Phần
1
Chuyện
Tình Không Ðoạn Kết
Thằng
Cu Trắng
Cành
Trâm Mơ Ước
Chiếc
Cùm Bằng Ngọc
Cách
Xử Thế Của Người Xưa
Của
Quý
Ngày
Mai Ăn Khỏi Trả Tiền
Cây
Ðèn Ðã Tắt
Phật
Ở Ðâu
Bồ
Tát Và Chúng Sanh
Phật
Của Ngoại
Bà
Chủ Hiền Thục
Sóng
Mắt Khuynh Thành
Tái
Ông Thất Mã
Người
Mù Sờ Voi
Chuyện
Âm Phủ
Người
Mang Châu
Ba
Câu Hỏi Của Ðức Vua
Mối
Dây Thân Ái
Người
Yêu Muôn Thuở
Chuyện
Tình Không Ðoạn Kết
Ngày
xửa, ngày xưa, có một cô công chúa Út con gái yêu của hoàng
đế La Mã - một ông hoàng giàu sang độc tài và rất hung
bạo.
Lúc
lớn lên, nàng công chúa lại đem lòng thầm yêu trộm nhớ
một chàng trai trẻ tuổi trong đội Ngự lâm quân của cha
mình. Nhà có ngạch vách có tai, câu chuyện tình thơ mộng
này chẳng bao lâu lại lọt vào tai ông hoàng. Sau một
hồi xoắn râu giận dữ, ông hoàng ra lệnh đưa chàng trai
tốt phước (nhưng đang tái sanh mặt mũi) ra trước đấu trường.
Chàng
trẻ tuổi được dẫn đến trước hai gian phòng và được
quyền mở một trong hai cánh cửa.
Nếu
chàng vô tội, thần linh sẽ giúp chàng mở cánh cửa
hạnh phúc: một giai nhân đang chờ chàng cùng với số của
hồi môn đồ sộ.
Nếu
chàng có tội, cánh cửa sẽ mở lối cho một ả sư tử đói
bụng, đang chờ chàng bằng hai hàm răng bén nhọn.
Trong
giây phút định mệnh chàng ngự lâm bối rối nhìn quanh...
và nơi khán đài danh dự, chàng bỗng bắt gặp ngón tay điềm
chỉ của công chúa. Lòng đang hy vọng chàng liền mở
một trong hai cánh cửa.
Nhiều
thế hệ đã trôi qua, các ông hoàng bà chúa đã biến mất...
Nhưng người ta vẫn chưa đồng ý với nhau về đoạn kết
của câu chuyện.
Thằng
Cu Trắng
Thuở
xưa, có một thiếu nữ gia đen kết hôn với một người gia
trắng, cuộc hôn nhân dị chủng này gây sự bất bình cho
cả hai dân tộc da đen lẫn gia trắng. Người vợ bị
gia đình cô từ bỏ, trong khi xã hội da trắng cũng không chấp
nhận cô, tất cả đều khinh rẽ và đối xử với cô rất
đen bạc.
Ðứa
con đầu lòng của người thiếu phụ đáng thương này chào
đời như một ân sủng của Thượng đế. Chú bé trắng
trẻo khôi ngô khiến ai trông thấy cũng phải nựng nịu.
Chúng ta gọi nó là thằng cu Trắng cho tiện. Cu Trắng
được nhận vào lớp học dành riêng cho dân da trắng lúc
nó lên 5 tuổi. Sự thông minh đĩnh ngộ của thằng bé
khiến mọi người phớt lờ đi nguồn gốc da đen của nó.
Cu
Trắng đi học được ít lâu thì người mẹ hạ sanh thêm
một đứa em. Lần này Thượng đế không thiên vị nữa,
một thằng cu đen thủi đen thui chào đời. Chúng ta gọi
nó là thằng cu Ðen cho tiện.
Cu
Trắng đem lại cho bố mẹ nó bao nhiêu niềm vui thì cu Ðen
đem đến cho họ bấy nhiêu khổ sầu. Cu Ðen biết thân
mình chỉ lẩn quẩn ở bên mẹ, không dám và không được
đi chơi với bố cùng anh.
Lên
5 tuổi, cu Ðen cũng được bố mẹ chạy chọt cho vào học
chung trường với cu Trắng. Nó bị bạn bè da trắng trêu
chọc, hành hạ dữ dội. Cu Trắng cũng khổ sở vì sự
hiện diện của thằng em không ít. Cuối cùng cả hai
anh em đều bị chủng tộc da trắng đuổi ra khỏi trường.
Túng
thế, bố mẹ của chúng phải sắp xếp như thế này: Cu Trắng
được gởi đến một trường học nội trú của dân da trắng,
thật xa để không ai biết đến nguồn gốc da màu của mẹ
và em nó. Còn cu Ðen thì được gởi về quê ngoại theo
học tại một trường nô lệ dành riêng cho dân da màu. Ông
bố tiếp tục đi làm, bà mẹ thui thủi một mình ở nhà mà
lòng nhớ con khôn tả. Sự hợp chủng kỳ diệu của
hai dòng máu bất chấp sự kỳ thị của loài người đã khiến
cu Trắng thành một đứa bé thông minh vượt bực. Ðiều này
là nguồn an ủi cho bà mẹ và nàng thiếu phụ đáng thương
này đặt hết hy vọng vào đứa con đầu lòng. Riêng
thằng cu Ðen, màu da đen đúa đã xác định hẳn số phần
hẩm hiu của nó.
Ở
trường học dành riêng cho dân da trắng, cu Trắng được thầy
cô yêu mến, bạn bè kính nể, không một ai có mảy may ngờ
vực về nguồn gốc da màu của nó. Riêng thằng cu Trắng
lúc nào cũng nơm nớp lo sợ mọi người biết được sự
thật về mẹ và em mình, sẽ tống cổ nó ra khỏi trường.
Vì thế cu Trắng rất lấy làm khổ sở khi phải tiếp xúc
với mẹ và em. Những ngày nghỉ học, cu Trắng thường
la cà ở nhà bạn bè để cho bà mẹ ở nhà mỏi mòn trông
đợi, và bà đã chết trong nỗi buồn thương đó, bố chúng
cũng không sống được bao lâu. Sau khi bố mẹ qua đời,
cu Trắng liền cắt đứt liên lạc với em.
Về
sau, cu Trắng trở thành một chàng trai học thức, đẹp trai...
Nó vào lính làm đến đại úy, rồi giải ngũ về làm biện
lý tại một thành phố lớn, sống một cuộc đời giàu sang
danh vọng như bao nhiêu người Âu khác, có khác chăng là lòng
lúc nào cũng hồi hộp lo sợ người ta khám phá ra dòng máu
lai đen của mình, dù cu Trắng đã khôn khéo thay tên đổi
họ.
Riêng
thằng cu Ðen, thì không được may mắn như anh, màu da của
nó đã xác định sẵn địa vị của cu Ðen trong xã hội.
Biết anh không thích mình nên cu Ðen chỉ làm bạn với sách
vở và những người bạn cùng màu da. Hai anh em đều
khôi ngô, thông minh như nhau. Có khác chăng là hai màu
da và cu Ðen sống hoàn toàn thoải mái không có nỗi lo sợ
bị lộ tung tích ám ảnh suốt ngày đêm như cu Trắng.
Sau
mười mấy năm trời cách biệt, một hôm cu Ðen tình cờ đến
gần anh. Ðược cu Trắng chấp thuận cu Ðen đến thăm anh.
Vì cuộc gặp gỡ này một tai nạn xảy ra, mọi người đều
biết chàng cu Trắng là dân da màu. Tất cả những gì
cu Trắng đã dày công gây dựng như danh vọng, tình yêu, sự
nghiệp đều nhất loạt sụp đổ.
Em
thân mến!
Câu
chuyện trên đây được rút ra từ quyển sách “Hãy để
ngày ấy lụi tàn” của một văn sĩ người Anh. Ở đây tôi
không cốt ý kể cho em nghe về một chuyện tình bi thảm của
thế gian giới, tôi chỉ muốn hỏi em về tâm trạng của anh
chàng cu Trắng trong mỗi con người chúng ta – tôi và em –
Có phải dù chúng ta có cố gắng gìn giữ tập luyện tu hành
để tạo cho mình một dáng dấp đàng hoàng thuần hậu, thánh
thiện đến đâu đi nữa.... thì trong tận cùng thân tâm em
và tôi đều phải đau khổ và ghi nhận rằng cái lý lịch
đen, tức phần ác xấu, bất thiện vẫn còn ngũ ngầm ở
đó. Và y hệt như anh chàng cu Trắng, nếu màu da bên
ngoài của chàng ta được xã hội ưu đãi, mến chuộng bao
nhiêu thì dòng máu lai đen nằm trong thân thể tạo thành một
nỗi mặc cảm dày vò, bứt rứt, bấy nhiêu. Có bao giờ
em thấy điều đó không? Sau những đức tính từ bi hỷ
xả, tế nhị dịu dàng, đắc nhân tâm... những điều kiện
ắc có và đủ để tạo thành con người hợp thời trang,
lịch sự nhất mực đó, có phải em đã từng xót xa ghi nhận
rằng những mầm móng tham sân, ganh ghét, độc ác, ích kỷ
vẫn còn nằm sờ sờ ra đó... Có lạ chăng là mọi người
chưa nhận thấy... Và vì thế, người chung quanh càng thương
mến, ái mộ bao nhiêu thì em càng thấy mình lố bịch, giả
dối bấy nhiêu.
Trong
câu chuyện khi nào cu Ðen gặp gỡ hay liên lạc với cu Trắng
thì cái thế giới hư danh, ảo vọng của chàng cu Trắng liền
bị đe dọa sẽ sụp đổ. Chúng ta cũng thế sau biết
bao là công khó tập luyện để có một phong thái tu hành rất
mực thì chỉ cần một cơn giận, một nụ cười mỉa mai,
một cái nhìn ganh tị đến viếng thăm... là tất cả cái
bề ngoài sơn son thếp vàng đó liền sụp đổ tan tành.
Bi
kịch của câu chuyện ở chỗ chàng cu Trắng chối bỏ dòng
máu lai đen của chàng, cố gắng khỏa lấp để mạo nhận
mình là da trắng 100% nên lúc nào chàng ta cũng phải nơm nớp
lo sợ bị lộ tung tích.
Tại
sao chàng trai lại cam chịu sống một cuộc đời đầy sợ
hãi, giả dối và bấp bênh như thế? Chính cái thế giới
phù hoa, những đặc quyền ưu tiên dành cho dân da trắng đã
khiến chàng thèm thuồng và ao ước được hưởng như họ.
