Phần
3
Gương
Mặt Hoa Mè
Con
Cọp Dễ Thương
Tôn
Giả Nan Ðà
Mở
Mắt Chiêm Bao
Cóc
Và Rắn
Trò
Chơi Bắt Dế
Khắc
Châu Cầu Kiếm
Người
Hoá Xà Niêng
Những
Người Bệnh Tưởng
Bốn
Bà Vợ Quý
Khi
Thần Chết Ðến
Chú
Ngựa Tinh Khôn
Chồn
Hôi
Ông
Hoàng Lưu Lạc
Chiếc
Áo Mới
Vô
Minh Từ Ðâu Ra?
Con
Công
Thả
Mồi Bắt Bóng
Bát
Phong Suy Bất Ðộng
À
Ra Thế
Gương
Mặt Hoa Mè
Thuở
xưa, có một vị tiểu thư xinh đẹp, con quan tri huyện.
Nhân một chuyến lễ chùa, nhan sắc mặn mà của nàng làm
động tâm một nhà sư trẻ tuổi.
Vừa
trông thấy cô gái, trống ngực sư đã nện inh ỏi. Sư
kêu gọi Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát đến líu cả lưỡi mà
hình bóng của giai nhân cứ lảng vảng quanh sư. Nghĩ
mình đã xuất gia đầu Phật, nhất định cắt đứt đường
tơ mà nghiệp chướng tiền khiên quá sâu nặng. Sư đổi
pháp môn tu, nhờ một chàng thư sinh có đôi tay tài hoa vẽ
dùm hai bức tranh. Một là dung nhan chim sa cá lặn của
giai nhân, còn bức kia thì tô lên mặt hoa những nối đậu
mùa để sư quán “bất tịnh.” Chàng thư sinh vui vẻ
nhận lời trợ giúp cho nhà sư đáng thương tha thiết
cầu đạo này. Ðể bức họa linh động chàng tìm cách
gặp gỡ giai nhân. Ngờ đâu thần ái tình lại bắn luông
mũi tên còn lại, chàng đâm ra yêu thiếu nữ mê mệt.
Và sau khi hoàn thành hai bức tượng chàng nhờ nhà sư chúc
phúc cho mình, chàng trở về cậy người đánh tiếng xin cầu
hôn người đẹp.
Sao
bao nhiêu lễ lộc rắc rối, chàng thư sinh được giai nhân
nhận lời. Hôn lễ được dự định cử hành vào mùa
đông sắp tới... Mọi chuyện tưởng đâu sẽ xuôi chèo
mát mái thì thình lình có dịch đậu mùa bò đến.
Giai
nhân vì chưa quá tuổi vị thành niên nên đã vướng phải
bệnh này và gương mặt đẹp như ngọc của nàng bỗng trở
nên giống hệt bức tranh thứ nhì mà nhà sư đang quán tưởng.
Nghĩ
rằng dung nhan của vợ mình từ đây sẽ không gây rắc
rối cho ai, nhất là chư sư, nên sau tuần trăng mật chàng
đưa vợ đến lễ chùa và luôn tiện thăm nhà sư si tình dạo
nọ.
Nhác
trông thấy “người xưa” nhà sư sững người kinh ngạc
và sau đó sư vui mừng khôn tả.
Ðêm
hôm ấy nhà sư lúi húi dựng một giàn hỏa và viết một
phong thư gửi lại cho Hòa thượng trụ trì, báo tin rằng sư
đã đắc đạo nhờ phép quán bất tịnh, rằng mối tình si,
sự vô minh của sư đã được giải tỏa... bằng cớ là khi
chạm mặt giai nhân, sư chỉ thấy dung nhan của nàng qua bức
tranh mặt rỗ của sư... Và đó là một bằng chứng hiển
nhiên để sư tin rằng khi bước lên giàn hỏa, sư sẽ vào
Niết bàn lập tức. Bức thư được gửi đi trước khi
giàn hỏa được nhen lên, nên sau đó, Hòa thượng trụ trì
bắt sư khuân hết số củi dựng giàn hỏa vào nhà trù rồi
sắm hành lý cho sư lên đường tham học.
PC:
Ðây là một trong những trục trặc khi dùng lối quán chiếu,
đối trị... của chúng sanh. Có lẽ vì thế mà chư vị
Tổ sư của dòng thiền đốn ngộ không bằng lòng cho đệ
tử dùng lối này tu tập. Khi gặp trường hợp bị một
“cú đò fút” như nhà sư trên đây, các ngài thường xúi
đệ tử có thương yêu gì thì cứ bắc ghế ngồi chò hõ
trước mặt đối tượng của mình, dòm cho kỹ xem họ là
ai? Mình là ai? Và ai yêu ai đây? Khám phá cho
ra cái “ai” đó là xong chuyện... Vì sự đắc đạo
không tùy thuộc vào cái mặt đẹp hay xấu của “người
bị thương” và thông thường đối tượng đam mê của chúng
ta có thể thay đổi từ một cái mặt miếng bầu sang gương
mặt trái soan, chiếc mũi dọc dừa sang bẹ dừa, nhưng cái
mãnh lực đam mê đó mới là vấn đề chính yếu, là cái
mà chúng ta cần thấu đáo rõ ràng chớ không thể gác qua
một bên, tìm cách quan sát một cách méo mó như nhà sư trên
đây.
Con
Cọp Dễ Thương
Xưa,
có một thiền sư sống ẩn dật tại một thâm sơn cùng cốc
nọ. Trong một dịp tình cờ sư nhặt được một chú
bé bị bỏ rơi, đem về hang núi nuôi dưỡng.
Chú
bé lớn lên dưới sự chăm sóc của nhà sư giàu lòng bi mẫn,
giữa những động đá thâm u, dưới các cội tùng xanh lá.
Tâm tình chú cũng đơn sơ và bình yên như con nước trong chảy
róc rách qua các hòn cuội trắng. Ngoài vị sư phụ ra
chú không hề thấy một nhân vật vào khác. Bạn bè thân
thuộc của chú là những thú rừng hiền lành thường doanh
vây quấn quít chung quanh chú như hươu, nai, khỉ, vượn…
Chú
tiểu lớn lên giữa khung trời bao la của thiên nhiên… Và
mãi đến lúc trưởng thành chú vẫn có màu mắt trong xanh
như trẻ thơ, chú chưa từng biết buồn lo là gì cả!
Giang
sơn của chú chỉ có một nhân vật đáng đề phòng là con
cọp chúa, thỉnh thoảng mò ra ven suối uống nước ngắm trăng
và kêu “cà um” inh ỏi. Mỗi lần vị chúa rừng này
về chú thường theo lịnh thầy, rút lên cội cây cao cho an
toàn… Và theo óc tưởng tượng của chú, cọp là một con
thú có bộ dáng dữ dằn ghê lắm. Nhưng chú chưa từng
giáp mặt nó lần nào, nên rừng núi còn là một tổ ấm an
lành, hồn nhiên che chở cho chàng trai mới lớn.
Cho
đến một hôm, vị thiền sư được tin người bạn cố tri
của mình lâm bệnh nặng. Sư liền quảy túi hạ sơn
và chú tiểu cũng được dịp theo thầy xuống núi để học
khôn luôn thể. Những trần cảnh xôn xao đa diện của
thế nhân khêu gợi óc hiếu kỳ của chàng trai hơn là ham
muốn. Chàng bỡ ngỡ nhìn ngắm và lắng nghe tất cả
với một thái độ lạnh nhạt của người ngoài cuộc.
Dòng đời vẫn miên man trôi trải và chàng đã nhìn nó với
cặp mắt xanh xao của tuổi thơ. Tất cả đều có vẻ
lạ lùng đến buồn cười. Và trên đường trở về
hai thầy trò tình cờ gặp một thiếu nữ bán lụa… Chàng
trai kinh ngạc say sưa nhìn gương mặt của người khác phái
mà lần đầu tiên chàng thấy có một sự thu hút kỳ lạ…
Thấy vẻ sừng sờ của đệ tử nhà tu vội vàng nắm tay
chàng rảo bước, chàng trai bỡ ngỡ hỏi thầy:
-Bạch
tôn sư! Ðây là con gì vậy?
Nhà
sư buông thõng:
-Con
cọp đó, đi lẹ lên kẻo mất mạng bây giờ.
Hai
thầy trò trở về sơn động… Vị sư để ý thấy sau chuyến
viễn du, người đệ tử của mình đâm ra thờ thẫn, bỏ
ăn, bỏ ngũ… Và có một cái gì thay đổi trong tâm tư chàng
trẻ tuổi… Và một hôm, sau cơn dằn vặt tột độ, chàng
tìm đến thầy thú thật:
-Bạch
tôn sư! Sao mà con nhớ con cọp… hôm ấy quá… con có
cảm tưởng rằng… thà rằng… con tìm đến gặp nó cho nó
nhai xương con cho rồi. Tán thân mất mạng về tay con
cọp dễ thương ấy còn dễ chịu hơn là ở đây mà vằng
vặc nhớ thương nó… từ hai mươi năm qua, chưa bao giờ con
nếm phải một sự đau đớn kịch liệt như thế này.
Con phải làm sao đây?
