Phần
4
Chiếc
Áo Kỳ Diệu
Nàng
Lọ Lem
Dải
Áo Ðứt
Thân
Giáo
Ðạo
Sĩ Am Mây
Hóa
Thân Bồ Tát
Những
Ðiều Vô Lý
Ông
Thầy Kỳ Lạ
Mạng
Ðền Mạng
Chum
Vàng Bắt Ðược
Tri
Dị Hành Nan
Chấp
Chỉ Vọng Nguyệt
Lý
Do Giản Dị
Tên
Cướp Ðộc Ðoán
Con
Chó Vô Ơn
Cách
Làm Một Hạt Ngọc Trai
Ðạt
Ý Vong Ngôn
Bản
Kinh Kỳ Lạ
Thuận
Nghịch
Chàng
Rể Ða Sự
Chiếc
Áo Kỳ Diệu
Ngày
xưa có một vị hoàng đế thích quần áo mới đến nỗi suốt
ngày Ngài chỉ làm một việc duy nhất là thay quần áo mới.
Ngài chẳng ngó ngàng gì đến binh sĩ, triều chính. Người
ta thường nói: “Hoàng đế đang lâm triều” nhưng đối
với vị vua này người ta phải nói “Hoàng đế đang mặc
quần áo.”
Một
hôm có hai người lạ đến hoàng cung, tự xưng là thợ dệt
và khoe rằng: Họ có thể dệt ra thứ vải tuyệt đẹp, quần
áo may bằng thứ vải ấy có một đặt tính kỳ lạ.
Ai không làm tròn bổn phận hoặc ngu xuẩn thì không thể nhìn
thấy quần áo, dù đứng rất gần. Hoàng đế tự nhủ:
“Ðấy mới là bộ quần áo quý nhất. Ta chỉ cần mặc
vào là biết ngay trong đám quan lại của ta đứa nào không
làm tròn bổn phận. Ta phải may một bộ mới được.”
Hai
người lạ bày ra hai khung cửi rồi ngồi vào làm như đang
dệt thật, nhưng tuyệt nhiên trên khung chẳng có gì.
Họ đòi bằng được thứ sợi tơ đẹp nhất, thứ vàng quý
nhất, đem bỏ túi, rồi giả vờ làm việc trên khung cửi
rỗng tuếch. Hoàng đế nóng lòng muốn đến xem họ làm
việc nhưng lại nhớ đến đặc tính kỳ lạ của thứ vải
ấy, tự nhiên Ngài đâm ngại. Ngài bèn sai quan thừa
tướng đến xem.
Quan
thừa tướng vừa gương to đôi mắt tự nhủ: “Lạy Chúa!
Ta chẳng nhìn thấy gì cả.” Nhưng may mà ngài nén lại
được, không nói ra điều ấy. Hai người lạ đến gần
và hỏi ngài xem vải có đẹp không?
- Thật
là tuyệt! Hoa văn màu sắc không thứ vải nào sánh nổi.
Quan
tể tướng trả lời nhưng trong bụng lo ngay ngáy. Họ
bắt đầu ngờ mình trở nên ngu ngốc và trể nãi với công
việc.
Hai
người lạ lợi dụng dịp may lại kỳ kèo xin thêm vàng để
thiêu vào vải. Họ lại thủ vàng vào túi và say sưa
làm việc trên khung cửi rỗng không.
Chẳng
bao lâu hoàng đế lại cử một viên đại thần khác đến
xem vải. Hai người này chỉ vào tấm vải tưởng tượng
và chứng minh cho quan đại thần đây là tấm vải không đâu
có. Quan đại thần tự nhủ: “Mình đâu phải là thằng
ngu hay là mình không làm tròn phận sự. Dầu sao cứ giấu
biến đi là hơn cả.” Nghĩ vậy, ngài bèn vờ ngắm
nghía và quả quyết với hai người kia là ngài “chưa thấy
vải nào đẹp bằng, và cũng như quan thừa tướng lần trước,
ngài lại trở về và kính cẩn tâu với hoàng đế: “Muôn
tâu bệ hạ, không có gì đẹp bằng.”
Khắp
kinh thành nô nức bàn tán về thứ vải kỳ lạ ấy.
Không
thể dằn lòng được, hoàng đế đành phải đến xem vải.
Ngài không quyên dắt theo một kẻ nịnh thần. “Quái
ta chẳng nhìn thấy gì cả. Chẳng lẽ một vị hoàng
đế lại ngu ư?” Ngài bèn gật đầu lia lịa: “Ðẹp
lắm! Ðẹp lắm!” Ngài ra vẻ hài lòng ngắm nghía
hai chiếc khung cửi, không dám thú nhận là chẳng nhìn thấy
gì.
Lũ
nịnh thần suýt soa phụ họa: “Thật là tuyệt vời!”
Và chúng khuyên hoàng đế nên mặc bộ quần áo vô song đó
trong ngày lễ rước thần sắp tới.
Hoàng
đế ban cho hai thợ dệt mỗi người một tấm bội tinh với
danh hiệu “thợ dệt của nhà vua”. Suốt hôm trước
ngày lễ rước thần, hai thợ dệt ngồi làm việc “cật
lực dưới ánh sáng mười sáu ngọn đèn.” Họ cắt
may, khâu, đính suốt đêm… Cuối cùng bộ quần áo coi như
may xong, kịp cho ngày lễ rước thần. Hoàng đế và các
vị đại thần tới. Hai ông thợ dệt của nhà vua vờ
giơ tay lên trời nâng vật gì và tâu:
-
Ðây là quần, còn đây là áo thưa bệ hạ, quần áo này nhẹ
như mạng nhện, mặc vào mà tưởng như không và đây cũng
là một trong những đặc tính quý báu của thứ vải này.
-
Ðúng đấy ạ!
Bọn
nịnh thần phụ họa, tuy chẳng đứa nào thấy gì.
Hai
ông thợ may lại nói:
-
Muôn tâu thánh thượng, cúi in Ngài cởi quần áo ra và đứng
trước gương lớn, chúng thần xin mặc quần áo mới cho bệ
hạ.
Hoàng
đế cởi sạch quần áo, hai ông thợ dệt của nhà vua làm
bộ như mặc từng cái quần, cái áo mới vào người hoàng
đế, rồi quàng tay quanh thân Ngài như khoác đai lưng.