Trở
lại của chúng ta ngay từ thơ bé, chúng mình đã được ba
mẹ và thầy cô giảng dạy rằng... phải cố gắng làm sao
để trở thành một đứa bé ngoan ngoãn, tử tế, dễ thương.
Lúc dần dần lớn lên, xã hội lại cho ta một cái khuôn:
thế nào là một người lịch sự, đắc nhân tâm, được
mọi người yêu mến. Và khi em bước chân vào chùa, người
xung quanh liền khen em là đại trượng phu, là sa môn, là thầy
của mọi người v.v...
Hơn
lúc nào hết đây là lúc em chối bỏ cái bản ngã thật sự
của mình để cố gắng rập khuôn theo một hình bóng, một
nhân dáng nào mà người chung quanh em chờ đợi và ca tụng.
Ðó là lúc mà chàng cu Trắng đang cố gắng chứng tỏ mình
là dân da trắng 100%.
Em
thân mến!
Nếu
em đã thành công nghĩa là em đã trở thành một bậc chân
tu thánh thiện, trắng bạch như vỏ ốc, không ai có thể tìm
ra một chút xíu tỳ vết nào... và nhất là em rất bằng lòng
về con người của em, và những đức tính mà em đã dày công
tập luyện, cùng những quyền lợi phụ tùng mà thế nhân
đã cung kính dành cho cái vỏ khả kính ấy, thì câu chuyện
này xin ngừng lại nơi đây.
Nhưng
nếu em thoáng thấy đã có một cái gì trục trặc, bất ổn,
giả dối... trong con người đầy mâu thuẫn của mình, thì
đâu hãy thử một lần, lấy hết can đảm nhìn kỹ mình,
nó ra sao thì nhận như thế đó. Hãy thử đừng nỗ lực,
cố gắng biến cải bản ngã khác mà em cho là tốt đẹp hơn.
Chàng cu Trắng mà dám nhìn nhận mình là dân da màu thì ...
hơi đau thật đấy, có nghĩa là chàng sẽ mất tất cả những
uy danh và quyền lợi mà xã hội đã dành cho thế cấp da trắng...
Cũng thế khi em chịu nhận mình là một tôn giả chúng sanh
đầy đủ tham sân si... như trăm ngàn chúng sanh tầm thường
khác thì em sẽ đánh mất hết lòng ái mộ, tôn kính của
người chung quanh đã dành cho em. Nhưng bù lại chàng cu
Trắng được sống hồn nhiên, thoải mái... không còn phập
phòng lo sợ bị lộ tẩy... em sẽ thấy có một khung trời
kỳ diệu mở ra trước mặt. Ðau đớn biết bao khi ta phải
chứng kiến ngày lâm chung của cái huyễn ngã mà ta đã khổ
công che đậy, tập luyện... nhưng bù lại ta sẽ không còn
sợ hãi lo ngại... nghĩa là “vô hữu khủng bố, bô quái
ngại” (không còn sợ hãi, lo ngại... cái quái gì hết).
Chấp
nhận mình có những tánh xấu không có nghĩa là em sống si
mê, buông mình theo vô minh dục vọng, mà chấp nhận có nghĩa
là bình thản quán sát, theo dõi để thấu đáu toàn thể cái
cơ cấu được mệnh danh là TA, là “bản ngã” của ta. Ðây
cũng chính là chỗ mà ngài Huyền Giác quả quyết khẳng định:
“Vô minh thật tánh tức Phật tánh” đó em!
Cành
Trâm Mơ Ước
Thuở
xưa, có một cô gái miền quê tên gọi là Bông. Một
hôm, đến ngày chợ phiên Bông được mẹ sai đi bán mật.
Trên
đường đi đến chợ, Bông vừa đi vừa nghĩ ngợi lan man...
“Khi
sáng, mẹ có hứa rằng... nếu bán được giá hời, mẹ sẽ
cho riêng Bông một quan tiền để tùy ý sử dụng. Bông
sẽ mua cái gì nhỉ? À Bông sẽ mua nửa chục con gà, những
chú gà lông nõn như tơ, vừa bằng cái chén Tống ấy mà...
Ðàn gà gặp tay Bông biết nuôi thì phải biết... con nào con
nấy mau lớn như thổi... Chúng sanh con đẻ cháu nhiều vô
kể, chỉ hiềm một nỗi là chúng hay bơi xới cả ngày...
cho nên một hôm, Bông bực mình bán quách đi cả, để mua
hai chú lợn con ủn ỉn về nuôi cho tiện. Phiên chợ
cuối năm Bông lùa lợn đi bán. Dạo cận Tết lợn bát
rất được giá... Bông mua một chiếc áo dài màu hoa cà, một
chiếc quần sa teng trắng, một đôi hài cườm như lũ con gái
ở xóm lò lu thường mang. Vẫn còn nhiều tiền, mình
mua cái gì nhĩ? Một chiếc lược cài hay khăn voan choàng
đầu? Một chiếc dù hay một thỏi son?... À, phải rồi!
Một chiếc trâm cài tóc. Tết đến Bông sẽ mặc quần
áo mới, đi hài cườm, chiếc trâm có nhận hạt thủy tinh
lấp la lấp lánh trên mái tóc nhung đen. Một chàng trai
trẻ tuổi đến ngỏ chuyện làm quen với Bông... Bông e thẹn
nép mình dưới một khóm lá... để đỡ ngượn. Bông
đưa tay cài lại chiếc trâm, nghiên đầu, xõa tóc che bớt
đôi má đỏ bừng vì thẹn... thì... xoảng! Bông ngơ ngác
thấy mình đang đứng giữa đường làng, hũ mật đổ nhào
xuống đất vỡ làm ba bốn mãnh... Áo lượt, quần là, cành
trâm cùng chàng trẻ tuổi đều tan biến đâu mất... Cô thiếu
nữ hay mơ mộng này không biết làm gì hơn là ôm mặt khóc
òa...
PC:
Cái này gọi là: “Bừng con mắt dậy thấy mình tay không!”
Chiếc
Cùm Bằng Ngọc
Thuở
xưa, có một nàng công chúa bị quân địch bắt về giam giữ
tại một hang núi nọ. Quân giặc trói nàng bằng một
chiếc cùm bằng sắt, nạn nhân liền phản đối ấm ĩ, lúc
nào cũng tìm cách thoát thân.
Cuối
cùng bọn giặc nhốt nàng vào một chiếc lầu sơn son thếp
vàng thật đẹp, đổi chiếc cùm bằng sắt bằng chiếc cùm
vàng nạm ngọc... Nạn nhân liền đổi giận làm vui, nghĩ
rằng từ nay mình được sở hữu cả một gia tài khổng lồ
nên đành cam chịu cảnh tù tội, không bao giờ nghĩ cách thoát
thân nũa.
Em
thân mến!
Những
chiếc cùm dù có làm bằng phẩm lượng khác nhau đi nữa,
chúng cũng có cùng mục đích là trói buộc, tước đoạt sự
tự do của chúng ta. Cởi bỏ một chiếc cùm bằng sắt,
bằng gỗ... tuy là khó thật nhưng so với chiếc cùm bằng
vàng bạc, kim cương... thì mới là thiên nan vạn nan.
Những người bị trói bằng chiếc cùm quý có thể tự tử
chết nếu được giải thoát. Em có thấy điều ấy không?
Có
lẽ vì thế mà kinh Kim Cang có câu:
“Pháp
thượng ưng xả hà huống phi pháp”, nghĩa là “Cùm vàng
cũng phải cởi nữa là cùm bằng kẽm gai chăng?”
Cách
Xử Thế Của Người Xưa
Xưa,
có một chú học trò được dịp lên phố chơi. Nhằm
ngày chợ phiên một cuộc mất cắp xảy ra tại quán trọ.
Chú học trò liền bị quan huyện bắt nhốt vì người ta nghi
ngờ chú là thủ phạm.
Sau
khi trải qua những thủ tục tra hỏi phiền phức, quan huyện
tìm ra thủ phạm chính, chú học trò được trắng án ra về.
Khi
về làng gặp lại vị thầy dạy học, chú nhỏ tức tưởi
kể lại tự sự, bộc lộ nỗi hàm oan của mình.
Ông
thầy im lặng nghe xong câu chuyện, nghiêm nghị ra lệng đánh
đệ tử 10 roi phạt. Ðương sự rất ngạc nhiên nhưng không
dám cãi lời thầy, riu ríu leo lên bộ phản nằm chờ trận
đòn mà lòng hoang mang vô kể.
Các
bạn chú thấy thế ngạc nhiên thưa:
-
Thưa thầy, trò này vô tội sao lại bị đòn?
Ông
thầy từ tốn giải thích:
-
Ðành rằng nó vô tội. Nhưng tại sao giữa phố chợ
đông đảo, chỉ có mình nó bị tình nghi là kẻ cắp?
Ta đánh đây là phạt cái tội nó đã có bộ vó của thằng
ăn cắp để cho người ta nghi ngờ. Nếu nó không chỉnh
đốn tư cách lại ta e rằng nó sẽ bị hàm oan nhiều lần
nữa!
Em
thân mến!
Ðây
là một trong những cách xử thế tuyệt diệu của người
xưa. Cổ nhân đào luyện thế hệ đàn em phải sống
sao cho “cúi không thẹn đất, ngẩng không thẹn trời.”
Ðành rằng chú bé trên đây không hề gian tham, nhưng vị thầy
không bằng lòng khi thấy học trò mình chưa đủ tư cách chính
nhân quân tử khiến người ta mất lòng tin nơi mình.
Trong khi đức Phật cũng đã từng dặn dò chúng ta rằng:
“Không phải nhờ ở lời khen của thế nhân mà con được
đạo giải thoát, cũng không phải vì lời chê của thế nhân
mà con bị rơi vào địa ngục, mà chính những ý nghĩ, lời
nói và hành động của con sẽ quyến định cảnh giới thiện
hay ác tương xứng.”
Thông
thường chúng ta rất dễ nhẫn nhịn những lời khen (mà mình
hoàn toàn không xứng đáng) và ngược lại chúng ta không tài
nào kham nhẫn nổi những lời vui oan trách mắng vô căn cứ...
Ðã bao lần em tức tưởi thuật lại nỗi hàm oan của mình
cùng bè bạn... Và có lẽ chưa lần nào em bị đánh đòn như
chú bé trong câu chuyện trên đây. Có lẽ vì thế mà
chúng ta kém xa người xưa chăng?
