi
lẻn ra khỏi nhà, hô hoán lên ầm ĩ:
-
Ăn trộm! Ăn trộm!
Chủ
nhà bừng tỉnh, thấy nhà bị khoét vách, dáo dác tìm kiếm
hồi lâu, không thấy động tĩnh chi hết liền đi ngủ lại.
Thằng
con lão chích nằm chết điếng trong rương, tái tê vì sợ
và hận cha khôn tả. Hồi lâu hắn nghĩ ra một kế thoát
thân, bèn lấy tay sột soạt vào thành rương và giả tiếng
chuột kêu “chí chí” để đánh lừa chủ nhà.
Nghe
chuột kêu, chủ nhà vội thức giấc đốt đèn mở rương
đuổi chuột, thằng bé liền nhỏm dậy, tắt đèn, xô té
chủ nhà tông cửa chạy một mạch. Chủ nhà lục tục
kéo nhau, vừa chửi vừa đuổi theo.
Thằng
bé chạy đến đường cùng thì gặp một cái giếng, nó vội
vàng ôm một cục đá to liệng xuống giếng và tri hô.
-
Thằng ăn trộm rớt xuống giếng rồi làng xóm ơi! Mọi
người đổ xô nhau kéo đến giếng để bắt trộm, thằng
bé chạy một mạch về nhà.
Gặp
cha, thằng bé òa lên khóc và không tiếc lời để oán trách
cha, đạo chích chỉ mỉm cười nói:
-
Khoan đã, con hãy kể cho cha nghe con đã thoát thân bằng cách
nào?
Cậu
con thuật lại từ đầu chí đuôi, lão chích vỗ tay cười
ha hả:
-
Hay quá! Con tôi đã thành nghề rồi!
Em
thân mến!
Hốt
của bỏ vô bao và vác về nhà xài khi có người dắt đi đào
ngạch, khoét vách sẵn… là một điều mà bất cứ thằng
cu con nào cũng làm được, nhưng phải tìm cách thoát thân
một mình thì chỉ có thằng cu này. Vì như vậy mà lão
chích mới cười ha hả khi nghe con mình thuật lại đầu đuôi
câu chuyện.
Còn
chúng ta nhờ nghiệp lực dẫn dắt chui vào thế gian này, tôi
và em giống như thằng cu con, đang lúi húi hốt ngũ dục nhét
cho đầy túi tham của mình thì “ầm” một cái cửa rương
khóa chặt. Ðó là lúc chúng ta bị bủa vây và đối
diện với bát phong: lợi, xúy, mắng nhiếc, khen tặng, vinh
nhục, vui buồn v.v… òa lên khóc than và không tiếc lời oán
trách cha mẹ, thượng đế… thì ai cũng làm được.
Nhưng làm sao để tự tại trước bát phong thì… tùy theo
sự khéo léo của từng người. Nghệ thuật ăn trộm,
nghệ thuật sống hay nghệ thuật học thiền chỉ là một
mà thôi em ạ!
Quyển
Kinh Ði Lạc
Ðiệu
Bi có một quyển kinh nhật tụng rất quý. Một hôm tụng
xong Ðiệu đi ngủ ngay quên cất quyển kinh đi.
Một
chú chuột chạy qua thấy quyển kinh mừng rỡ:
-
Má bầy trẻ mà được món này lót tổ thì còn gì bằng.
Thế
là chú chuột na quyển kinh về một chiếc hang ở dưới gầm
tủ. Bà chuột định xé quyển kinh ra lót tã cho sắp
nhỏ thì bỗng nghe tiếng “meo meo” của ông mèo. Bà
chuột liền lẩn mất.
Mèo
đi đến gặp quyển kinh liền leo lên nằm khoanh đánh một
giấc ngon lành. Ngủ xong, mèo vươn vai, xoa bụng nói:
chiếc chiếu này êm quá, mình ngủ một giấc ngon chi lạ!
Và mèo bỏ đi.
Con
lu lu đang đi chơi thơ thẩn, bỗng thấy quyển kinh bèn than
tuốt ra vườn, nghĩ bụng: “Mình đem cái này ra kiếm con
Nô, hai đứa chơi trò ném banh mới được.”