Hoàng đế quay đi quay lại ngắm nghía trước gương.
Bọn nịnh thần đồng thanh hô to:
-
Trời! Bộ quần áo sao mà đẹp quá chừng!
Quan
trưởng lễ báo tin:
-
Long tấn đã đến chờ hoàng thượng đi rước thần.
Nhà
vua đáp: “Ta đã sẵn sàng.”
Rồi
ngài lại nhìn vào gương mà ngắm nghía Các quan thị
vệ có nhiệm vụ dở đuôi áo, thò tay sát đất giả đò
như cầm vật gì đó, rồi vừa đi vừa đỡ cái vật vô hình
ấy trên không, chẳng dám nói là mình không nhìn thấy gì.
Ngoài
phố mọi người cũng trầm trồ khen ngợi bộ quần áo mới
của hoàng đế vì không ai muốn mang tiếng là ngu xuẩn hoặc
không làm tròn trách nhiệm. Nhưng rồi, từ một góc nào
đó, một đứa bé thốt lên:
-
Kìa! Hoàng đế cởi truồng kìa!
Mọi
người chung quanh đều nghe rõ câu nói của cu Tèo, nhưng ai
cũng giả bộ như chẳng nghe. Chỉ biết là đương không
đức vua truyền lệnh quay về lập tức. Có lẽ Ngài
cảm thấy choáng váng, một chiếc kiệu vàng được vời đến,
bốn chiếc rèm ngọc được buông xuống và đoàn quân nhạc
cất cao bản “hồi cung.”
PC:
Cái bản ngả của mỗi người chúng ta có lẽ cũng huyền
ảo và kỳ diệu như chiếc áo của đức vua này chăng?
Em
thân
mến!
Ðây
là một câu chuyện cổ nước ngoài mà tôi đã đọc đâu
đó thật lâu rồi. Câu chuyện chấm dứt khi nhà vua hồi
cung. Nhưng để câu chuyện có hậu hơn, tôi xin kể rằng:
“Khi đức vua trở về, mười hai tên ngự lâm quân chực
sẵn trước thềm để nâng cái đuôi áo kỳ diệu, mười
hai cô quậy xà phòng bột sẵn để giặc áo cho vua, mười
hai cô chực phơi, mười hai cô quạt bàn là để sẵn v.v…
Sau
khi thay đổi thường phục hàng ngày, ngự một ly sâm lạnh,
đức vua của chúng ta nằm duỗi chân giữa mười hai chiếc
quạt lông ngỗng xoa trán thầm nhủ: “Có thế mà mình lại
sợ bở vúa. Rồi đâu lại vào đấy… Chả nhẽ thằng
nhóc con đó lại khôn ngoan hơn cả bàng dân thiên hạ.
Hừm! Con cái nhà ai mà mất dạy thế, báo hại mình thót
cả tim!
Nàng
Lọ Lem
Ngày
xửa ngày xưa, có một thiếu nữ mồ côi mồ cút nhà lại
nghèo khó, phải đi làm thuê cho người ta. Quần quật
suốt ngày trong bếp, đầu tắt mặt tối, người thiếu nữ
có nhan sắc khá mặn mà này biến thành một cô gái lọ lem.
Và người ta gọi nàng là “Nàng lọ lem.”
Thời
xa xưa, khi cánh cổng nhà trời còn mở rộng, chư tiên hay
xuống trần dạo chơi và làm phúc, thấy hoàn cảnh của cô
bé đáng thương, một bà tiên động mối từ tâm, bà hiện
ra và dặn dò cô hãy tìm cho được một trái dưa gang còn
xanh, bốn con chuột bạch và một chú cào cào thật to, nàng
lọ lem y lời.
Một
đêm trăng sáng, hoàng thái tử mở hội hoa đăng để kén
vợ, các cô gái đẹp nhất, đẹp nhì, đẹp ba, đẹp tư,
đẹp năm... trong nước đều được mời đến, các cô gái
đẹp nhất xứ được khiêu vũ cùng hoàng tử, còn các cô
gái khác thì đã có các vương tôn công tử con nhà danh gia
vọng tộc thù tiếp. Chỉ có nàng Lọ Lem hiền hậu đáng
thương của chúng ta là nước mắt đoanh tròng đang loay hoay
với hàng tá nồi niêu, soong chảo.
Bà
tiên nhân hậu liền vung chiếc đũa thần lên. Trái dưa
gang hóa thành một cỗ xe kết đầy hoa hồng đỏ, trắng,
bốn con chuột bạch biến thành bốn con ngựa hùng dũng,
chú cào cào trở nên một anh chàng kỵ mã hầu cận rất ư
là oai phong... Bộ y phục hôi hám dính đầy dầu mỡ của
nàng Lọ Lem hóa thành một bộ y phục khiêu vũ rất hợp thời
trang, sực nức mùi hoa lài, hoa bưởi, hoa dạ lý... Người
đẹp “Lọ Lem” của chúng ta bèn lên đường tiến thẳng
đến hoàng cung. Cả đại hội đều ngây ngất và sững
sốt trước sự xuất hiện của Lọ Lem, các chàng trai nhìn
nàng với vẻ trìu mến chiêm ngưỡng, các cô gái tức tối
ganh tỵ. Hoàng thái tử nghiêng mình trước xe tứ mã,
đưa tay xin phép được dìu người ngọc xuống. Và Lọ
Lem cùng chàng khiêu vũ cho đến khi chuông đồng hồ gõ
mười hai tiếng. Sực nhớ lời bà tiên dặn, Lọ Lem
hối hả từ giả hoàng tử leo lên xe và cho phi nước đại
giữa ánh mắt nuối tiếc của hoàng tử. Chiếc xe vừa
khuất sau một khúc quanh, thì Lọ Lem “mèo lại hoàn mèo.”
Nàng Lọ Lem của chúng ta đứng bơ vơ giữa đường dưới
ánh trăng... tay trái cầm một cái lồng nhốt bốn con chuột
bạch, tay phải ôm trái dưa gang và chú cào cào thì nhảy choi
choi trong túi áo...
Em
thân mến!
