ĐÂU CHẲNG LÀ
NHÀ
Gần
gũi với bậc đạo đức cao tăng quả là có duyên phúc đặc
biệt. Kinh nghiệm đó đã đế với Trương Công Diệp, khi
chàng sắp xa chùa, xa thầy để đi nhậm chức tỉnh xa. Đến
từ giả thầy, Diệp không lăn xăn hỏi han như thường lệ,
mà yên lặng quán sát để thu nhận tất cả hình ảnh thân
yêu của bổn sư vào tâm khảm. Thầy Thiện Hoa (*) có lẽ
khám phá ngay sự khác lạ của người đệ tử, song thầy
vẫn khoan thai rót trà mời chàng đối ẩm.
Diệp
chợt nghĩ rằng chung trà từ giả phải được chàng thọ
lãnh trong một sự tỉnh thức trọn vẹn. Vì vậy, chàng không
buông lỏng tâm niệm, mà trang trọng nâng chung trà, ý thức
giờ phút sống thực để uống trà một cánh chửng chạc.
Trong không khí yên lặng ấm cúng đó, Diệp cảm thấy như
từ thân thể thầy tỏa ra niềm an lạc làm chàng bình an và
hạnh phúc. Cái đạo đức vô hành này, trước đây, mỗi
khi tiếp xúc với thầy chàng vẫn mường tượng, nhưng lần
này, nhờ yên lặng tỉnh thức chàng đã đón nhận trọn vẹn
hơn.Thầy cũng chỉ rót nước uống trà bình thường, mà sao,
trong cử chỉ đó toả ra chất liệu nhẹ nhàng mà trang trọng
như một nghi lễ. Chính cái nghi lễ phát xuất tự nhiên đó
đã tạo nên phong thái thiền vị cho chư thiền sư, mà kẻ
phàm phu tục tử, dù có rập khuôn bắt chước, cũng chỉ
lập lại các hình thức khô khan gò bó mà thôi.
Diệp
lặng yên thưởng thức trà và chiêm ngưỡng phong thái của
thầy, đến khi chợt khám phá rằng đã quá khuya mới đứng
dậy cáo từ. Diệp ngần ngừ, nửa muốn thỉnh thầy một
lời khuyên bảo cho nghề nghiệp, nửa muốn giữ cái không
khí thiền trà nguyên vẹn, nên xá chào thầy thật thành kính
mà thôi. Đưa Diệp ra cửa, vô tình thầy vỗ vai chàng dặn
dò:
-
Con à!Người
Phật tử chỉ thấy lỗi mình chớ không thấy lỗi người.
Cho nên, nếu phải phán xét người thì rất dè dặt, tự hỏi
nếu mình ở trong hoàn cảnh của người thì sẽ hành động
như thế nào?
Diệp
là một thẩm phán trẻ phục vụ tại Toà Sơ Thẩm Sài Gòn.
Diệp vốn có một năng khiếu đặc biệt phù hợp cho ngành
thẩm phán. Một vụ án phức tạp, dù luật sư đôi bên có
tung hỏa mù như thế nào, chàng cũng thấy ngay điểm căn bản
cần tranh luận, và đưa ra những lý lẽ vững chắc viện
dẫn lý do cho phán quyết. Điều khiển cuộc tranh luận cho
phiên xử hình, Diệp cũng chửng chạc đường hoàng, không
lạc lối theo chi tiết thừa thải, mà khai thác đúng mức
những điểm cần thiết sao cho các yếu tố cấu thành tội
phạm, những điểm nghi vấn, gia trọng, giảm khinh đều được
phân tích kỹ lưỡng, nhờ đó, việc xét xử trở nên vô
tư minh bạch. Hăng say với chức vụ, yêu nghề, tự tin về
khả năng và tư cách của mình, Diệp vô cùng hãnh diện. Chàng
tự cho mình có thiên chức ban phát công lý cho người. Hành
xử quyền này, Diệp đặt trọn vẹn niềm tin trên luật pháp
công minh, rồi dùng thâm tín của mình để định án nhặm
lẹ tuyên xử "phăng phăng" dễ dàng, một cách vô tư lự,
không màn nghĩ tới một lời tuyên bố "nhẹ hìu, dễ ợt"
của mình lại là một biến cố trọng đại cho người trong
cuộc.
Nhờ
sớm thành công trong nghề, Diệp được thượng cấp bổ nhiệm
giữ chức vụ Chánh Aùn Toà Hoà Giải Rộng Quyền Kiến Phong.
Toà Hoà Giải Rộng Quyền là loại toà, về quyền hạn tương
đương với Toà Sơ Thẩm, nhưng về nhân sự thì chỉ có một
thẩm phán duy nhất giữ chức vụ Chánh Aùn, rổi kiêm nhiệm
cả chức vụ Biện Lý và Dự Thẩm nữa. Loại Toà Aùn này,
trên lý thuyết, trái với nguyên tắc phân quyền làm tổn
thương đến quyền lợi bị cáo: Một thẩm phán vừa truy
tố, điều tra rồi lại xét xử, dễ mang tiên kiến lúc sơ
vấn nên mất vô tư. Mặc khác, tập trung quyền hành thì sanh
lạm dụng, tha hay phạt tự do, mà có "nhám nhúa" cũng không
mấy khó khăn.
Điều
lạ lùng đối với Diệp, là tuy quyền hành được gia tăng,
nhưng niềm tự tin, niềm hãnh diện về nghề nghiệp cứ giảm
dần. Lời khuyên nhủ của bổn sư chàng vẫn tạc dạ không
quên, do đó, khi xét xử vụ kiện hình sự nào, chàng thường
tự đặt mình vào hoàn cảnh của bị cáo rồi mới phê phán
hành vi của họ. Từ đó, chàng khám phá rằng ngay cả những
bị cao "ác ôn" cũng chỉ là những kẻ tội nghiệp đáng thương,
thậm chí, xét cho kỹ thì dường như không mấy ai thật sự
đáng tội cả.
Trong
một phiên toà, xử một vụ giả mạo khai sinh để trốn quân
dịch, một tội rất thông thường trong thời chiến, bị cáo
là những kẻ thật thà, nhút nhát, đáng thương. nhưng tội
danh rõ ràng, nên Diệp chỉ thẩm vấn máy móc cho đúng thủ
tục:
-
Em bị
truy tố, tại Kiến Phong ngày tháng năm. về tội giả mạo
giấy khai sanh để trốn tránh thi hành nghĩa vụ quân dịch.