Chơi
chán, Nô và Lu bỏ quyển kinh giữa đường. Cu Bình đi
học về bắt được reo: “A! Mình có giấy dán diều và xếp
ghe chơi rồi.”
Thế
là quyển kinh được dán thành con diều bay lên trời, xếp
thành ghe trôi bềnh bồng trong mương nước.
Một
phần còn lại, được lũ mối xé nhỏ ra, khênh về tổ, nấu
nướng và ăn tiệc mừng sinh nhật của mối chúa.
Em
thân mến!
Chỉ
có quyển sách thôi mà Ðiệu Bi gọi là kinh nhật tụng, chú
chuột cho là đồ lót ổ, con mèo dùng như một chiếc chiếu,
chó Lu đem làm đồ chơi, cu Bình dán thành con diều và lũ
mối thấy đó là món ăn khoái khẩu.
Tại
sao thế?
Ðức
Phật dạy rằng, tùy theo từng biệt nghiệp của chúng sanh
mà mỗi kẻ có một lối nhìn kiến chấp, quan niệm về vạn
hữu hoàn toàn khác nhau. Và điều rắc rối nhất ai ai
cũng cho rằng quan điểm và cách sử dụng của mình là hay
nhất, thông minh nhất, hợp lý nhất v.v…
Và
đó cũng chính là điều điên đảo nhất của chúng ta.
Có phải thế không?
Người
Hướng Ðạo
Một
hôm, trên đường đi dạo, sư bỗng khám phá ra một khoảng
đường trơn trợt trong khuôn viên chùa, ai sơ ý là té dễ
như chơi.
Ðộng
lòng bi mẫn, sư bỏ cả một buổi ngủ trưa để hì hục
đóng, sơn và vẽ một tấm bảng báo động.
Xong,
đem cắm ở quãng đường trơn trợt dễ té.
Ngẫm
lại công trình của mình, sư khoan khoái đi tới đi lui, nhìn
ngắm nghĩ bụng:
-
Thật là an toàn! Có tấm bảng báo động nơi đây thì
bảo đảm chẳng có ai trợt chân cả…
Ngờ
đâu sau một bước đi lui, sư trở thành người trợt chân
đầu tiên.
Em
thân mến!
Trong
quãng đường vừa qua, ít nhất cũng đã hơn một lần chúng
ta bị té kiểu này. Cái đau của thể xác không thấm
vào đâu so với niềm tủi hổ, có phải không?
Nhưng
không sau! Mỗi lần té xong, mình vẫn còn có thể đứng
dậy được… Và nếu còn gặp quãng đường nào cần vẽ
bảng báo động chúng ta vẫn sẵn sàng bỏ ngủ trưa để
“ăn cơm nhà đi làm chuyện hàng xóm” miễn sao có người
nhờ tấm bảng của mình mà khỏi bị trợt chân thì… dù
té bao nhiêu lần, mình vẫn thấy vui…
Em
có thấy thế không?
Khi
Người Về
Xưa
có một chú bé tên là cu Lém. Lém đi chơi và ngủ quên
ở một miếu thờ thổ thần.
Nửa
đêm Lém giật mình tỉnh giấc vì bước chân của một con
quỷ trắng. Con quỷ này mang trên vai một xác chết của
cụ già. Nó hí hửng ngồi xuống định ăn thịt xác
chết thì bỗng có tiếng chân hối hả chạy đến. Lại
thêm một con quỷ đen xuất hiện. Cả hai con đều tranh
nhau xác chết, không ai chịu thua ai. Quỷ trắng bèn nhờ
cu Lém làm trọng tài. Cu Lém đành phải tuyên bố:
-
Tôi thấy ông trắng vác xác chết vô trước. Vậy cái
xác này là của ông.
Quỷ
đen liền tức giận bẻ một cánh tay của cu Lém bỏ vô miệng
nhay rau ráu.