Có
hôm nào lỡ bị một nỗi hàm oan, em hãy thử một lần tự
tìm xem mình đã có những tác phong, cử chỉ, cung cách như
thế nào để cho người ta phải nghĩ về mình xấu tệ như
thế đó. Nếu tìm thấy nguyên do nằm nơi mình, thì em
đã bắt đầu nắm được chìa khóa giải thoát rồi đó.
Giải thoát cái gì em biết không? Giải thoát em khỏi
niềm sầu, nỗi khỗ, những tư tưởng bi quan, hắc ám vì
thấy trên cõi đời này sao mà không có ai chịu hiểu mình
hết trơn hết trọi...
Của
Quý
Nước
Tống có người nhặt được viên ngọc quý. Anh mang đến
biếu quan Tư Thành là Tử Hản. Tử Hản không nhận,
người được ngọc cố nài:
-
Bẩm thượng quan, đây là viên ngọc rất quý và hiếm có,
ai cũng công nhận điều ấy, xin ngài nhận cho tôi được
vui.
Tử
Hản đáp:
-
Chú cho ngọc là quý, còn ta, ta cho tánh không tham là của quý.
Chú mang ngọc cho ta nếu ta nhận thì cả hai đều mất cái
mà mình cho là quý nhất, chi bằng của quý ai thì người ấy
giữ.
Người
được ngọc thưa:
-
Chúng tôi là thường dân mà được ngọc thì dù biết là
của quý, nhưng nếu cố giữ thì sẽ thành họa. Vì thế
mới mạo muội đến dân lên Ngài.
Tử
Hản bèn gọi thợ ngọc đến bán dùm viên ngọc. Xong
ông trao tiền cho người được ngọc mang về.
PC:
Tổ Bát Nhã Ba La được nhà vua dâng cúng một hạt bảo châu
vô giá. Vua có ba vị hoàng tử. Tổ cầm ngọc hỏi
các vị hoàng tử rằng:
-
Trên thế gian này còn cái gì quý hơn viên ngọc này không?
Hay
vị hoàng tử lớn đều đồng ý nhau rằng viên ngọc là quý
nhất. Duy có vị hoàng tử út thưa:
-
Bạch thầy còn có một thứ quý hơn nữa đó là trí tuệ!
-
Làm sao chứng minh được điều đó?
-
Thưa, viên ngọc này chỉ là một vật vô tri, nó không thể
tự xác định là quý hay tiện. Phải nhờ trí huệ của
loài người nhận định, nó mới trở thành một viên bảo
châu vô giá, bằng không, nó chẳng hơn một hòn sỏi.
Tổ
khen nhận. Về sau vị hoàng tử thông minh này xuất gia.
Ðó chính là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma.
Em
thân mến!
Với
thế nhân “của quý” là ngũ dục, tức là tiền tài, sắc
đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ kỹ. Kẻ sĩ biết đạo thì
cho “của quý” là những đức tánh như không tham, không
sân... Riêng tăng đồ nhà Phật thì quý nhất là trí huệ.
Chính nhờ có trí huệ soi thấu bản chất của vạn hữu mà
chúng ta mới biết được tánh chất vô thường, huyễn ảo
của ngũ dục. Cũng nhờ trí huệ mà chúng ta hiểu ra
rằng thiện ác, tốt xấu, thị phi... chỉ là những phân chia
giả định của loài người. Và cũng chính trí huệ là
cái bền vững còn lại giữa thế gian vô thường sinh diệt
này. Có lẽ vì thế mà trong kinh điển nhà Phật thường
nhắc đi nhắc lại rằng: “Duy tuệ thị nghiệp” nghĩa là:
“Chỉ có trí tuệ là sự nghiệp” chăng?
Ngày
Mai Ăn Khỏi Trả Tiền
Xưa,
có một ông già bán kẹo, đề trên thùng xe như thế này:
“Ngày mai ăn khỏi trả tiền”. Trẻ con xem thấy thích
lắm, rủ nhau mua kẹo và định bụng rằng: “Ngày mai mình
sẽ ăn kẹo đã thèm. Vì ông bán kẹo đã nói vậy mà.”
Nhưng
ngày mai, ngày mai... ngày mai rồi ngày mai. Ông bán kẹo vẫn
bắt bọn trẻ phải đưa tiền mới trao kẹo cho. Vì ngày
mai là một ngày không bao giờ có.
Em
thân mến!
“Ngày
mai ăn khỏi trả tiền” chỉ là một lối nói gạt trẻ con,
vì ngày mai sẽ không bao giờ đến, thật chăng là chính cái
khoảng khắc ngắn ngủi hiện tại này đây.
Nếu
ta bảo rằng: “Ngày mai ta sẽ học hành đàng hoàng, sẽ giúp
đỡ người này kẻ nọ, sẽ bắt đầu tu hành cẩn thận,
sẽ thực thi những cải cách vĩ đại v.v... và v.v... thì coi
chừng đó có thể là lời hứa hẹn suông để ta được phép
duy trì tình trạng bê bối hiện tại... cho khỏi áy náy, cắn
rứt lương tâm mà thôi.
Ngày
mai rồi sẽ y hệt như ngày hôm nay mà thôi. Vậy thì,
những gì có thể làm được bây giờ, chúng ta hãy một, hai,
ba bắt tay làm liền chứ đừng hẹn vào ngày mai, là một
ngày chỉ có trong ảo tưởng mà thôi.
Cây
Ðèn Ðã Tắt
Xưa,
có một chú bé bị mù cả hai mắt. Mỗi khi đi đâu chú
đều phải cầm gậy dò đường. Ngày và đêm chú đều
sống trong bóng tối như nhau.
Một
hôm chú bé đến thăm bạn. Lúc ra về trời đã tối.
Người bạn đốt một chiếc đèn lồng trao cho chú, chú bé
cười nói:
-
Tối hay sáng đối với tôi đều như nhau, anh trao đèn cho
tôi làm gì?
-
Ðành rằng anh không cần đèn nhưng người khác phải nhờ
cây đèn này mới không đâm bổ vào anh chứ.
Chú
bé mù cầm cây đèn ra về, đi được một quãng chú bị người
khác đụng phải, chú bé tức giận quát:
-
Bộ đui sao mà không thấy cây đèn của người ta?
Người
kia cười to:
-
Ðèn của anh tắt rồi anh đui ơi!
Em
thân mến!
Giá
trị của cây đèn là do ánh sáng, thiếu ánh sáng thì cây
đèn chỉ là một vật vô dụng mà thôi. Một pháp môn
hay nhất là chỗ nó giúp hành giả thấu rõ thực tướng của
mình và muôn pháp, tiêu sạch phiền não, đem lại an lạc cho
mình và người chung quanh.
Nếu
chúng ta cứ cho rằng mình đã dự vào hàng ngũ xuất gia, thuộc
vào hàng tông môn chính phái, thầy tổ là bậc chân tu lỗi
lạc, bạn bè mình là hạng anh tài xuất chúng... chúng ta đã
được học những pháp môn tối thượng thừa, cao siêu hi
hữu... và chúng ta cho thế là đủ, sanh tật khen mình chê
người, phiền não mỗi ngày một tăng trưởng thì... coi chừng
chúng ta sẽ giống cậu bé mù trên đây, cầm một cây đèn
lồng thật tốt, thật đẹp... nhưng... tắt queo cho mà coi!
Phật
Ở Ðâu
Thuở
xưa có anh chàng đọc kinh, nghe nói về Phật thích lắm, nhất
định đi tìm cho gặp Ngài mới nghe. Anh chàng khăn gói
quả mướp ra đi. Sau khi trải qua không biết cơ man nào
là núi sông, hầm hố, gian nguy hiểm trở... chàng vẫn chưa
được gặp Phật giống như hình dáng trong kinh đã diễn tả:
“Thân Phật sắc vàng, cao một trượng sáu, đầy đủ 32
tướng tốt, 80 vẻ đẹp hào quang sáng chói.”
Hôm
nọ tại một triền non, chàng trai tình cờ gặp một cụ già
râu tóc bạc phơ cốt cách siêu phàm. Mừng quá chàng
khẩn khoản:
-
Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không? Xin chỉ
dùm con với.
Ông
lão mỉm cười:
-
Ồ, chỗ nào mà không có Phật? Trên quảng đường vừa
qua chả lẽ con không gặp được Ngài.
-
Thưa cụ trên đường đi con đã từng gặp vô số người,
nhưng đều là hạng phàm phu tục tử cả... con chưa từng
thấy người nào có được vài tướng tốt như trong kinh đã
mô tả về Phật cả.
Ông
cụ cười ha hả:
-
Chú mày ngốc nghếch thật! Chú không biết rằng cái thân
đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp đó, dân Ấn đã
đốt thành tro và chia nhau xây tháp thờ cúng cả rồi ư?
-
Thưa thế thì Phật chết rồi sao?
-
Hiện giờ đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi.
Ngài cũng mang thân tồi và xấu như chúng sanh vậy. Con
còn có muốn gặp Ngài nữa không?
-
Thưa dù với bất cứ hình dạng nào, nếu đích thực là Ngài
thì con vẫn vô cùng khác ngưỡng.
-
Vậy thì để ta mách nước cho con nhé... Con hãy quay về...
Trên đường về, nếu gặp một người nào mang guốc trái
ở chân phải, guốc phải ở chân trái thì chính người đó
là một hóa thân của Phật. Hãy thừa sự và cúng dường
vị Phật ấy như trong kinh đã dạy...
Chàng
trai hối hả quay về, suốt quãng đường dài chàng không gặp
đức Phật nào mang hình dáng như cụ già diễn tả. Chán
nãn chàng quay về nhà. Trời đã khuya, bà mẹ còn chong
đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa bà mừng quá,
tụt xuống phản quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy
tất tả ra mở cửa. Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước
mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang lộn chiếc guốc
trái qua chân mặt, guốc mặt sang chân trái. Chàng ôm
chầm lấy mẹ nghẹn ngào:
-
Ôi! Ðức Phật yêu quý của con.
Em
thân mến!
Trong
kinh Phật có dạy: “Gặp thời không có Phật thì hai vị
Phật đáng tôn thờ là cha và mẹ của mình, phải cung kính
và thờ phụng hai vị này như tôn thờ đức Phật Thích Ca
và Di Lặc vậy.” Ðó là lời dạy cho hàng Phật tử tại
gia.