Em trả lời sao?
-
Dạ!
Dạ!
Câu hỏi
thì lòng vòng, mà bị cáo đang lúc sợ sệt bối rối, không
biết phải trả lời sao cho đúng, nên bị cáo chỉ dạ rồi
yên lặng. Diệp nhắc nhở:
-
Em nhận
tội hay không nhận tội?
-
Dạ!
Con nhận tội!
Hồ sơ
giản dị, tội phạm rõ ràng và bị cáo cũng nhận tội, như
vậy, Diệp đã có thể tuyên án phạt bị cáo 1 tháng tù là
xong. Thế nhưng, hôm đó nhìn vẻ mặt học trò ngơ ngác của
bị cáo, bỗng Diệp nảy sinh lòng lân mẫn. Chàng muốn buông
một lời an ủi: "Sao em dại quá! Muốn trốn quân dịch thì
có thể chạy theo các tổ chức tôn giáo, vào cảnh sát, vào
cán bộ xây dựng nông thôn, hội viên xã ấp., còn khờ khạo
sửa khai sanh thì dễ phát giác quá đi". Tuy nhiên, Diệp không
thể công khai biểu lộ điều đó, nên ngập ngừng, rồi hỏi
một câu lạc đề:
-
Tại
sao em lại phải cạo sửa khai sanh như vậy?
-
Dạ!
Tại con thi rớt!
Câu trả
lời giản dị đó khiến Diệp giựt mình. Chàng nghĩ may mà
mình thi đỗ liên tiếp nên mới được lên hương như ngày
nay. Còn như nếu mình thi rớt như bị cáo thì sao? Gia đình
mình thì nghèo chắc không mua nổi cấp bằng, mua giấy hoàn
dịch vì lý do sức khoẻ. Có lẽ rồi mình cũng giả mạo
khai sanh như nó. Nó hên thì nó ngồi chỗ của mình. Mình xui
thì mình đứng ở dưới vành móng ngựa đó. Nhìn thằng bé
đang gục đầu hổ thẹn, Diệp rất mong được vỗ về: "Em
ơi! Trốn quân dịch thì chẳng có gì xấu hổ! Ai mà chẳng
muốn trốn quân dịch. Chỉ khác ở điểm kẻ nhiều phương
tiện, may mắn thì trốn quân dịch hợp pháp, còn kẻ dại
khờ, kém may thì trốn quân dịch bất hợp pháp, vậy thôi".
Vụ
án khác gây giao động không ít cho Diệp là trường hợp bé
Nguyễn Văn Liên, 13 tuổi, can tội móc túi tại chợ Cao Lãnh.
Em Liên là trẻ bụi đời, không cha mẹ, không nhà cửa, từng
có 3 tiền án cũng về tội trộm, việc vào tù ra khám rất
thường tình, nên em không lộ vẻ gì sợ sệt. Trường hợp
này, nếu Diệp phạt Liên 3 tháng tù ở rồi quên phức đi
thì cũng an ổn tâm thần. Nhưng Diệp đã có thói quen, tự
đặt mình vào hoàn cản người khác rồi, nên chàng cứ suy
tư lẩm cẩm. Cở tuổi đó, nếu mình ở trong hoàn cảnh không
nhà cửa, không cha mẹ bà con nương tựa, thì làm cách nào
mà sinh sống đây, có lẽ, đành phải trộm cắp vậy. Từ
nhỏ, mình đã được cha mẹ, thầy học dạy bao điều đạo
đức, lại thọ tam quy ngũ giới với bậc cao tăng, mà lòng
tham lam của mình có giảm được bao nhiêu đâu? Vậy thì sao
mình lại có thể trách một đứa trẻ con, vốn kém may mắn
không được ai dạy dỗ, về tội tham lam trộm chút đỉnh
tiền còm để sinh tồn sao? Mà ở đất nước này, trộm cắp
cũng là việc bình thường quen thuộc của mọi người. Những
Ông tai to mặt lớn, từ vị lãnh đạo cao nhất nước cho
đến các vị chỉ huy tỉnh, quận đều là những tay ăn cắp
thượng thặng, mà có ai dám lên án họ đâu? Thật mỉa mai
khi Toà án, nhân danh công lý, để chỉ bắt nạt đám ăn cắp
lặt vặt, hối lộ tép riu, chớ nào đụng được "sợi lông
chân" của giới tham ô cá mập. Diệp cảm thấy thật xấu
hổ, khi nhớ mình đã từng tin tưởng tuyệt đối vào cán
cân công lý và hãnh diện về chức năng xử án của mình.
Diệp
gục đầu, không dám nhìn bị cáo, tuyên án nho nhỏ:
"Xác
nhận Nguyễn Văn Liên phạm tội trộm.
Truyền
giao bị cáo cho Trung Tâm Giáo Hoá Thiếu Nhi Thủ Đức cho đến
khi 18 tuổi"
Đó
là phán quyết mà Diệp tin tưởng là hợp lý, vì chàng hi
vọng bé Liên sẽ được dạy dỗ nên người và được huấn
nghệ để có tương lai về sau.
Hàng
tháng, hành xử chức vụ Biện Lý, Diệp vẫn thanh tra Trung
Tâm Cải Huấn Tỉnh. Thông lệ Diệp chỉ viếng phòng giam
thường phạm đã thành án và chánh trị phạm theo nguyên tắc
thuộc quyền quản chế của Bộ Nội Vụ. Khám đường khá
rộng, nhưng cũng không đủ sức chứa số tội nhân chánh
trị ngày càng gia tăng, nên chi, đêm đêm tù nhân phải chen
chúc nằm nghiêng sát vào nhau, - đôi khi còn phai co chân lại
- để ngủ. Phòng giam kín mít, nóng bức, mồ hôi tù ướt
đẫm đọng thành vũng trên nên xi măng, không khí ngột ngạc
hôi hám khiến cho đêm nào, cũng có người ngất xỉu. Theo
luật, thì tù nhân thiếu nhi phải giam giữ riên để tránh
tiêm nhiễm thói hư tật xấu của người lớn hoặc phòng
ngừa việc trẻ con bị hành hạ, lạm dụng tình dục. Vì
tình trạng thiếu phòng giam, nên thiếu nhi bắt buộc phải
giam lẫn lộn với người lớn. Đó là mối bận tâm của
Diệp, nên chàng lưu ý từng trường hợp thiếu nhi để giải
quyết trả tự do thật nhanh. Do đó, dù bé Nguyễn Văn Liên
nay là phạm nhân thành án, không còn thuộc quyền quản lý
của cơ quan tư pháp, Diệp vẫn theo dõi việc chuyển giao em
về trại giáo hóa. Từ đó, Diệp mới khám phá được sự
thật phủ phàng tại Trại Giáo Hoá Thiếu Nhi ở trong tình
trạng thặng dư nhân số từ lâu, nên không nhận thêm một
thiếu nhi nào nữa. Bộ Nội Vụ im lìm không thông báo cho
cơ quan tư pháp tình trạng thực tế, mà giải quyết âm thầm
là tiếp tục giam giữ trong khám thường đối với trẻ em
có bản án giáo hoá. Vô tình những bản an gởi đi giáo hoá
đầy tình thương lại trở thành những bản án khắc nghiệt.
