CHÂN DUNG CỦA
MẸ
Sau
hiệp định Genève năm 1954 chia đôi đất nước, chánh quyền
miền Nam ồ ạt gởi cán bộ về nông thôn xây dựng hạ tầng
cơ sở. Xã Thủy Liễu, một xã hẻo lánh, nghèo nàn, bùn lầy
nước động sát biên giới tỉnh Chương Thiện, từ lâu chìm
trong quên lãng, bỗng trở thành vị trí chiến lược. Vừa
tốt nghiệp trường Quốc Gia Sư Phạm về trình diện Ty Tiểu
Học Kiên Giang, Quân liền được "ưu ái" đề bait làm hiệu
trưởng trường tiểu học tân lập tại xã Thủy Liễu. Thủy
Liễu là loại cây sinh sôi ven bờ sông rạch miền Nam. Người
dân gọi thủy liễu là cây bần, tên mộc mạc, nghèo hèn,
lam lũ như cuộc đời của họ. Bần cũng xanh um và rũ bóng
nên thơ như liễu. Liễu có thể ví như cô gái thị thành
ẻo lả, trau chuốt và bần như một cô gái quê rắn chắc,
mặn mà. Cho nên người Trung Hoa gọi bần là liễu nước –
thủy liễu -, cũng hợp tình lý. Xã Thủy Liễu hoang vu nhiều
bần, không ngờ lại được ban một địa danh duyên dáng khiến
cho Quân bị hố nặng, khi mừng húm chọn lựa nhiệm sở ở
chốn khỉ ho cò gáy này. Ngược lại, hai người bạn đồng
khóa của chàng, bị cử đi Tràm Chẹt và Xẻo Rô, địa danh
cục mịch lại không cách tỉnh lao xa.
Là
dân thị thành háo động mà nay phải chôn chân ở chốn hoang
vắng buồn tênh, Quân chán nản vô cùng. Ngày tháng quen dần,
Quân lại thương cái quê mùa đặc sệt của Thủy Liễu, cái
quê mùa chứa chan bao tình tự dân tộc của miền Nam. Dân
quê thật thà, chơn chất, và đặc biệt hiếu khách. Ai cũng
niềm nở tiếp đón Quân theo tinh thần trọng kính thầy học
ngày xưa. Học trò thì siêng năng dễ dạy. Thầy phán một
lời nhỏ nhẹ, đã răm rắp tuân theo. Thầy cần điều gì
thì cả đám lăng quăng tranh nhau phục vụ. Quân là ông thầy
yêu nghề, thương trẻ…, nên trường học với chàng là một
đại gia đình tràn ngập tình thương, giúp cho Quân vơi niềm
cô đơn ở xứ lạ quê người.
Nhà
trường sẵn có phòng ốc riêng cho hiệu trưởng trú ngụ.
Những buổi chiều gió mát, Quân thường ra sau nhà, theo dõi
những chiếc thuyền xuôi ngược trên sông, thơ mộng như bức
tranh thủy mạc. Cảnh tượng êm đềm đó, thỉnh thoảng lại
được chấm phá thêm bằng những câu hò trữ tình, trong vắt,
lơ lửng khắp nẻo sông dài. Những câu hò đối đáp, đã
có thời ngự trị miền Nam thanh bình, miền Nam của thi ca
bình dân hồn nhiên sống động. Nền thi ca đó đã bị chiến
tranh tàn phá lùi dần trong lãng quên. Vừa dứt tiếng súng,
thì những chiếc máy đuôi tôm ồn ào đồng loã với những
máy thu thanh văn minh, tiện lợi, đã ngăn chận sự hồi sinh
của tiếng hát điệu hò. Quân tưởng chàng chỉ có thể thưởng
thức được điệu hò khuôn sáo cải lương trình diễn bởi
các ca sĩ chuyên nghiệp, mà không ngờ, ở chốn quê mùa xa
tít này, nơi mà máy đuôi tôm và máy thu thanh chưa thực sự
hoành hành, những câu hò ngọt ngào, hồn nhiên vẫn còn bàng
bạc khắp không gian.
Đang
thả hồn theo mộng, thì thuyền của đoàn cán bộ nông thôn
đến rước Quân đi dự tiệc ở đầu Vàm cặp bến. Quân
lững thong chậm chạp, khiến Đức, viên đoàn trưởng cán
bộ, sốt ruột giục:
Nhanh
lên chớ ông "đốc".
Rồi
Đức lại hối người đệ tử quẩy mạnh mái chèo để theo
kịp chiếc xuồng của cô gái đi trước. Đức trẻ tuổi,
đẹp trai, hoạt bát và nhậu rượu cũng rất cừ. Làm việc
tại thôn ấp, nhậu nhẹt đôi khi cũng là một ưu điểm.
Cứ cụng ly với nhau, thì ai cũng là kẻ thân tình, và chuyện
gì rồi cũng giải quyết êm thấm được cả. Chờ cho hai
chiếc xuồng đi song song với nhau, Đức tằng hằng lấy giọng,
rồi hướng sang người đẹp, cất giọng hò:
Hò
ơ!… Nhìn em, má đỏ môi hồng…
Ơ,
ơ… Mơ ngày hợp cẩn….ơ, ơ…
Mơ
ngày hợp cẩn,…men lòng đã say…
Anh
chàng Đức đã có hơi men, nên điệu hò cẩu thả sỗ sàng.
Thông thường, người lịch sự hò đối đáp phải dè dặt
xã giao thăm hỏi, khen ngợi nhẹ nhàng để dọ dẫm đối
thủ. Nhiên hậu, tùy tình thế mà tấn công đứng đắn hay
cợt nhã. Đức mở đầu bằng câu chọc ghẹo sàm sỡ ngay
là một điều tối ktự làm giảm tư cách, khiến Quân cũng
hổ thẹn lây. Cô gái đang nhịp nhàng với mái chèo, cũng
tỏ vẻ bối rối, nhưng rồi cũng bình tỉnh lại, cất tiếng
hò đáp lễ:
Hò
ơ!… Có chồng say, trong chay ngoài bội,…
Ơ,
ơ… Ngó vô nhà…, ơ, ơ… Ngó vô nhà, như hội tầm xuân…,
ơ,ơ…
Hò
ơ!… hội tầm xuân, tưng bừng náo nhiệt….(1)
Hò
ơ,… Tánh em sợ ồn ào, … ơ, ơ…
Tánh
em sợ ồn ào, nên chẳng thiết chồng say!.
Bị
người đẹp chê bai say sưa ồn ào như làm chay, như hát bội,
Đức đau điếng tỉnh tựơu, đã vậy, lại còn bị Phước,
viên đoàn phó càm ràm:
Anh
làm mất mặt "bầu cua" quá! Để tôi hò thì mới xứng tay
đối thủ.