Quỷ
trắng thấy cu Lém vì binh vực mình mà bị cụt tay bèn bẻ
một tay của xác chết đền cho cu Lém, nhờ pháp thuật của
con quỷ, tay cu Lém liền ngay không hề hấn gì.
Quỷ
đen thấy vậy, bèn bẻ thêm một cánh tay kia của cu Lém cho
vào miệng nhai. Quỷ trắng lại đền cho Lém cánh tay
còn lại của xác chết.
Cứ
thế, lần lượt hai chân, đầu và mình của cu Lém đều chui
vào bụng con quỷ đen. Ngược lại, đầu mình tay chân
của xác chết cụ già được ráp cho cu Lém.
Gà
gáy sáng, hai con quỷ biến mất, cu Lém trở về nhà.
Thấy nó bước vào , ba má cu Lém ngạc nhiên chắp tay chào
hỏi:
-
Thưa cụ! Cụ tìm chúng cháu có việc chi ạ!
Em
thân mến!
Ngày
và đêm cũng đã tranh nhau biến đổi thân xác của chúng ta,
y hệt như hai con quỷ trắng và đen đã thay đổi thân xác
của thằng cu Lém. Ðó là một điều hiển nhiên… Không
ai còn lạ lùng gì nữa. Có lạ lùng chăng là loài người
của chúng ta, ai cũng ngỡ rằng mình không bao giờ già và
không bao giờ chết vậy. Hỡi ơi! Chuyện khó tin
mà lại có thật!
Chỉ
Một Giới Thôi
Uttiga
là một thanh niên Bà La Môn ở kinh thành Xá Vệ. Sau khi
làm đầy đủ bổn phận của một cư sĩ tại gia như bố
thí cúng dường. Uttiga đến yến kiến Phật và xin được
xuất gia. Ðức đạo sư chấp nhận cho chàng được toại
nguyện.
Sau
ngày xuất gia và thọ tỳ khưu giới, Uttiga đâm hoảng chàng
tự nghĩ:
“Không
ngờ muốn làm một sa môn phải giữ đến 250 giới… chỉ
nhớ thôi cũng đã đủ mệt rồi… Nói gì đến thọ trì…
Thôi chết rồi!
Và
thầy tỳ kheo Uttiga đâm ra lúng túng vì thầy không tài nào
nhớ nổi 250 giới cấm. Uttiga đến gặp Phật và xin
hoàn tục vì chàng không tài nào xoay sở với ngần ấy giới
luật phải giữ. Ðức đạo sư ân cần khuyên hỏi:
-
Này tỳ kheo! Con xin hoàn tục vì các điều giới quá
nhiều khiến con không nhớ nổi, chứ không phải vì con nuối
tiếc dục lạc thế gian, có phải thế không?
-
Bạch Thế Tôn! Ðúng như vậy! Con nghĩ rằng khi
sống đời cư sĩ, chỉ phải giữ có năm giới cấm… là
những điều mà con có thể thi hành được. Còn hôm nay,
250 giới của tỳ kheo, con không tài nào nhớ hết thì làm
sao mà vâng giữ chi bằng con xin hoàn tục để khỏi vi phạm
đến giới pháp cao sâu vi diệu của tăng đoàn.
-
Này tỳ kheo! Nếu Như Lai rút 250 giới lại thật tóm
tắt, chỉ còn một vài điều giới thôi, thì con có thể tiếp
tục đời sống xuất gia hay không?
-
Bạch Thế Tôn, được như thế thì còn gì bằng.
-
Này tỳ kheo bắt đầu từ hôm nay, con chỉ giữ có một giới
này thôi. Ðó là canh chừng thật chặt chẽ những móng
tâm động niệm của con, biết rõ từng ý nghĩ khởi lên là
thiện hay ác.
Này
tỳ kheo! Làm sao biết đó là ý tưởng thiện hay ác?
Ý tưởng ác là những ý tưởng mà nếu đem ra nói hay làm,
sẽ gây tai hại cho mình cho người hoặc cả hai. Ðối
với những ý tưởng như thế, con phải canh chừng theo dõi
nó từ lúc mới sanh khởi, lan rộng cho đến khi diệt mất.