Năm năm giáo hoá biến thành năm năm tù ở. Điều đó thật
trái lòng chàng. Đó là sự phi lý và bất công mà Diệp đã
làm vì chàng quá ngây thơ tin tửơng vào bộ luật thiếu nhi
phạm pháp đầy nhân đạo. Can thiệp với Toà hành chánh tỉnh
vô hiệu, Diệp thỉnh cầu Bộ Tư Pháp đặt vấn đề với
Bộ Nội Vụthì bị khiển trách đã dẫm chân lên quyền hành
pháp. Diệp thỉnh kế các vị đàn anh trong nghề, nhưng ai
cũng lắc đầu vô vọng trước nguyên tắc không thể xử
lại việc đã xử rồi. Năn nỉ mãi, Diệp được vị Chưởng
lý nhân từ, chấp nhận đưa nội vụ trở ra Toà, nếu như
đứa bé được một cơ sở từ thiện bảo lãnh và có phúc
trình của Trung Tâm Cải Huấn là bé Liên đã cải hối lỗi
lầm. Thế là thủ tục được tiến hành khẩn cấp. Viện
Chưởng lý, căn cứ vào sự kiện mới, nhân danh quyền lợi
của trẻ vị thành niên, yêu cầu Toà Kiến Phong xét xử trong
phòng thẩm nghị. Diệp mừng rỡ tuyên án phóng thích bé Liên,
sau khi đã điều đình với thầy Chánh đại diện Phật giáo
tỉnh nhận lãnh em về nuôi nấng dạy dỗ.
Kinh
nghiệm vụ bé Liên khiến Diệp cẩn thận hơn khi thanh sát
nhà giam. Chàng hỏi han săn sóc từng tội nhân, kể cả những
người không do chàng giam giữ, nhờ đó, chàng khám phá trường
hợp thương tâm của bé Cải. Bị cáo Nguyễn Thị A, bị truy
tố về tội thiến dương, khi bị Toà giam giữ đã mang thai
8 tháng. Bé Cải được mẹ sanh ra trong tù, nên em đành sống
kiếp tù tội bên mẹ gần 3 năm rồi. Vị Chánh án tiền nhiệm
khi giam người đàn bà, không ngờ đã giam luôn đứa bé vô
tội. Các viên chức thuộc Viện Chưởng lý cũng không ngờ
điều đó, nên thủ tục con rùa tư pháp kéo dài 3 năm rồi,
mà hồ sơ vẫn chưa đưa ra Toà đại hình xét xử. Ơû những
nước văn minh, Toà án khi giam giữ cha mẹ, có nhiệm vụ phải
tìm người bảo trở cho trẻ nhỏ. Trẻ em Việt Namkhông có
may mắn đó. Diệp thật xót xa, khi nghĩ đến tuổi trẻ thơ
ngây, thay vì được nuôi nấng trong bầu không khí lành mạnh,
bé Cải phải chôn vùi trong bốn bức tường u ám, chỉ biết
bầu bạn với lo âu, sợ hãi, bệnh hoạn, đói rách mà thôi.
Diệp
lên viện Chưởng lý vận động đưa nội vụ ra phiên xử
đại hình gần nhất.
Phiên
xử đại hình hôm đó thu hút đông đảo đồng bào tham dự,
một phần vì Toà Đại Hình long trọng với thành phần xử
án hùng hậu, với tiểu đội lính chào kính uy nghiêm. Phần
khác, vì vụ án thiến dương là vụ án gây xôn xao dư luận
mấy năm về trước.
Diệp
ngồi ghế Chánh thẩm, bên cạnh là hai vị thẩm phán phụ
thẩm và bốn vị bồi thẩm nhân dân. Sau khi xác định lý
lịch bị cáo, Toà tuyên bố xử kín vì liên hệ đến thuần
phong mỹ tục. Bị cáo Nguyễn Thị A khai vợ chồng thị ăn
ở với nhau được hai năm thì người chồng bắt đầu bỏ
bê lang chạ với những người đàn bà khác. Tình trạng đó
ngày càng tệ hơn, thị ghen tuông thì bị chồng chửi mắng
đánh đập, do đó, thị nghĩ đến việc thiến chồng, để
y vĩnh viễn là của riêng mình. Nghĩ sao làm vậy, chờ chồng
ngủ thị dùng lưỡi lam cạo râu thật sắc, cắt phăng "của
quý" chồng. Nạn nhân khai có bay bướm chút đỉnh, nhưng không
ngờ nết ghen của vợ quá dữ. Thừa lúc y ngủ, người vợ
cắt lìa "của quý", y được lối xóm chở ngay đến bệnh
viện chữa trị. Nhờ phái đoàn hợp tác y tế Hoa Kỳ lưu
động đến Kiến Phong trong thời gian nầy may vá lại, mấy
tháng sau thì y lành lặn bình thường. Sau đó, y thỉnh cầu
Toà án cho ly dị với Nguyễn Thị A, rồi kết hôn với người
đàn bà khác, nên không thể lo lắng gì được cho bé Cải.
Tội
thiến dương nguyên là tội cố ý gây thương tích với trường
hợp gia trọng là thiến bộ phận sanh dục nam giới. Tội
cố ý gây thương tích thường chỉ là tội tiểu hình, hình
phạt tương đối nhẹ. Nhưng với trường hợp gia trọng thiến
dương thì hình phạt là khổ sai chung thân. Trong trường hợp
này, dầu được khoan hồng tối đa thì hình phạt nhẹ nhất
là 5 năm cấm cố. Vì vậy, khi ban hình nghị án, Diệp trình
bày về hoàn cảnh đáng thương của bé Cải, để thuyết
phục mọi người chỉ xác nhận tội cố ý gây thương tích
thường và trả lời không đối với câu hỏi về trường
hợp gia trọng. Nhờ vậy, Diệp có thể tuyên án vừa phải
để mẹ con Nguyễn Thị A, được tự do ngay sau phiên xử.