PC:
Trong cuộc đời các nhà tu trẻ tuổi ít ra cũng phải có một
lần chúng ta đòi nạp mạng cho một con cọp nhai xương như
thế này (ngoại trừ các bậc thánh và những nhà tu bằng
ciment hay nylon). Phải làm sao đây, thưa chư hiền hữu?
Tôn
Giả Nan Ðà
Tôn
giả Nan Ðà là người em trai đồng cha khác mẹ với đức
Phật. Tôn giả xuất gia ngay trong ngày hôn lễ, trong một
phút bốc đồng hơn là phát tâm cầu đạo… Vì thế chỉ
được vài hôm tôn giả cảm thấy nhớ nhung khôn tả nếp
sống vương giả nhất là vị tân nương mới cưới… Tôn
giả nhất định hoàn tục nên tìm đến đức Thế Tôn ngỏ
ý:
-Bạch
Thế Tôn! Con không thể nào tiếp tục đời sống xuất
gia trong sạch như vỏ ốc được. Bất cứ lúc nào và
ở đâu con cũng nhớ đến hình bóng diễm lệ của tân nương.
Con còn nhớ rõ lúc con theo Thế Tôn ra khỏi kinh thành, nàng
hối hả chạy theo tóc chải được một nửa, lệ tuôn đầy
má gọi thất thanh:
-Hỡi
hoàng tử yêu quý! Mau về với em không có chàng thì em
chết mất… Con lo ngại cho nàng quá!
Ðể
khuyến khích người em trẻ tuổi, đức Phật bèn dùng thần
thông cho Nan Ðà được trông thấy hình bóng của một số
cô tiên trên cung trời Ðâu Suất. Sau đó Ngài hỏi sư:
-Này
Nan Ðà, những tiên nữ này có đẹp bằng tân nương không?
Tôn
giả bối rối:
-Bạch
Thế Tôn! Tân nương Kalyàni của con tuy là hoa hậu thành
Ca Tỳ La nhưng so với các tiên nữ trên nàng vẫn kém xa.
-Vậy
thì, này Nan Ðà! Nếu em cố gắng tu hành không đòi
hoàn tục nữa… thì khi nào đắc đạo, Như Lai hứa sẽ đền
bù cho em 500 tiên nữ xinh đẹp như thế, còn tân nương em
đừng lo lắng gì cho nàng ta hết, phụ hoàng và đình thần
sắp xếp cho nàng tìm chỗ trao thân gởi phận xứng đáng
cả rồi.
-Bạch
Thế Tôn, con rất an tâm khi được chuẩn hứa như thế…
con sẽ ở lại tu tập để được 500 tiên nữ không đòi
về hoàng cung nữa.
Và
tôn giả Nan Ðà ở lại tinh cần tu tập, không bao lâu, Ngài
đắc quả A La Hán.
Khi
về gặp đức đạo sư để báo cáo thành quả tốt đẹp
của mình, tôn giả cung kính thưa:
-Bạch
Thế Tôn, xin Ngài hủy bỏ lời hứa sẽ đền cho con 500 tiên
nữ.-Lành thay! Lành thay! Nan Ðà, Như Lai rất hoan hỷ khi hủy
bỏ một lời hứa như thế.
Trưởng
lão kệ còn ghi lại bài thơ của tôn giả, sau khi đắc đạo
như sau:
“Có
một thuở nào
Vừa
dễ duôi vừa nông cạn
Tâm
trí của ta
Chỉ
chăm chú lòng can đảm được biểu hiện bên ngoài
Ta
thật nhẹ dạ và nông nổi
Tất
cả những tháng ngày đều bị tiêu phí.
Trong
nhục dục phóng đãng và si tình
Nhưng
Nhờ
lòng từ bi quảng đại
Cùng
sự khôn khéo của đức Thế Tôn
Ta
đã được dẫn dắt
Từ
hoàng cung đến đời sống thanh cao này
Nhờ
thế
Ta
được thoát ra khỏi vòng sanh tử
Triền
miên và chứng đạt Niết bàn.”
Mở
Mắt Chiêm Bao
Thuở
xưa, có một chú sa di tên là Tăng Hộ. Tăng Hộ xuất
gia với vị thầy tế độ, một vị La Hán, nguyên là cậu
ruột của chú.
Một
hôm Tăng Hộ được thí chủ dâng cúng hai xấp vải thật
đẹp, chú mừng lắm định về dâng lên thầy để tỏ lòng
biết ơn và kính mộ của mình. Ngờ đâu khi mới mở
lời, vị thầy tế độ của chú đã gạt đi:
-Thôi!
Ta đã đủ ba y rồi, con hãy giữ lấy mà xài hoặc dâng cúng
những vị nào còn thiếu. Chú Tăng Hộ năn nỉ đến
ba lần nhưng thầy chú vẫn một mực từ chối. Tăng
Hộ đâm ra buồn rầu, bực bội, vừa đứng quạt hầu cho
thầy, chú vừa để dòng tư tưởng trôi lan man… mình tứ
cố vô thân chẳng có ai để nương tựa… Chỉ có cậu mình
là người thân nhất trên đời. Vậy mà cậu cũng không
thương ta, vậy ta còn sống ở đây chi cho bận lòng ông.
Ta đã năn nỉ ông ba lần mà ông cứ lạnh lùng từ chối…
Thôi, ta đi khuất mắt cho rồi… nhưng ta đi đâu bây giờ?
Lấy gì mà sinh sống… À! Phải rồi! Mình sẽ bán xấp vải
lấy tiền mua một con bê để nuôi, hằng ngày mình dắt bê
đi ăn cỏ bên vệ đường vừa thanh thản, vừa ít tốn kém.
Loài thú này sanh sản rất mau nên chừng vài năm là mình đã
có một bầy gia súc. Mình sẽ bán bớt đi để tậu nhà
cửa, ruộng đất, giường chõng… đồ đạc trong nhà cho
khang trang và đến lúc trưởng thành mình sẽ cưới một cô
vợ. Khi đứa con đầu lòng chào đời, mình sẽ bế nó
đến quy y với cậu mình… Ô! Thằng bé mới kháu khỉnh
làm sao… Ðường xa trời nắng ngó mụ vợ đã mỏi tay, ta
bảo:
-Ðưa
thằng cu anh bế cho, nhưng nó không nghe cứ dành ẵm trên tay…
bất chợt… mụ vợ vấp một rễ cây, thằng bé rớt xuống
đất… giận quá, ta với lấy một cành cây, gõ cho mụ vợ
một cái nên thân:
-Ðã
bảo đưa ta bế mà cứ không nghe… cái thứ đàn bà hư…
chỉ biết có cãi lời.
Dòng
tư tưởng của chú sa di còn đang tiếp tục trôi chảy như
thế thì bỗng nhiên chú nghe tiếng nói điềm đạm của thầy
chú, vị La Hán, cất lên:
-Này
chú! Chú đánh không trúng cái mụ vợ hư thân ấy đâu
mà lại trúng ngay cái đầu trọc của ta kêu cái “tróc”
đây này!
Tăng
Hộ bừng tỉnh cơn mơ, chú hốt hoảng co giò chạy, vừa ngẫm
nghĩ:
-Chết
rồi… Ta nghĩ trong bụng ổng cũng biết hết trọi… phải
chạy cho lẹ mới được.
Thấy
chú khi không bỏ chạy như ma đuổi, các bạn chú vội vã
chạy theo bắt lại.
Ðương
sự được dẫn đến gặp đức Phật. Sau khi nghe rõ
đầu đuôi câu chuyện, Ngài an ủi chú tiểu:
-Này
chú, cái tâm của phàm phu thường hay lén lút đi chơi như
thế, nó thường đi rất xa, vô hình, vô dạng… Người thiện
trí nên khéo léo như gã mục đồng dùng dây xỏ mũi con trâu
hoang, dẫn nó về chuồng cũ, chăn dắt cho đến lúc nào buông
lơi dây mà nó không lén đi rong nữa mới tạm yên.
Ðược
lời dạy dỗ của đức Thế Tôn, chú Tăng Hộ bình tĩnh ở
lại tu viện và tu cho đến ngày đắc quả A La Hán… tuy lâu
lâu, chú vẫn bị lâm vào cảnh mở mắt chiêm bao, nhưng không
khi nào chú trở cán quạt gõ vào đầu sư phụ như lần trước
vì chú đã biết cách chăn trâu và cột trâu rồi.
Em
thân mến!
Cái
cảnh “nhắm mắt chiêm bao” thì bọn mình ai cũng biết rõ,
nhưng cái cảnh “mở mắt chiêm bao” đây thì chúng
ta ai cũng lầm hết trọi, cũng vì thế mà mỗi lần để giấc
mơ dẫn đi xa, chúng ta thường khỏ lầm lên đầu các tôn
giả chung quanh mình kêu cái tróc và đổ thừa “tại người
này làm tôi phiền não đây.” Vì vậy cách khôn nhất
là tự mình tỉnh giấc chiêm bao ấy đi và coi chừng phải
đứng cách xa những chúng sanh đang “mở mắt chiêm bao”
một cách an toàn, kẻo ăn phải cán quạt của họ đó nghen!