Phước
là trưởng ban văn nghệ đoàn, tuy dáng dấp anh ta ròm rõi
như dân ghiền, mà giọng hát lại ngọt ngào điêu luyện,
từng làm thổn thức bao trái tim thiếu nữ đương xuân. Phước
nhập đề bằng tiếng hò ơ thật ấm:
Hò
ơ!… hò!
Em
phảng phất như là tiên nữ
Điệu
hát câu hò tình tứ miên mang
Hò
ơ!…
Lòng
anh luống những mơ màng…
Tiên
đồng ngọc nữ…
…
anh với nàng nên duyên…
Phước
có vẻ thích chí, tự tán thưởng mình bằng nụ cừơi chúm
chím, rồi xoay qua Đức dạy đời:
Nghe
rõ chưa Đức. Từng lời tán tỉnh ngọt ngào thì cá mới
cắn câu. Chớ "a thần phù" thả dê trắng trợn như mày, thì
bị hạ nhục nhã là phải rồi!
Tiếng
hò ơ đáp lễ nhanh nhẹn của cô gái, thanh âm nhu mì nhỏ
nhẹ khiến Phước rạng rỡ chờ đợi.
Hò
ơ !…
Hò
ơ !…
Có
chồng ghiền… như Ông tiên nho nhỏ
Ngó
vô nhà…
ơ,
ơ… ngó vô nhà, đèn đỏ đèn xanh…
Hò
ơ !
Thân
em là kẻ phàm trần…
ơ,
ơ… dám đâu mơ mộng…
mơ
mộng được gần tiên nâu…. (1)
Hình
dáng ròm rõi như ghiền nặng, mà ham làm tiên, bị người
đẹp bắt bí, chê là thứ tiên nâu, khiến Phước sượng
sùng nín khe. Được thể, Đức móc họng trả thù:
Mầy
ghê lắm mà! Hò tiếp tục đi Phước!
Hừ!
Hò "dê", dê không được thì thôi. Còn nước non gì nữa mà
hò với hẹn!
Anh
cán bộ lơi chèo cho thuyền lùi lại, rồi phân bua với Quân:
Tui
đã cho hai ảnh biết trước cái con Tư Thơm này độc lắm.
Hò lơ mơ bị nó sửa lưng liền hà. Thế mà có ai tin tui đâu.
Quân
thường theo dõi sinh hoạt trên sông để thả hồn theo những
điệu hát câu hò trữ tình, nên không có lạ gì người đẹp.
Nàng tuổi độ đôi mươi, duyên dáng, thuỳ mị, nổi tiếng
là hoa khôi của Thủy Liễu. Gia đình nàng thuộc hạng khá
giả, nhưng vì chiến tranh nên phải bỏ ruộng vườn di tản
đến quận Giồng Riềng. Mẹ chết sớm, do đó, nàng chỉ
học xong lớp bảy trường quận thì phải nghỉ, để bương
chải buôn bán giúp gia đình. Mới hồi cư không lâu, phải
xây dựng nhà cửa, tu bổ lại ruộng vườn, để có thêm
lợi tức, rồi nàng buôn bán gạo lẻ tại chợ Thủy Liễu.
Thế rồi cứ hai ngày nàng lại chèo xuồng đến nhà máy tại
đầu Vàm xay lúa, và do đó, Quân có cơ hội để thưởng
thức những điệu hò thi vị trầm bổng, hàm ẩn những ý
nghĩa thâm trầm của nàng. Quân đã âm thầm yêu, thầm xây
mộng, nhưng bản tính nhà giáo hiền lành, kín đáo chàng vẫn
chưa dám tỏ tình. Thật ra, Quân cũng phân vân không hiểu
chàng đã thực sự yêu hay chỉ hời hợt đam mê giọng hát
của nàng, và nếu kết hôn thì liệu chàng có thể sống yên
vui hạnh phúc với một cô gái quê mùa, học vấn thấp kém
hay không? Từ khi chứng kiến bọn Đức và Phước thi nhau
trêu ghẹo Thơm, thì ngọn lửa tình yêu âm ỉ bỗng bùng lên
mãnh liệt. Quân sôi sục ý muốn tỏ tình với nàng, nhưng
nàng thường đi trên sông, chàng dạy học trên bờ, thì khó
mà tạo được cơ hội. Sau nhiều đêm trằn trọc, Quân đã
tìm được phương thức và chuẩn bị kỹ lưỡng cho buổi
gặp gỡ đặc biệt của chàng. Chọn đúng ngày Thơm theo thường
lệ đi xay lúa, Quân lên tiếng nhờ học trò tìm phương tiện
đưa chàng ra đầu Vàm để đón tàu đi về tỉnh lĐúng
như dự tính, trong đám học trò tình nguyện, có thằng Út,
em ruột của Thơm. Và dĩ nhiên, thằng bé được hân hạnh
để phục vụ thầy. Thế là Út chạy ù đi kêu réo chị chở
ông thầy quá giang. Tuy không làm điều gì ám muội, nhưng
vì có âm mưu, nên Quân cũng thẹn thò, ngồi xa ở đầu xuồng.
Lần đầu tiên được tự do ngắm nghía Thơm một cánh gần
gụi, Quân càng thấy nàng đẹp hẳn ra. Nàng không son phấn,
nên có nét dịu dàng tự nhiên, má ửng hồng ánh nắng, trán
điểm lấm tấm mồ hôi, lại khiến tăng thêm nét mặn mà,
duyên dáng. Vừa đến khúc sông vắng, Quân rề lại gần Thơm,
nói nho nhỏ vừa đủ nghe:
Cô
Thơm ơi! Tôi không biết hò. Tôi chỉ có làm một bài thơ
vụng về, mà đó là lòng thành thật của tôi. Xin đọc cô
nghe nhé.
Dạ!
Quân
ngâm thơ chậm và nhỏ, vì lo ngại có đứa học trò nào nghe
lỏm thì "kẹt" cho ông thầy quá!
Anh
muốn quì xuống, bên em
Van
xin sám hối!
Tôi
đã yêu! Tôi đã dám yêu em!
O⩡
Em là thần tiên tinh khiết vô biên,
Anh,
tục tử vô duyên, bất tài kém đức.
Nghĩ
phận mình, anh ngậm ngùi ray rức.
Anh
thầm yêu, anh thao thức bang khuâng.
Thoáng
ước mơ, tâm trí đã điên cuồng
Và
vụng dại, ngây ngô, phục tùng, quy lụy.
Hương
vị tình yêu, anh nếm: đắng cay, ngọt ngào, thâm thúy…
Như
trôi chập chờn… trong mộng mị liêu trai.