Kết
thúc phiên xử đại hình, Diệp cảm thấy mệt mỏi, nên lái
xe đến chùa Tỉnh Hội Phật Giáo, hi vọng tìm được phút
giây an nhàn thoải mái. Sau phần lễ Phật, Diệp đàm đạo
với thầy Chánh đại diện. Câu chuyện không chủ đề lần
lần xoay quanh vụ án nóng hổi. Hình ảnh của một Hoạn Thư
thời đại khiến Diệp liên tưởng đế câu truyền khẩu
quen thuộc, nên hỏi thầy:
-
Thưa
thầy! Người ta nói: "Cao Lãnh có hai điều nổi tiếng: Thứ
nhất đàn bà, thứ hai gà chọi", ý nghĩa như thế nào? Thưa
thầy!
-
Lời
phê phán đó đã xuất hiện lâu đời, nhằm đề cao đức
tính can trường chớ không chỉ cho tính dữ dằn hoặc ghen
tuông. Nguyên gà nòi Cao Lãnh được nổi tiếng vì gan lì,
chiến đấu đến chết chớ không thua chạy. Đàn bà Cao Lãnh
vào thời người Pháp xua quân đánh chiếm ba tỉnh miền Tây,
đã sát cánh với chồng chiến đấu chống xâm lăng trong đội
quân của Thiên Hộ Võ Duy Dương. Khi Pháp đánh chiếm Cao Lãnh,
nghĩa quân bị tan rã phải rút về Đồng Tháp. Trong hàng ngàn
xác chết, người ta đếm được cả trăm nữ phái. Đàn bà
Cao Lãnh đã nổi tiếng từ đó.
-
Tinh thần
bất khuất của người xưa đến nay con mới được biết,
thật là đáng tiếc!
-
Có việc
này, cũng là việc người xưa mà tôi dự định trình bày
với Ông Chánh án mấy lần, nhưng cứ ngần ngại.
-
Xin thầy
cứ tự nhiên.
-
A! xưa
có một người hành nghề ti tiện được tổ sư tôi cho cất
một chòi lá cuối miếng đất chùa để cư trú. Một hôm,
người ấy đến gặp tổ sư báo tin sắp lìa trần, nên xin
tổ sư lo giúp những nguyện vọng đã ghi trong phong thơ lớn
dán kín. Tổ sư tuy thấy người có thái độ kỳ lạ, nhưng
vẫn nhận lời ủy thác, rồi dặn dò đệ tử luân phiên
viếng thăm theo dõi. Chỉ hai ngày sau, thì sư phụ tôi khám
phá được người ấy đã chết trong tư thế ngồi thiền,
trong chiếc chòi lá. Lúc đó, mở phong bì ra, đọc thơ uỷ
thác, thầy tổ mới biết người là một vị sư, sở học
cao rộng, đội lốt cư sĩ hành nghề ti tiện để lập hạnh.
Ngài để lại một số tiền lớn, trích một phần để hoả
táng, phần lớn còn lại xin để tu bổ ngôi chùa. Ngoài ra,
người xin tổ sư lưu truyền phong thơ còn lại, cho đến khi
có vị thẩm phán họ Trương đến trấn nhậm tại Cao Lãnh
thì xin trao lại dùm. Thuở đó, Cao Lãnh chỉ là quận của
Sa Đéc, mà Sa Đéc cũng chưa lập được Toà án, nên mọi
việc tranh tụng đều thuộc thẩm quyền của Toà Sơ Thẩm
Vĩnh Long. Di vật của người xưa truyền đến đời tôi là
ba đời, tôi cũng không tin tưởng thực hiện được. Không
ngờ Cao Lãnh lại được biến cải thành tỉnh, rồi Toà án
cũng được thành lập. Và bây giờ, Ông Chanh án lại đúng
họ Trương. Nên theo đúng di chí của người xưa tôi xin trao
lại phong thơ này cho Ông Chánh án.
Câu chuyện
thật hoang đường khó tin, Diệp lịch sự, không biểu lộ
vẻ nghi ngờ, nhưng cũng ngần ngại không cầm phong thơ, mà
chỉ hỏi:
-
Thưa
thầy! Chữ nho ngoài phong bì ý nghĩa ra sao vậy thầy!
-
Trương
công Tường tuyệt bút - Thầy Chánh đại diện, vừa chỉ
từng chữ, vừa đọc
Diệp
kinh sợ đến rợn người. Oâng cố chàng chính tên là Trương
Công Tường, người đã đi làm cách mạng chống Pháp rồi
bị mất tích, không ngờ người lại viết chúc thơ để lại
cho mình. Diệp hấp tấp, mở phong thơ cổ kính ra, xin thầy
đọc và giải thích dùm nội dung di cảo.
***
Trương
Công Tường là con thứ của cố lãnh binh Trương Công Định,
vị lãnh tụ kháng chiến chống Pháp tại các vùng Tân An,
Gò Công. Khi thân phụ bị tên Việt gian Huỳnh Công Tấn bội
phản hướng dẫn bọn chó săn Pháp phục kích tử trận tại
Chợ Gạo ngày 19.8.1864, thì Tường mới 18 tuổi, quá nhỏ
bé không thể theo anh là Trương Công Huệ, lui quân về Tây
Ninh tiếp tuc chiến đấu. Tường được mẹ đưa đi lẫn
trốn tại Rạch Kiến, rồi dời đến Gò Đen, mà vẫn bị
bọn Huỳnh Công Tấn rình rập. Sau cùng, mẹ con phải di chuyển
đến Ba Tri, nương náu với người bạn thâm giao của thân
phụ là cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu. Theo học với cụ đồ
gần 10 năm tuy văn tài đã vượt bực, nhưng Tường không
hề nghĩ đến việc thi cử theo truyền thống xưa vẫn còn
tổ chức tại Trung và Bắc kỳ để vinh thân phì gia. Chàng
chỉ tâm niệm nối chí cha đem thân mạng của mình để trang
trải cho đất nước. Tuy nhiên, Tường lại là người con
chí hiếu vâng phục mẹ. Cụ bà thương con ngăn cấm con theo
vết chân cách mạng hiểm nghèo. Do đó, Tường phải chọn
nếp sống thôn dã phụng dưỡng mẹ. Rồi chàng cũng phải
lập gia đình, để cho người mẹ già trọn đời khổ sở
hi sinh cho chồng con, được yên lòng. Tuy nhiên, Tường vẫn
ngấm ngầm chuẩn bị con đường cách mạng của mình. Chàng
tự học chữ quốc ngữ, chữ Pháp để nâng cao trình độ
hiểu biết, rồi liên lạc kết giao với những người đồng
chí hướng. Đến năm 1893, cụ bà qua đời. Trong các nhân
vật đến phúng điếu, có rất nhiều phần tử cách mạng,
kể cả Trần Cao Vân, người bạn trẻ mới vừa ra tù, nên
mật thám Pháp bắt đầu hoài nghi hoạt động của Tường.