Loay
hoay đã nửa kiếp người
Thu
bay trên nửa nụ cười xanh xao
Rõ
ràng mở mắt chiêm bao
Biết
như mộng huyễn vẫn đau xé lòng
Ngửa
tay có được gì không?
Họa
chăng mấy hạt bụi hồng phiêu linh
Dường
như mình chẳng phải mình
Rừng
thiêng đày đọa dạng hình long đong.
Mây
bay qua khu rừng đông
Người
thong dong ngắm nắng hồng trên cây
Mây
bay qua rừng tây
Rêu
xanh in nửa dấu hài bỏ quên.
Cóc
Và Rắn
Xưa,
có hai vị sư cùng ở chung tại một thâm sơn cùng cốc nọ.
Một vị siêng năng tu tập tọa thiền ngồi hoài không nằm…
trong khi vị kia thì cứ ngủ li bì, nằm hoài không chịu tu
hành gì ráo trọi.
Ngày
tháng dần qua, mỗi người đều tiếp tục công việc của
mình, không ai dám đá động đến ai.
Cho
đến một hôm, thấy bạn đồng hành của mình cứ ngủ mãi
không chịu tụng kinh tọa thiền gì hết, vị sư tinh tấn
chịu hết nổi, phải mở miệng định nhắc bạn, nhưng sực
nhớ đến qui luật tịnh khẩu của mình, sư bèn viết câu
cảnh ngữ lên vách. Bốn câu ấy như thế này:
“Ðời
người quá ngắn
Sao
cứ nằm hoài
Kiếp
sau thành rắn
Chớ
bảo tại ai?”
Ông
sư hay nằm, sau giấc ngủ no nê thức dậy, che miệng ngáp
hồi lâu, sực thấy bài kệ trên liền đáp lễ:
“Ngồi
hoài sanh nhọc
Có
ích chi đâu
Kiếp
sau thành cóc
Rầu
ơi là rầu!”
Vị
tọa thiền trông thấy bài kệ liền hoát thiên đại ngộ.
PC:
Thử hỏi ông ngộ cái gì?
Trò
Chơi Bắt Dế
Potthila
là vị giáo thọ của một tăng đoàn ở tịnh xá Ðại Lâm.
Sư
tinh thâm tam tạng, uy nghi cốt cách sư phạm rất đường bệ…
chỉ hiềm một điều là sư chưa chứng quả, dù sư đã được
đức Phật cắt đặt công việc trùng tuyên kinh luật cho một
hội chúng tỳ kheo đông đảo.
Vì
thế, mỗi lần sư Potthila đến hầu thăm Phật, đức Thế
Tôn liền gọi một cách thân ái lẫn trêu chọc:
-À
đây! Cái ông sư rỗng đã đến!
Và
khi sư cáo từ, Ngài liền bảo đại chúng:
-Cái
sư thầy rỗng đó đi rồi!
Những
lời nói này lọt vào tai Potthila làm cho sư vô cùng đau xót.
Biết đức từ phụ muốn khuyến khích mình, tôn giả Potthila
lấy làm bối rối, không biết làm cách nào đề hạ thủ
công phu sao cho thành một ông sư “đặc” hẳn hoi.
Cho
đến một hôm lòng buồn tột độ, tôn giả bỏ hội chúng
vào rừng, nhà sư đáng thương này đi hoài đi mãi cho thật
xa cái nơi mà uy danh giáo thọ đã làm ngài cực lòng khôn
tả đó. Và cuối cùng sư gặp phải 30 vị La Hán đang
ẩn cư trong rừng, vốn là học trò cũ của sư.
Tôn
giả Potthila đến đảnh lễ với vị thủ tòa, khiêm tốn
xin vị này chỉ cho cách hạ thủ công phu.
Vị
thủ tòa mỉm cười:
-Ồ!
Làm sao tôi dám làm điều đó bạch thượng tọa? Khi
Ngài là vị giáo thọ của tôi.
Tôn
giả bị đẩy xuống đệ nhị tòa cũng bị từ chối… cuối
cùng tôn giả đến trước vị La Hán thứ 30, nhỏ tuổi nhất,
mới lên 7, van nài một cách khẩn thiết:
-Bạch
đại đức! Xin đại đức thương xót chỉ cho con cách
“hạ thủ công phu.”
Vị
La Hán trẻ tuổi im lặng tiếp tục vá áo. Tôn giả Potthila
tiếp tục van nài một cách tuyệt vọng… đến nỗi vị thánh
tăng tí ton này phải mở lời:
-Ồ!
Thượng tọa, tuy Ngài nói thế nhưng tuổi tác và sở học
của tôi kém Ngài rất xa… e rằng lời tôi hãy còn nhẹ lắm
liệu Ngài có tin nổi hay không?
-Bạch
đại đức! Lòng con tha thiết khẩn cầu mỗi lời chỉ bảo
của đại đức là một lời vàng ngọc đối với con, thì
dù đại đức bảo con nhảy vào lửa con cũng “y giáo phụng
hành.”
-Thôi,
đừng nhảy vào lửa mà toi mạng, đằng kia có cái hồ nước
mát, thượng tọa thử nhảy xuống xem. Vị La Hán chưa
dứt lời, tôn giả Potthila đã nhảy ùm xuống nước.
Ðợi tôn giả Potthila vừa ngoi đầu lên, vị La Hán trẻ dõng
dạc ra lệnh:
-Hãy
leo lên đây!
Tôn
giả Potthila lồm cồm bò lên, vị thánh tăng lại bảo:
-Nhảy
xuống hồ mau!
-Leo
lên đây!
Sau
khi bắt tôn giả Potthila nhảy xuống leo lên hơn 3 lần như
thế, vị thánh tăng mới đến ngồi kiết già trên một tảng
đá, và tôn giả Potthila ướt như chuột lột, thành kính quỳ
trước mặt La Hán giảng giải:
-Này
Thượng tọa lúc còn sống đời tại gia ta thường chơi đá
dế với bạn, thượng tọa có biết con dế không?
-Thưa
biết ạ!
-Ồ,
tốt lắm. Giả sử như có một cái hộp vuông chứa đầy
dế. Nếu cái hộp ấy có 6 cửa ngỏ, cửa nào cũng để
hé ra hết, thì các chú dế sẽ thò râu hoặc chân tay ra ngoài
các ngỏ ấy. Có phải thế không nào?
-Thưa
vâng!
-Và
nếu cửa ngỏ nào mở rộng thì có thể các chú dế sẽ chui
ra mất theo các ngỏ ấy… phải không?
-Thưa
đúng như vậy.
-Bây
giờ, muốn quan sát các chú dế ấy cho kỹ, chúng ta có thể
bịt kín đi năm lỗ, chỉ chừa một cửa thôi… Và nhìn chăm
chăm vào cửa ấy… Thượng tọa có theo kịp không?
-Thưa
kịp ạ!
-Chỉ
nhìn thôi chứ không thò tay chân vào trong hộp ấy nhé…
-Vâng!
-Nhìn
thật rõ ràng, chăm chú vào các sinh hoạt của bầy dế trong
hộp, ta sẽ biết rõ về chúng hơn, từng đứa một… dế
than, dế lửa, dế cơm tất cả đều rõ ràng tách bạch…
đấy nhé!
-Thưa
vâng!
-Này
Thượng tọa, các cửa của cái hộp dế ấy dụ cho 6 căn:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của ta… Những vọng tưởng
lao xao và rộn ràng không khác nào bầy dế kia. Muốn
điều phục chúng không cách nào tốt hơn là ngồi yên lặng
giảm bớt các hoạt động của ý thức… bình thản nhìn
một cách rõ ràng chăm chú như đứa trẻ chơi dế nhìn bầy
dế lao xao trong hộp. Có thể nào Thượng tọa áp dụng
trò chơi này một cách bình an, thoải mái, quan sát theo dõi
những vọng niệm của mình mà không xen vào những ước muốn
lấy bỏ, loại trừ… chăng?
-Bạch
đại đức, con đã hiểu rồi…
Và
tôn giả Potthila, sau khi từ giã 30 vị La Hán, đi tìm một
trú xứ thích hợp để tọa thiền… Ðể khuyến khích sư,
Ðức Thế Tôn gởi đến một bài kệ:
“Tu
thiền trí huệ sanh
Bỏ
thiền trí huệ diệt
Biết
con đường hai ngã
Ðưa
đến hữu, phi hữu
Hãy
tự mình nỗ lực
Khiến
trí huệ tăng trưởng.”
(Pháp
cú 282)
Chẳng
bao lâu, tôn giả Potthila đắc quả A La Hán. Từ dạo
đó Ðức Phật không trêu ông là “ông sư rỗng” nữa.
PC:
Ngồi mãi chẳng nằm, điều này tuy khó nhưng chúng ta còn
có thể thực hiện được… nhưng còn vụ “hoát nhiên đại
ngộ” hay “chứng đạo” như vậy thì … vô phương bắt
chước rồi!
Khắc
Châu Cầu Kiếm
Xưa,
có một người có việc phải đi thuyền sang sông. Giữa
đường anh làm rơi thanh kiếm quý xuống nước, vội vã anh
đánh dấu nơi bẹ thuyền. Người đồng hành ngạc nhiên
hỏi:
-Anh
đánh dấu nơi bẹ thuyền chi vậy?