Này
tỳ kheo! Thế nào là những ý tưởng thiện. Ðó
là những ý tưởng mà khi đem ra thi hành sẽ không làm hại
mình, hại người hoặc hại cả hai… Ðối với những ý
tưởng loại này con cũng phải theo dõi từ lúc chúng sanh khởi,
lan rộng cho đến khi hoại diệt mất.
Này
tỳ kheo! Với một điều giới như thế, con có thể giữ
được hay không?
Thầy
tỳ kheo Uttiga cung kính thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con có thể giữ được và con xin Thế Tôn
cho phép con ở lại tịnh xá tu học.
Rồi
thầy tỳ kheo Uttiga với một điều giới duy nhất như thế
tinh cần tu tập. Không may cho thầy một cơn bệnh nặng
chợt đến khiến thầy phải gián đoạn công phu. Cơn
bệnh này tiếp nối cơn bệnh khác, không dứt khiến thầy
Uttiga vô cùng sầu khổ, một hôm trên giường bệnh thầy
chợt nghĩ:
“Trong
khi ta lâm bệnh khổ, thân thể khó chịu vô vàn như thế này,
các ý tưởng sinh khởi liên miên không bao giờ dứt.
Nếu cái thân xác thịt này không được tiếp tế thức ăn,
nước uống và không khí thì có lẽ nó đã chết từ lâu.
Còn cái vọng tâm của ta, nếu không được tiếp tế bằng
những ý niệm thì có lẽ nó cũng đã chết từ lâu lắm rồi.
Thân ta tuy hiện đang bị bệnh khổ bức bách nhưng nó không
phải là một cái cớ để ta buông lung. Huống chi đấng
đạo sư đã thương tình tóm tắt 250 điều giới trong chỉ
mỗi một giới mà ta còn lơ là thì thật là đáng trách.
Nghĩ
như thế tỳ kheo Uttiga tinh cần tu tập. Chẳng bao lâu
thầy đắc A La Hán ngay khi còn nằm trên giường bệnh.
Người ta còn ghi lại được một bài kệ đơn giản của
vị La Hán này như sau:
“Trong
khi ta lâm bệnh
Niệm
khởi lên nơi ta
Trong
khi ta lâm bệnh
Không
phải thời phóng dật.”
Trường
hợp của thầy tỳ kheo Uttiga cũng là trường hợp của em
và tôi. Dù đã thọ năm giới, 10 giới, 250 giới hay 348
giới đi nữa, tuy số lượng có sai biệt nhưng tinh thần của
giới luật không ngoài hai điểm: “Dứt ác, làm lành.”
Ðó chính là giới răn mà đấng đạo sư đã tóm tắt cho
thầy Uttiga. Giữ gìn giới đạo này, nhà thiền gọi
là “chăn châu” đó em.
Thử
thời thuyết đạo hãn tri âm
Chỉ
vị như tư tán đạo tâm
Hề
tợ Tử Kỳ đa sảng sấm
Thính
lai nhất đạt Bá Nha cầm.
Thiền sư Tịnh Giới
Ðời
nay hiếm kẻ tri ân
Ðến
nghe thuyết giảng đạo tâm mơ màng
Tử
Kỳ lòng quả chư nhàn
Thoảng
nghe đã hiểu cung đàn Bá Nha.
Ôi
dư cốt dốt độc hoàng chương
Khẩu
đáp sơn đồng vấn đoản chương
Thủ
ba suy thương hòa mộc dạc
Tùng
giao nhân tiếu lão tăng mang.
Thiền sư Huyền Quang (VN)
Củi
hết lò còn vương vấn khói nhẹ
Sơn
đồng hỏi nghĩa một chương kinh
Tay
cầm dùi mõ tay nâng sáo
Thiên
hạ cười ta cứ mặt tình.
Song
triêu nguyệt đáo thiền sàng mất
Tùng
thiếu phong xuy tỉnh khách miên…
Ðầu
giường trăng dọi song thưa
Gió
ru thông hát khách đưa giấc nồng.
Dasaka
Trong
thời Phật còn tại thế Dasaka sinh trưởng trong một gia đình
nô bộc dưới quyền của nhà cự phú Cấp Cô Ðộc.