Riêng
chúng ta hàng xuất gia đã lìa bỏ cha mẹ của xác thân này
và để thừa sự cúng dường tất cả chúng sanh là những
cha cùng mẹ trong vô lượng kiếp của mình.
Ngày
xưa, trong hàng môn đồ của Ðại sư Trí Khải - một danh
tăng đời Ðường – có một vị sư nhớ nhung cha mẹ, bèn
bày tỏ cùng Ngài. Ðại sư dạy:
-
Là người xuất gia ông chớ nên vì cha mẹ một đời mà xao
nhãng bổn phận đối với cha mẹ nhiều đời, là tất cả
chúng sanh đó vậy.
Câu
chuyện anh chàng đi tìm Phật trên đây do người Trung Hoa đặt
ra để nhắc nhở về chữ hiếu và bổn phận làm con.
Nhưng qua câu chuyện này, em có thấy rõ chỗ oái oăm của
nó là chúng ta bôn ba đi tìm Phật khắp nơi, trong khi Ngài
ở kề cận bên mình mà chẳng hay. Vì thế mà có lẽ
khi tăng Huệ Hải hỏi Mã Tổ về Phật, Mã Tổ đáp:
-
“Hệt kẻ cỡi trâu đi tìm trâu” Em có thấy như thế không?
Bồ
Tát Và Chúng Sanh
Trời
vừa dứt mưa, một bà cụ khoác áo tơi đi ra phố. Gặp
một chú bé đang nghịch nước bẩn bên vệ đường, bà cau
mặt quát:
-
Thằng Cu! Mày có lên ngay không. Khiếp!
Thằng
bé phản đối:
-
Cháu xí cái vũng này từ hồi mới mưa lận. Bà kiếm
cái khác đi, thiếu gì!
Em
thân mến!
Bồ
Tát là những vị sách vở định nghĩa là “Thượng cầu
Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.” (Trên cầu Phật đạo, dưới
hóa độ chúng sanh). Riêng chúng ta có thể hiểu một
cách giản dị như thế này: “Nếu chúng ta tin rằng mình
và tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ thì ta đã
có mầm Bồ Tát trong lòng rồi. Trên đường tu chừng
nào thành Phật hãy hay, còn hiện tại chúng ta hãy tùy thuận
giúp đỡ người chung quanh bằng tất cả khả năng hạn hẹp
của mình... Vì tin tưởng nơi Phật tánh của mình và người
nên Bồ Tát không bao giờ mệt mỏi trên bước đường tự
lợi, lợi tha...
Nhưng...
tâm Bồ Tát thì khó phát nhưng rất dễ thối thất... Em có
biết tại sao không? Em đừng tưởng là khi hành Bồ Tát hạnh
đi đến đâu thiên hạ cũng rải hoa và trải chiếu bông đón
tiếp mình hết đâu... mà coi chừng vỡ mộng đấy nhé! Như
trường hợp của bà cụ trên đây chẳng hạn. Nếu các
tôn giả chúng sanh đang ưa thích điều gì mà mình cản trở
thì coi chừng họ có thể nghi là mình muốn đoạt cái sở
thích ấy, trong trường hợp đó, nếu ta chưa đủ tài thuyết
phục họ thì phải chạy cho thật lẹ kẻo... u đầu, nếu
em có giúp đỡ ai điều gì thì... chớ nên hí hửng chờ người
tuyên dương công trạng của mình vì có hàng khối kẻ bàng
quan đang bĩu môi phẩm bình rằng:
“Ðồ
ngu! Chuyên môn làm mọi thiên hạ.”
Hoặc
là:
“Cái
số cực...” “Cái nghiệp nặng”. Chà coi bộ em muốn
thối tâm rồi phải không? Nếu mình là Bồ Tát thứ
thiệt thì khỏi nói, đàng này thật kẹt cho hàng Bồ Tát
sơ tâm như bọn mình, có lẽ vì thế mà trong các kinh, đức
Phật đã không tiếc lời ca ngợi hạnh Bồ Tát, và Ngài cũng
đã từng nhắc nhở với chúng ta rằng:
“
Muốn giảng kinh Pháp Hoa, tức là đi gieo rắc niềm tin rằng
“Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật”, Pháp
sư phải ngồi tòa Như Lai, mặc áo Như Lai, tòa Như Lai là
tâm từ bi, áo Như Lai là giáp nhu hòa nhẫn nhục đó em ơi!
Phật
Của Ngoại
Bé
đi chùa về chào ngoại, ngoại hỏi:
-
Con đi chùa có gì hay kể cho ngoại nghe với!
-
Ngoại à! Thầy dạy con niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà,
ngoại nhớ niệm nghe.
Bà
ngoại ngần ngừ hồi lâu đáp:
-
Xưa nay ngoại niệm Ðức Quán Thế Âm, bữa nay đổi niệm
Ðức Di Ðà... Sao ngoại sợ ông Phật kia giận ngoại quá...!
PC:
Ðiều này phải hỏi lại Ðức Quán Thế Âm mới rõ thực
hư.
Bà
Chủ Hiền Thục
Kasi
là một nữ chủ được nhiều người ca tụng là hiền thục,
nàng không bao giờ nói lớn tiếng hay cau mặt với bọn gia
nhân trong nhà.
Những
lời đồn đãi về Kasi khiến cho Asy, một cô tớ gái đâm
ra nghi ngờ, Asy nghĩ bụng: “Có thật là tiểu thơ của mình
hiền thục hay không chứ? Hay là nhờ mình chu toàn bổn phận
nên tiểu thơ không có dịp lộ vẻ bất bình, điều này phải
trắc nghiệm lại mới được.” Và Asy liền tìm cách
thử nữ chủ.
Một
hôm Asy cố tình thức dậy muộn, cô bé thấy nữ chủ cau
mày khi cô dâng bữa điểm tâm. Sáng hôm sau, Asy lại
dậy muộn, nữ chủ của cô vừa cau mày, vừa quát mắng ầm
ĩ.
Sáng
hôm sau nữa, Asy lại dậy muộn, còn đang nằm nán trên giường
thì cô bé đã thấy nữ chủ chưa kịp chải tóc, nghiến răng,
trợn mắt, vào tận giường lôi cô dậy. Sáng ngày thứ
tư, Asy lại dậy trễ, lần này cuộc trắc nghiệm lại thành
công mỹ mãn: nữ chủ đã vớ lấy cây cài cửa... và cô
bé Asy ôm chiếc đầu chảy máu, chạy thẳng ra khỏi nhà la
khóc ầm ĩ:
-
Ối làng nước ơi! Xem đây. Xem đây! Hãy xem nữ chủ
rất hiền thục đánh tôi đây này...
Em
thân mến!
Trong
Trung Bộ Kinh, đức Phật đã kể lại câu chuyện trên cho
các thầy tỳ kheo nghe, và Ngài kết luận:
-
Này các tỳ kheo! Như Lai không gọi một vị tỳ kheo nào là
dễ nói, dễ dạy, tu hành đắc lực khi vị ấy còn nhận
được đầy đủ tứ sự cúng dường (quần áo, thực phẩm,
thuốc men, mền mùng). Nếu nữ chủ Kasi phải thử thách
qua bốn lần mới chứng tỏ được mức độ hiền thục của
cô ta, thì một thầy tỳ kheo đệ tử của Như Lai, phải được
thử
thách khi chịu đựng sự thiếu thốn của những nhu cầu cần
thiết, mà vẫn không sờn lòng nản chí thì Như Lai và các
bạn đồng phạm hạnh của vị ấy mới có thể kết luận
rằng: “Ðây là một vị tỳ kheo phạm hạnh thanh tịnh dễ
dạy, dễ nói... đã xuất gia vì sự giải thoát cho mình, cho
người chứ không phải vì cơm ăn áo mặc.”
Em
thân mến!
Bọn
chúng ta trong cảnh sống hiện tại đầy đủ hơn người xưa
rất nhiều, chúng ta chưa đến nỗi thiếu thốn vì cơm ăn,
áo mặc, thuốc men, mền mùng... nhưng không vì thế mà cuộc
sống của chúng ta hạnh phúc hơn, tâm tư được thoải mái
hơn các vị tỳ kheo thời trước. Nếu em không tỉnh
giác kịp thời thì, một cơn bệnh dai dẳng, một lời nói
trái tai, một chuyện bất như ý, vẫn có đầy đủ mãnh lực
biến chúng ta từ một tu sĩ dễ dạy, dễ nói, dễ thương...
thành một nhân vật không giống ai hết, có giống chăng là
giống nữ chủ Kasi thôi. Có phải thế không nào?...
Sống
Mắt Khuynh Thành
Xưa
có một cô gái mù, nghèo nàn, xấu xí tên gọi là Mai. Ðến
tuổi dậy thì Mai không ngớt than khóc cầu trời khấn Phật,
ước ao sao cho được sáng mắt để làm lụng nuôi thân.
Tiếng
than thở của cô làm động lòng một cô tiên nhỏ trên thượng
giới. Cô tiên nghĩ thầm: “Thật là bất công khi để
cho một mình cô gái này chịu đến mấy tai họa, mình mà
không ra tay giúp thì còn ai trồng khoai đất này.”
Một
hôm thừa dịp các bà tiên lớn ngủ say, nàng tiên bé bỏng
liền ăn cắp chiếc đũa thần vội vã bay xuống trần và
gõ lên đầu cô gái xấu số... xong cô tiên cũng vội vã bay
về thượng giới lòng vui khôn tả xiết.
Việc
đầu tiên của Mai khi sáng mắt là hối hả chạy ra bờ suối
để soi mặt. Thấy khuôn mặt xấu xí của mình lung linh
qua ánh nước, Mai lại khóc nức nở, vật vã than trách:
-
Cô tiên nào ác thì thôi! Cho tui sáng mắt làm chi để thấy
cái bản mặt xấu xí thế này. Hu hu, thà chết quách
cho rồi còn sướng hơn. Cô tiên bé bỏng điếng hồn,
cô không hờn giỗi khi nghe những lời vong ân bội nghĩa của
Mai. Cô chỉ sợ nàng Mai nhảy xuống suối tự vận thì
các nàng tiên lớn sẽ khám phá ra hành động nhanh nhẩu đoản
của cô. Cô tiên ngẫm nghĩ:
-
Cô ta than khóc cũng phải. Nếu gương mặt mình mà xấu
như cô ấy thì có lẽ mình cũng sẽ than khóc suốt ngày.
Thôi, thì làm ơn cho trót... trước sau gì người lớn cũng
biết chuyện này thôi kia mà.