Anh
chàng đáp:
-Tôi
đánh rơi thanh kiếm quý ngay chỗ này nhưng chưa rảnh rỗi
để tìm được. Vì vậy tôi phải làm dấu nơi bẹ thuyền,
để lúc trở về sẽ tìm lại nó dễ dàng hơn.
Mọi
người nghe nói đều mỉm cười.
Em
thân mến!
Chúng
ta đã hiện diện trên cõi đời này như anh chàng dong thuyền
sang sông nọ. Mỗi lần lầm lỗi nhất là những lỗi
lớn, em thường xuýt xoa đau xót, xoay qua tự hành hạ lấy
mình: cắt máu viết lời thề hoặc lấy hương đốt thân
chẳng hạn.
Dòng
đời luôn luôn trôi chảy, những gì đã qua rồi không bao
giờ trở lại… Và trên cái dòng sông miên man bất tận đó,
ta phải luôn luôn giáp mặt với những hoàn cảnh mới mẻ
hơn, sống động hơn… có thể nào đem những tâm thức cũ
để áp dụng cho một hoàn cảnh mới hay không? Người
bạn ngày hôm qua mà ta gặp gỡ chuyện trò thân mật lưu luyến
đó… ngày hôm nay gặp lại đã mang một tâm thức mới mất
rồi. Vậy mà ta vẫn mang hình bóng cũ phủ lấp con người
hiện thực và bao nhiêu tắng ái khổ sầu đều bắt nguồn
từ nơi mê lầm này chăng?
Em
đã mỉm cười khi nghe chuyện anh chàng khắc chu cầu kiếm…
còn đối với chuyện khắc thân thể mình để… cầu giải
thoát khỏi một lỗi lầm của quá khứ thì em tính sao đây?
“Việc
qua rồi chẳng nhớ
Việc
chưa đến đừng lo
Việc
hiện tại chớ đem lòng vọng tưởng.”
Người
Hóa Xà Niêng
Thuở
xưa có một chàng trai dũng cảm, sống tại một bản làng
hiền hòa… Tuy mới lớn lên nhưng đã từ lâu chàng là chỗ
nương tựa của cha mẹ, các em cũng như những thân quyến
gần xa. Cha chàng hài lòng về những đức tính quả cảm
cương quyết không lùi bước trước một trở lực nào của
chàng. Bà mẹ thường nhìn những bắp thịt rắn chắc
của con bằng tấm lòng từ ái pha lẫn niềm tự hào.
Chàng trai đã sinh ra và lớn lên giữa ruộng lúa nương khoai
trong tình yêu của cha mẹ, sự tin cậy của đàn em cùng những
bạn bè đồng trang lứa trong thôn làng.
Ngày
tháng êm đềm trôi qua như dòng sông nhịp nước hiền hòa
vẫn đều đặn lên xuống nuôi sống đồng lúa và những
người dân quê an phận chất phác. Cho đến một hôm
khi nhìn những tia nắng rực rỡ bốc lên từ rặng núi xa
xa… những đọt cây lay động trên nền trời im lặng, chàng
trai bỗng thấy lòng dấy lên một ước muốn kỳ lạ.
Trong thoáng chốc chàng nghe từng giọt máu cuộn sôi trong huyết
quản… Có một niềm ao ước mãnh liệt thúc đẩy dữ dội.
Cuộc sống quá bình an đến độ tẻ nhạt, làm chàng chán
ngán… Núi rừng thêm hùng vĩ, đậm màu hứa hẹn. Và
như một cánh chim sổ lồng chàng khăn gói ra đi, theo gót chân
những kẻ tìm trầm để lại trong lòng thân quyến sự lo
âu, niềm ái ngại và nhớ nhung khôn tả…
Như
bao kẻ ngậm ngải tìm trầm khác để chống những sơn lam
chướng khí, thú dữ của rừng thiêng chàng trai đã phải
nuốt một thứ ngải kịch độc… nhờ đó mà chàng có thể
thoát khỏi miệng hùm, nanh sói cũng như những cơn bệnh chết
người của rừng già. Nhưng… cũng như bao nhiêu con dao
hai lưỡi khác, chất ngải thiêng nó vừa giúp chàng trai bảo
vệ thân thể, vừa tàn phá cùng biến đổi thể xác kẻ tìm
trầm…
Nhiều
tuần trăng trôi qua bóng người ra đi vẫn biền biệt… Thân
nhân chàng trai cứ dõi mắt nhìn về phía mặt trời lặn để
tìm chàng. Niềm hy vọng của họ sống mong manh như một
màu lá úa. Cho đến một hôm, trời vừa chập choạng
tối, họ hãi hùng thấy xuất hiện trên ngưỡng cửa một
bóng dáng nửa người nửa ngợm: chàng trai đã hóa xà niêng.
Em
thân mến!
Ðang
sống êm ấm trong vòng tay của ba má bên sách vở cùng những
bạn bè đồng trang lứa… Em bỗng khởi lên một ý nghĩ đi
tìm chân lý và em đã sổ lồng bay theo lý tưởng ấy chẳng
khác nào chàng trai đi tìm trầm nọ.
Ðể
đối phó với ngũ dục bát phong trên con đường tìm đạo,
em đã “nuốt” không biết bao nhiêu là pháp môn… Những
pháp môn này giúp em an tâm đi tìm chân lý… giữ vững tinh
thần niềm tin của mình và cho đến một ngày nào đó, em
chợt nhận ra rằng sao mà mình hỏng giống ai hết, sao mà
mình khó chịu, khó ưa đến nổi mình chịu mình cũng hết
nổi rồi. Ngày xưa em thơ ngây, dịu dàng, tế nhị, dễ
thương bao nhiêu thì bây giờ em cộc cằn, héo úa, thô lỗ,
khả ố bấy nhiêu. Những người chung quanh thở dài nhìn
em và em cũng thở dài với mình. Em đã hóa xà niêng…
Cái pháp môn giúp em chống chỏi với ngũ dục bát phong thật
tài tình cũng là một con dao hai lưỡi, y hệt như cục ngải
thiêng nọ. Nó làm cho em càng ngày càng u ám, uể oải,
mất hết sinh khí, buồn rầu, chán nản. Em có thấy như
thế không?
Nếu
em chưa nhận ra điều này… và vẫn thấy mình còn đầy năng
lực sức sống, đang cố gắng và không ngừng cố gắng, nỗ
lực áp dụng một pháp môn nào đó mà em đã lựa chọn với
bao nhiêu là đắn đo và nhiệt huyết. Nếu như thế thì
em đừng đọc thêm gì nữa. Hãy gấp quyển vở này lại
và cứ tiếp tục con đường em đang đi: em chưa đến giai
đoạn khủng hoảng bế tắc… có nghĩa là chưa hóa xà niêng…
thì những dòng chữ sau này sẽ làm em ngờ vực, tức tối
và nổi giận cho mà coi.
Nhưng,
nếu em đang bước đến giai đoạn đường cùng… vô vọng,
em chỉ muốn được thở một hơi dài, được ngủ một giấc
an lành không mộng mị. Và vì những ước mơ này chưa
bao giờ được thỏa mãn nên đã hơn một lần em nghĩ đến
chuyện hủy hoại thân em! Cái chết đối với em không còn
ghê tởm mà em lại coi như một ân huệ cuối cùng.
Nhưng
hỡi ơi! Làm sao mà chết được? Có phải em đang
lâm vào tình trạng này không? Ðích thị là em đã hóa
xà niêng mất rồi… Hay nói theo kinh điển thì em là kẻ đã
cho ngón tay là mặt trăng, ôm chiếc bè sang sông cho là bờ
bên kia… Vì lầm lẫn như thế nên em đã làm méo mó cả
bàn tay lẫn mặt trăng, chiếc bè lẫn bến đỗ… vậy thì
còn chần chờ gì nữa mà em không buông bỏ tất cả, quẳng
hết đi những lý tưởng xa và gần, những toan tính lo âu,
cầu xin, chờ đợi, những nỗ lực cố gắng v.v… Em hãy
nằm xuống nhắm mắt để thân và tâm mình thư giãn hoàn
toàn như những ngày thơ bé em nằm ngủ say trong tay mẹ giữa
nệm ấm chăn êm của một thời chưa cất bước phiêu lưu.
Em đừng sợ mất hết những sở đắt của mình. Ðây
là chỗ kinh Kim Cang đã nhấn mạnh “Pháp thượng ưng xả
hà huống phi pháp.” Có nghĩa là những gì tốt cũng
phải bỏ huống nữa là xấu.
Sau
giấc ngủ em sẽ hồi sinh… và chung quanh em mọi người sẽ
đón em trở về với một nụ cười… cũng như chú xà niêng
nọ cởi lốt trở lại hình người trong những giọt lệ,
tiếng cười của thân quyến.
Những
giòng chữ tôi viết trên đây nếu có làm em khó chịu thì
xin nhận nơi đây lời tạ lỗi… Em vẫn chưa mất mát gì…
nên tôi không lấy làm ân hận lắm… Quyển “Hư hư lục”
này xin khép lại nơi đây, nằm đúng vị trí khiếm tốn của
nó “hư hư” có nghĩa là “không có thật, không có thật”
đó em!