Chàng giữ nhiệm vụ canh gác tinh xá Kỳ Hoàn để chư tăng
không bị khách lạ khuấy nhiễu trong khi tọa thiền.
Ðược
chiêm ngưỡng từ dung của đấng đạo sư cùng nếp sống
thanh tịnh của tăng đoàn, Dasaka ao ước được thoát kiếp
nô lệ và xuất gia tu học. Nguyện vọng này được thực
hiện ngay, với sự bảo trợ của trưởng giả Cấp Cô Ðộc,
chàng gác dan Dasaka biến thành tỳ kheo Dasaka.
Sau
ngày xuất gia Dasaka vẫn giữ nguyên thói lười cố hữu.
Mỗi ngày, sau khi khất thực và nhận đầy đủ thức ăn,
tỳ kheo Dasaka thường tìm một chỗ thanh tịnh và nằm khoèo
xuống ngủ. Trong những giờ học kinh, sư thường tìm
cách lẩn tránh ra phía sau hội chúng, ngồi tựa lưng vào một
gốc cây và thả hồn vào cõi mộng. Những sự kiện
này không thoát khỏi ánh mắt của đức đạo sư. Một
hôm nhằm lúc Dasaka vừa mở mắt sau một giấc ngủ dài, đang
vươn vai để ngủ tiếp, đức đạo sư liền đọc một bài
kệ:
“Những
ai mê ngủ ham ăn
Lăn
qua trở lại ngủ lăn suốt ngày
Như
con heo mập ăn hoài
Người
ngu tiếp tục chuỗi ngày thai sanh.”
Bài
kệ rõ ràng đang chỉ trách một người ham ăn mê ngủ là
Dasaka… khiến sư hốt hoảng và hổ thẹn đến toát mồ hôi.
Từ đó tỳ kheo Dasaka tinh cần tu tập. Công khó của
thầy cuối cùng cũng được đền bù xứng đáng. Sau
một thời gian hạ thủ, tỳ kheo Dasaka đắc quả A La Hán.
Ðức
A La Hán Dasaka không làm thêm một bài kệ mới nào. Ngài
chỉ đọc lại bài kệ cảnh tỉnh của đấng đạo sư đối
với ngài trên, như một lời tuyên bố về chánh trí của
La Hán Dasaka.
Em
thân mến!
Chúng
ta có đồng minh rồi đó!
Bảng
Chỉ Ðường
Tu
viện ở cách xa đường tráng nhựa, tận cùng trong một thôn
xóm hẻo lánh nên khách thập phương đến viếng chùa thường
ngao ngán và bị lạc đường vì lối vào chùa là một con
đường có nhiều ngã ba.
Theo
lời yêu cầu của nhiều người, chư sư cho cắm các bảng
chỉ đường tại các lối tẻ.
Từ
khi có bảng chỉ đường số người lạc đường lại tăng
lên gấp bội, ngay cả những người đã đến chùa nhiều
lần. Chư sư ngạc nhiên, liền mở cuộc điều tra.
Thì
ra… các chú mục đồng tinh nghịch đã thừa lúc vắng người,
đem bảng chỉ đường cặm sang một lối khác.
Chư
sư liền đem tấm bảng chỉ đường về chùa cất.
Em
thân mến!
Tấm
bảng chỉ đường vẫn còn đó, chữ đẹp và rõ ràng trên
nền sơn còn mới, nhưng lại bị một bàn tay chơi xấu hướng
về một lối đi sai, thì cũng phải dẹp bỏ gấp, vì chẳng
những nó không làm tròn bổn phận chỉ dẫn, mà còn làm sai
lạc cho những người quen lối nữa… Trong trường hợp ấy
duy trì bảng chỉ đường là một điều ngu xuẩn, em có thấy
như thế không?
Vậy
thì, em đã hiểu tại sao Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma người khai
đường cho Thiền tông Trung Hoa đã tuyên bố:
“Bất
lập văn tự
Giáo
ngoại biệt truyền
Trực
chỉ nhân tâm
Kiến
tánh thành Phật”… chưa?