Câu
chuyện cổ trên đây là một câu chuyện tình có hậu đẹp
như mơ... Nàng Lọ Lem được kết duyên cùng hoàng tử, bà
tiên chúc lành cho họ rồi trở về thượng giới với một
nụ cười thật tươi trên đôi môi nhân hậu. Ðôi vợ
chồng xinh đẹp và giàu sang này sống bên nhau cho đến ngày
đầu bạc răng long. Họ sanh ra những đứa con kháu khỉnh
như tiên đồng ngọc nữ. Hoàng tử yêu nàng Lọ Lem say
đắm nên không có một cuộc đánh đập gây gổ nào xản
ra trong đời sống lứa đôi của họ. Khi nào gặp phải
một chuyện rắc rối, nàng Lọ Lem chỉ cần ngồi ôm mặt
khóc thì bà tiên nhân ái đã vội vã vén mây bay xuống với
chiếc đũa thần lấp lánh trên tay. Và đó cũng là tất
cả kết cấu của các câu chuyện đời xưa.
Viết
lại câu chuyện này, tôi chỉ muốn hỏi nhỏ với em, những
cô bé Lọ Lem đáng thương đang loay hoay trong bếp, tất tả
ngược xuôi bán hàng ngoài đường phố, hoặc nhễ nhại mồ
hôi trên ruộng lúa nương khoai, có phải chăng trong một đời
người ít nhất cũng có một lần, tôi và em, những cô bé
lọ lem bỗng trở thành xinh đẹp, rực rỡ rất ư là cần
thiết đối với một người khác nào đó khi mà thần ái
tình đã vung đôi đũa ngọc? Chúng ta sẽ trở thành một
nàng công chúa kiều diễm đẹp nhất xứ cho đến lúc đồng
hồ điểm 12 tiếng... Ðó là lúc chúng ta rơi tỏm vào chiếc
bẫy của thượng đế, như một tư tưởng gia tây phương
đã nói: “Tình yêu là một chiếc bẫy mà thượng đế
đã gài ra để bắt con người truyền giống.” Cái giờ
phút định mệnh này thật là bi thảm biết bao. Hôm qua
ta còn là một bà chúa đầy quyền uy, nghiêng thành đổ nước...
thì hôm nay ta đã biết thành một con mụ bán mắm, con
mẹ bán hột vịt lộn nào đó. Cánh cửa nhà trời đã
đóng nên mặc tình cho các nàng Lo Lem của thời đại chúng
ta ôm mặt khóc, hoàng thái tử vẫn thẳng tay nện củi, búa
cuốc, cán rựa hay bất cứ thứ gì mà chàng vớ được vào
người ngọc. Những đứa con “tiên đồng”, “ngọc
nữ” của họ thì đang bò lê trên mặt đất đầy ruồi.
Vậy thì nên cao bay xa chạy, leo lên ngựa phi nước đại trước
đôi mắt thẫn thờ tiếc nuối của hoàng thái tử trước
khi đồng hồ điểm 12 tiếng hay là nán lại để chàng
cùng ta đồng chứng kiến cái giây phút “mèo lại hoàn mèo.”
Em
tính sao đây?
Dải
Áo Ðứt
Xưa,
một vì vua Trung Hoa mở dạ tiệc thiết đãi trăm quan.
Yến tiệc đang linh đình thì một cơn gió mạnh ập đến,
tất cả đèn đuốc đều phụt tắt. Trong bóng tối một
cung nữ đến tâu với nhà vua:
-
Muôn tâu bệ hạ, thừa dịp tối lửa tắt đèn, một tên
vô lại đã cợt nhã với thần thiếp. Thiếp đã bứt
được dải áo của hắn... xin bệ hạ cho truy tầm tội phạm
ngay lập tức ạ!
Nghe
xong vua liền truyền lệnh:
-
Hỡi bá quan! Ðể tỏ dạ trung thành và hết lòng vui
say với trẫm đêm nay, các khanh hãy bứt hết dải áo đi!
Mọi
người y lời. Tiệc tan, nàng cung nữ đến nũng nịu
trách nhà vua đã không chịu bắt tội phạm mà còn tạo
cơ hội cho hắn phi tang.
Nhà
vua mỉm cười đáp:
-
Tửu sắc là những điều mà thường nhân khó ai tránh khỏi.
Cho ta uống rượu say chuếnh choáng, cận kề bên nữ sắc,
gặp cơ hội thuận tiện thì chính ngay bản thân trẫm cũng
khó mà tự chủ. Còn như biết được tội phạm mà không
trừng trị thì phép nước hết nghiêm minh... Lòng trẫm chưa
được vô tư như thánh nhân khi biết rõ người phạm lỗi
thì thà rằng chẳng biết còn hơn.
Về
sau, nhà vua lâm nạn mọi người đều bỏ chạy, duy chỉ có
một viên quan trẻ liều mình cứu giá. Nhà vua thoát chết,
hỏi tên họ ân nhân. Chàng trẻ tuổi cung kính thưa:
-
Muôn tâu thần chính là người bị bứt dải áo trong buổi
dạ yến năm xưa.
Hai
vui tôi đều xúc động.
Em
thân mến!
Vị
vua này xử sự thật thông minh và tế nhị biết là bao.
Ðọc đến câu chuyện này, tôi và em đều bồi hồi cảm
động. Vậy mà trong chuyện tương giao hằng ngày, chúng
ta lại cư xử hết sức thô tháo và khờ khạo. Có lẽ
vì thế mà chúng ta đã làm tổn thương cho chính mình và bạn
bè không ít. “Nếu biết lỗi người mà lòng mình chưa
thể vô tư như thánh nhân thì thà rằng không biết còn hơn.”
Chúng ta có nên ghi đậm nét câu này vào trong lòng không đây?
Thân
Giáo
Thuở
xưa có một nhà sư sống ẩn dật tại một triền núi, được
mọi người xem là đạo cao đức trọng.
Một
hôm nhà sư tiếp một bà lão cùng cậu con trai của bà.
Bà
lão thưa:
-
Bạch sư thằng bé này mắc phải cái tật là ưa sưu tầm
hoa kiểng. Nó đã làm cho tôi tốn hao không biết bao nhiêu
là tiền của trong cái thời củi quế gạo châu này... Xin
sư làm ơn chữa trị hoặc răn dạy giùm kẻo tội nghiệp
cho tôi cùng vợ con nó.
Nhà
sư ngẫm nghĩ giây lâu nói:
-
Bà hãy dắt nó về khoảng nửa tháng sau trở lại tôi sẽ
giúp cho.