Và
nàng tiên thơ ngây lại vung đũa thần lên. Mai liền biến
thành một thiếu nữ khá mặn mà sống bằng nghề gánh nước
mướn.
Như
một nghệ sĩ lưu tâm đến tác phẩm nghệ thuật của mình,
nàng tiên bé bỏng cũng vén mây theo dõi đời sống của Mai
bằng tất cả tấm lòng từ ái. Cô xót xa không ít khi
thấy Mai nhịn ăn nhịn uống, không dám mua gạo mà lại để
dành tiền mua dưa chuột, cà chua... đắp mặt cho nó mịn màng...
xót xa cả ruột, cô tiên lại vung chiếc đũa thần lần nữa...
Mai liền có một làn da đẹp như hoa đào.
Lần
này Mai vẫn nhịn ăn để mua quần áo, giày dép và đồ trang
sức... Cô tiên lại cảm thấy chạnh lòng, cô liền đánh
cắp chiếc đũa thần lần nữa... nàng Mai liền biến thành
một tiểu thơ cành vàng lá ngọc, lược giắt trâm cài, quần
là áo lượt, nhiều không biết cơ man nào mà kể, không phải
làm lụng mà vẫn có ăn. Mai dành hết thì giờ cho việc
trang điểm trau chuốt... suốt ngày cô ngồi trước gương
để tô lục chuốt hồng, chuyện mới lạ hơn là Mai nảy
ra ý định kén chồng... lần này khỏi cần sự trợ giúp
của đũa thần nữa, cái nhan sắc yêu kiều, tuổi trẻ cùng
một gia tài kếch sù đã giúp Mai kén chọn được một người
bạn trăm năm ưng ý: một thanh niên đẹp trai, con nhà giàu,
học giỏi. Cô tiên an lòng, mỉm một nụ cười hiền
hậu rồi chấp cánh bay về thượng giới.
Ðến
cổng nhà trời, cô gặp bà tiên trưởng nhìn cô một cách
nghiêm khắc, cô tiên không hề nao núng, việc làm của cô
tuy có sai nguyên tắc thật, nhưng mọi việc há chẳng tốt
đẹp, xuôi chèo mát mái đó sao? Một thiếu nữ tàn tật
xấu xí nghèo nàn nay đã trở thành một mệnh phụ phu nhân
yêu kiều, sang giàu tột bực... mà chẳng tốn hao công của
gì của trần gian hết... Nếu bà tiên già cho phép, cô tiên
bé bỏng sẽ chẳng hề ngại lao ngọc mang đũa thần xuống
hạ giới, giúp cho thế nhân người nào cũng cầu được ước
thấy cả... cõi hồng trần sẽ hóa ra miền tiên cảnh cho
mà xem...
Như
đọc được luồng tư tưởng của cô bé ngây thơ bà tiên
già lạnh lùng lột đôi kính trắng trao cho cô bé. Qua
cặp kính cô sẽ nhìn thấy tương lai của nàng Mai. Không
đợi bà tiên ra lệnh cô tiên bé nhỏ vội vã mang kính vào...
Người đàn bà vô hạnh lại có nhan sắc khuynh thành đã gây
không biết bao nhiêu là điều rắc rối cho trần thế... Mai
thay chồng như thay áo, con cái vất vơ... Cô tiên nhỏ bỗng
òa lên khóc, những giọt lệ tiên lóng lánh như hạt trân
châu lăn tròn trên đôi mà bầu bĩnh. Nàng Mai đang xui
chồng, người chồng thứ mười bảy này là một tướng lãnh
quân phiệt, mở cuộc xâm lăng trừng phạt nước láng giềng
vì nghe đâu ông vua nước này bảo rằng bà hoàng hậu của
ông là một giai nhân vừa đẹp người vừa tốt nết hơn
hẳn nàng Mai gấp bội. Hai nước đang chuẩn bị chiến
tranh, lệnh tổng động viên ban hành, các trường học đều
đóng cửa... Cô tiên nhỏ không còn thấy gì nữa, lệ trào
tuôn như suối làm nhoè cặp kính. Bà tiên già lại lạnh
lùng vung chiếc đũa thần lên và ra lệnh cho cô tiên lau sạch
nước mắt. Nàng Mai trở lại nguyên hình như cũ.
Một cô gái mù xấu xí đang ngồi than thở trong chòi tranh
dột nát. Tất cả giống hệt như thuở ban đầu có khác
chăng là những điều vừa xảy ra kỳ diệu quá... khiến cô
gái không thể nào chấp nhận được sự thực phũ phàng...
cô hóa điên từ đó. Sau khi sự vụ của nàng Mai xảy
ra, Thượng đế bèn ban sắc lệnh cấm chỉ chư tiên giao tiếp
với người trần. Ý của đấng tối cao muốn rằng mọi việc
phải diễn tiến bình thường. Phép lạ mà đem trình
diễn ở cõi hồng trần thì chỉ đem lại những hậu quả
bất bình thường mà thôi. Vì thế mà ngày hôm nay chúng
ta không có được chiêm ngưỡng dung nhan một nàng tiên nào
hết. Chư tiên mà có giáng trần thì cũng vứt hết đũa
ngọc và cánh đi, cũng đổ mồ hôi sôi nước mắt hệt như
chúng ta - những con người phàm phu tục tử vậy.
Và
trên đường đời, nếu gặp phải một cô gái xấu nết nào
có sắc đẹp khuynh thành, người ta lại ngờ rằng đó là
tác phẩm hư hỏng của một cô tiên bé nhỏ nào đó.
Nhưng may mắn là những người đẹp thường chóng già hoặc
chết sớm, nên cõi hồng trần này sau những ngày gió mưa
giông bão, mây giăng đen nghịt... vẫn còn có khối ngày trời
xanh nắng ấm, gió mát trăng thanh... nữa là!
Tái
Ông Thất Mã
Thuở
xưa, có ông lão họ Tái bị mất một con ngựa quý. Mọi
người đến chia buồn, han hỏi và tiếc dùm cho ông. Ông lão
điềm nhiên nói:
-
Không sao! Mất của là điều rủi ro thật nhưng biết
đâu trong cái rủi có cái may!
Ít
lâu sau con ngựa trở về nhà và còn dắt theo một con ngựa
khác - bạn của nó - đẹp và quý hơn nhiều.
Bà
con lại tụ họp, tấm tắc:
-
Ông cụ thật có phước, tưởng đâu mất con ngựa quý, ai
dè lại được thêm con nữa.
Ông
lão họ Tái vẫn thản nhiên:
-
Biết đâu trong các may lại có cái rủi. Và cái rủi
đó đã đến, cậu con ông lão rất thích cỡi ngựa mới,
dong ruổi cả ngày trên lưng ngựa nên bị té gãy một chân.
Thân bằng quyến thuộc đều đến chia buồn về tai nạn đáng
tiếc vừa xảy ra. Ông cụ vẫn mỉm cười:
-
Biết đâu trong cái rủi lại có cái may!
Chiến
tranh bùng nổ, các thanh niên đều phải ra chiến trường,
cậu con trai nhờ tàn tật nên được ở nhà hủ hỉ với
cha già.
Tái
ông thất mã là thế đó!
Người
Mù Sờ Voi
Thuở
xưa có một đám người mù từ thuở sơ sinh, nghe nói đến
con voi nhưng chưa từng thấy nó ra sao cả. Một hôm nghe
đồn có một con voi đi qua làng, đám người mù liền nhờ
người dẫn đường đến xem voi. Anh nải dễ dãi cho
phép họ được rờ rẫm con voi tùy thích. Lúc trở về
đám người mù kháo nhau rằng:
-
Bác ạ! Lạ quá nếu không phải chính tay tôi sờ thì tôi
không thể nào tin được, con voi hệt như cái cột nhà... kinh
thật! (Anh chàng này sờ nhằm chân con voi).
-
Bác bảo sao? Con voi còn lâu mới giống cây cột nhà...”
Anh mà sờ nhằm chiếc đuôi quả quyết:
-
Nó giống cây chổi chứ lại...
Anh
sờ tai voi cãi:
-
Tôi thấy nó giống cây quạt mo.
Anh
sờ nhằm bụng bảo:
-
Tôi cho rằng nó giống cái chum tương.
-
Hừm, mắt với mũi các anh ra sao đấy. Tôi thì thấy
nó như cái ống điếu, anh chụp nhằm cái vòi hét.
Anh
chàng sau cùng sờ nhằm cái ngà cười khẩy:
-
Thật là đồ ngu, vừa đui vừa ngốc... con voi chẳng khác
chi cái sừng trâu mà lại khéo tưởng tượng.
Tức
thì cả bọn nhao nhao lên:
-
Sao? Mày dám bảo ông đui à... hử thằng kia...
-
Vừa đui vừa ngốc mới ăn nói ấm ớ như thế!
-
Này... ngu này... ngu này...
Ðoàn
người mù bèn lăn xả vào nhau đánh, thụi, cào cấu... Ai
cũng cho là mình đúng còn người kia đều là sai cả, nên
kết quả là anh chàng nào cũng bị nện một trận đích đáng.
Em
thân mến!
Chúng
ta đã từng nghe kể câu chuyện người mù sờ voi này từ
thuở còn bé... Nhưng em có nhận thấy rằng mình cũng giống
hệt như anh chàng mù kia không?
Cái
tâm hư vọng sinh diệt liên miên của chúng ta cũng giống như
con voi nọ mà chúng ta là những anh chàng mù khốn khó.
Vì không quan sát được hành tung cùng hình tướng của tâm
thức nên chúng ta hay khoát lên cho bản ngã mình những nhân
dáng riêng, tùy theo các hình tướng của vọng niệm mà chúng
ta bắt gặp được. Chẳng hạn như vừa thấy loáng thoáng
các vọng niệm có vẻ từ bi, hỷ xả... chúng ta liền hãnh
diện nhủ thầm: “Ta đây là một nhân vật từ bi hỷ xả
cùng mình chứ không phải như anh kia chị nọ.” Gặp
một người bạn đang nóng giận ta liền hạ một từ ngữ:
“Thật là một anh chàng cọc cằn, đê tiện.” Những
ý tưởng tự tôn và tự ty đều được thành hình từ đó.
Thấu
đáo rõ toàn thể tầm vóc của con voi để phá vỡ những
kiến thức thiên lệch của mình là chữa được tật... cãi
lộn của bọn người mù. Thấu rõ được toàn thể quá
trình sinh diệt, đường lối về của các vọng niệm... là
chuyện cần thiết và cấp bách của người tu Phật.