Sự kiện đó thúc đẩy Tường thoát ly để dấn thân cho
đại cuộc.
Cùng
với Trần Cao Vân, Tường đã bôn ba từ Bắc chí Nam để
kết nạp đồng chí, họp bàn kế hoạch khởi nghĩa. Lúc đầu,
đối tựơng chọn lựa đồng chí lẫn quẫn trong giới sĩ
phu. Lần lần, Tường nhận chân rằng nho giáo suy đồi mất
hẳn vai trò lãnh đạo quần chúng, vì kẻ đắc thời thì
chỉ cúc cung trung thành với mẫu quốc, kẻ thất thời thì
cô đơn lạc lỏng trước làn sống tân học rộn rịp. Để
tránh sự doom ngó của chánh quyền, những người yêu nước
thường xử dụng chùa chiền như một quán trọ, một điểm
hẹn vừa an toàn vừa miễn phí. Từ đó, những người yêu
nước khám phá rằng chùa chiền vẫn giữ vững vai trò hướng
dẫn tinh thần quần chúng, vì vậy, việc tổ chức kháng chiến
chống Pháp, nếu muốn gặt hái thành công nhất định phải
được hậu thuẩn của giới tu sĩ Phật giáo.
Trần
Cao Vân, thiếu thời tu tại chùa Cổ Lâm, làng An Định, Quảng
Nam, từng liên hệ với các tổ đình miền Trung, nên được
ủy nhiệm móc nối các tu sĩ yêu nước. Cuộc vận động
tiến hành theo chiều hướng thuận lợi. Trong số tu sĩ được
kết nạp có Võ Trứ, đệ tử của Hoà Thượng Đá Bạc,
là người yêu nước nhiệt thành, lại có khả năng lãnh đạo,
tổ chức, nên đã tạo dựng được một hậu thuẩn sâu rộng
trong quần chúng Phú Yên. Trong một phiên họp cấp lãnh đạo
tỉnh nhằm ngày rằm tháng bảy năm Đin Dậu (1897) tại chùa
Từ Quang, núi Đá Trắng, Sông Cầu, một chương trình hành
động đã được chuẩn phê cho một cuộc nổi dậy đồng
loạt khắp Trung kỳ vào cuối năm 1899. Theo kế hoạch, Võ
Trứ được ủy thác công tác xây dựng lực lượng dân quân
hai tỉnh Bình Định và Phú Yên. Trần Cao Vân lãnh trách nhiệm
Nam Ngãi và Trương Công Tường phụ trách từ Khánh Hoà trở
về Nam. Võ Trứ phát triển tổ chức quá nhanh chóng. Cán bộ,
dân quân kết nạp tương đối dễ dãi, do đó, đã lộ vài
sơ hở khiến mật thám Pháp phát hiện vài manh mối để phát
động chiến dịch truy lùng các phần tử cách mạng. Trong
tình thế tấn thối lưỡng nan đó, cuối tháng 8 năm 1898,
Võ Trứ đột ngột đơn phương quyết định đưa dân quân,
dàn thành ba mặt tấn công vào tỉnh lî Phú Yên. Quyết định
hấp tấp này, khiến dân quân các tỉnh lân cận bối rối
vì không kịp chuẩn bị nên bất động, và do đó, cuộc nổi
dậy tại Phú Yên trở nên đơn độc. Chỉ trong một thời
gian ngắn, dân quân quả cảm nhưng ô hợp, đã bị toán lính
tập tinh nhuệ đánh tan rã, và tàn sát thảm khốc. Các nhân
vật lãnh đạo, trong đó có Võ Trứ và hoà thượng Từ Quang
lần lượt bị bắt giữ. Để tránh tổ chức bị phá vỡ
toàn diện, các cơ sở dân quân tỉnh lân cận quyết định
tự giải tán. Các nhân vật lãnh đạo phân tán khắp nơi
che dấu tung tích. Trần Cao Vân được đệ tử đưa lên miền
Thượng du trốn trong động Bà Thiêng. Tường vội vã lánh
về miền Nam, nhưng thấy khó thoát màn lưới mật thám bủa
vây, và nhớ lời dặn dò của sư cụ Từ Quang, nên tìm đến
am Linh Quang, núi Trà Cú, Phan Thiết để nương náu với pháp
đệ của sư là sư Huệ Đạt.
Khi
đã dấn thân làm cách mạng, Tường đã chấp nhận cái chết
nhẹ nhàng, nhưng tin tức vụ hành hình các nhân vật lãnh
đạo "giặc thầy chùa", vẫn khiến cho Tường xúc động mãnh
liệt. Tường lang thang đứng bên ghềnh đá cheo leo, lòng rối
ren trăm mối. Tuyệt vọng vì tổ chức tan nát, ước mơ khởi
nghĩa sụp đổ, thân trai đành nhục nhã trước cảnh ngoại
bang xâm lượt đất nước mà không làm gì được, tất cả
điều đó khiến Tường mất hẳn ý chí sinh tồn, chàng muốn
giao mình tự tử đền nợ nước như người xưa. Bỗng dưng
hình bóng khả kính của sư Từ Quang hiện về. Hoà thượng
là bật đạo đức cao tăng, bao dung che chở cho các phần tử
yêu nước nên bị anh em lợi dụng, biến ngôi chùa thành địa
điểm hội họp, rồi đẩy đưa sư vào con đường nguy hiểm.