Thiền
Tông không câu nệ vào văn tự kinh điển, không phải vì chư
sư xem thường lời Phật dạy. Nhưng trong trường hợp
này, kinh điển giống như những tấm bảng chỉ đường đẹp
và rõ ràng thật đấy song đã bị những bàn tay tinh nghịch
đổi chỗ mất rồi, thì đành phải “truyền riêng ngoài
giáo” vậy.
Em
có thấy như thế không?
Bát
Cháu Lú
Xưa,
có một vị thú y mệnh chung thần hồn xuống âm phủ, sau
khi được diêm vương xét xử, hồn ma được đưa đến quán
cháo lú ăn trước khi đi đầu thai. Vào quán cháo, hồn
ma tình cờ gặp phải một bầy chó mà thuở sanh tiền ông
thường chữa bệnh cho chúng. Bầy chó vốn có nghĩa rất
mừng rỡ khi gặp lại ông. Ðến lúc bà hàng dọn cháo,
ông nhịn phần mình cho bầy chó ăn.
Công
an ở diêm phủ dắt hồn ma đi đầu thai làm một thằng Cu.
Nhờ không ăn cháo lú, nên thằng Cu này nhớ rõ tiền kiếp
mồn một. Ðược 5 tuổi, thằng Cu khẩn khoản xin ba
má dắt đi thăm thân bằng quyến thuộc cũ. Ba má nó
thấy lạ nhưng vẫn chìu con. Cuộc tao ngộ giữa thân
quyến và thằng Cu diễn ra trong một không khí éo le và cảm
động. Thằng Cu được gặp lại bà vợ cũ, con trai,
con gái, cháu nội, cháu ngoại. Bằng giọng nói ngọng
nghịu của đứa bé lên 5, Cu kể vanh vách tiền kiếp của
mình cùng thăm hỏi hàn quyên với vợ con, cháu chít nữa.
Sau
câu chuyện này thằng Cu không thể sống bình thường như
bao nhiêu thằng bé khác, gánh nặng của tiền kiếp hằn sâu
trên thân xác thơ dại của thằng bé, những mối dây thân
ái trong quá khứ khiến thằng bé quên mất nhịp sống hiện
tại. Cuối cùng ba má nó đành đưa nó vào chùa, không
phải để tu học mà là để đi dưỡng tâm thần. Cậu
con trai út của ông bác sĩ thú y cũng tình nguyện vào chùa
để chăm sóc người cha bé con của mình và tu tâm dưỡng
tánh luôn thể.
Em
thân mến!
Ba
Kiến Châu đã kể câu chuyện trên cho tôi và các bạn nghe,
mẫu chuyện mà ông đã lượm lặt được trên những nẻo
đường xuôi ngược. Ba tôi còn quả quyết rằng câu
chuyện trên hoàn toàn có thật. Những nhân vật trên
hiện còn, thằng Cu trong câu chuyện là một vị tăng tuổi
trạc tứ tuần. Tôi không dám cam đoan với em về tầm
mức chính xác của câu chuyện, có điều kể lại cho em nghe,
tôi chỉ muốn ngỏ ý với em rằng, nhớ được tiền kiếp
là một khả năng mà bất cứ người nào cũng có.
Các
bậc đắc đạo gọi nó là “túc mạng minh” Trong kinh
đức Phật cũng từng khuyến cáo các hành giả tu tập, nếu
chưa được lậu tận thông tức là khả năng hóa giải hết
thảy phiền não, mà lại có thần thông thì phải xả bỏ
đi lập tức… Có lẽ Ngài e rằng chúng ta sẽ lâm vào hoàn
cảnh dở khóc dở cười như thằng Cu trên đây. Trong
quãng đời hiện tại, chỉ nhớ đến những chuyện vui buồn
quá khứ chúng ta đã bị lụy khổ sầu vô hạn rồi huống
chi là nhớ lại những ân oán buồn vui trong tiền kiếp.