Anh
âu lo, anh thấp thỏm từng ngày
Vì
chẳng biết em đoái hoài hay hờ hững?
Nói
đi em! Nói thật đi em! Cho dù phải là lời phủ phàng tàn
nhẫn!
Rằng
kẻ si dại này, có đáng thương tưởng gì không?
Với
tư cách thầy dạy của út, Quân đã đến nhà Thơm đôi lần.
Tuy chưa hề trò chuyện, mà Thơm đã dành cho quân cảm tình
sâu đậm. Trong cử chỉ khiêm tốn, điềm đạm Quân ẩn hiện
nét quyến rũ đặc biệt mà những chàng trai thị thành hời
hợt khác xa vắng. Thơm linh cảm Quân chú ý mình, nhưng quả
thật, nàng không thể tưởng tượng được Quân đã yêu quí
đậm đã như thơ chàng diễn tả. Thơm cảm động vô vàn,
muốn thú thật rằng mình cũng yêu chàng không kém, nhưng nàng
cảm thấy kỳ quá, mắc cở làm sao á! Còn nếu như "thưa
rằng em nhỏ dại không biết gì? Cha mẹ đặt đâu em ngồi
đó" thì vừa trái lòng, vừa phụ tấm chân tình của chàng.
thơm bối rối, buông chèo, xuồng mất hướng đâm vào bờ,
lủi dưới tàn cây bần rậm lá mà không hay biết. Ngập ngừng
thật lâu, Thơm mới cất giọng hò nho nhỏ đủ cho Quân nghe
mà thôi:
Hò
ơ ! dù nhân duyên quyền cha liệu lý
Cám
ân chàng tình ý triền miên
Hò
ơ !
Rụt
rè bày tỏ tình riêng
Xả
thân đền đáp, truân chuyên chẳng sờn.
Đang
bồn chồn chờ đợi, nghe nàng thổ lộ thâm tình, Quân mừng
rỡ hỏi dồn dập:
Em
thương anh thật tình? Em bằng lòng làm vợ anh phải không?
Thơm
cúi đầu e thẹn, má đỏ bừng, không đáp, nhưng Quân mường
tượng như đầu nàng gật gật. Quân sung sướng nắm tay nàng
hôn nhẹ, và cảm giác như toàn thân nàng rung động theo nhịp
điệu bừng bừng của tim chàng. Quân thấy thương quá là
thương. Tình thương bùng nổ như cơn giông bão, lại được
cành bần xum xoe che khuất, khiến Quân mất tự chủ, ôm chầm
lấy Thơm, đặt một nụ hôn dài.
***
Ỏ
một thị xã nhỏ xíu, không có điều gì có thể giữ kín
lâu dài được. Mối tình của ông "đốc" với cô thôn nữ,
không bao lâu biến thành nguồn tin thời sự nóng hổi để
cả làng có đề tài bàn bạc. Ổn ào nhất là hai cô giáo
độc thân của trường. Họ vốn âm thầm mơ tưởng chàng
hiệu trưởng khả ái, ngờ đâu lại bị cô gái quê mùa cướp
mất, nên mặc tình trề, nhún, xiêng xéo, nhỏ to. Tình trạng
lúc đó thúc đẩy Quân xin cưới Thơm sớm hơn dự tính. Đám
cưới nhà quê vui nhộn, nhờ cả làng cùng tham dự chia vui.
Dường như ở làng này tính lòng vòng rồi thì ai cũng là
bà con cô bác với nhau. Chàng rể làng Bần, được mọi người
xúm nhau gọi là "dựơng tư", mà không hiểu liên hệ vai vế
bên vợ thế nào để xưng hô, nên thật là lúng túng. Miếng
vườn nhà Thơm, với hàng dừa hàng cau đơm trái, xen lẫn
vài cây vú sữa, xoài… cùng những bụi chuối xanh um, diện
tích khá rộng, yên tịnh và mát mẻ, là nơi lý tưởng cho
hai vợ chồng son quấn quít trong tuần trăng mật. Thỉnh thoảng,
cả hai tung tăng dắt tay nhau trên cánh đồng ruộng lúa, bơi
xuồng trên đầm sen thoảng hương nhè nhẹ, hay thả thuyền
bồng bềnh trên sông, lững lờ trôi giạt quanh đám bần đầy
kỷ niệm thuở ban đầu.
Vợ
chồng Quân càng sống bên nhau lại càng quí trọng, thương
nhau nhiều hơn nữa. Hạnh phúc tràn đầy của họ lại được
tô thắm thêm bằng sự ra đời của đứa con gái đầu lòng
xinh xắn. Quân khai sanh tên con là Thủy Liễu, tuy nhiên, có
lần nựng con thương quá, bỗng nhiên Quân gọi con "Bần cưng".
Hai vợ chồng nhìn nhau, thấm ý mỉm cười. Thương con, người
ta có tâm lý thích gọi con bằng những tên xấu xí, cục mịch,
có khi thô lỗ nữa. Nhưng trong cái xấu xí, thô lỗ đó, dường
như hàm ẩn tình thương yêu vô biên mà cha mẹ dành cho con.
Chính vì vậy, vợ chồng Quân bỗng dưng thích gọi tên con
là Bần. Gọi tên con, nựng con, bằng tên "xấy háy"thì mới
thấm thiết mới "đã nư".
Ngoài
những giây phút tuyệt vời bên vợ con, Quân cũng tìm thấy
nguồn vui vô tận trong nghiệp thầy giáo của mình. Tuy làm
hiệu trưởng, nhưng do tình trạng khiếm khuyết giáo chức,
Quân đã phải đảm nhận thêm việc giảng dạy lớp năm,
Quân dạy học tận tâm. Chàng hứng thú chăm sóc từng đứa
học trò và khéo léo hướng dẫn chúng học hành tiến bộ.
Nhờ vậy, học sinh Thủy Liễu đã gặt hái thành quả vẻ
vang trong kỳ thi tuyển vào trường trung học quận và tỉnh.
Quân lại có hoài bão là nâng cao trình độ dân trí ở thôn
quê, vì chàng nghĩ rằng, bên cạnh sự dốt nát là sự nghèo
đói, nghi khận thù… thế rồi Quân tự động mở những
lớp bình dân giáo dục; hai vợ chồng đi từ đầu làng cuối
xóm để khuyến khích, năn nỉ những kẻ mù chữ đi học.
Nhờ thiện chí của chàng, chỉ trong vòng một năm, tình trạng
dốt nát không còn nữa.
Đáp
lại lòng tận tâm của Quân, dân làng, từ lớn tới nhỏ
ai cũng thương mến chàng. tình thương này như sợi dây ràng
buộc chàng với Thủy Liễu. Do đó, dầu sau hai năm phục vụ
tại một xã hẻo lánh, chàng đã hội đủ điều kiện để
xin hoán chuyển về tỉnh lnhưng chàng đã ngần ngừ rồi
chấp nhận ở lại.