Thật ra, sư chủ trương tranh đấu bất bạo động, và dĩ
nhiên, không đồng tình với giải pháp khỡi nghĩa vũ trang
đẫm máu khó thực hiện. Sư khuyên lơn năn nỉ mãi, nhưng
không ai nghe. Mặc dù ý kiến bất đồng, sư vẫn vui vẻ hết
lòng hết sức đóng góp cho tổ chức, bởi vì "kẻ tu hành,
đối với việc phải thì đem hết thân sức mình ra phục
vụ, có chết cũng không từ nan. Tuy nhiên, làm mà không mong
cầu, không hậu ý, không để tâm vọng động với thịnh
suy, thành bại. Thành cũng không mừng vui kênh kiệu. Bại cũng
không chán nản đau buồn". Tường bỗng bình tỉnh trở lại.
Lời nói của sư ngày xưa, giờ đây Tường mới hiểu đó
là lời dặn dò cho chàng trong bước đường cùng tuyệt vọng.
Chàng đã hết lòng hết sức mình phục vụ cho đất nước
là đủ. Việc thất bại không có gì đáng hổ thẹn, buồn
phiền nữa. Nhìn lại bộ áo thầy tu, mà chàng đã tạm mặc
từ ngày lên núi, tự nhiên Tường quyết định, dù tu bất
đắc dĩ tạm thời, thì Tường cũng phải hành sao cho đàng
hoàng, chững chạc, thì mới không có phụ lòng thương bao
la của hoà thượng Từ Quang và sư Huệ Đạt.
Thế
rồi Tường bắt đầu để tâm học Phật. Càng tìm hiểu,
Tường càng thấy đạo Phật chất chứa tinh thần bình đẳng
phá bỏ giai cấp, lại đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn
muôn loài, thật là phù hợp với hoài bảo cách mạng mà chàng
ấp ủ. Huống chi, Phật giáo lại tạo dựng tinh thần hùng
anh cho cả nước. Trong thời Phật giáo hưng thịnh Lý Trần,
thì đất nước ta oai dũng phạt Tống, phá Nguyên, bình Chiêm.
Khi Phật giáo suy đồi mà nho giáo hưng thịnh, thì nhân tâm
mới ly tán, đất nước lầm thang. Từ đó, Từơng lại mang
hoài bão đem đạo Phật đi vào cuộc đời, xây dựng phục
hưng Phật giáo tức là xây dựng và phục hưng đất nước.
Từơng
chánh thức thọ giới sa di, pháp danh Tâm Tịnh, rồi chỉ hai
tháng sau thọ cụ túc giới. Nhờ saün có trình độ hán học
uyên bác và tinh thần quyết tâm cầu học, chẳng bao lâu,
TâmTịnh đã được thầy trao truyền trọn vẹn sở đắc
Phật Pháp. Dù vậy, mỗi khi có vị tôn túc hoà thượng nào
giảng dạy kinh luận, sư cụ Huệ Đạt thường gởi đệ
tử đến theo học, nhờ vậy, TâmTịnh có dịp trao dồi thêm
kiến thức Bát Nhã với Hoà Thượng Thập Tháp Bình Định,
Duy Thức với hoà thượng Thiến Aán Quảng Ngãi, Lăng Già
với Hoà Thượng Pháp Aân Phú Yên. Tu tập hơn chín năm, tuổi
ngoài 50, TâmTịnh nghĩ đã đến lúc xả thân phục vụ cho
dân tộc và đạo pháp. Sư đề khởi dự án vận động một
cao trào cách mạng giáo chế, giáo sản và giáo lý, theo đó,
giáo hội thống nhất vững mạnh quản lý tài sản chung để
đủ năng lực hoàn thành sứ mạng đào tạo tăng tài, hứơng
dẫn Phật tử tu học trên căn bản thực tiễn xây dựng xã
hội làm đẹp cuộc đời, đồng thời loại bỏ những hủ
tục mê tín dị đoan ra khỏi cơ sở Phật giáo.
Để
tiến hành ước mơ hoằng dương này, TâmTịnh chọn Phan Thiết
làm thí điểm. Thầy tạm trú với pháp huynh Tâm Không tại
Long Hoa tự, tỉnh lî Phan Thiết. Tâm Không, tuy mới hơn 40
tuổi, nhưng đã xuất gia trước TâmTịnh gần 10 năm, nên
đã xây dựng được một uy thế khá vững tại đây. Tâm
Không sốt sắng hướng dẫn TâmTịnh liên lạc các vị trụ
trì trong tỉnh để trình bày viễn ảnh một tổ chức Phật
giáo thống nhất. Đồng thời, TâmTịnh cũng bắt đầu đăng
đường thuyết giảng Phật Pháp cho giới cư sĩ. Nhờ lối
trình bày đạo Phật thực tiễn, xử dụng phương pháp nghiên
cứ tân học, dễ hiểu, rõ ràng, hợp với khoa học. nên những
bài pháp đã thành công rực rỡ. Phật tử trẻ tân học quy
ngưỡng về sư đông đảo, tạo thành một phong trào học
Phật hào hứng tại địa phương. Aûnh hưởng đó lan rộng
mãi, làm giới người Pháp cũng hiếu kỳ tìm hiểu. Thoạt
tiên, Ông Tây nhà giây thép (2) đến quy y với sư, rồi Ông
ta kéo theo Ông Kho Bạc và Ông Trường Tiền nữa. Trong khi
ấy, việc vận động về một tổ chức giáo hội thống nhứt
trong giới tu sĩ lúc đầu phấn khởi, nhưng ngày càng đình
trệ do những nguyên nhân thầm kín khó mở lời. Nguyên TâmTịnh
là mẫu ngừơi dấn thân cho lý tưởng, trọn đời dâng hiến
cho dân tộc và đạo pháp, nên lầm tu sĩ nào bụng dạ cũng
như mình. Thật ra, tuy các ngài lúc nào cũng đề cao thuyết
vô thường, vô ngã, nhắc nhở đệ tử buông xả để khỏi
đắm nhiễm cuộc sống giả tạm., nhưng tâm phần đông các
Ngài lại bám riết vào cái chùa tư hữu, để bảo vệ "cái
ta" thật lớn, xây dựng đám đệ tử riêng của ta thật trung
thành., nên không mấy ai tán đồng đường lối cách mạng
giáo sản. Còn việc mê tín dị đoan, tuy sai lệch giáo lý
nhà Phật, nhưng lại là phương tiện hữu hiệu để kiếm
tiền bỏ đi thật là bất tiện. Ngoài ra, sự kiện sư TâmTịnh
bành trướng thế lực mạnh và nhanh quá lại sanh phản ứng
bất lợi ngấm ngầm. Phật tử khắp nơi đổ dồn về quy
y sư rồi lơ là với chùa cũ, khiến cho các vị tu sĩ bụng
dạ hẹp hòi đâm ra ghen ghét. Gần đây, TâmTịnh nhận thấy
dường như pháp huynh Tâm Không có điều chi là lạ mà xa lánh
mình, nên dự định tìm pháp huynh để hàn huyên, đồng thời,
cũng thử đề nghị pháp huynh gánh vác chức vụ thủ quỹ
tạm cho Ban Vận Động Thống Nhứt, hầu nhận giữ số tiền
cúng dường khá to, mà trong các thời pháp, sư đã quyên góp
được. Sư chưa kịp rời phòng, thì bỗng có người tín nữ
tên Diệu Đức hấp tấp chạy vào chùa với vẻ khẩn trương,
ràn rụa nước mắt, lấp vấp tiếng được tiếng không:
-
Nguy rồi
thầy ơi! Người ta ở Chùa này, tố cáo với Ông Cò Mật
thám rằng thầy chính thật tên là Trương Công Tường, một
lãnh tụ của "giặc thầy chùa", giả dạng làm thầy tu để
mưu đồ chánh trị chống Pháp. Chồng con cho biết Ông Cò
đã điện về Saigon và Phú Yên để điều tra lý lịch thầy.