Người
ta kể rằng chỉ có chất trầm mới giải được cái độc
kịch liệt của cục ngải thiêng, chất trầm này nằm trong
cây, trong rừng, ngoài thân thể của con người (cũng vì vậy
mà tôi không thể kể cho em nghe chuyện chàng trai đã cởi
lốt xà niêng như thế nào…)
Riêng
chúng ta, chất thuốc giải độc không nằm trong rừng, trong
cây hay bất cứ chốn sơn cùng thủy tận nào… mà ở nơi
chính mình… dễ dàng và giản dị đến nổi thành khó tin.
Cũng vì thế mà Ngài Sa Di Cao trong thiền sử đã than:
“Chớ
bảo họ không có
Chỉ
tại họ không tin”
Em
nghĩ sao?
Những
Người Bệnh Tưởng
Thuở
xưa, có một đoàn người lánh giặc phải ẩn náu trong rừng
sâu. Họ ăn uống ngủ nghỉ và làm việc hoàn toàn trong
bóng tối. Nhiều năm trôi qua giặc tan đoàn người tản
cư nọ được tin lục đục kéo ra khỏi hang.
Phản
ứng đầu tiên của họ khi chạm phải ánh sáng của mặt
trời là rú lên một tiếng đau đớn rồi nhắm tít mắt lại.
Ai cũng yên trí là mình đã mù hẳn rồi, nên hè nhau đi tìm
thầy lang chữa mắt. Lang y, lang tây, lang ta và lang băm
đều được tìm đến, tùy theo số tiền túi, các nạn nhân
người nào cũng rịt thuốc vào mắt và hết lòng hy vọng…
thắc thỏm chờ ngày được sáng mắt trở lại nhưng khổ
nổi lần nào cũng thế, mỗi lần giở khăn bịch mắt, hé
mắt nhìn, bệnh nhân người nào cũng rú lên và nhắm tít
mắt lại… Nhiều lần như thế xảy ra đoàn người đành
sống trong bóng tối với cây gậy và chó dẫn đường, với
một ít hy vọng le lói rằng một ngày đẹp trời nào đó,
họ sẽ gặp một danh y mát tay và tài ba như Hoa Ðà, Biển
Thước. Và họ sẽ phục hồi trở lại ánh sáng huyền
dịu ngày xưa.
Cho
đến một hôm, anh chàng Ba, một trong những người bệnh mắt
nọ, tình cờ làm sút dải khăn bịt mắt trong một giấc ngủ
say. Giữa đêm khuya Ba giật mình tỉnh giấc. Và
dưới ánh trăng sáng êm dịu của con trăng hạ tuần, anh đưa
mắt nhìn quanh. Thân quyến anh chợt nghe tiếng cười
rộn rã nổi lên, niềm vui đột ngột khiến anh như người
mê sảng. Ba đi lay tỉnh từng người trong nhà dậy, khoa
tay múa chân nói lắp bắp “tôi sáng mắt rồi… ồ không
tôi chưa từng mù bao giờ… chỉ tại dải khăn bịt mắt
chết tiệt này thôi, tôi không mù. Từ đây tôi có thể
đi bất cứ nơi nào… Tôi không cần đến chó, gậy và người
dắt đường nữa…
Mọi
người nhìn anh vừa sững sờ vừa thương hại… tiếng cười
của anh vang dội trong đêm khuya. Ba lải nhải nói hoài
một câu xác định: “Tôi không mù! Tôi không mù! Chưa bao
giờ bị mù.” Một người thân thắp một cây đèn dầu
mang lại. Anh lấy tay che mắt cố nén sự đau đớn.
Anh không thể quen với ánh sáng chói chang của ngọn đèn.
Ba hơi thảng thốt, anh xoay lưng vào vách. Qua kẽ tay anh
thấy ánh trăng vẫn dịu dàng lung linh trên từng kẽ lá.
Anh lấy lại được niềm tin: mình không mù, chỉ vì sống
trong bóng tối quá lâu nên mắt không chịu nổi ánh sáng chói
ấy thôi. Nếu làm quen dần với ánh sáng có cường độ
từ yếu sang mạnh, anh sẽ nhìn được ánh sáng mặt trời,
thế thôi!
Vài
ngày sau Ba có thể sử dụng đôi mắt như bất cứ một con
người nào. Khi đã lấy được niềm tin đầy đủ nơi
nhãn quan của mình, Ba tức tốc chạy bay đến những người
bạn cũ, những người đang tuyệt vọng vì đôi mắt của
mình, quờ quạng trong bóng tối với chó, gậy và một ít
hy vọng le lói về thứ thuốc mình đang chữa mắt. Ba
đến gặp họ lắp bắp trình bày chuyện của mình… bạn
bè của anh đua nhau phỏng vấn:
-Sao?
Anh nói sao? Anh đã sáng mắt lại rồi à?
Ba
đáp:
-Nói
thế cũng chưa đúng, mắt tôi chưa từng bị mù, thì làm gì
có hết mù hay sáng lại.
Người
bạn cười khảy:
-Thế…
có nghĩa là bọn chúng tôi mới thật sự đui…còn anh thì
vô sự đấy phỏng?
-Không,
tôi và các bạn hoàn toàn giống hệt nhau, chúng ta chỉ bị
bệnh tưởng thôi!
-Thôi,
chả nhẽ người ta bỏ bao nhiêu công của, thời giờ để
chữa một chứng bệnh không có thật à!
-Xin
nghe tôi! Các bạn hãy vứt hết thuốc men đi… chịu
khó làm quen với ánh sáng mờ nhạt… dần dần đến ánh
sáng chói các bạn sẽ thấy sự thật. Ða số bạn bè
của Ba không tin bỏ đi sau khi đã thốt nhiều lời mai mỉa!
-Chỉ
có mình anh là khôn ngoan, còn bọn chúng tôi đều là lú lẫn
cả có phải?
-Cái
trứng muốn dạy khôn con gà… Vài người trẻ tuổi nghe anh
đã bỏ gậy lẫn chó, liền bắt chước theo nhưng họ vẫn
giữ nguyên dải khăn bịt mắt nên hậu quả là kẻ u đầu,
người vỡ trán… và đều không tiếc lời nguyền rủa anh.
Một số khác nghe lời anh giở khăn bịt mắt ra, nhưng ánh
sáng chói chang làm cho họ vô cùng khốn khổ. Và cứ
thế… không một ai có thiện cảm với Ba. Mọi người
kết luận: “Tên Ba là một gã điên không nên thân cận với
hắn.”
Trước
tình cảnh đó, Ba tức tối bỏ về, anh vừa đi vừa lẩm
bẩm: “Ðã thế thì đây đếch cần.”
Anh
vừa giận vừa thương. Sau khi cặp mắt bình phục hẳn,
anh thấy mình dường như mới chào đời, vừa góp mặt trên
trái đất đầy màu sắc kỳ ảo này lần đầu. Lòng
anh lúc nào cũng bùi ngùi nhớ đến những người bạn cũ
của mình.
Cho
đến một hôm, Ba nghĩ ra một diệu kế: anh thay hình đổi
tiếng giả dạng làm một ông thầy lang lành nghề, nhờ người
quảng cáo và tìm đến những người bạn cũ trong hình dạng
mới ấy. Dùng một thứ thuốc vô hại, anh chữa bệnh
cho bọn họ. Mỗi đêm anh đều bắt họ mở khăn bịt
mắt ra nhỏ thuốc xong rồi đi ngủ.
Dần
dần nhiều người đã có thể đi quờ quạng dưới ánh trăng
dịu dàng mà không cần chó hay gậy.
Nhiều
ngày trôi qua, Ba thay dần ánh trăng bằng ánh đèn giấy hồng
êm dịu… Cho đến khi các bệnh nhân của anh đã có thể
nhìn ánh đèn dầu thì Ba không cần tốn công thuyết phục
nữa. Bạn bè anh đã lấy lại niềm tin… Chẳng bao lâu
họ đều sáng mắt như xưa.
Em
thân mến!
“Chúng
sanh đều có Phật tánh.” Ðó là lời xác định của
Ðức Phật trong các kinh điển Ðại thừa. Ðức Phật
của chúng ta cũng như chư tổ thiền tông đều mỏi miệng
khi phải nhắc đi nhắc lại điều đó mà chúng ta nào chịu
nghe. Làm sao ta có thể tìm được khi cái vọng tâm của
mình đầy nhóc các vọng tưởng ác ôn, như tham lam, sân hận,
ganh ghét, thù hằn. Làm sao ta có thể tin được những
con người khổ đau điên loạn tầm thường chung quanh ta lại
có đầy đủ đức tướng trí huệ của Như Lai được?