Bà
lão y lời. Ðến ngày hạn nhà sư chỉ thốt một câu
đơn giản:
-
Ðó là một thú vui hao tài tốn của con hãy bỏ đi, để tiền
mà thờ mẹ nuôi con.
Bà
lão bất bình:
-
Tưởng thầy có phương cách gì té ra chỉ có bao nhiêu lời
đó. Thế sao thầy không làm ơn nói giùm ngay bữa trước
mà còn hẹn đến hôm nay? Ðường xá xa xôi biết là
bao!
Nhà
sư mỉm cười:
-
Chẳng giấu gì bà... tôi cũng mắc phải cái tật như cậu
nhà đây. Nửa tháng gia hạn là thời gian để tôi bỏ
cái cố tật đó. Nay mọi việc đã xong tôi mới dám
mở miệng khuyên can cậu em này.
Chàng
trai từ đó ăn ở rất vừa lòng mẹ.
Em
thân mến!
Trong
một quyển kinh A Hàm, Ðức Phật đã giải thích vì sao Ngài
được gọi là Như Lai. “Như Lai là làm sao thì nói vậy,
lời nói và việc làm đi đôi với nhau nên gọi là Như Lai.”
Và chúng ta có thể gọi vị sư này là Như Lai theo nghĩa ấy.
Người
xưa có thể chỉ với một câu nói giản dị mà cảm hóa được
lòng người là do thân giáo. Còn chúng ta, nói ra rả suốt
ngày mà chẳng ai chịu nghe là vì miệng nói một đàng mà
hành động một nẻo, chứ không phải tại chúng sanh đời
mạt pháp cang cường khó dạy đâu nghe!
Ðạo
Sĩ Am Mây
Xưa
có một đạo sĩ sống ẩn dật tại một thâm sơn cùng cốc
đầy mây phủ nọ. Rau rừng, nước suối, quạt gió,
đèn trăng tuy đạm bạc nhưng khá đầy đủ đạo vị đối
với con người tri túc cắt đứt duyên trần như đạo sĩ.
Trở
ngại duy nhất của nhà tu là các chú chuột nhắt trong hang
động, thường quấy phá gậm nhấm bất kể đêm ngày.
Ngày
lại tháng qua bọn chuột cứ sinh sôi nảy nở đông đúc và
ngày một lộng hành chịu hết nổi. Ðạo sĩ đành mang
một chú mèo về ở chung, nhờ sự cảm hóa của đạo sĩ,
chú mèo chỉ hăm he lũ chuột nhắt chứ riêng chú hoàn toàn
trường chay khổ hạnh. Lâu ngày mèo chỉ còn da bọc
xương. Chạnh lòng, đạo sĩ phải hạ sơn đi xin sữa
bò về bồi dưỡng cho ân nhân, cũng là bạn đồng hành trên
đường cầu đạo.
Ðể
tránh tối thiểu chuyện đi lại thường làm gián đoạn công
phu tu tập, đạo sĩ xin một con bò sữa về nuôi để lấy
sữa cho mèo uống. Nhân vật mới này thật là ngu như
bò... ả ta cứ nhởn nhơ đi dạo khắp vùng núi ẩn cư và
thường quên lối về... Một chú mục đồng được vời đến
để trông nom con bò và vắt sữa mỗi ngày. Rừng
núi hoang sơ xem chừng không mấy thích hợp lắm với một
chàng trai mới lớn và nặng lòng trần tục... Ðạo sĩ đành
mượn sợi tóc nữ nhi cột chân chàng trai trẻ... Bằng cách
đó chẳng bao lâu vùng núi ẩn dật biến thành một thôn trang
trù phú với đông đảo những tập đoàn chuột, mèo, bò,
đàn ông, đàn bà và con nít...
Không
ai biết đạo sĩ đắc đạo khi nào, tịch ở đâu và
truyền pháp cho ai... Lâu dần người ta cũng quên mất
tên tuổi ông và chỉ gọi nhà tu là “Ðạo sĩ am mây.”
Em
thân mến!
Như
vậy không phải là khi không khi khổng mà đức Phật dặn
hàng tu sĩ chúng ta nên tu hạnh “thiểu dục tri túc” tức
là hãy bằng lòng với tình trạng vật chất hiện có của
mình... Lâu lâu có lẽ chúng ta nên kiểm kê tài sản một
lần xem nó đã sinh sôi nảy nở đến đâu rồi, kẻo mà “cái
sẩy nó nảy cái ung” biết đâu chừng, có phải thế không?
Hóa
Thân Bồ Tát
Pháp
sư Ðỗ Thuận, sư tổ của tông Hoa Nghiêm ở Trung Hoa, có
nuôi một chú đệ tử thân cận rất lâu. Một hôm chú
thị giả này xin phép Ngài đi núi Ngũ Ðài để đảnh lễ
Ðức Văn Thù vì nghe đâu Bồ Tát thường hiện thân xuống
chốn đó. Ngài Ðỗ Thuận không bằng lòng và đọc một
bài kệ:
“Du
tử mạn ba ba
Ðài
sơn lễ thổ pha
Văn
thù chỉ giá thị
Hà
xứ mích Di Ðà.”
Tạm
dịch:
Những
chàng du tử lênh đênh
Ðến
Ðài Sơn lễ những ghềnh đất thô
Di
Ðà tìm ở chốn mô
Văn
Thù kề cận hồ đồ không nghe.”
Chú
đệ tử vẫn ra đi... băng ngàn vượt suối một thời gian
mới đến núi Ngũ Ðài. Chú tha thiết đảnh lễ cầu
mong được thấy hóa thân của Bồ Tát, lòng thành được
đáp ứng, một ông già hiện ra bảo chú:
-
Ðức Văn Thù nay ở núi Chung Nam, tên Ngài là Ðỗ Thuận.
Chú
thị giả hối hả quay về. Ðến cố hương Ngài Ðỗ
Thuận đã thị tịch.
Em
thân mến!
Chỉ
cần giản dị một chút thôi là chúng ta có thể gặp không
biết cơ man nào là thiện hữu tri thức trên khắp nẻo
đường đời. Ngược lại chỉ cần một tí ti kiêu mạn
thì dù ở kề cận bên Phật và Bồ Tát, chúng ta vẫn lâm
vào tình trạng “Vô duyên đối diện bất tương phùng”
như chú thị giả trên đây.