Chắc rồi sẽ có lệnh bắt thầy ngay hôm nay.
Chồng
của tín nữ Diệu Đức là cánh tay mặt của viên Cò Mật
thám nên đã cho tin rất chính xác. Tục danh của sư giữ bí
mật, làm sao Mật thám biết được, nếu không bị tố giác
từ kẻ thân tình.
Sư
bình tỉnh mở tủ chọn vài vật tuỳ thân kèm theo một ít
tiền dằn túi, để chuẩn bị đi ngay. Gói bạc kết sù trong
tủ, - có chăng là nguyên nhân khiến cho lòng người thay đổi
chăng? - thì sư để lại. Sư đã phát nguyện cúng dường
số tiền này cho công cuộc vận động thống nhứt giáo hội,
nên hi vọng, pháp huynh Tâm Không nghĩ lại, xử dụng tiền
đúng theo hoài bão mà hai huynh đệ đã thao thức vạch ra.
Rồi
sư lặng lẽ ra đi. Sư đón xe đi về hướng Phan Rang, nhưng
vừa đến Mũi Né thì ghé lại, tìm người đệ tử thân tín
để dùng thuyền đánh cá xuôi về Bà Rịa. Nhờ cẩn thận
đánh lạc hướng bọn Pháp, sư lẫn trốn về Gia Định an
toàn. Đoạn sư chọn ngôi chùa Hưng Long tại xóm Cây Quéo
vắng vẻ để xin tá túc. Thời gian này, TâmTịnh bị khủng
hoảng tinh thần trầm trọng. Sư khổ đau bức rức đến mức
điên loạn vì triển vọng rực rỡ của công cuộc vận động
chấn hưng Phật giáo đã bị phá hủy bởi kẻ gian hiểm,
khiến cho sư vĩnh viễn không thể lộ diện để gánh vác
bất cứ một trọng trách công khai nào cho dân tộc và đạo
Pháp. Sư không muốn nhớ nghĩ tới mà tất cả những sự
việc xưa đều hiện về để rồi thương yêu, vui buồn, hờn
giận. thi nhau cấu xé tâm nào sư. Sư chán nản tu tập, ghét
bỏ hạnh nguyện, phỉ báng tương lai mình. Thậm chí, sư định
hoàn tục, nhưng hoàn tục để làm gì? Để trả thù chăng?
Sư phân vân không hiểu cả chính mình?
Sống
trong chùa lạ, để tránh bị hoài nghi, sù trong tâm sư hổn
loạn như một bãi chiến trường, sư cũng che giấu bằng cánh
bận rộn đọc tụng kinh điển. Sư đọc tụng như một cái
máy vô tri, bởi vì tâm của sư lúc nào cũng chỉ lẩn quẩn
với quá khứ đau buồn hay phiêu lưu theo tương lai vô vọng
mà thôi. Một hôm, nhân tụng một phẩm kinh nhỏ, nhan đề
"Kinh người biết sống một mình" (3), sư có cảm giác gì
khác lạ nên đọc lại lần nữa:
"Đừng
tìm về quá khứ
Đừng
tưởng tới tương lai
Quá
khứ đã không còn
Tương
lai thì chưa tới
Hãy
quán chiếu sự sống
Trong
giờ phút hiện tại
Kẻ
thức giả an trú
Vững
chãi và thảnh thơi
Phải
tinh tiến hôm nay
Bỗng
ngày mai không kịp.
Sư
tức khắc quán chiếu sự sống trong giờ phút hiện tại,
và trong khoảnh khắc sư an trú được trong chánh niệm. Bao
nhiêu mây mờ dẫn dắt về quá khứ và tương lai đều bị
xoá tan, như khi mặt trời xuất hiện thì bóng tối liền biến
mất. Sư bình tỉnh rút tỉa được những kinh nghiệm tu tập
bản thân đắc giá. Thực tế là bao năm dài tu ẩn non cao,
sư tự hào mình đã diệt được thất tình, không ngờ khi
đối diện với bẩy rập của xã hội, thì mới khám phá
được rằng công phu hàm dưỡng của mình vẫn chưa thành
tựu. Tham sân si trốn biệt trong hốc kẹt sâu thẩm, chỉ
chờ đủ cơ duyên là đã hoành hành dữ dội. Té ra, "tu ở
chợ" tuy ồn ào, dễ bị sa ngã, nhưng cũng giúp hành giả
khảo sát được chính mình. Thảo nào, chư cổ đức sau khi
ngộ đạo, thường "thỏng tay vào chợ" độ đời để loại
trừ vô minh vi tế còn sót lại. Nghịch duyên tại Phan Thiết
biết đâu chẳng là điều may mắn, nhắc nhở mình tu tập,
nếu không, say mê với thành công lớn lao, tham sân si sẽ có
dịp tăng trưởng, thúc đẩy mình hành động tồi bại mà
cứ tưởng là độ đời.