Ðức Phật và các bậc đắc đạo nhớ rõ quá khứ với từng
tình tiết chi ly mà tâm các Ngài hoàn toàn bình thản, trong
khi chúng ta lại nhìn quá khứ với biết bao là nuối tiếc,
buồn thương càng sống với dĩ vãng, tâm chúng ta càng rối
bời xao xuyến, mắt mở mà vẫn chiêm bao. Có lẽ vì thế
mà thư tổ Thiền Tông đã khuyên chúng ta:
“Việc
qua rồi chẳng nhớ
Việc
chưa đến chẳng lo
Chuyện
hiện tại chẳng đem lòng vọng tưởng” chăng? Có nghĩa
là nếu chưa có khả năng hóa giải phiền não, chúng ta phải
ăn cháo lú mỗi ngày để tâm ta được thoát khỏi những
nuối tiếc của dĩ vãng, những xao xuyến khi hoài vọng về
tương lai.
Hay
nói cho rõ hơn, quá khứ hoặc tương lai có hay chăng là do
những vọng niệm rối bời trong hiện tại chiêu vời đến
mà thôi, cũng vì thế mà thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền đã
bảo người đệ tử khi chú này xin lên đường đi tham học
rằng:
“Niệm
khởi đừng tiếp tục bằng mười năm đi tham thiền học
đạo” đó em!
Bát
Cháo Lú
Năm
xưa nghe kể chuyện
Cháo
lú ở diêm Ðài
Hồn
ma nào cũng phải
Cạn
chén mới đầu thai
Tôi
nghe lòng tự nhủ
Nhất
định sẽ một lần
Không
thèm ăn cháo lú
Ðể
được nhớ tiền thân
Ba
mươi năm xuôi ngược
Mang
thân xác con người
Bao
nhiêu lần tôi ước
Bát
cháo lú, trời ơi!
Lần
ni xuống âm phủ
Nhất
định vét sạch nồi
Ðể
được quên tuốt luốt
Như
một dòng nước xuôi…
Hai
Thằng Ðệ Tử
Xưa,
có một thầy đồ già không có con cái thân quyến, chỉ có
hai chú đệ tử nhỏ mà ông thương yêu như ruột thịt.
Hai
chú bé chưa được dạy dỗ nên người thì cụ Ðồ lâm bệnh
nặng, phải nằm liệt giường. Hai chú đệ tử tuy xung
khắc, chẳng ưa nhau nhưng đều kính yêu thầy, lúc nào cũng
túc trực bên giường bệnh.
Bệnh
cụ đồ ngày càng một nặng, đôi chân cứng đờ, nhức nhối
khôn tả, cụ phải nhờ hai chú nhỏ đấm bóp suốt ngày đêm.
Trò Tý săn sóc chân mặt, còn trò Tèo thì săn sóc chân trái
của thầy.
Kề
cận bên nhau cùng lo một việc nhưng hai chú bé lúc nào cũng
hiềm khích, ghét bỏ nhau. Một hôm Tý được cụ đồ
sai đi chợ. Tèo ở nhà hầu thầy. Thừa dịp Tý
di vắng, Tèo ở nhà dùng búa đập gãy chiếc chân mặt, nghĩ
bụng rằng: “Ðể cho thằng Tý về thấy cái chân của nó
săn sóc bị gãy sẽ tức bể bụng cho mà coi!”
Tèo
đoán không lầm, Tý về thấy cớ sự giận vô kể. Có
lẽ sợ để cơn giận sục sôi làm bể bụng, Tý dùng búa
nện gãy luôn chiếc chân trái của cụ Ðồ. Kết cuộc
là cả Tý lẫn Tèo đều hả dạ, duy có cụ Ðồ là gãy hết
hai chân.
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên đây được phóng tác theo một đoạn trong kinh
Bách Dụ…
Ðọc
xong, ai cũng tức giùm cho ông Ðồ vì lỡ có hai thằng đệ
tử ngu ơi là ngu!