Làm sao ta có thể tin rằng mình không bị sa vào hầm hố ác
đạo khi vứt hết tất cả niệm ác lẫn thiện. Làm
sao ta có thể tin rằng tâm mình bổn lai thanh tịnh trong khi
mình đang quay quắt với não phiền, làm sao ta có thể tin rằng
những kẻ “lòng dạ xoa” hôm nay đã đổi thành “mặt
bồ tát.” Làm sao ta có can đảm vứt hết những thứ
niệm ác niệm thiện đang rịt chặt vào mình và liệu ta có
thể chịu đựng được sự đau đớn chói chang khi giáp mặt
với ánh sáng chân thật, thấy mình “vô nhất vật” không
là gì hết?
Bọn
người bệnh tưởng trên đây đã cởi bỏ dải khăn bịt
mắt khó khăn thế nào, thì chúng ta cũng cởi bỏ kiến chấp
của mình khó khăn và đau đớn dường ấy. Nói đúng
hơn: việc vứt bỏ không khó mà khó là niềm tin chưa đủ.
Tin cái gì em biết không?
-Tin
rằng mình bổn lai là Phật đó em và như thế em đã hiểu
tại sao người xưa lại nói:
“Tẩy
trừ phiền não trùng tăng bệnh” (Tẩy trừ phiền não càng
thêm bệnh) hay chưa?
Bốn
Bà Vợ Quý
Thuở
xưa, có một ông trưởng giả có đến bốn bà vợ. Thói
thường người ta bảo: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ
nằm chèo queo, ba vợ ngủ chuồng heo…” Thế nhưng ông
trưởng giả của chúng ta là một người tốt số và khéo
cư xử nên đối với bốn bà ông đều được thương yêu
quý trọng.
Bà
thứ nhất tức là bà cả ấy là người mà bố mẹ ông đã
chọn và làm lễ đính hôn từ tấm bé, dù nhan sắc không
diễm lệ lắm ông cũng hết dạ thương yêu, bao nhiêu thức
ngon vật lạ ông đều tìm về cung cấp cho bà đầy đủ.
Quần là áo lượt, bông tai phấn sáp, thứ chi cũng có.
Trời vừa oi bức ông đã vội vàng quạt lấy quạt để,
nữa đêm mưa gió lạnh lùng, dù bất cứ nơi đâu ông cũng
vội vã tìm về để đắp chăn sưởi ấm cho bà.
Bà
vợ thứ hai là người mà trưởng giả để tâm yêu dấu một
cách lạ lùng. Tuy không sốt sắng quạt nồng ấp lạnh
như bà thứ nhất, ông vẫn quyến luyến không rời một bước.
Nói dại nếu bà đi đâu vắng, ông khổ sở đến phát điên.
Và có lẽ ông sẽ uống thuốc chuột mà tự vận nếu phải
sống thiếu bà.
Bà
vợ thứ ba tuy không được tốt phúc như hai bà trước nhưng
thường cùng chồng chia xẻ vui buồn, ấm no hoạn nạn có
nhau nên lâu ngày tình nghĩa cũng mặn nồng, keo sơn gắn bó.
Duy
có bà thứ tư là người mà ông hờ hững nhất, dường như
không ai màng đến chuyện có mặt của bà nhưng được cái
tánh của bà cũng dễ dãi, ai sao mặc kệ, lúc nào bà cũng
hết dạ trung thành lẽo đẽo theo ông như hình với bóng.
Ngày
tháng dần qua, trăng tròn rồi khuyết. Giờ chia tay phải
đến. Một hôm thấy mình không thể sống lâu hơn nữa,
ông gọi các bà vợ đến bàn tính việc nhà và ngỏ ý với
bà cả:
-Tấm
lòng của tôi đối với bà ra sao thì ai ai cũng biết.
Vậy hôm nay đến ngày từ giã cõi đời bà hãy sắp sửa
hành lý để đi theo tôi… chồng đâu vợ đó.
Bà
cả thản nhiên, vừa nhóch nhách nhai trầu vừa đáp:
-Nói
gần nói xa chẳng qua nói thiệt, ông chết thì tôi cũng không
sống nổi nhưng theo ông sang kiếp khác thì tôi không thể
nào theo được. Thôi thì một miếng trầu này gọi là
tiễn đưa và vĩnh biệt với ông vậy.
Sửng
sốt ông trưởng giả hờn giỗi quay sang bà thứ hai:
-Còn
mình, mình có theo tôi không?
Bà
hai cũng đáp bằng một giọng ráo hoảnh:
-Làm
sao mà theo ông được, sống chết có số mệnh và ngày giờ,
lại khi ông còn đây, tôi cũng nói trước một lời: ông chết
đi thì tôi cũng ở lại đây… nhưng nếu trong nhà này không
còn chìu chuộng tôi như lúc ông còn sống thì tôi cũng mạn
phép xin ông được tìm chỗ khác mà núp bóng tùng quân, nương
nhờ tấm thân liễu yếu.
Hết
sức bất ngờ, ông trưởng giả lặng người giây lâu rồi
quay sang bà thứ ba:
-Còn
mình?
Bà
ba liền sụt sịt khóc:
-Ông
mất đi tôi đau lòng lắm… vợ chồng mình bao năm chia bùi
xẻ ngọt, ấm lạnh có nhau… nhưng mà đi theo ông thì tôi
không thể nào theo được. Khi ông chết tôi sẽ đưa
ông đến tận huyệt, rồi về nhà làm chay tuần thờ cúng
ông cho đến hết đời của tôi.
Lòng
buồn rười rượi, ông chồng đau khổ quay sang bà thứ tư,
người vợ mà ông hết sức hững hờ và lạnh nhạt.
Không đợi hỏi, bà này đã nhanh nhảu:
-Mình
yên tâm… Em sẽ theo mình đi đến bất cứ nơi đâu.
Dù đó là thiên đàng hay địa ngục đi nữa.
Em
thân mến!
Bà
vợ thứ nhất là dụ cho xác thân của chúng ta, bà vợ thứ
hai ám chỉ cho tiền tài của cải, bà thứ ba là thân bằng
quyến thuộc của mỗi người. Duy có bà thứ tư là người
có số phận hẩm hiu, hờ hững nhất là những tạo tác lành
dữ của chính mình… bà này sẽ đi theo mỗi người chúng
ta như hình với bóng đó em ơi!
Khi
Thần Chết Ðến
Một
ông già đốn xong đống củi và mang về. Phải mang đi
xa, ông cụ kiệt sức, đặt bó củi xuống rồi nói:
-Chà!
Giá mà thần chết cứ đến ngay đi có phải hơn không?
Thần
chết liền đến và bảo:
-Ta
đây, lão cần gì nào?
Ông
già sợ hãi bảo:
-Xin
nhấc hộ bó củi lên cho lão.
Em
thân mến!
Thế
thì… mình đừng có tin và sợ khi nghe thiên hạ đòi (tự
vận) chết, trối chết, hăm chết, dọa chết… nghe.
Thế gian này thiếu gì người đi xuống sông để tự tử
nhưng thấy nước ròng liền chạy trở lên!
Chú
Ngựa Tinh Khôn
Thuở
xưa có một chú lừa và một chú ngựa cùng ở chung với nhau
một chuồng. Một hôm, người chủ bắt lừa chở đồ
đi xa, lừa nài nỉ ngựa:
-Tôi
đuối sức quá, bạn mang hộ tôi một ít… chút ít thôi!
Ngựa
lắc đầu nguây nguẩy:
-Ðó
là cái số của chị dây dưa gì đến tôi…
Lừa
im lặng chịu đựng… cuối cùng có gục chết với gánh nặng
trên lưng. Người chủ bèn chất hết đồ đạc trên
lưng lừa sang cho ngựa. Bây giờ ngựa rên rỉ:
-Khốn
khổ thân tôi! Phải mang ngần ấy đồ lại còn thêm
bộ da lừa nữa.
Em
thân mến!
Phê
bình, chỉ trích, mỉm cười chế nhạo công việc của người
khác đang làm là một điều dễ nhất thế giới mà bất cứ
khách bàng quan nào cũng có thể làm được. Nhưng kê vai gánh
vác công việc lại là một điều khác. Chúng ta đôi khi cũng
xử sự ngờ nghệch và ích kỷ chẳng khác nào chú ngựa non
dại trên đây… Trong quãng đường vừa qua, ít nhất cũng
hơn một lần chúng ta đã nhẫn tâm đẩy gánh nặng sang vai
người bạn của mình và cho rằng: “Cái số của họ
như vậy…” Cũng may là người bạn đáng thương của
chúng ta chưa gục chết vì gánh nặng nên cho đến bây giờ
chúng ta vẫn còn nhởn nhơ mà ngắm kiểng xem huê chứ chưa
đến nỗi phải than thở như chú ngựa trên đây…
Nên
gọi sự kiện này là may hay rủi hở em?
Chồn
Hôi
Chồn
hôi tìm đến người thợ đồng và đưa lưỡi liếm cái giũa.
Máu ở lưỡi chảy ra, chồn hôi mừng rỡ liếm tiếp.
Vì nó nghĩ là máu từ cái giũa chảy ra, kết quả là nó làm
rách toạc cả cái lưỡi của nó.
Em
thân mến!