Những
Ðiều Vô Lý
Thiền
sư Triệu Châu nói:
-
Lúc ở Thanh Châu ta có may một cái áo bằng lông rùa nặng
đến bảy cân.
Câu
nói này vô lý đến bốn lần:
1.
Rùa làm gì có lông?
2.
Lông đã không thì làm sao dệt thành vải được?
3.
Vải không làm sao may thành áo?
4.
Áo đã không thì làm sao cân nặng đến 7 cân?
Em
có đồng ý như thế không? Vậy mà, có một chuyện
này càng vô lý hơn nữa, nhưng chúng ta vẫn chấp nhận.
1-
Ta khởi lên những vọng tưởng, nhìn cho kỹ thì chúng biến
mất, tìm không ra tung tích, cũng hư ảo như là lông rùa vậy.
2-
Những vọng tưởng hư ảo đó được nối kết với nhau thành
một cái “tâm của ta.”
3-
Cái tâm này khác cái tâm kia nên dường như có những bản
ngã cá biệt nhau, cái xấu cái tốt, thánh phàm lộn xộn.
4-
Và chúng ta than thở “Cái nghiệp của tui nó nặng quá chời”
(thế là hơn 7 kí lô của Ngài Triệu Châu rồi đấy).
Ông
Thầy Kỳ Lạ
Xưa
có một vị sư già nuôi một đồng tử nhưng không dạy phép
tắc qui củ gì cả.
Một
hôm, có vị tăng hành cước đến thấy tình trạng đó liền
dạy cho đồng tử những nghi lễ thông thường của một chú
tiểu sơ cơ.
Chiều
đến, khi vị sư già trở về, đồng tử liền ra chào hỏi.
Vị sư già lấy làm lạ gạn hỏi nguyên do. Xong, sư gọi
vị khách tăng đến bảo:
-
Thượng tọa đi hành cước là thực hành cái tâm gì?
Tôi nuôi thằng bé này đã hơn ba năm nay rồi. May mắn
là nó có thể tự thương xót nó. Ai bảo thượng tọa
làm hư hoại nó. Thôi! Mời thượng tọa đem hành
lý đi chỗ khác.
Vị
khách tăng đành phải ra đi giữa lúc trời đang đổ mưa.
Thiền
sư Pháp Nhãn bình rằng:
“Người
xưa làm sao hiển lộ cái gia phong của chùa mình ra rất là
quái lạ, hãy nói ý tại chỗ nào? Một khi đã có động
tác thi vi liền chẳng phải là Bổn lai diện mục. Thánh
đã chẳng thể được thì làm gì có phàm. “An nhiên
mặc cho nó động tĩnh vô tâm, thánh hay phàm, năng hay sở,
trí hay ngu, phiền não hay bồ đề đều là đạo như như bất
động.”
Em
thân mến!
Chúng
ta có thể bắc chước rập khuôn theo Thánh hiền, tiên Phật,
Bồ Tát về các khoản oai nghi đi đứng nằm ngồi, ăn mặc,
nói năng, cúi ngước, ho hen, tằng hắng... nhưng không thể
bắt chước các ngài về khoản giác ngộ và thái độ tự
tại trước bát phong. Không thể bắt chước nhưng không
phải là chúng ta vô phần. Có điều hâm mộ và bắt
chước người khác đôi khi cũng có nghĩa là tự khinh khả
năng của chính mình. Có lẽ vì thế mà vị sư này không
chịu dạy dỗ đồng tử về những oai nghi phép tắc chăng?
Mạng
Ðền Mạng
Xưa
có bác thợ hồ đang lúi húi xây một bức tường cao thì
bỗng trợt chân té nhàu. Sau khi quay lộn đi mấy vòng,
bác rơi trúng một khách bộ hành đang đi phía dưới.
Kết cuộc là bác thợ hồ bình an vô sự còn người bộ hành
thì gãy cổ chết. Gia đình nạn nhân liền đâm đơn
kiện. Quan huyện xử bác thợ hồ phải bỏ tiền ra mai
táng nạn nhân. Thân nhân người chết không bằng lòng,
nhất định bắt đương sự phải “mạng đền mạng.”
Quan huyện liền phán:
-
Thế thì gã thợ hồ phải chết theo cách thức mà hắn đã
giết người. Lần này chính hắn phải đứng dưới đường,
gia đình nạn nhân cử một người leo lên bức tường và
nhảy xuống đầu hắn để hắn gãy cổ chết mà đền tội.
Thân
nhân người chết liền bãi nại.
Em
thân mến!
Nên
tạ ân thượng đế những gì mà ngài không chuẩn nguyện
cho ta.
Chum
Vàng Bắt Ðược
Xưa
có anh nông dân mua được thửa đất mới. Một hôm,
đang cày đất anh bắt được chum vàng. Vốn thật thà,
anh ngẫm nghĩ:
“Chum
vàng này chắc của người chủ cũ.”
Anh
liền mang đi trả. Người chủ cũ cũng đáp rất vô tư.
-
Tôi không có vàng để chôn nên chum vàng đó không phải là
của tôi.
Anh
nông dân cãi lại:
-
Khi tôi mua thửa đất, không hề nói là có chum vàng.
Vì vậy nên tôi xin trả lại cho bác.
Lúc
tôi bán đất tôi cũng không biết là có chum vàng. Vậy
thì bác cứ lấy.
Hai
người cứ nhượng qua nhượng lại mãi cho đến lúc trời
sụp tối, đành phải chia tay. Sau một đêm suy nghĩ cặn
kẽ, cả hai đều hối hả đi tìm nhau. Gặp nhau ở giữa
đường, hai người cùng nói:
-
Bác dạy thật chí lý! Chum vàng ấy là của tôi.
Hai
người lại tranh cãi cố chứng minh chum vàng là của mình...
Cuối cùng nội vụ phải đưa lên quan.
Em
thân mến!
Hóa
ra càng suy đi ngẫm lại, chúng ta càng bóp méo sự thật, càng
làm cho sự việc rắc rối thêm lên có lẽ vì thế mà chư
tổ thường dạy chúng ta nên tiếp ứng với ngoại vật bằng
bản tâm bình thường không bị những tính toán lo toan làm
xao động. Mảnh tâm ấy đã có đủ khả năng làm lành
lánh dữ (giới), sáng suốt (huệ) và không bị dao động vì
những tư dục cá nhân (định). Ðó là lúc mà cả hai
bác nông dân đều thấy rõ mồn một rằng: “Chum vàng ấy
không phải là của tôi.”