Tháng
chạp, đêm hai mươi lăm trời tối đen. Tự nhiên Quân trằn
trọc khó ngủ. Nhìn vợ và con ngủ thật yên lành, tinh khiết,
bỗng Quân cảm thấy lo sợ bâng quơ. Mới hồi trưa, trong
buổi tiệc thôi nôi, sinh nhựt đầu tiên của con gái, bác
Chủ Tịch xã đã ân cần khuyên Quân nên đến đồn nghĩa
quân ngủ cho an toàn. Có lẽ, lời khuyên này đã ám ảnh chàng
và làm chàng mất ngủ. Tình hình an ninh miền quê chợt trở
nên suy đồi mau chóng. Sau chiến dịch Đồng Khởi, những
người tự xưng Cách Mạng đã đồng loạt dùng chính sách
khủng bố, giết người bừa bãi. Tuy nhiên, Quân không hề
nghĩ họ có thể nhẫn tâm tàn sát một thầy giáo không vũ
khí như chàng.
Quân
mơ hồ như có tiếng sột soạt xa xôi. Bé Bần thình lình
giựt mình rồi khóc thét lên. Thơm ru con nhè nhẹ mà đứa
bé vẫn còn thổn thức. Tiếng động nghe rõ dần, không khí
nặng nề ngột ngạt. Thơm sợ hãi co rúc vào lòng chồng.
Những bước chân đe doạ rõ ràng hướng về nhà chàng. tiếng
đập cửa, rồi cửa bị đạp tung ra. Bốn người mặc đồ
đen lầm lì bước vào nhà. Tên cầm khẩu súng AK.47 khoát
tay bảo ba tên thuộc hạ cầm mã tấu:
Bắt
thằng này.
Thơm
ôm cứng chồng giành lại. Nàng khóc như mưa van nài thảm
thiết:
Lạy
chú Tám! Xin chú Tám làm ơn làm phước tha chồng con!…
Tên
chỉ huy, cũng không phải người xa lạ, sẵn giọng:
Lệnh
mấy anh lớn. Tao không có quyền. Mầy câm miệng đi! Chộn
rộn dằng nổ súng thì tao bắn chồng mày chết liền đó!
Lời
đe doạ đó khiến Thơm nín khe. Nàng cố gắng đè nén tiếng
nức nở, rồi tuyệt vọng nhìn đám người sát nhân hùng
hổ lôi kéo chồng ra đi.
Quân
biết có nói dang ca với họ cũng vô ích. Chàng điềm đạm
nhìn vợ, lắc đầu rồi dặn dò:
Ráng
lo cho con Bần ăn học nhe em!
Sáng
hôm sau, người ta tìm thấy xác chết của Quân với bản án
tử hình về tội phản động. Điều chua xót là kẻ giết
người, mấy tháng trước vẫn còn "dốt đặc cán mai", nhờ
Quân tận tâm dạy chữ, nên nay đã đủ sức để ra uy với
bản án tử hình nguệch ngoạc.
Tang
ma chồng xong, Thơm bồng con và dắt thêm cậu em út, về tỉnh
linh sống. O⮧ trưởng Ty Tiểu Học thương Quân, nên có
nhã ý tuyển dụng Thơm làm giáo viên ấp tân sinh, nhưng nàng
khước từ. Nàng chán ghét tội ác tại vùng sôi đậu, ngoài
ra, cũng muốn bám tỉnh lđể tiện cho con học hành, đúng
theo như lời ủy thác trối trăn của chồng. Trợ cấp tử
tuất 12 tháng lương, giúp Thơm có một số vốn nhỏ để
sang một căn nhà lá sệt sạt tại xóm Bánh Tầm. Sau đó,
gởi con cho người hàng xóm tốt bụng, Thơm bắt đầu bương
chải tìm phương kế sinh nhai. Thoạt tiên, Thơm lặn lội đến
vùng Tắc Cậu mua sỉ về chợ Rạch Giá bán lẻ. Khóm Tắc
Cậu phẩm chất tương đương khóm Bến Lức nên rất được
khách hàng ưa chuộng, nhưng đi bổ hàng cũng có lắm điều
phiền phức. Thơm trẻ đẹp, thân gái đường xa, thường
bị bọn trai, trong đó gồm cả những kẻ có thế lực địa
phương, chọc ghẹo. Thơm chuyển qua nghề làm bánh mức, nhưng
hoa lợi không khá. Nàng lại xoay qua món bún cá, món ăn mà
Quân hằng khen ngợi. Lần thử thời vận này lại có kết
quả không ngờ. Thực khách đến lần đầu có thể vì hiếu
kỳ hay vì chuộng cô bán hàng đẹp, nhưng khi đã ăn thử
rồi, thì sẽ bao giờ quên được hương vị đặc biệt của
món bún cá Kiên Giang. Thơm nắm được bí quyết bún cá, nhờ
nàng khép chọn lựa cá lóc đúng loại chắc thịt mà sớ
lại không quá to dễ bị sảm và khô. Khi nấu cá vừa chín
thì phải vớt ngay ra, để cá không bị rời rã và lạt lẽo.
Nồi nước lèo thì Thơm dùng xương heo dậm thên ít sò huyết,
nên chất ngọt ngào dịu và đậm đà. Chỉ cần nàng hưới
cái vá, dạo một vòng thì mớ trứng cá vàng ửng xôn xao,
mùi nước béo ngào ngạt tỏa lên, thì có thực khách nào
có thế cầm lòng được.
Hoa
lợi gánh bún cá ngày càng vững vàng, khá hơn lương bỗng
của giới quân nhân công chức chịu chật vật với đồng
lương cố định, khi vật giá leo thang mãi. Nhờ vật, lần
hồi Thơm tạo được căn nhà tươm tất tại hẽm bác sĩ
Nam, tiện đường cho con đến trường nữ tiểu học sau này.
Dù sống ở chốn nào thì người thiếu phụ goá chồng vẫn
bị cả đám trai trẻ tranh nhau theo đuổi, nhưng Thơm dửng
dưng khép kín cõi lòng, vì thật ra, dưới mắt nàng thì có
ai xứng đáng bằng Quân đâu. Bao nhiêu tình thương Thơm dành
hết cho cô con gái. Đáp lại, đứa bé cũng ngoan hiền, hiếu
thảo, lúc nào cũng quấn quít bên mẹ như một cái đuôi mũm
mỉm. Đi học, Bần chăm chỉ và thông minh, nên trong mấy năm
tiểu học đã là một học sinh xuất sắc. Em thi đỗ vào
trường trung học Nguyễn Trung Trực không khó, rồi tiếp tục
học hành ngày một tiến bộ. Cô học trò trung học hiểu
biết, nên cảm thấy mắc cở với cái tên "Bần" cục mịch.