Nhưng
coi chừng, ông Ðồ là dụ cho đức Phật, hai thằng Cu nọ
chính… không ai xa lạ… chính là tôi và em đấy. Phật
pháp có vô lượng pháp môn để tùy cơ đáp ứng với chúng
sanh, nếu chỉ khuôn theo sở thích, định kiến của riêng
mình mà tôi hay em, tận lực đã kích, đập cho bằng… gãy
pháp môn tu của người khác… thì chúng ta chính là hai thằng
cu trên đây. Có lẽ vì thế mà trong bốn hoằng thệ
nguyện của chúng ta là: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học” đó em!
Ô
Sào Thiền Sư
Ô
Sào là một cao tăng Trung Hoa vào đời Ðường. Khi bà
mẹ hạ sinh sư, bà không ưng ý lắm nên đem bỏ con vào một
chiếc tổ quạ trên cội đại thọ trước hiên chùa rồi
lẫn mất. Sư xuất gia từ đó… và người ta gọi sư
là thầy Ô Sào (ô: quạ, sào: tổ)
Tuổi
ấu thơ và tráng niên của sư trôi qua bình thản trong bóng
mát của các tòng lâm cổ kính. Sư thường hành thiền
trên quê hương của mình, tức là nơi cháng ba có đặt tổ
quạ ngày xưa mà theo năm tháng, cội cây đã to và rộng đầy
đủ cành nhánh có thể cho sư đặt một chiếc tọa cụ trên
ấy. Cho đến khi ngộ đạo và hành đạo, thiền sư vẫn
không rời “quê mẹ.”
Một
hôm quan thị lang Bạch Cư Dị, một thi hào lừng danh đương
thời, đi dạo ngang cổng chùa trông thấy nhà sư đang ngồi
vắt vẻo trên tàng cây, vốn không ưa hạng người “lánh
nợ đời” như thế, ông cau mày hỏi:
-
Bộ hết chỗ rồi hay sao mà thầy lựa chỗ hiểm nghèo như
thế để ngồi?
Thiền
sư bình thản đáp:
-
Chỗ của tôi xem ra còn vững vàng hơn chỗ của quan lớn đang
an tọa nhiều….
Quan
thị lang nhìn lại chiếc kiệu của mình đang ngồi, ngạc
nhiên:
-
Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại đâu?
-
Thưa, chỗ của đại quan là dưới vua trên các quan và trăm
họ, vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất
lòng vua… Tính mạng của đại quan cùng thân quyến đều
lệ thuộc vào lòng yêu ghét của vua, sự tật đố tỵ hiềm
của bạn bè. Một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi
của thiên hạ thì làm sao bì được với sự cứng nhắc của
cội cây này được… Có phải thế không?
Bạch
Cư Dị nghe nhà sư nói, chỉ im lặng cúi đầu. Giây lâu,
vị quan lão thành mới cất tiếng hỏì:
-
Thầy có thể cho tôi biết thế nào là đại ý của Phật
pháp chăng?
Thiền
sư đáp liền:
-
Không gì dễ bằng câu hỏi này. Ðại quan hãy nghe tôi
trả lời đây, đó là:
“Chư
ác mạn tác
Chúng
thiện phụng hành
Tự
tịnh kỳ ý
Thị
chư Phật giáo.”
Nghĩa
là:
Các
điều ác chớ làm
Các
điều lành vâng giữ
Tự
thanh lọc ý mình
Ðó
là lời Phật dạy.
Bạch
Cư Dị nghe xong bảo:
-
Những lời thầy vừa đáp con nít lên ba cũng nói được.
Thiền
sư mỉm cười:
-
Thưa đại quan, con nít lên ba nói được nhưng ông lão 60 chưa
chắc làm xong… Ngài có thấy như thế không?
Bạch
Cư Dị lại im lặng cúi đầu.
Ông
bắt đầu học đạo với thiền sư Ô Sào từ đó. Người
ta kể rằng, dưới sự dẫn dắt của thiền sư “Tổ quạ”
không bao lâu vị đại quan này “hoát nhiên đại ngộ.”
Chuyện kể chỉ có thế, còn việc ổng đại ngộ cái gì
chúng ta đành chịu vậy.
Câu
chuyện này xin phép khép lại nơi đây, xin thân ái chào tất
cả những người em áo vải của tôi.