Tri
Dị Hành Nan
Ngày
xửa ngày xưa, có một lũ chuột đang sống rất hạnh phúc
tại một xóm nhà lá nọ.
Dân
chúng đang an cư lạc nghiệp thì một chú mèo xuất hiện.
Ðể
đối phó với tai họa mới này, một đại hội nhà chuột
liền được triệu tập khẩn cấp.
Các
nhà đại biểu nhà chuột lục đục kéo về dự đại hội.
Hội
nghị kéo dài ba ngày, toàn thể đại biểu đều nhất trí
đồng ý ở đề nghị: “Phải treo một cái chuông nơi
có chú mèo để đồng bào nhà chuột biết hung thần sẽ đi
đến đâu mà chạy cho lẹ.”
Hội
trường vang dội tiếng vỗ tay. Giòng họ nhà chuột cũng
thông minh đấy chứ!
Nhưng...
ai là kẻ dám đi treo chuông nơi cổ chú mèo?
Té
ra biết thì dễ nhưng làm thì khó biết bao!
Chấp
Chỉ Vọng Nguyệt
Lía
là tên tớ của ông Bảy mập, nó thật thà giỏi dắn chỉ
phải cái hơi ngu.
Một
hôm ông Bảy có việc đi vắng, dặn Lía ở nhà rằng:
-
Phải con chừng cửa nẻo kẻo ăn trộm!
Ông
Bảy đi rồi có một đoàn cải lương đi về làng.
Lía
rất khoái coi cải lương... nhưng nhớ lại lời dặn của
ông Bảy.
Nó
đứng ngồi không yên mãi đến lúc tìm ra một diệu kế.
Và
Lía thực hành liền.
Lía
tháo hết mấy cánh cửa, chất lên xe đạp chở đi xem hát.
Tan
hát, Lía chở cửa về nhà lắp lại như cũ.
Khi
ông Bảy về nhà ông thấy cả gia sản chỉ còn mấy cánh
cửa, chiếc xe đạp và cậu tớ quý.
Em
thân mến!
Nếu
chúng ta chỉ cho rằng khi đi bất cứ nơi nào, chỉ cần mang
theo đầy đủ ba y, bình bát là sẽ làm xong lời Phật dạy...
thì coi chừng! Chúng ta sẽ giống thằng Lía này đấy!
Lý
Do Giản Dị
Xưa
có một tòa lâu đài rất nguy nga tráng lệ bỗng dưng sụp
đổ. Mọi người đều đổ xô đến xem và xôn xao bàn
tán.
Một
người ra vẻ hiểu biết, hắng giọng kết luận:
-
Khi nãy, đang ở đầu ngõ, tôi thấy một con ruồi xanh bay
qua... Và sau đó thì “ầm” một cái ngôi nhà này sụp đổ.
Chính hắn là thủ phạm chứ ai trồng khoai đất này nữa...
thưa bà con cô bác.
PC:
Dường như những lời kết luận vội vã của chúng ta khi
giải thích cho các sự kiện hàng ngày đều giống hệt như
anh chàng thông thái trên cả.
Em
nghĩ sao?
Tên
Cướp Ðộc Ðoán
Ngày
xửa ngày xưa, có một tên tướng cướp hùng cứ ở một
sơn trại hiểm trở. Hắn có rất nhiều lâu la bộ hạ
cùng vô số ngọc ngà châu báu, nhưng tướng chỉ quý nhất
là một chiếc giường bằng vàng giát ngọc bích. Tướng
cướp rất hãnh diện về chiếc giường này và hắn tìm được
một cách quảng cáo tên tuổi mình cùng chiếc giường được
nổi danh ngang nhau.
Mỗi
khi bắt gặp người lạ mặt lai vãng đến gần sơn trại,
tướng cướp cho lâu la áp đặt nạn nhân lên chiếc giường
quý. Ba trường hợp có thể xảy ra:
1-
Nếu tầm thước nạn nhân dài hơn chiếc giường, bọn cướp
sẽ cắt phần đầu hoặc chân thừa ra.
2-
Nếu nạn nhân có khổ người ngắn hơn chiếc giường, bọn
cướp sẽ kéo dài người bị nạn cho đến lúc y nằm vừa
vặn trên giường mới thôi.
3-
Nếu tầm thước nạn nhân vừa vặn với chiếc giường, bọn
cướp sẽ không tha cho y được trở về quê quán.
Bằng
cách quảng cáo này, bọn cướp và chiếc giường nổi danh
ngang nhau.
Em
thân mến!
Loài
người chúng ta ai cũng có sẵn một cái giường như thế và
chúng ta cũng độc đoán không thua gì tên cướp nọ. Khuôn
theo những vọng tưởng điên đảo của riêng mình, chúng ta
cũng lập nên những khuôn vàng thước ngọc để đo lường
thiên hạ. Vì vậy mà trong cuộc tương giao với nhau,
chúng ta thường bực bội khó chịu khi thấy sao mà chẳng
có ai làm vừa bụng mình hết.
Chiếc
giường của tướng cướp còn có một tấm mức cố định,
trong khi thước đo của mỗi người chúng ta thì lại được
cấu tạo bằng những vọng tưởng sinh diệt vô thường nên
rốt cuộc, chúng ta chỉ tự làm khổ mình và khổ người
mà thôi.
Em
có thấy như thế không?
Con
Chó Vô Ơn
Thầy
kể chuyện:
“Tu
viện có nuôi một con chó tên là Tiểu Bạch, nó bị xà mâu
ăn lỡ loét cùng mình. Sư khám bệnh thấy vậy động
lòng trắc ẩn, chế thuốc bôi cho nó, thuốc thật công hiệu
nên chỉ mới xức có một lần mà ghẻ đã khô mặt.
Nhưng cũng từ dạo đó, mỗi lần thấy bóng “ân nhân”
Tiểu Bạch bèn hậm hực bỏ đi nơi khác.”
Xong,
thầy kết luận:
“Mấy
đứa tụi con, khi có lỗi được huynh đệ nhắc nhở, đâm
ra tức tối, tìm cách trả đũa lại... thì coi chừng giống
con Tiểu Bạch.”
PC:
Chúng sanh trong cõi này dù là nhân đạo hay súc sanh đạo cũng
giống nhau chỗ này. Nhớ ân và đáp ân là một điều
thật khó, trong khi đem oán trả ân là một chuyện dễ ợt.