Cô làm nũng làm nịu yêu sách mẹ và câu quên hẳn tên Bần,
và chỉ gọi tên cô là Thủy Liễu trước mặt mọi người.
Dĩ nhiên, Thơm chìu con, nhưng thỉnh thoảng khi chỉ có hai
mẹ con trong nhà, nàng cũng ôm ấp con trong lòng như thuở trước,
để nựng nịu, hôn hít, rồi trìu mến gọi "Bần! Bần" nho
nhỏ.
Cuối
niên học lớp 10, Liễu được thầy cô chọn để trao giải
thưởng dan dự toàn trường. Đó là động lực thúc đẩy
em cố gắng học nhiều hơn nữa. Học giỏi lại đẹp giống
mẹ, thành thử đám con trai trong trường mặc sức trồng cây
si, nhưng Liễu ngây thơ và biết vâng lời mẹ, nên chỉ lo
học, mà không để tâm đến chuyện tình yêu vớ vẫn. Những
ngày cận Tết, đám học trò lớn tồng ngồng lớp 11 càng
ham chơi phá phách, khiến ông thầy cũng uể oải, bèn cho về
sớm. Bọn Liễu, Hạnh, Lan tung tăng dẫn nhau về, vừa đến
Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín, sắp chia tay bỗng Hạnh liếng
thoắng đề nghị:
Ê!
Tụi mình đi ăn tất niên với nhau một bửa đi.
Hoan
hô! Ý kiến đó hay lắm! Liễu lên tiếng.
Vậy
thì mình đi ăn món bún cá dì Tư Thơm đi! Lan góp ý.
Từ
lâu, Liễu cố ý dấu bạn bè về nghề nghiệp của mẹ. Em
có mặc cảm là nghề buôn gánh bán bưng của mẹ, tuy cũng
đủ sức nuôi con, nhưng không mấy sang trọng như cha mẹ bạn
bè thuộc giới sĩ quan, công chức. Liễu vội bàn ra:
Nè
mấy bồ! Tui đề nghị món cháo gà tại đình Nguyễn Trung
Trực, hay cháo huyết bà Mười bến xe Hà Tiên!
Tui
đồng ý với bồ Lan, Hạnh xen vô, món bún cá hấp dẫn hơn.
Ăn cháo quê thấy mồ à!
Liễu
ráng gân cổ cãi, nhưng hai cô bạn ỷ vào đa số, lôi em qua
cầu sông Kiên, ngồi quanh gánh bún cá. Lúc đó, mẹ Liễu
bận bịu múc cháo cho khách hàng, chưa nhìn kỹ ba cô gai vừa
đến, thì Lan nhanh nhẩu:
Dì
cho tụi con ba tô bún cá đi!
Dì
Tư nhìn lên thấy cô con gái cưng của mình với hai cô bạn.
Liễu duyên dáng trội hơn hai bạn xa làm bà rất hãnh diện.
Từ nhỏ, đi học về Liễu thường chạy đến gánh bún cá,
lăn xăn phụ giúp mẹ. Lớn lên phải bận bịu với bài vở,
Liễu thưa đến dần, và mấy năm nay thì vắng hẳn. Trong
những lúc buôn bán đầu tắt mặt tối, đôi khi dì Tư bỗng
ước ao cô con gái đến thăm mình, thì hạnh phúc biết bao.
Sự hiện diện của Liễu hôm nay làm dì Tư cực kỳ vui sướng.
Dì mừng rơn hỏi Lan:
Hai
cháu đây, có phải là bạn cùng lớp với Bần không?
Đang
ngồi trên ghế, Liễu vụt biến sắc, đoạn không nói một
lời, bỏ chạy biến đi. Hai cô bạn không hiểu biến cố
gì cũng ráng đuổi theo mà không bắt kịp. Dì Tư vì mừng
con, cảm động sanh ra lỡ lời, gọi cái tên cấm khiến
con giận bỏ đi. Dì bức rức không an, nhưng bận bịu khách
hàng, nên chỉ biết nhìn theo buồn rười rượi.
Liễu
về nhà đóng kín cửa khóc rấm rức. Em xấu hổ vô hạn
nên muốn trốn tránh mọi người. Sự kiện bị bạn bè khám
phá cái tên Bần cục mịch, hèn hạ, xấu xí, đối với Liễu
là một điều nhục nhã ghê gớm không thể gột rửa được.
Rồi đây, chúng bạn sẽ sầm sì cho cả trường biết cái
tên kỳ cục đó. Bọn con trai trồng cây si thường ca tụng
em mãnh mai, tha thướt như Liễu, bây giờ, sẽ bỉu môi chê
em cục mịch, đen đúa như bần. Càng nghĩ, Liễu càng phiền
mẹ, giận cha. Ông già đâu phải là hạng vô học mà sao lại
có ý nghĩ quái gở gọi tên con là Bần. Buổi chiều, nghe
bước chân mẹ về, Liễu te lên giường, trùm mền kín mít.
Dì Tư rón rén ngồi kế bên con, vỗ mông con nhè nhẹ:
Má
lỡ có một chút xíu hà! Thôi đừng giận má nghe!
Má
làm nhục con! Má hổng thương con! Liễu vùng vằn:
Thương!…
thương nhiều mà!…
Con
nghỉ học! Con hổng đi đâu hết! Con hổng gặp ai nữa hết!
Đừng
nói bậy con! Ba muốn con học thành tài mà!
Cũng
ông già nữa! Con ghét ổng! Ồng hết chuyện rồi nên mới
đặt cái tên kỳ cục đó cho con!
Dì
Tư im lặng bỏ ra sau bếp. Liễu hiểu rõ tính mẹ. Em có thể
hành hạ mẹ thế nào cũng được, nhưng nếu động đến
cha một tí thì mẹ phiền lòng ngay. Trong thâm tâm của mẹ,
chồng bà là tất nhất, là thần tượng tôn quí mà không
ai có thể chỉ trích được.
Liễu
được mẹ nuông chiều tối đa, nên gặp việc trái ý, phản
ứng có phần quá trớn. Dù sao, Liễu cũng ngoan ngoãn nên khi
vô tình làm mẹ phiền giận, em cảm thấy hối hận vô cùng.
Liễu dự định xin lỗi mẹ, nhưng sợ mẹ thấy dễ dãi rồi
cứ gọi cái tên Bần hoài, nên giữ nguyên bộ mặt phụng
phịu chờ mẹ làm lành trước.