Trong
Tứ niệm xứ có câu “thọ thị khổ” kể cả những thọ
lạc. Khi nào đeo đuổi thọ lạc, chúng ta cũng ngu dại
hệt như chú chồn hôi này vậy. Nếu máu không chảy
ra từ cái giũa bằng sắt mà chính từ chiếc lưỡi của con
chồn, thì những niềm vui khoái lạc của ngũ dục mà chúng
ta tìm được trên cõi đời này có lẽ cũng nhặt ra từ cõi
lòng tan nát của chúng ta vậy.
Ông
Hoàng Lưu Lạc
Ngày
xửa, ngày xưa có một vị hoàng tử chào đời trong sự vui
mừng vô hạn của đức vua, hoàng hậu và thần dân cả nước.Cậu
bé vương giả này lớn lên trong cung vàng điện ngọc, giữa
sự cao sang tột đỉnh cũng như những nghi lễ rắc rối nhất
trần đời của hoàng gia.
Như
một mầm xanh thiếu nắng, vị hoàng tử thơ bé này đâm ra
khao khát được chơi đùa chạy nhảy như bao nhiêu chú bé
dân giả cùng trang lứa khác… nghịch đất, tạt nước, tung
bụi vào bạn bè, la cà trên các hang cùng ngõ hẻm, đầu trần
chân trụi chạy rong giữa phố phường… là những khát vọng
khôn nguôi của hoàng tử. Cậu sẵn sàng đánh đổi cả
ngai vàng để lấy một ngày tự do, thoát khỏi cặp mắt lạnh
lùng của quan thái sư, sự canh phòng cẩn mật của quan thái
giám, vòng dây của ngự lâm quân cũng như sự chăm sóc đến
độ phiền toái của đám cung nữ doanh vây.
Ô!
Chỉ có một ngày thôi mà cũng xa vời hút khỏi tầm tay như
một cánh điều no gió thấp thoáng giữa bầu trời đầy mây
mà hoàng tử thường bắt gặp sau các cành cây kẽ lá um tùm
của vườn ngự vậy.
Ngày
tháng trôi qua. Hoàng hậu lìa trần lúc hoàng tử còn
thơ bé quá… Ðức vua lại lâm bệnh nặng, việc chăm sóc
dạy dỗ hoàng tử được giao cho quan thái sư lớn tuổi, uy
nghiêm và rất mực khó tính. Như một cánh chim phượng
hoàng non dại, hoàng tử thường ngồi hàng giờ bên trang sách
học tỳ tay vào cửa sổ của chiếc lồng son thả hồn mơ
mộng đến ngày một cuộc tung cánh viễn du giữa bầu trời
rực sáng…
Cái
ngày chờ đợi ấy đã đến. Hoàng tử đổi y phục
lẫn chỗ ở của mình cho một cậu bé ăn xin mà định mệnh
đã xếp đặt cho hai chú bé giống nhau như đúc… Và chim
phượng hoàng đã tung cánh trong một buổi chiều lặng gió.
Vừa
bước chân ra khỏi cổng hoàng cung, hoàng tủ đã không vỡ
lẽ ra rằng cuộc đời của một chú bé thường dân không
tự do và tươi đẹp như cậu lầm tưởng. Khi cởi bỏ
lớp áo cao sang xinh đẹp của một ông hoàng thì cậu đã
cởi bỏ luôn tất cả uy quyền cùng lợi lộc mà địa vị
đã dành cho cậu từ tấm bé. Bị tổn thương nặng nề,
hoàng tử vội vã quay lại hoàng cung nhưng… đã quá muộn.
Trong lớp áo ăn mày, chú bé có nguồn gốc vương giả chỉ
nhận được những cái tát tai của bọn lính ngự lâm gác
cổng.
Trận
đòn đầu tiên trong đời là cho cậu bé nổi giận đến phát
điên lên được. Nhưng cơn thịnh nộ của cậu chỉ
làm khách bàng quan thương hại, kẻ qua đường ngạc nhiên,
bọn trẻ con tò mò trêu chọc và sau cùng hoàng tử đành từ
giã cung điện với những lằn roi ngang dọc trên thân hình
cùng tâm hồn ấu thơ của cậu.
Từ
đó, hoàng tử bắt đầu sống một cuộc đời lưu lạc, lang
thang của một kẻ ăn mày, cũng đầu trần chân trụi, y phục
tả tơi, ăn bờ ngủ bụi như bao nhiêu kẻ vô gia cư khác,
có khác chăng là lúc nào lòng dạ chú bé cũng nôn nóng nhớ
đến phụ hoàng đang lâm bệnh nặng và chú bé không tài nào
nuốt trôi được những thức ăn của khách hảo tâm.
Rất
mực chân thành, hoàng tử nói cho tất cả thần dân mà chú
được diện kiến rằng mình sẵn sàng chia đôi vương quốc
cho ai nếu đưa được chú bé trở về hoàng cung, nơi mà chiếc
ngai vàng và những uy quyền tột đỉnh đang chờ chú bé.
Nhưng ngoài hoàng tử ra, không có một ai tin lời chú.
Mọi người đều trêu chọc và đối xử với chú bé như
một thằng điên.
Em
thân mến!
Câu
chuyện ông hoàng lưu lạc này còn rất dài với nhiều tình
tiết ly kỳ hồi hộp và không kém phần hấp dẫn, những
điều đó em có thể đọc thẳng vào các chuyện cổ tích,
hay một ngày đẹp trời rỗi rảnh nào đó, tôi sẽ kể cho
em nghe khi chúng ta đang ngồi nhặt rau trong bếp, kéo nước
bên giếng, nhổ cỏ trên luống đậu hay xáo đất ngoài ruộng…
Riêng trong phạm vi của trong giấy này, tôi chỉ có thể tóm
tắt cho em nghe rằng nhờ lòng tự tin không hề lui sụt về
nguồn gốc vương giả của mình mà vị hoàng tử đáng thương
kia, sau muôn cay nghìn đắng đã trở về hoàng cung, không phải
để xin cơm thừa canh cặn nơi nhà bếp, làm một tên quét
lá nơi vườn ngự uyển hoặc những chức quan nhỏ quan lớn…
mà chính là leo lên ngôi cửu ngũ trị vì trăm họ. Và
tôi cũng muốn hỏi với em rằng:
Tại
sao từ khi bước chân vào chùa, ê a học hai đường công phu,
thời công phu chiều nào chúng ta cũng đọc thống thiết vô
cùng những câu như thế này: “Ngã kim phát tâm bất
vị tự cầu, nhơn thiên phước báu, thinh văn duyên giác nải
chí quyền thừa chư vị Bồ Tát.. duy y tối thượng thừa…”
có nghĩa là “Ngày hôm nay con phát tâm không vì cầu cho mình
những phước báu cõi trời, cõi người, con cũng không cầu
những quả vị thinh văn duyên giác cho đến những quả vị
tạm đặt ra, các địa vị Bồ Tát mà con con chỉ cầu tối
thượng thừa…” Ðã biết bao lần tôi và em vô tư
đọc đi đọc lại lời phát nguyện trên giữa tiếng chuông
nhịp mõ và mùi trầm hương lừng. Tâm nguyện đó có
giống tâm trạng của vị hoàng tử lưu lạc khi chú bé nhất
quyết rằng: “Ta ngày hôm nay muốn trở về hoàng cung không
phải để cầu xin cơm thừa canh cặn nơi nhà bếp hay làm
một tên phu quét rác nơi vườn ngự uyển cho đến bất cứ
chức tước nào trong triều dù là quan nhỏ hay quan lớn mà
ta chỉ trở về để bước lên ngôi cửu ngũ mà thôi.
Và
em ơi! Chính nhờ tâm nguyện sắt đá đó, niềm tin không
tài nào lay chuyển nổi mà chú bé đã thành công… chỉ khốn
khổ cho em và tôi… đã quá lâu bị lưu lạc trong dòng sinh
tử, chúng ta đã quên đi nguồn gốc giác ngộ của mình…
Nếu bộ y phục rách rưới kia đã làm cho vị hoàng tử bị
nhạo báng khi chú ta nói về nguồn gốc cao sang của mình,
thì những tâm niệm xấu xa như tham lam, sân hận, tật đố,
dối trá đã làm cho thế nhân cười vào mũi chúng ta, khi ta
tự xưng là Phật tử… và đau đớn nhất là… sau chuỗi
ngày dài phiên bạt, khố rách đói cơm, chúng ta cũng không
dám tự tin nơi mình nữa… chúng ta chỉ cầu sao cho mình được
cơm no áo ấm, tiền tài, sắc đẹp, danh vọng… là những
phước báu vụn vặt nơi cõi nhơn thiên… cùng lắm là chúng
ta mơ ước được chứng một quả vị nào đó thấp nhất
trong tứ quả Thinh văn như Tu Ðà Hoàn chẳng hạn để bảo
đảm rằng dòng luân hồi sẽ chấm dứt, để chúng ta được
nghỉ mệt sau những ngày cát bụi phiêu linh. Còn những
gì cao xa hơn thì… phận hèn nào có dám mơ… Có phải thế
không nào?
May
mắn thay chúng ta có một phụ hoàng rất đỗi từ bi.