Có lẽ vì thế mà chúng thường thắp hương đảnh lễ những
kẻ biết ghi ân chăng? Và trong kinh, Ðức Phật cũng thường
tán thán tôn giả Xá Lợi Phất là người mà “một chút
ân nhỏ xíu cũng không quên!”
Cách
Làm Một Hạt Ngọc Trai
Em
có biết người Nhật Bản họ làm một hạt ngọc trai như
thế nào không?
-
Họ lấy một con dao nhỏ thật sắc, rạch bụng con trai ra,
bỏ vào đấy một hạt cát và khâu lại. Xong, họ thả
con trai ấy vào một cái hồ chứa đầy nước biển.
Những
con trai sau khi lãnh một hạt cát vào trong bụng như thế, có
thể lâm vào hai trường hợp sau:
1-
Những con trai yếu đuối sẽ chết vì vết thương làm độc.
2-
Những con còn lại, sau một thời gian đau đớn oằn oại vì
vết thương, sẽ tiết ra một chất nhờn để bao bọc hạt
cát đang nằm sâu trong da thịt.
Hạt
ngọc trai được thành hình từ đó.
Còn
chúng ta, cuộc đời cũng đã mổ bụng ta và nhét vào đấy
những niềm sầu nỗi khổ.
Nếu
chúng ta cứ than van hờn trách thì ta sẽ chết lần chết mòn
như những con trai yếu đuối nọ.
Ngược
lại, nếu ngay trong những nghịch cảnh oái ăm ấy mà chúng
ta biết tiết ra một chất thức tỉnh thì một vị Phật được
bắt đầu như thế đó em ạ!
Ðạt
Ý Vong Ngôn
Tý
cắp sách đến trường học.
Một
hôm cô giáo kể chuyện rằng bản cửu chương của bọn Tý
chưa học thuộc đó là kết quả của một nhà toán học đại
tài. Ông đã mất hết 13 năm dài nghiên cứu ròng rã
mới tìm ra được.
Kể
xong, cô giáo kết luận:
“Các
em phải gắng học cho thuộc kẻo phụ công khó của người
xưa!”
Tý
nghe xong đâm ngán. Thông minh cỡ ông toán học đó mà
phải mất 13 năm. Ngu cỡ mình chắc phải 1300 năm mới
học thuộc nổi... chết cha rồi!
Tý
bèn trốn học, trong khi bạn Tý đều học thuộc lòng cửu
chương và ứng dụng nó để làm toán nhân chia rất dễ dàng.
Em
thân mến!
Nếu
em nghe kể rằng Ðức Phật của chúng ta phải trải qua vô
số kiếp tinh cần khổ nhọc mới được giác ngộ, chư tổ
phải mất ba bốn chục năm mới xong việc... rồi em đâm ngán
mà thối tâm đâu có khác gì thằng cu này!
Có
phải thế không nào?
Bản
Kinh Kỳ Lạ
Vào
thời đương lại, cách đây hằng sa số A tăng kỳ kiếp,
có một vị Phật ra đời tên là Hạnh Ð.
Một
hôm Ðức Phật đang ngự giữa rừng trúc cùng 1250 vị tỳ
kheo doanh vây thì có một tên vô lại đến dùng đủ lời
bất nhã thóa mạ Phật. Phật Hạnh Ð. bèn dậm chân
mếu máo:
-
Này chư tỳ kheo! Tên Bà La Môn này vô cớ đến mạ nhục
Như Lai!
Chúng
tỳ kheo đồng thưa:
-
Bạch Thế Tôn, chúng con nghe rằng chư Phật đều bất động
trước lời khen tiếng chê...
Phật
Hạnh Ð. liền òa lên khóc:
-
Hu hu! Như Lai không thích ức ức... Như Lai không muốn
hắn nói những lời khó nghe như thế đối với Như Lai...
ức ức... Như Lai sẽ nhập Niết Bàn cho mà coi... ức ức!
-
Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy bình tĩnh, tên vô lại đã đi...
xa rồi ạ!
Nhưng
Phật Hạnh Ð. vẫn còn tấm tức...
-
Mà Như Lai vẫn chưa hết tủi thân... ức ức!
Lúc
bấy giờ 1250 vị tỳ kheo bèn vội vã “thiên đản hữu kiên,
hiệp chưởng hướng Phật, nhi tác thị ngôn.”1
1.
“Kéo áo bày vai mặt, chắp tay hướng Phật mà thưa thế
này.”
“Hạnh
Ð. vô thượng tôn
Ba
cõi chẳng ai bằng
Thầy
dạy khắp trời người
Cha
lành chung bốn loài...”
Khi
ấy rừng tre cười nghiêng ngả, ông trăng đỏ ké mặt.
Phật
Hạnh Ð. bèn đưa cánh tay Ðâu La Miên thò vào túi, móc lấy
chiếc khăn mù soa bằng vải tấm ra hỉ mũi, quẹt nước mắt
và nhoẻn miệng cười.
1250
vị tỳ kheo cũng bật cười theo.
(Trích
Ðương Lai hạ sanh Phật)
PC:
Coi chừng bản kinh này sẽ được kèm vào hồ sơ lý lịch
của mình đấy... Thưa chư Phật đương lai!
Thuận
Nghịch
Cu
Bi là con trai một của ông Cả. Ông rất cưng chìu nên
suốt ngày nó chỉ biết ăn chơi và khóc nhè.
Một
hôm rong bờ ruổi bụi thế nào mà cu Bi lọt phải một bụi
tre gai. Bi la khóc ầm ĩ, chó Vá chạy quanh tìm cách cứu
bạn như vô ích.
Vá
đành chạy về nhà báo cho ông Cả hay.
Ðược
tin, ông Cả tức tối đi ngay đến bụi tre. Nhưng ông
cũng đành bó tay vì hễ vừa động đậy mấy cành tre là
cu Bi ré khóc inh ỏi.
Ông
Cả chỉ còn cách xách cà mèn ngày ba bữa đến bụi tre nuôi
cu Bi.
Thời
mai, hôm ấy có chú Tư ở Saigon về thăm nhà.
Chú
liền đi với ông Cả đến thăm cu Bi. Gặp nó chú Tư
liền nảy ra một kế. Chú Tư bảo ông Cả về trước,
còn chú ở lại để kể chuyện cho cu Bi nghe vì nó rất khoái
mục này.