Do
đó, nếu dì Tư buồn hiu yên lặng thì Liễu cứ chầm dầm
hờn dỗi, chiến tranh lạnh cứ tiếp tục cho đến buổi ăn
chiều, rồi đến giờ ngủ nghĩ mà cũng không thay đổi. Thật
ra, tuy mặt mày Liễu phụng phịu mà hờn giận đã tan dần,
giờ thì Liễu chỉ mong được mẹ vỗ về mà thôi. Vì vậy,
Liễu đâm ra để ý đến mẹ từng li từng tí, việc mà lúc
bình thường em không bao giờ nghĩ đến. Mẹ làm công việc
không hở tay. Vừa về là mẹ lăn xả ra rửa mớ nồi niêu,
chén bát… gánh về, đoạn gấp rút dọn dẹp nhà cửa, giặt
giũ…, rồi lăn xăn soạn buổi cơm chiều tươm tất, luôn
luôn thay đổi món cho con ngon miệng. Cơm xong, mẹ liền nai
lưng ra lo lắng cho gánh bún cá ngày mai. Công việc không đơn
giản như Liễu tưởng. Ngoài việc đương đầu với mớ cá
và cái nồi nước lèo to tướng, mẹ còn lay quay với bao nhiêu
thứ lỉnh kỉnh khác liên quan đến gia vị, rau cải, nước
chấm…, thành thử, gần đến 12 giờ đêm mẹ mới đi ngủ.
Do buổi cơm chiều hờn giận ăn uống qua loa, cơn đói cồn
cào thức tỉnh Liễu lúc bốn giờ rưỡi sáng. Mẹ đã thức
tự bao giờ. Bà lặng lẽ đun nóng lại nồi nước lèo, thu
dọn sắp xếp mọi thứ, rồi bương bả quảy gánh ra đi cho
kịp những thực khách mở hàng lúc 5 giờ sáng. Ôi! 16 năm
trời ròng rã, mẹ đã âm thầm lầm lũi nhọc nhằn mà Liễu
có biết gì đâu? Liễu sống bên mẹ như một thượng khách,
để được cung phụng, để đòi quà, để vòi vĩnh mà thôi.
Thương mẹ quá, Liễu phóng xuống giừơng, mở cửa nhìn theo,
nhưng sương mù buổi sáng đã che khuất bóng bà rồi.
Đang
suy tư vớ vẫn về tình mẹ thì Thanh, bí danh Thanh xí xọn,
đến dộng cửa kéo Liễu đi chùa Phổ Minh. Hai em rủ nhau
đi nghe thuyết pháp hàng tuần, rồi quyết định xin dự lễ
quy y được tổ chức vào lúc 2 giờ trưa, cho chừng 30 Phật
tử. Trước khi chánh thức hành lễ, thầy giảng dạy về
tam quy và ngũ giới. Sau đó, thầy ban cho mỗi người một
pháp danh và nhắc nhỡ mọi người thành tâm khi phát nguyện.
Pháp danh của Liễu là Diệu Hương, và của Thanh là Diệu
Thiệt. Thanh có máu văn nghệ, làm năm ba bài thơ con cóc, là
đã có năm ba bút hiệu rồi. Đến chùa quy y, Thanh cũng mơ
tưởng một pháp danh có vẻ văn nghệ một chút, không ngờ
lại lãnh cái tên tầm thường, nên bất mãn ra mặt.
Thưa
thầy! Thanh xí xọn đột ngột cắt ngang lời thầy, pháp danh
Diệu Thiệt xấu quá hà! Thầy đổi pháp danh cho con thành
Diệu Mộng Điệp hoặc Diệu Mộng Tuyền nghen thầy!
Thầy
mỉm cười dễ dãi:
Diệu
Thiệt có thể hiểu vắn tắt là chân thật nhiệm mầu, ý
nghĩa thâm sâu không đến nổi xấu xí đâu con. Thật ra, danh
xưng chỉ là phương tiện giả tạm để gọi nhau, tự nó
không chuyên chở giá trị tốt xấu, dở hay chi cả. Một kẻ
lưu manh giả dạng tu sĩ có thể tự tô điểm mình bằng danh
xưng hoà thượng, thượng toạ… kèm với pháp hiệu cao siêu
như đắc pháp, ngộ đạo…, thì một vị chân chánh Bồ tát
lại cũng có thể đội lốt thằng tư, con tám vô danh tiểu
tốt nào đó. Pháp danh cũng là hình tướng, mà phàm hình tướng
đều là hư vọng. Tu hành nếu chấp chặt vào hình tướng
thì lầm lạc tà đạo. Ngược lại, nếu biết xử dụng hình
tướng làm phương tiện nhắc nhở tu dưỡng tâm thì Phật
tự tâm dễ hiển lộ. Pháp danh, do đó, chỉ là phương tiện
nhắc nhở Phật tử rằng mình đã quy y để không xao lãng
việc tu tâm. Hiểu được điều đó, thì pháp danh tự nó
đã đẹp. Nếu không, pháp danh chỉ là một chiêu bài quảng
cáo vô dụng.
Liễu
chợt hiểu giá trị con người thể hiện qua tâm tư hành động,
chớ không tuỳ thuộc vào mớ âm thanh vô nghĩa. Bần không
có gì là xấu, Liễu không có gì là đẹp. Thế mà tại sao
mình lại khư khư bám víu vào cái giả tạm hời hợt để
mè nheo làm khổ mẹ?
Lễ
quy y vừa chấm dứt, Liễu đã vội vã phóng chạy về nhà.
Mẹ đã về. Cửa chỉ khép hờ. Liễu rón rén nhìn qua khe
cửa thấy mẹ đang lui cui trước bàn thờ ba với một mâm
cơm thịnh soạn. "Giỗ ba mà mình quên", Liễu thầm nhủ. Mẹ
đang thấp nhang bàn thờ rồi lầm bầm khấn vái. Mẹ gầy
gò. Mẹ ốm yếu quá. Mẹ đã gánh chịu bao nổi cực nhọc,
đắng cay mà có bao giờ mẹ hở môi đâu? Bỗng Liễu khám
phá mẹ khóc: mẹ cố gắng đè nén tiếng nức nở, nhưng
đôi bờ vai mẹ rung động. Ôi! Mười sáu năm qua mẹ luôn
luôn tươi cười che dấu thương đau, để rồi, biết bao lần
mẹ đã âm thầm khóc như ngày hôm nay. Không cầm lòng được
nữa, Liễu phóng nhanh đến bên mẹ, chui tọt vào lòng khóc
nức nở:
Má
ơi! Con thương má lắm má biết không? Má đừng buồn, đừng
giận con nghen má! Má gọi con là Bần đi! Con là Bần! Bần
của má đây nè!