Ngài đã không ngớt kêu gọi nhắn nhủ, sai người tìm kiếm
gọi chúng ta về… và lời phát nguyện trên đây là một
thông điệp mà Ðức Phật đã nhờ chư Tổ chuyển đến cho
chúng ta. Trở ngại duy nhất và lớn lao nhất là tôi
và em không còn niềm tin nơi khả năng giác ngộ của mình
nữa. Chúng ta nghe nói về chân tâm thường còn, về pháp
thân bất sanh bất diệt không hề ô nhiễm vì trần lao của
mình. Nhưng… dường như lúc nào chúng ta cũng đối mặt
bắt gặp phải những hình dạng méo mó khó ưa, xảo quyệt
của vọng tâm. Ðó là lý do tại sao chúng ta không dám
trở về hoàng cung, hay nói đúng hơn là không dám tin mình
có khả năng giác ngộ, có Phật tính. Em có thấy như
thế không?
Bây
giờ tôi muốn rủ em cùng tôi chơi trò chơi thợ nhuộm.
Tôi sẽ đưa em một mảnh vải… để em chọn màu và nhuộm.
Vì là trò chơi nên tôi chỉ trao cho em những màu rẻ tiền,
không ăn màu, dễ giặt, tẩy xóa để rồi cuối cùng chúng
ta vẫn còn mảnh vải trắng tinh. Phải ngắt một bông
hồng để dâng tặng và ca ngợi khả năng bất nhiễm của
mảnh vải này… đi em.
Và
tôi xin hỏi nhỏ em rằng có bao giờ em thấy lòng mình cũng
trắng trong và bất nhiễm như mảnh vải kia không? Chỉ
trong một ngày thôi chúng ta đã chồng chất lên bản tâm của
mình không biết cơ man nào là vui, buồn, giận, ghét, tính
toán, lo toan. Và hệt như mảnh vải trắng trong kia, tâm
ta cũng không hề bị ăn hay nhuộm màu chi hết. Nếu mảnh
vải đã bị đen thì sau đó chúng ta không thể biến nó thành
đỏ được. Nếu tâm ta đã bị nỗi buồn làm ô nhiễm
buổi sáng thì buổi trưa ta không thể nào vui được… đã
giận thì không thể thương… Vậy mà em thấy không, sau những
lúc bị phiền não ồ ạt bao vây, em vẫn có thể lắng nghe
tiếng chim hót, nhìn một nụ hồng ngậm sương, đùa với
con mèo và cười thoải mái vì trò nghịch ngợm của một
chú chó con. Thế thì chần chờ gì nữa mà chúng ta không
hoan hô khả năng bất ô nhiễm của bản tâm mình? Tin
vào khả năng đó tức là chúng ta bắt đầu quay về hoàng
cung, nơi người cha thân yêu đang chờ mong. Ðường về
có thể là còn lắm chông gai… Nhưng hỡi ông hoàng bé bỏng
lưu lạc kia ơi! Em không cô đơn và khốn khổ như ông
hoàng trong truyện cổ tích đâu. Vì chung quanh em còn có
biết bao nhiêu là thầy là bạn sẵn sàng dìu dắt giúp đỡ
em… Nói cho cùng, nếu em có phải đi đơn độc một mình
không thể như vị hoàng tử bé bỏng kia, đầu ngẩng cao,
lòng tự tin, chân bước đi trong mùi trầm ngào ngạt, tiếng
mõ lời kinh rằng.
“Ngã
kim phát tâm bất vị tự cầu nhơn thiên phước báu, thinh
văn, duyên giác, nải chí quyền thừa.”
Xin
gởi em, bạn đồng hành của tôi một nụ cười và lời chúc
lành… Chúng ta cùng lên đường nhé!
Chiếc
Áo Mới
Tý
mới được má sắm cho chiếc áo mới, mừng lắm vội mặc
liền và chạy ra ngã tư đứng để khoe với thiên hạ.
Nhưng
lạ quá! Người qua kẻ lại dập dìu mà sao chẳng thấy
ai nhìn thấy Tý có áo mới vậy cà!
Tý
đang tiu nghỉu thì thấy một con heo chạy qua. Rồi cu
Tèo hớt hơ hớt hải chạy đến hỏi:
-Tý
có thấy con heo của Tèo chạy ngang qua đây không?
Ðược
dịp Tý mừng quá đáp ngay:
-Từ
hồi Tý mặc cái áo mới này đến giờ… Tý có thấy một
con heo chạy qua Tèo ạ!
PC:
Kiếm được một tiếng khen không phải là dễ.
Vô
Minh Từ Ðâu Ra?
Sư
Bất Không cùng vua Ðường Ðại Tông đang bàn luận Phật
pháp thì quan hầu Ngũ Triều Ân xen vô hỏi:
-Phật
bảo tất cả chúng sanh đều là Phật thì vô minh từ đâu
ra?
Sư
gạt ngang:
-Ông
không được phép hỏi câu đó.
Triều
Ân giận đỏ mặt. Thiền sư mỉm cười tiếp:
-Vô
minh từ đó mà ra.
Con
Công
Loài
chim họp nhau bầu ra vua. Con công xoè cái đuôi to ra và
tự ứng cử. Muôn thú đều đồng ý. Trong buổi
đăng quang chim ác là hỏi:
-Này
anh công, anh hãy cho chúng tôi biết là khi lên ngôi anh sẽ
làm cách nào để ngăn bọn diều hâu không ăn thịt chúng
tôi?
Vua
công bí tịt.
PC:
Ðẹp mã là một điều đáng quý và đáng hãnh diện.
Phải có phước báu nhiều lắm, ta mới có được bộ dạng
bề ngoài đẹp như công… nhưng mà, để đối chọi với
bao sóng gió của biển đời, ta cần có một trí tuệ bén
nhạy, lòng từ bi vô lượng và kiên nhẫn vô bờ kia!
Vì
thế nên trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy người trì kinh nên ngồi
tòa Như Lai và mặc áo Như Lai, không cần phải “đẹp cỡ
Như Lai.” Tòa Như Lai là tâm nhu hòa nhẫn nhục và áo
Như Lai là lòng từ bi vô lượng đó em ơi!
Thả
Mồi Bắt Bóng
Một
con chó mõm ngoạm thịt … đi trên tấm ván bắc ngang suối.
Thoạt trông thấy bóng một con chó đang ngậm thịt dưới
nước, nó liền nhả miếng thịt đang ngậm ra và lao ùm xuống
suối để cướp miếng thịt kia. Sục sạo hồi lâu,
chó ta vừa đói vừa lạnh và chẳng được gì cả!
Em
thân mến!
Nên
bằng lòng với miếng thịt hiện tại của mình đi nhé!
Thiền
sư Ðạo Giai Phù Dung (1043-1113) một cao tăng Trung Hoa, trước
khi chết có làm một bài kệ như thế này:
“Ngô
niên thất thập lục
Thế
duyên kim dĩ túc
Sanh
bất ái thiên đường
Tử
bất phạ địa ngục
Tán
thủ hoành thân tam giới ngoại
Ðằng
đằng nhậm vận hà câu thúc.”
Dịch:
Tuổi
ta bảy mươi sáu
Duyên
đời nay đã đủ
Sống
chẳng thích thiên đường
Chết
đâu ngán địa ngục
Buông
tay đi ngang ngoài ba cõi
Mặc
tình bay bổng buộc ràng chi…
Bát
Phong Suy Bất Ðộng
Tô
Ðông Pha khi ở Trấn Giang có làm bài kệ tán Phật gởi cho
thiền sư Phật Ấn, kệ rằng:
“Thánh
chúa thiên trung thiên
Hào
quang chiếu đại thiên
Bát
phong suy bất động
Ðoan
tọa tử kim liên.”
Ngài
Phật Ấn phê:
“Ðánh
rắm! Ðánh rắm!”
Xong
gởi trả lại ngài Tô Ðông Pha.
Tô
Ðông Pha chèo thuyền sang hỏi:
-Thơ
tôi chỗ nào không trúng mà ông phê như vậy?
Phật
Ấn trả lời:
“Bát
phong suy bất động
Nhất
thí đã quá giang.”
À
Ra Thế
Sư
một hôm có dịp đi ngang nhà người anh bèn ghé thăm.
Người lớn đều đi vắng cả chỉ có thằng cháu mới lớn
nằm ở nhà. Sư đành đi ra đi vào, nhìn thơ thẩn và
chờ đợi. Thằng cháu quan sát vị khách quý hồi lâu,
buột miệng nói:
-Có
phải chú tính ăn vụng kẹo không? Ba má cháu đi vắng
cả rồi, chú cứ lấy ăn cho đã thèm… cháu không mách lại
đâu!
Sư:
-???
Em
thân mến!
Không
riêng gì thằng cu này mà dường như toàn thể loài người
chúng ta, bất kể già trẻ bé lớn, ai ai cũng nhìn người
khác bằng cách “suy bụng ta ra bụng người” cả. Và
có lẽ cũng vì thế mà đi đến bất cứ nơi đâu trên bất
kỳ ngõ đường nào, chúng ta đều gặp cảnh các tôn giả
chúng sanh đang đấm ngực, bứt tóc than: “Trời ơi!
Sao mà khổ như ri! Sao chẳng ai chịu hiểu giùm tôi hết
chơn hết chọi! v.v… và v.v…