Chuyện
rằng: “Có một con ma cà rồng mắt đỏ lưỡi xanh, nanh dài...
chuyên môn ăn thịt con nít. Mỗi khi bắt được đứa
nào, nó liền bỏ ba hột muối lên đầu đứa bé và nhai rạo
rạo.
Chú
Tư còn kể thêm: Nghe đâu nó mới xuất hiện và nhai hơn một
chục đứa ở xóm trên.
Kể
xong, chú Tư bỏ về, mặc cho cu Bi ré khóc inh ỏi.
Vừa
được vài bước, chú Tư đã nghe tiếng chân cu Bi rượt theo.
Hai
chú cháu cùng về. Chó Vá mừng vô kể.
Em
thân mến!
Chúng
ta đã hiện diện trên cõi đời này chẳng khác nào thằng
cu Bi lọt phải bụi tre gai.
Ông
Cả, con chó Vá và ngăn cà mèn tốt bụng quả là những thuận
cảnh rất cần thiết cho bọn mình, nhưng những nghịch cảnh
như chú Tư và con ma cà rồng thì cũng chẳng hẳn là vô ích.
Vậy
thì, bọn mình có nên vòng tay cám ơn tất cả những điều
trái tai gai mắt, rối trí, khổ lòng mà cuộc đời không ngớt
dồn dập trao tặng hay không?
Chàng
Rể Ða Sự
Ngày
xửa ngày xưa, có một chàng trai nọ, chúng ta cứ tạm gọi
anh chàng là An cho tiện.
An
được cha mẹ hứa hôn với một cô gái láng giềng đồng
trang lứa. Hai đàng chưa hề giáp mặt nhau. An chỉ
nghe phong phanh rằng vị hôn thê của mình là một thiếu nữ
khá diễm lệ, tam tòng tứ đức đều đầy đủ. Và
các bạn chàng vẫn thường kín đáo tỏ bày niềm ao ước
được một người bạn đường tốt đẹp như chàng.
Ðể
chứng tỏ cho cô dâu và mọi người biết rằng đàng gái
đã không lầm khi chọn mình làm rễ đông sàng. An cương
quyết sẽ không bao giờ rước vợ nếu chưa lập được công
danh với đời.
Từ
đó người ta thấy An ngày đêm sôi kinh nấu sử, luyện võ
ôn văn.
Ngày
tháng dần qua, biết bao lần đàng gái bắn tin cho An biết
rằng họ không đòi hỏi nơi chàng gì hết, rằng tân nương
sẽ được đưa đến vô điều kiện như lời giao ước năm
xưa.
Nhưng
lòng tự tôn của An đã không cho phép chàng hành động như
bao nhiêu con người tầm thường khác… Chàng vẫn thường
hình dung đến nhan sắc diễm lệ của nàng để tự an ủi
và sách tấn mình trong những lúc thất chí sa cơ… Tất cả
những gian truân khó nhọc mà chàng đã vượt qua há chẳng
là vì nàng đó sao? Người thiếu nữ mà dung nhan còn
mơ hồ dần dần trở thành một điểm tựa, một lý tưởng,
một hải đăng định hướng cho đời chàng.
Mười
năm trôi qua, An tạm hài lòng với con đường công danh của
mình. Và một hôm hôn lễ được cử hành rất tưng bừng.
Cô dâu được đưa về nhà chồng với vô số đồ trang sức
và một tấm khăn voan che kín mặt.
Và
trước mặt rất đông quan khách, An đưa tay giở tấm khăn
che mặt tân nương. Bỗng nhiên người ta nghe tiếng kêu
thảng thốt của An:
-
Chèn ơi! Tưởng ai đâu xa lạ. Té ra nàng chính là
người vẫn thường xắt chuối cho heo ăn và vớt bèo nuôi
vịt mà tôi thường thấy thường ngày qua song cửa đó ư?
Người
ta không đồng ý với nhau về đoạn kết của câu chuyện.
Có người cho rằng sau đó An bỏ nhà đi biền biệt vì tân
nương đã làm cho chàng quá sức thất vọng. Nàng đã
không chịu ăn hoa uống sương và thêu vàng giác ngọc như
chàng hằng mơ tưởng… mà lại là một thiếu nữ hoàn toàn
bình thường và đảm đang như bao nhiêu người vợ hiền khác.
Nhưng
lại cũng có kẻ quả quyết rằng sau ngày hôn lễ, An đã
tuyên bố rằng tân nương tuy không giống như người trong
mộng của chàng nhưng mà nàng cũng không đến nỗi xấu xí…
Và chàng kết luận rằng chỉ vì tánh khí cao ngạo ngông cuồng
mà chàng đã phí mất mười năm dài lao nhọc trong khi lúc
nào nàng cũng ở bên cạnh chàng…
Nhưng
nơi đây người kể không cốt ý trình bày một câu chuyện
tình có hậu trong thế gian, mà chỉ thừa hứng nghĩ lan man
về tu hành giới, về chuyện hạ thủ công phu của nhà thiền…
cũng như lao tâm khổ trí, những niềm sầu nỗi chán trên
đường tầm đạo… Chân lý là một cái gì khi ẩn khi hiện
như thực như hư. Hành giả thường không biết mình đang
làm gì và ở nơi đâu trên đường tìm kiếm, đang đi hay
sắp đến. Ðạo ở nơi đâu, ra sao mà thiền sư Nam Tuyền
lại khẳng định rằng: “Tâm bình thường là đạo.”
Và tổ Ðạt Ma lại dạy “Càng cố tâm tìm càng chẳng biết.”
Nhất là câu nói sau đây của Cổ Ðức “Ðáo xứ phùng nhân
mạch diện khinh” có nghĩa nôm na rằng “Sau khi lội suối
trèo non mất bao nhiêu năm cần cù tìm kiếm, rốt cuộc ta
sẽ gặp lại người mà ta vẫn thường khinh dễ mỗi khi ta
gặp mặt hàng ngày… giống hệt như anh chàng An trên đây.
Sau mười năm khó nhọc tìm sính lễ đã rước về một vị
tân nương khác xa người trong mộng của chàng… Là người
mà chàng thường thấy thấp thoáng qua song cửa mỗi ngày,
khi xắt chuối cho heo, lúc vớt bèo nuôi vịt.