***
Liễu
đỗ tú tài phần nhất hạng ưu và tin tưởng sẽ gặt hái
được kết quả tương tợ trong kỳ thi toàn phần sắp tới.
Ngày xưa ba thường ao ứơc có một đứa con y sĩ phục vụ
cho đồng bào nghèo nông thôn. Hiểu lòng mẹ, nên Liễu tự
nguyện phải thực hiện ước mơ của cha, và do đó, em lại
càng cố gắng học hành. Những sự suy thoái đột ngột về
quân sự tại miền Trung đe doạ nặng nề an nguy đất nước.
Liễu không mấy quan tâm về tình hình chính trị, nên chỉ
biết lo âu về một sự đình hoãn thi cử, uổng công lao một
năm học miệt mài. Vào tháng 4 năm 1975, tình hình quân sự
tại Kiên Giang tuy không có gì nghiêm trọng, nhưng những tin
đồn về viễn ảnh mất nước, cộng với sự chuẩn bị
ra đi của những nhà tai mắt, đã tạo nên tâm lý hổn loạn
chưa từng thấy tại tỉnh lTrường Trung học đóng cửa,
ngày thi đình hoãn, nên dì Tư quyết định đưa con ra Hòn
Tre tạm trú với cậu U Theo dì Tư, cậu UTrung úy
Hải Quân chỉ huy trưởng căn cứ hải thuyền xung phong tại
Hòn Tre (2), sẽ bảo đảm cho Liễu một nơi ăn ở an tòan
để Liễu vững tâm học bài, chuẩn bị sẵn sàng cho kỳ
thi Tú tài trước sau cũng tổ chức lại. Liễu phản đối
quyết liệt vì muốn kề cận bên mẹ, nhưng dì Tư nhất định
không đổi ý.
Đời
sống trên đảo rất trầm lặng và dường như biệt lập
không hay biết gì đến không khí tang thương hãi hùng tại
đất liền. Liễu tạm yên tâm học bài vì không phải xao
xuyến bỡi những tin đồi, lời bàn bạc âu lo. Tuy nhiên,
Liễu lại nơm nớp nghĩ đến an nguy của mẹ. Em thường leo
lên tảng đá cao ở cổ Rùa nhìn về Rạch Giá mà nhớ mẹ
khôn nguôi.
Sống
ở Hòn Tre mới 4 ngày, trong khi Liễu vẫn cặm cụi học hành
như thường lệ, thình lình căn cứ náo động hẳn lên. Cậu
Úấp tấp tìm Liễu, hổn hển nói: "Mất nước rồi!
Con theo cậu mau". Liễu soạn đồ đạc, rồi chạy bám theo
cậu như một cái bóng leo lên chiếc hải thuyền đã đầy
người. Cậu Ua lệnh cho chiếc thuyền nổ máy ra đi.
Thấy thuyền đâm ra hướng biển khơi, chớ không quay về
đất liền, Liễu hiểu ý cậu, em khóc ồ lên:
Cậu
ơi! Còn má con thì sao? Cậu cho con về với má con! Con phải
về Rạch Giá! Con không bỏ má con được đâu!
Cậu
út ôm Liễu và cũng khóc theo.
Cậu
cũng khổ vô cùng. Cậu đâu muốn xa đất nước nhưng má
con nhắc nhở cái chết của ba con để khuyên cậu đưa con
đi. Bà nói "Xa con mà biết con học thành tài, tuy nhớ mà vui
vẻ tự hào, chớ gần nhau để thấy con thất học hoặc bị
đoạ đầy, thì bà sẽ khổ biết chừng nào".
Ngừng
một lúc lâu, cậu ngầm ngùi kể lể tiếp:
Tội
nghiệp má con! Bao nhiêu vàng bạc dành dụm, bà đều giao hết
cho cậu để cậu lo lắng cho con. Cậu năn nỉ bả giữ chút
đỉnh phòng thân, bả nằng nằng không chịu!
Liễu
khóc mùi mẩn và linh cảm rằng ở phương trời kia, mẹ cũng
đang rưng rức khóc như mình.
Hai
cậu cháu đến đảo Guam, sang Mỹ, rồi được bảo trợ đến
San Francisco. Thời gian đầu định cư tuy gian khổ nhưng cả
hai cũng vượt qua không mấy khó khăn. Cậu khởi đầu với
nghề rửa chén nhà hàng, rồi lần hồi, nhờ kinh nghiệm sửa
máy tàu, cũng tìm được nghề chuyên viên cơ khí. Liễu mất
một thời gian chuẩn bị, rồi cũng được nhận vào đại
học U.C. Berkeley. Liễu dự trù sau 4 năm cử nhân sinh vật
học, sẽ thi tuyển vào ngành y khoa. Với khả năng và quyết
tâm của mình, Liễu tin tưởng em sẽ hoàn thành ước mơ của
cha mẹ không gì trở ngại.
Điều
lo lắng lớn lao nhất của Liễu là bà mẹ thương yêu còn
kẹt lại ở quê nhà. Những tin tức kinh khủng về chế độ
xã hội chủ nghĩa, về biện pháp kiềm kẹp dã man, về nền
kinh tế què quặt, nạn đói, nạn lạm phát phi mã… khiến
Liễu mất ăn mất ngủ. Liễu đề nghị bảo lãnh mẹ theo
chương trình ra đi trật tự (ODP), nhưng mẹ không đồng ý.
Mẹ nhấn mạnh rằng mẹ chỉ muốn con chuyên tâm vào việc
học mà thôi, gát lại mọi chuyện khác cho đến ngày ra trường
sẽ tính. Thương mẹ, Liễu chỉ biết cố gắng học và thỉnh
thoảng gởi tiền, gởi quà về. Tuy nhiên, tên người gởi
phải là Cậu út, nếu không mẹ nghi Liễu ham làm việc lơ
là chuyện học hành, thì bả rầy lắm.
Trong
khi chờ đợi, Liễu vẫn âm thầm chuẩn bị hồ sơ bảo lãnh,
và do đó, đã đệ đơn xin nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Elizabeth
Trần, tức Thanh xí xọn, làm việc tại Hội Thiện Nguyện
IRS lập hồ sơ cho Liễu, khuyên Liễu nên theo thời thế đổi
tên mới tiện cho việc hành nghề y sĩ, vả lại "tên mình
đẹp hay ho mà người Mỹ gọi thì cũng thành xấu xí ngờ
nghệch hết, vậy thì giữ cái tên Việt để làm gì". Liễu
không thích so đo lợi hại chi cả. Em thương mẹ, em thương
cái tên mẹ đặt cho em. Tên Việt nam, dầu có bị gọi ngọng
nghiệu, Liễu vẫn cảm thấy gần gũi với mình hơn cái tên
Hoa Kỳ lạ hoắc. Liễu còn năn nỉ bạn bè gọi mình là Bần
nữa kia, nhưng đâu có ai gọi tên em thấm thiết, trìu mến
như mẹ ngày xưa.