Muốn thấu đáo cho rõ ràng chúng ta phải bình tĩnh quan sát
không thiên vị, lo sợ hốt hoảng hay muộn phiền trước những
vóc dáng đặc tính nào của vọng tâm hết.
“Tham,
sân, phẩn, hận, phú, não, tật, xan” là những món phụ tùng
mà cái bản ngã nào của nhân loại cũng có... Giống như một
chú voi thì phải có đầy đủ cả đầu đuôi, bụng, lưng,
ngà, tai vậy. Một con voi thiếu một bộ phận sẽ là
một con voi dị dạng có tật.
Nếu
chúng ta còn ngạc nhiên khi bắt gặp một tánh xấu của mình,
khó chịu khi thấy hành vi của người khác... là chúng ta chưa
hiểu rõ tường tận về chú voi của mình. Các chú voi
đều giống nhau ở hình vóc đại cương kia mà. Chính
chỗ này một thiền sư đã bảo “như nhau dọc mũi ngang mày.”
Thấy rõ tướng của con voi, theo dõi những biến chuyển đa
dạng của vọng tâm, quả là một kỳ công lý thú, nhưng chuyển
một con voi ngang tàng bướng bỉnh thành một con voi ngoan ngoãn
tốt nết là một chuyện đòi hỏi khá nhiều thời gian và
nhân lực. Cũng như biến đổi một cái tâm hỗn tạp,
rắc rối đa sự thành một cái tâm Phật không phải là chuyện
dễ... không dễ nhưng không phải là bất khả. Vì các
kinh điển thường nhắn nhủ chúng ta rằng: “Phiền não tức
bồ đề, tâm chúng sanh tức là tâm Phật vậy.”
Chuyện
Âm Phủ
Tại
âm phủ một hồn ma đang quỳ đối chất với Diêm chúa, giữa
hai vị công an của diêm phủ là Ngưu Ðầu và Mã Diện.
Diêm
chúa ngồi trên chính bệ dõng dạc ra lệnh:
-
Phán quan đâu đọc hồ sơ của tên này xem.
Phán
quan liền cất giọng đọc rõ ràng và chậm rãi:
-
“Trần Văn Trụi, 82 tuổi, du thủ du thực, vô gia cư lẫn
nghề nghiệp, trúng gió chết tại chợ Bến Thành...”
Hồn
ma lễ phép đưa một tay lên xin góp ý:
-
Muôn tâu Diêm chúa cho con được phép cải chính.
-
Hử
-
Thưa, con đúng tên là Trần Văn Trụi thật nhưng mới 28 tuổi
chứ không phải 82 đâu ạ!
-
Sao! Phán quan đâu hắn nói thế có đúng không?
Phán
quan giật mình, kéo áo lau kiếng, xem lại sổ bộ, ấp úng:
-
Dạ... Dạ...
-
Ðúng hay sai chứ dạ cái gì?
-
Bẩm... đúng ạ!
-
Chèn đéc ơi! Mấy người làm ăn kiểu này thì chết tôi rồi.
Ngưu Ðầu đâu?
-
Dạ, có con đây ạ!
-
Mau lên giữ xác nó để người ta đem chôn bây giờ.
Tại
làm sao mà ra cớ sự này hử?
Ngưu
Ðầu vội vã ra đi. Phán quan gãi đầu ấp úng:
-
Dạ, dạ... tại mới mua chiếc kính nhìn chưa quen mắt nên
ngu thần đọc nhầm 82 thành 28 ạ... Xin thánh thượng bớt
giận... thần sẽ đi thay kính lập tức...
-
Nó sống đến bao nhiêu tuổi?
-
Muôn tâu... 82 ạ!
-
Vậy thì còn chờ đợi gì mà không dắt nó đi nhập xác?
Hồn
ma liền xen vào:
-
Tâu Diêm chúa! Những tưởng nhân gian mới làm ăn bê bối...
dè đâu đây cũng vậy. Con đang đi ăn phở với người
yêu ở chợ Bến Thành thì thấy hai cha nội này đến thộp
cổ dắt đi... có lẽ bây giờ người yêu của con đã uống
thuốc chuột chết theo con rồi cũng không biết chừng.
Diêm
vương hạ giọng:
-
Thôi “Thiên tải nhất thì” mới có một vụ lầm lẫn,
mũi dại lái chịu đòn. Ngươi cho ta xin lỗi vậy, về
dương gian đi, vui vẻ nhé!
-
Muôn tâu, xin ngài hãy bồi thường thiệt hại cho con.
-
Mi muốn gì? Giấy tiền vàng bạc nơi đây đâu thể đem
lên dương gian xài được...
-
Thưa... con chỉ muốn xin rằng luôn tiện ngài cho con liếc
sơ qua cái phiếu lý lịch số 3, tức là cung tình duyên gia
đạo của con ấy, liệu con có lấy được người mình yêu
và nàng có thành thật yêu con không ạ!
-
A thằng nhãi... ! Biết trước vị lai để làm gì... chẳng
sướng ích chi đâu con ạ!
-
Muôn tâu... Nếu ngài không bằng lòng khi về dương gian con
nhất định sẽ làm ầm lên về cái chuyện này, con sẽ...
-
Tặc, thằng ranh! Ðừng có dở trò hăm dọa ta không ngán mi
đâu... Mà thôi! Phán quan đâu?
-
Dạ có thần đây.
-
Ðọc phiếu số 3 cho nó nghe đi...!
-
Vâng ạ.
Phán
quan liền lau kính hắng giọng đọc:
-
“Trần Văn Trụi, sinh ngày... tại Cao Lãnh, con nhà giàu, đẹp
trai, học giỏi. Ðương sự có số công danh, khoa cử, thi đâu
đậu đó. Năm 27 tuổi tốt nghiệp kỹ sư công chánh
hạng bình được bổ nhiệm về Sài gòn.
Năm
28, y cưới vợ là hoa khôi ở cầu Bông.
Năm
29 tuổi làm Trưởng ty công chánh ở Tây Ninh.
Năm
30 tuổi bị gọi nhập ngũ gắn lon trung úy.
Năm
31 tuổi có con trai đầu lòng.
Năm
32 tuổi có con gái.
Năm
33 tuổi bị giật mìn chết phanh thây ở cầu Ông Phủ.
Nếu
còn âm đức y sẽ thoát chết chỉ gẫy một chân và mù một
mắt, vinh thăng đại úy rồi giải ngũ.
Năm
40 tuổi... hai đứa con lớn của y bị chết đuối ở Vũng
Tàu.
Năm
45 tuổi bị tê liệt, sốt nằm nhà thương hai năm.
Năm
50 tuổi nhà cháy, vợ hóa điên.
Năm
82 tuổi y mất trí nhớ, du thủ du thực, đi xin ăn lẩn quẩn
ở các chợ Cầu Muối, Bến Thành rồi trúng gió chết...
Phán
quan đọc xong, hồn ma tháo mồ hôi hột, đứng chết sững.
Diêm vương thúc:
-
Sao? Ðủ chưa... xong rồi đó, đi đi cha nội...
Hồn
ma vẫn còn chần chờ. Phán quan hối:
-
Lè lẹ lên, ở đó mà dang ca hoài, cái xác mi mà sình lên
thì chỉ còn nước đem chôn.
Trần
Văn Trụi đáp một cách xuôi vị:
-
Bẩm, hay là để cho thiên hạ chôn quách đi cho rồi.
Em
thân mến!
Biết
rõ vị lai không phải là một chuyện dễ chịu cho lắm.
Hèn chi Phật và chư tổ thường căn dặn chúng ta rằng: “Trong
khi tu nếu chưa sạch phiền não mà rủi ro có được thần
thông, biết được quá khứ vị lai thì phải buông bỏ cho
lè lẹ kẻo phải lâm vào cảnh ngộ như chàng Trần Văn Trụi
trên đây.
Người
Mang Châu
Xưa,
tại một làng ven biên giới có xảy ra tại nạn binh đao.
Dân chúng phải bồng bế nhau đi lánh nạn. Trong đoàn
người di tản đó, có một thanh niên, con nhà giàu, của cải
vô số. Anh mặc vào người đến ba bộ đồ, mang theo
một túi da cùng bốn bao vải lớn chứa đầy ngọc ngà châu
báu, ai thấy anh cũng bật cười. Một vài người tốt
bụng khuyên:
-
Con đường mình đi tỵ nạn rất hoang vắng, trộm cướp
nhiều như rươi. Anh mà mang hành lý cồng kềnh như thế
này, tôi e lành ít dữ nhiều đa!
Anh
chàng biện hộ:
- Ðây
là tài sản của riêng tôi, chưa chắc ai có được, người
đâu của đó, thà chết chứ tôi không bỏ lại được.
-
Nào ai có bắt chú vứt bỏ đâu... Có điều mang đi ngờ ngờ
thế này thì e rước họa vào thân đấy!
Giặc
tan, mọi người lục tục kéo về tất cả đều đủ mặt,
duy có anh chàng nhà giàu nọ thì không có ngày về. Anh
đã bị cướp giết dọc đường.
Em
thân mến!
Cõi
đời mà chúng ta đang sống đây thuộc về dục giới, nghĩa
là chúng sanh xem ngũ dục là của báu. Ðó là những món sắc,
thinh, hương, vị, xúc làm đẹp ý vừa lòng thiên hạ.
Chúng sanh thường chém giết nhau để tranh dành ngũ dục.
Hàng tu sĩ chúng ta cũng giống như đoàn người di tản nọ.
Thật là hiểm nguy cho kẻ nào trong bọn chúng mình còn đèo
queo theo trong mình một ít tiền của, tài năng, danh tiếng
hoặc sắc đẹp mà lại cố tình biểu diễn cho người khác
thấy. Một tôn giả chúng sinh nào mà đã trông thấy
“của báu” của chúng ta rồi thì sinh mạng của khổ chủ
quả là như chỉ mành treo chuông... Hành giả khó mà vượt
bể sinh tử được.
Ðức
Phật đã không phải là không có thâm ý khi bảo tăng đồ
nhà Phật phải sống bần hàn, vô sản và cạo quách đi mái
tóc, ăn mặc xuềnh xoàng để “nếu còn một tí ti sắc đẹp
nào cũng tèm lem hết.” Và thật là khó coi khi có vị
tu sĩ nào cứ lo tô lục chuốt hồng bề ngoài, suốt ngày
xăm soi, ve vuốt cái nhan diện của mình. Nó cũng chướng
mắt hệt như ta bắt gặp các hình ảnh cồng kềnh của anh
chàng nhà giàu trên đường chạy giặc trên. Riêng đối
với các nhà hành giả nào không có lấy một tí ti tài sắc,
xin quí vị cũng chớ lấy làm bi quan, mặc cảm, hờn duyên
tủi phận... mà nên vui mừng vì con đường trở về rất
là an toàn. Ðã lên đường đi thì thế nào cũng có ngày đáo
bỉ ngạn 100% đấy, thưa chư hiền hữu.