Sau
8 năm đằng đẳng đợi chờ, ngày Liễu tốt nghiệp tiến
sĩ y khoa cũng từ từ đến. Liễu mừng rỡ viết thơ khẩn
cấp báo tin cho mẹ, đồng thời, nhắc nhở bà gắp rút gởi
khai sanh, hôn thú và các chứng từ khác bổ túc hồ sơ bảo
lãnh. Nôn nóng trông ngóng hơn hai tháng trời, Liễu mới nhận
được thơ mẹ. Bà viết: "Con đã ban cho má niềm vui nhất
đời. Bây giờ thì má yên tâm rồi, má đã bán nhà chuẩn
bị về Thủy Liễu tạm trú tại miếng đất hương hỏa với
cậu Hai, để săn sóc mồ mả cha con cho đến lúc lìa đời".
Đau
khổ trước quyết định của mẹ, Liễu chỉ biết van nài
cậu Út yểm trợ mình, bằng cách viết thơ về Việt nam năn
nỉ mẹ thay đổi ý.
Nghĩ
đến nếp sống thiếu thốn, cơ cực tại thôn quê, Liễu
bức rức không an nên khi thấy quảng cáo tổ chức lãnh quay
video tape cho thân nhân tại Việt nam, Liễu vội vàng liên lạc
thuê họ. Em muốn hiểu rõ hoàn cảnh sống tại quê nhà và
nhất là tha thiết mong thấy được chân dung người mẹ mến
yêu, sau 8 năm xa cách.
Ba
tháng sau, Liễu nhận được gói hàng video tape mong đợi. Liễu
mừng húm mở máy ra xem.
Cuộn
tape bắt đầu với hình ảnh chợ Rạch Giá buồn thảm. Cảnh
buôn bán tấp nập tràn lan ra vỉa hè, xâm lăng đến những
con đường quanh chợ không còn nữa. Nhà lồng thưa thớt.
Khu phố lở lói, cửa đóng im lìm. Dãy hàng ba đường Bạch
Đằng bao nhiêu hàng gánh, nay chỉ còn 1 em bé gầy còm bên
rỗ khoai xơ xác. Sinh hoạt thoi thóp. Phố xá quạnh hiu. Thỉnh
thoảng mới có vài người đi bộ hoặc đi xe đạp qua lại,
gương mặt gày gò ốm đói, dáng dấp thẩn thờ. Hình ảnh
được tiếp nối với con đường loang lổ ổ gà, bùn xình
lầy lội đưa về quận, rồi đến giòng sông Thủy Liễu
đen ngòm, buồn thảm.
Vừa
thấy miếng vườn của Ông Ngoại hiện ra, Liễu ngồi bật
dậy chăm chú nhìn. Hình ảnh căn nhà 3 gian cũ kỹ hiện rõ
dần. Cậu và mợ Hai ngượng ngập với bầy con cháu vây quanh.
Bỗng Liễu cảm thấy có điều bất ổn. Em tự hỏi: "UMá
đâu hổng thấy cà!". Hình ảnh nối tiếp với cảnh cậu
Hai ngồi trên ghế rọi lớn ra. Cậu Hai lên tiếng: "Bần à!",
rồi đột nhiên nước mắt cậu ràn rụa. Cậu nghẹn ngào
kể lể:
Sau
bao năm nhọc nhằn sinh kế, lại khóc chồng, nhớ con, cô Tư
đã bị lao phổi trầm trọng, mà điều kiện thuốc thang gần
như không có. Cô Tư dấu diếm vì sợ con phân tâm chểnh mảng
học hành. Về Thủy Liễu, cô Tư đã yếu lắm rồi, nhưng
cô vui vẻ cho biết "Con tui thành tài rồi! Tui sẽ theo chồng
tui chớ không sống nữa đâu!". Cậu rầy cô Tư không cho nói
gở. Hàng ngày cô Tư quanh quẩn bên mả chồng. Cậu nghĩ tánh
cô ấy thương chồng chí thiết, chồng chết bao năm rồi mà
mối tình vẫn nồng nàn nóng hổi như xưa, nên cũng không
quan tâm lắm. Mãi đến khi xấp nhỏ (3) nghe cô Tư thì thầm
bên mộ: Anh Quân ơi ! con Bần thành tài rồi. Sao anh còn chưa
dẫn em theo! Đừng để em sống một mình, em khổ lắm anh
ơi!", cậu hoảng hồn đòi đưa cô đi bác sĩ tâm trí nhưng
cô phản đối kịch liệt. Rồi cô Tư chẳng màng ăn uống,
sức khỏe kiệt quệ lần, hơn mười ngày sau thì lìa đời…
Liễu
gục đầu khóc nức nở. Qua làn nước mắt nhoè nhạt, Liễu
còn thấy người ta quay tới quay lui, đủ gốc cạnh hình ản
phóng đại của hai ngôi mộ lè tè, quạnh hiu dưới cội bần
cằn cỗi. Liễu đã yêu cầu họ thu thật rõ chân dung của
mẹ cơ mà. Thì ra, chân dung của mẹ chỉ là một nắm mộ
đất thê lương nằm bẹp dí ở một mảnh quê hương điêu
tàn, rách nát, nơi mà dốt nát, độc tài đang đồng loã nhau
hoành hành thống trị.
Tháng
6.1989
GHI
CHÚ:
Những
câu hò tự sáng táng dầu điêu luyện cũng không được tán
thưởng bằng những câu gợi hứng từ ca dao, tục ngữ, vè,
thơ thông dụng (như thơ Lục Vân Tiên…), mà đương sự chỉ
cần thêm bớt đôi chút cũng đủ giải bày tình ý. Các câu
hò này cũng phát xuất từ những câu ca dao mỉa mai các loại
ông chồng miền Nam:
Có
chồng say trong chay ngoài bội
Ngó
vô nhà, như hội tầm xuân…
Hay
là: Có chồng ghiền như ông tiên nho nhỏ
Ngó
vô nhà đèn đỏ, đèn xanh…
Hoặc:
Có chồng ghen như cục ghèn đeo mắt chó,
Bè
bạn đến nhà, tó hó tăng hăng…
Hòn
Tre: Hòn đảo nhỏ cách tị xã Rạch Giá khoảng 20 cây số:
từ thị xã nhìn ra biển thấy dáng hòn đảo giống như con
rùa, nên còn được gọi là Hòn Rùa.
Sấp
nhỏ: đám co cháu nhỏ tuổi.