Ba
Câu Hỏi Của Ðức Vua
Thuở
xưa có một vị vua thuộc vào hành minh quân, thương dân như
con đẻ. Nhưng dù là minh quân, Ngài vẫn không sao tránh
được một ít lỗi lầm đáng tiếc.
Lúc
tuổi đã cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu Ngài
được các bậc hiền tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc
sau đây thì có lẽ Ngài tránh được rất nhiều khuyết điểm.
Ðó là những nghi vấn sau:
1.
Thời gian nào quan trọng nhất của một công việc?
2.
Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
3.
Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?
Ðức
vua cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp
các thị trấn, làng mạc và hứa sẽ trọng thưởng cho người
nào có lời giải đáp khôn ngoan nhất.
Bố
cáo vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt,
thạc học minh triết lũ lượt kéo nhau về kinh thành.
Mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình phải thành
lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực,
suốt hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên
sai vạn biệt thành một vài trường phái nhất trí và dâng
lên đức vua - vị chánh chủ khảo tối cao của cả nước.
Ðáp
lại câu hỏi đầu tiên có người bảo rằng: Muốn biết
thời gian nào quan trọng nhất của một công việc, người
ta phải thiết lập chương trình kế hoạch, thời dụng biểu
hẳn hoi. Xong ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo
từng thời điểm đã qui định sẵn đó... Nhưng ý kiến ấy
liền bị nhà vua bác bỏ vì không ai có thể tiên đoán những
điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu sẵn, công việc
đòi hỏi phải linh động mới được. Có trường phái
lại cho rằng: Một người không thể khôn ngoan hơn tập thể.
Ðức vua nên thành lập một nội các gồm nhiều đại biểu
để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và làm theo quyết
định chung. Một trường phái khác lại đề nghị đức
vua cần thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước
khi thực thi một công việc...
Như
thế đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng:
Thời gian quan trọng nhất của công việc là thời gian chuẩn
bị nghĩ suy về công việc ấy.
Về
câu hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau:
Thượng đế, đức vua, quan tể tướng, các giáo sĩ, bốc
sư... được đề nghị là những nhân vật quan trọng nhất.
Câu
hỏi thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương
tự - công việc nào phải được xem là quan trọng nhất?
Thưa đó là việc nước, việc nhà, việc ăn, việc mặc, học
hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự hay là
tôn giáo? Các đề mục đều được các khối óc khôn
ngoan tinh tế nhất đề cập đến...
Và
vị chánh chủ khảo - tức là đức vua ấy không chấp nhận
câu giải đáp nào cả...
Nhiều
năm trôi qua... ba câu hỏi rơi dần vào quên lãng... cho đến
một hôm, nhà vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ
đầy mây nọ có vị đạo sĩ được coi là bậc giác ngộ,
nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao
tiếp với các nhà quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ
khiến nhà vua để ý và một hôm ngài quyết định cải dạng
thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.
Ðến
nơi nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào
và nêu lên ba câu hỏi. Ðạo sĩ chỉ mỉm cười đưa tay vỗ
nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công chuyện. Ðã được báo trước
về tánh khí lạ lùng của đạo sĩ, đức vua không nản lòng,
ngồi xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn
tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay trao cuốc cho vua làm giúp.
Nhiều giờ trôi qua đức vua vẫn xới đất, còn đạo sĩ
thì nhổ cỏ quanh quẩn bên am tranh. Khi đôi tay vương
giả bắt đầu chai phồng đức vua ngừng cuốc, nghỉ một
giây lâu và nói với đạo sĩ:
-
Tôi từ xa lặn lội đến đây cầu thầy chỉ giáo cho ba điều
nghi vấn. Nếu thầy biết xin vui lòng chỉ dẫn cho, bằng
không cũng xin cho biết để tôi trở về kẻo tối. Ðạo sĩ
mỉm cười định nói câu gì đó thì chợt cả hai người
cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức
vua:
-
Bác xem có ai đến kìa!
Nhà
vua quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất,
toàn thân nhuộm máu. Hai người già không ai bảo ai, đều
hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân chỉ còn
thoi thóp thở. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các
vết thương. Hai người im lặng làm việc cho đến lúc
ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở đỉnh núi bên kia.
Ðưa
nạn nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng
tre độc nhất của căn lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng
luộc và vì quá mệt đức vua ngã mình xuống nền đất thiếp
đi.
Sáng
hôm sau khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm
hồng chiếc thảo am và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải
bàng hoàng hồi lâu mới rõ mình đang ở đâu và làm gì...
Ðạo sĩ đã đi làm vườn sau khi đặt một rổ khoai luộc
bên cạnh ông khách.
Trên
chõng tre nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng
cặp mắt long lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một
bàn tay lên vầng trán nóng như lửa của anh ta và cất tiếng
thăm hỏi bệnh tình. Nạn nhân bỗng òa lên khóc:
-
Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần...
Vô
cùng ngạc nhiên đức vua bảo:
-
Khanh là ai mà lại biết trẫm?
-
Bệ hạ không biết thần đâu. Hạ thần chính là em trai
của võ tướng Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong
mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề trước linh cửu của
anh là sẽ giết bệ hạ để báo thú. Biết bệ hạ lên
núi này thần mai phục sẵn. Không ngờ đợi đến tối
mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi, thần liền đi tìm... và bị
chợt chân té xuống triền núi. Nếu không nhờ bệ hạ
ra tay cứu chữa thì có lẽ thần đã mất mạng. Từ
đây oan cừu xin giải hết... Thần cúi mong bệ hạ tha
tội chết cho hạ thần.
-
Câu chuyện đáng tiếc năm xưa đã làm ta hối tiếc khôn nguôi,
nhưng việc đã dĩ lỡ rồi, trẫm không biết tính sao.
Bây giờ chẳng những trẫm tha lỗi cho khanh, mà trẫm còn
phục hồi chức tước và chu cấp cho gia đình Trần Ðoàn
nữa. Khanh hãy yên tâm mà tịnh dưỡng đi.
Ðức
vua ra hiệu gọi vệ sĩ đến, cho khiêng nạn nhân xuống núi
và vời ngự y tới để chăm sóc vết thương. Sắp xếp
đâu đó xong xuôi, vua đi tìm đạo sĩ. Nhà tu đang lúi
húi trồng rau trên vạtn đất mới cuốc hôm qua. Ðức vua
ngỏ ý cáo từ và lập lại ba câu hỏi::
-
Xin đạo sĩ giải đáp cho...
Nhà
tu mỉm cười:
-
Bần đạo đã trả lời cho bệ hạ rồi đó. Ðức vua ngạc
nhiên:
-
Hồi nào đâu?
-
Ngay lúc bệ hạ vừa nêu câu hỏi.
-
???
-
Này nhé “thời gian nào là thời gian quan trọng nhất” đó
là lúc bệ hạ cuốc đất giúp cho bần đạo, nếu thiếu
khoảng thời gian này thì bệ hạ đã bị chết về tay anh
chàng kia rồi nhé. “Nhân vật quan trọng nhất” chích
là bần đạo đây, quan trọng đến nỗi bệ hạ phải trèo
non lội suối đi tìm có phải không? Và câu hỏi thứ
ba “Công việc nào là cần thiết nhất?” Thưa đó là
cuốc đất, việc mà hai chúng ta đã làm ngày qua...
Rồi
sau đó, khi chàng thanh niên xuất hiện, anh ta biến thành nhân
vật quan trọng nhất, công việc cần thiết nhất là cấp
cứu cho anh ta và thời gian cứu chữa là thời gian quan trọng
nhất. Có phải thế không nào?
Nhà
vua cúi đầu ngẫm nghĩ giây lâu, cất tiếng:
-
Thưa đạo sĩ, trẫm đã hiểu. Thời gian quan trọng nhất
là thời gian hiện tại. Nhân vật cần thiết nhất là
người mà ta cần gặp gỡ trong hiện tại và công việc khẩn
thiết nhất cũng là công việc trong hiện tại. Quá khứ
là những điều đã qua rồi vĩnh viễn, vị lai chỉ là những
ảo tưởng mơ hồ... chỉ có khoảng khắc ngắn ngủi trong
hiện tại là giúp đỡ người chung quanh ngay trước mắt ta
trong cái giây phút ngắn ngủi quý báu đó. Thưa có phải
thế không ạ?
Ðạo
sĩ mỉm cười và nụ cười đó thay lời tống biệt đưa
nhà vua xuống núi, nơi mà triều đình và thần dân đang đón
chờ ngài.
Em
thân mến!
Hiện
tại là cái khoảnh khắc ngắn ngủi mà chúng ta luôn luôn
bỏ quên vì mãi lo hoài bão về tương lai, tiếc thương cho
quá khứ, không ngờ nó lại là thời gian quan trọng nhất.
Chư Tổ thiền tông cũng dạy chúng ta rằng:
“Việc
qua rồi chẳng nhớ
Việc
chưa đến đừng lo
Việc
hiện tại chớ đem lòng vọng tưởng.”
Lời
dạy này cũng đồng nghĩa với câu giải đáp của đạo sĩ
trên. Nếu chỉ sống với giây phút hiện tiền, thì dù
ta đang gánh nước, bữa củi, uống trà, mặc áo, ăn cơm...
tất cả những chuyện tầm thường nhất, không hành vi nào
mà không phải là đạo.
Những
điều thú vị của câu chuyện trên là lời giải đáp cho
câu hỏi thứ ba “Công việc nào là cần thiết nhất.”
Thưa đó là giúp đỡ những người chung quanh ta, cũng ngay
trong hiện tại.
Trong
cuộc sống hàng ngày mãi lo ngong ngóng đến tương lai, chúng
ta thường bỏ quên hiện tại. Có lẽ vì mãi nghĩ đến
những chúng sanh mà mình sẽ độ sau này (khi đã thành Phật
hay Bồ tát chính hiệu), nên em không thấy được rá rau của
người bạn tri nhật đang hối hả lặt cho kịp giờ cơm,
quên luôn nền nhà đầy rác đang cần quét, chiếc ly uống
nước đầy cáu bẩn v.v...
Tương
lai đã che khuất em không thấy được những người bạn đồng
tu của mình đang nhễ nhại mồ hôi, đầu tắt mặt tối vì
công việc... và điều này khi nói ra e làm em bất bình, nhưng
tôi xin chân thành xin lỗi em trước, cũng như tôi đã sám
hối và ân hận mãi vì đã có một thời tôi và em, những
người mãi miết lo nghĩ đến tương lai đã biến chuyện tu
hành của mình thành một gánh nặng cho bè bạn. Và chúng
ta đã đặt tên cho những hành động lạ lùng đó bằng các
danh từ thật kêu như “hạ thủ công phu,” “giải quyết
sinh tử,” “miên mật tu hành.” Hỡi ơi, nếu trong
hiện tại chúng ta nhẫn tâm lợi dụng sức lao động của
bạn bè mình, để làm bàn đạp tiến thân, tiến đến quả
vị Phật tổ là những quả vị không còn dấu vết của bản
ngã (và những phụ tùng của nó là tham, sân, si). Chúng
ta thản nhiên nhắm mắt làm ngơ trước những công việc cần
thiết cấp bách cho mình và cho người chung quanh để chỉ
lo thực hiện cho kỳ được những hoài vọng do cái bản ngã
đa sự của chính mình, với một lời hứa hẹn trấn an lương
tâm là: “Chừng nào mình hoát nhiên đại ngộ hay thành Phật
chẳng hạn, tôi sẽ độ cho quý vị hết trơn hết trọi.”
Và chúng ta sẽ nhắn nhủ thầm rằng: “Còn bây giờ quý
vị nên làm công quả cho tui, chuyện tu hành khó khăn lắm,
cần phải có những căn cơ siêu việt mới có thể đảm đương
được (như tui đây chẳng hạn)... chừng nào cuộc thí nghiệm
của tôi thành công, công lao của quý vị sẽ được đền
bù gấp trăm, gấp nghìn lần.”
Em
thân mến!
Trong
kinh Kim Cang, Ngài Tu Bồ Ðề có hỏi Phật rằng:
-
Những người thiện nam hay thiện nữ khi đã phát tâm vô thượng
bồ đề rồi thì làm sao hàng phục được tâm mình?
Ngài
đã đại diện cho chúng ta nêu lên cái nguyện vọng, nỗi
băn khoăn nghìn đời là “làm thế nào để con được thành
Phật?” Câu trả lời của đấng đạo sư đã khiến
ta bối rối hết sức:
-
Con nên độ cho hết thảy chúng sinh vào vô dư niết bàn mà
không thấy có một chúng sinh nào được diệt độ.
Câu
đáp trở thành khó hiểu khi chúng ta ngỡ rằng “thành Phật
tức là thành một đấng gì đó” cao hơn hết thảy chúng
sinh, một “khối” gì đó... chẳng hạn. Còn nếu chúng
ta chỉ hiểu một cách giản dị rằng: Phật chính là
sự giác ngộ. Thành Phật tức là thành một chúng sinh
giác ngộ - nhưng giác ngộ cái gì mới được chứ. Thưa,
giác ngộ rằng “bản ngã” không thật bền, không có...
Nỗi
bận tâm duy nhất và tha thiết nhất của chúng ta là cái bản
ngã của chính mình. Từ lâu chúng ta mê mải tìm cầu
ngũ dục cho nó hưởng thọ... Không ngờ cái dư vị của ngũ
dục quá đắng cay khiến chúng ta đâm hoảng... Và thay
vì say mê tham đắm ngũ dục, chúng ta lại xoay qua mê tu tham
đắm niết bàn giải thoát. Ðối tượng có thay đổi, nhưng
lòng tham lam tính toán vẫn còn đó... Ngày xưa chúng ta bon
chen, thủ lợi, giành giựt ngũ dục ra sao thì bây giờ ta cũng
tính toán để tóm cho bằng được Niết bàn hay quả vị Phật
hệt như vậy.
Thế
nên, nếu Ðức Phật đưa ra một đường lối, một phương
pháp để đạt... Niết bàn thì chúng ta sẽ chịu lắm.
Ta sẽ sẵn sàng hy sinh tất cả... để giật cho được cái
Niết bàn lè lẹ kẻo thiên hạ phỏng tay trên hết. Vì
thế câu trả lời của Ðức Từ phụ đã làm chúng ta chưng
hửng và thất vọng biết bao! Hỏi làm cách nào để
được giải thoát. Ngài lại bảo: “Hãy lo độ sanh
đi, tức khắc tâm con được an, tâm an tức được giải thoát.”
Bàn
về huyền nghĩa của kinh Kim Cang chúng ta có đến hằng khối
kinh luận sớ và sao, giảng giải... Thế nên nơi đây tôi
không dám bàn thêm. Tôi chỉ xin kể cho em nghe về chuyện
thiền sư Triệu Châu, một Tổ sư Trung Hoa cũng có một câu
đáp “lãng quẻ” tương tự.
Có
một bà lão đến hỏi sư. “Già này mang thân đàn bà
ô uế, bị đủ thứ ràng buộc... làm sao để thoát thân nữ?”
Sư
đáp:
-
Bà hãy phát tâm nguyện như thế này: Nguyện cho tất cả chúng
sinh đều được thân tướng trang nghiêm của đại trượng
phu, còn riêng thân tiện tỳ này thì vĩnh kiếp trầm luân
nơi địa ngục.
Lão
tử cũng có câu tương tự:
-
Những ai muốn đứng trước thiên hạ thì hãy đặt mình đứng
sau thiên hạ.
Và
cũng có lẽ vì thế mà Ðại thừa Phật giáo đã không tiếc
lời ca ngợi hạnh nguyện Bồ tát chăng? Xin mở một
ngoặc đơn (chúng sanh: là người tìm đủ mọi cách để thỏa
mãn tham vọng của riêng mình. Bồ tát: là người giác
ngộ được chút đỉnh, nên dù vẫn thiết tha cầu Phật đạo
mà vẫn không bỏ việc lợi sanh, nhưng Bồ tát không có phụng
sự cho dục vọng của chúng sanh đâu nghen!) Em nghĩ sao?
Ư nhữ ý vân hà? Nếu những lời lẽ trên đây có làm
em khó chịu thì tôi xin cáo lỗi và xác định lại: Ðây chỉ
là lời lải nhải, độc thoại tự nhủ của một người
hơn là ngỏ cùng độc giả vậy.
Mối
Dây Thân Ái
Visakha
là một nữ đệ tử tục gia của Phật. Một hôm bà
đến thăm Phật tại tịnh xá Kỳ viên với nước mắt ràn
rụa. Ðức Phật hỏi:
-
Này Visakha! Sao hôn nay con có vẻ buồn thảm thế?
-
Bạch Thế Tôn, con mới vừa mất đi một cháu trai dễ thương,
không ai trông thấy cháu mà không mến yêu cho được.
-
Này Visakha! Nếu như toàn thể cư dân thành Xá Vệ này
là thân quyến của con... thì con cảm thấy thế nào?
-
Bạch Thế Tôn, ước mong sao được như thế, con vẫn thầm
mong rằng bất cứ người nào cũng đều là thân bằng quyến
thuộc của mình.
-
Nhưng này Visakha! Ở thành Xá Vệ này mỗi ngày có khoảng
bao nhiêu người chết?
-
Bạch Thế Tôn có lẽ khoảng hàng chục người...
-
Nếu vậy thì... có ngày nào con được ráo nước mắt đâu?
-
Bạch Thế Tôn! Thật là vừa đủ cho con với ngần ấy
cô cháu, con dì, chú bác nội ngoại... để mà sầu lo buồn
khóc...
-
Này Visakha! Những ai có 100 người thân, kẻ ấy có 100
mối sầu, những ai có 50 người thân, kẻ ấy có 50 nỗi lo
buồn.. những ai không chấp thủ rằng đây là ta, đây là
người thân của ta, kẻ ấy không có sự khổ. Ta xác
nhận rằng đó là người không sầu, không tham đắm, không
có ưu não. Và đức Thế Tôn liền đọc kệ:
“Sầu
than với đau khổ
Sai
biệt có ở đời
Do
thân ái chúng có
Không
thân ái chúng không
Do
vậy người an lạc
Ðược
không sầu không than
Chớ
làm thân làm ái
Với
một ai ở đời.”
Người
Yêu Muôn Thuở
Ba
Tư Nặc là đức vua trị vì vương quốc Kosala, một quốc
gia hùng cường ở Ấn Ðộ, trong thời Phật còn tại thế.
Ðức
vua có một vị hoàng phi xinh đẹp tên là Mạt Lợi, mỹ nhân
này là một cô công chúa của giòng họ Thích Ca, được vua
Ba Tư Nặc đặc biệt sủng ái.
Một
hôm nhà vua hỏi nàng Mạc Lợi:
-
Trên đời này, ái khanh yêu ai nhất?
-
Muôn tâu... dĩ nhiên là thiếp quý bệ hạ nhất.
-
Trẫm cùng đoán là khanh sẽ trả lời như vậy.
Mạt
Lợi mỉm cười:
-
Muôn tâu, nếu thánh thượng cho phép thần thiếp sẽ nói khác
đi một tí, nhưng xác thật hơn.
-
Ái khanh cứ nói.
-
Muôn tâu, người mà thần thiếp yêu quý nhất chính là thần
thiếp.
-
Sao? Mình lại yêu mình? Trẫm không hiểu ái khanh muốn nói
gì?
-
Tâu bệ hạ, vì có ái trọng tự ngã của mình nên thần thiếp
mới yêu thương bệ hạ... Vì bệ hạ là người đã đem lại
hạnh phúc cho cái tự ngã này.
-
Trẫm đồng ý điều đó, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý của
ái khanh.
-
Muôn tâu, thần thiếp xin mạn phép nêu ra một câu hỏi: “Trên
đời này bệ hạ yêu quý ai nhất?”
-
Ái khanh chứ còn ai nữa?
-
Nhưng giả sử như thần thiếp lại đi yêu thương chìu chuộng,
ve vuốt một người đàn ông khác thì bệ hạ sẽ tính sao...
Muôn tâu, thần thiếp chỉ giả dụ vậy thôi.
-
À... à... trẫm sẽ, trẫm sẽ...
-
Nghĩa là bệ hạ sẽ nỗi trận lôi đình và chém đầu thần
thiếp ngay lập tức?
-
Ái khanh hỏi rắc rối thật!
-
Muôn tâu, có đúng thế không ạ?