Không
thể công khai hoằng pháp, sư quyết tâm chọn con đường thiền
định để đạt giác ngộ, nên bắt đầu đi tham lễ khắp
các tự viện, bái yết chư tôn túc hoà thượng cầu pháp
tham thiền. Sư được hoà thượng Tập Phước (Gia Đinh) dạy
tham công án "Vô" (4) của tổ Triệu Châu. Sư theo đó chuyên
cần tham cứu đêm ngày đã được 3 năm. Tuy nhiên, sư chỉ
an lạc trong thiền duyệt mà không khởi nghi tình được. Cổ
đức dạy: "Nghi lớn ngộ lớn. Nghi nhỏ ngộ nhỏ. Không nghi
không ngộ". Nguyên TâmTịnh là bậc học cao hiểu rộng. Kinh
điển nào sư cũng tinh thông. Ngữ lục nào sư cũng đọc qua.
Công án nào sư chẳng từng nghiên cứu, suy luận, tìm hiểu.
Sư đã nắm vững được lý như huyễn, và dùng lý này như
gươm báu đốn ngã tất cả công án không còn gì trở ngại.
Điều đó chứng tỏ sư đã có kiến giải về công án, nhưng
ngộ đạo thì chưa được.
Sư
phân vân mong mỏi được chư tôn túc hoà thượng chỉ dạy
chỗ bế tắc, nhưng hoà thượng Tập Phước đã qua đời.
Sư bái kiến hoà thượng Tây Hưng (Sa Đéc) thì ngài dạy tham
công án "Càn thỉ quyết" (5) tức "Que cứt khô" của tổ Vân
Môn. Sư dụng công thì cũng rơi vào tình trạng cũ. Trong thời
gian này, TâmTịnh được thân cận với sư Chí Thành, người
bạn trẻ hơn sư vài tuổi, nhưng qua phong thái an nhiên tự
tại của Chí Thành, TâmTịnh thầm hiểu bạn mình đã có
sở ngộ đặc biệt. Chí Thành khuyên TâmTịnh tham vấn sư
phụ mình là hoà thượng Phi Lai tại Châu Đốc, để được
dẫn dắt. Sư tu tập tại chùa Phi Lai hai năm trời ròng rã,
công quả cực nhọc không kể xiết, mà tâm không hề thối
chuyển. Một hôm, sư lấy hết can đảm quỳ lạy hoà thượng
để xin người chỉ giáo.
Hoà
thượng Phi Lai yên lặng nhìn TâmTịnh thật lâu, đoạn phán
hỏi:
-
Tây Hưng
dạy ngươi những gì?
-
Dạ thưa!
Ngài dạy con tham cứu công án "Càn thì quyết".
Hoà
thượng bỗng nhiên nổi giân, người gầm lên:
-
Đồ
mất dạy! Sao ngươi dám nói với ta chuyện dơ dáy đó. Thèm
que cứt khô thì cứ nhảy vào đống phân mà ngửi.
Thái
độ bất ngờ của hoà thượng làm TâmTịnh bối rối, chẳng
biết làm sao cho phải. Đang chần chờ, thì hoà thượng đã
xua đuổi quyết liệt:
TâmTịnh
thất vọng não nề. Hai năm thấp thỏm đợi chờ để đón
nhận thái độ tàn nhẫn phủ phàng ngày hôm nay. Thầy lầm
lũi lấy khăn gói ra đi.
Khi
TâmTịnh vừa bước ra đến cổng, thì hoà thượng bỗng cất
tiếng hét thật to:
Tiếng
hét đinh tai nhức óc khiến TâmTịnh bàng hoàng lơ lửng như
chơi vơi giữa vùng tối sáng hỗn tạp. Trong phút giây nghiêm
trọng đó, tiềm thức tê liệt của sư vẫn gắng going suy
tư. Sư biết "Buông xuống đi" (6) là một công án của tổ
Triệu Châu, và cũng là lời Phật dạy cho người bà la môn
tên Móng Tay Đen (7). Tưởng gì chớ điệp khúc này thì TâmTịnh
đã nghiên cứu tường tận và đã có saün sàng đáp số.
Nghĩ đến đó thì TâmTịnh chợt tỉnh lại. Chàng biết mình
rồ dại đem cái suy tưởng phân biệt để đo lường cảnh
giới giác ngộ là việc vô dụng. TâmTịnh nhìn lại hoà thượng,
thì thấy hoà thượng lắc đầu tỏ vẻ thất vọng. Biết
mình đã bỏ một cơ hội lớn không thể cứu vãn được,
TâmTịnh quì lạy hoà thượng cảm tạ ơn chỉ giáo, rồi
lũi thủi đi trong thê lương ảm đạm.
TâmTịnh
đón chiếc tàu Nam Vang về Saigon. Ngồi trên tàu, vừa nhìn
giòng sông Cửu Long êm ả, TâmTịnh vừa suy tư về tiếng
hét của hoà thượng Phi Lai. Thầy tự hỏi mình còn đang mang
nặng thứ gì mà chưa có thể buông xuống được đây? Thầy
quan sát đạo hạnh của mình. Sư thông minh học rộng, lại
hưởng trọn vẹn hào quang anh dũng của cha anh, nên từ thuở
niên thiếu cho đến khi đi làm cách mạng, sư đã được mọi
người quí mến, kính trọng. Khi sư đến Linh Quang tự ẩn
thân cũng được hoà thượng Huệ Đạt đón tiếp như thượng
khách. Rồi sau đó, khi sư thờ hoà thượng làm sư phụ, thì
hoà thượng trước sau vẫn đối xử đặc biệt, hướng dẫn
sư tu học như một ngừơi bạn hơn là rèn dạy đệ tử.
Sư thiệt thòi vì không có thời gian làm chú tiểu khờ khạo
để được thầy chăm sóc cho những bước đầu tu tập chập
chững. Sư không bị rầy la, trách mắng, chịu trừng phạt.
Sư cũng không hề chăn trâu, gánh nước, chẻ củi, cuốc đất,
nấu cơm, cũng không bị bắt buộc chuyên cần hai thời khoá
công phu trong chùa như người khác. Sư đã thiếu hẳn phần
tu phước tưởng như hời hợt, nhưng lại có căn bản vững
chắc ảnh hưởng suốt đời kẻ tu tập. Sư lại có khuyết
điểm là thông minh tài giỏi quá. Sư nghiên cứu tìm hiểu
toàn những giáo lý thượng thừa. Kinh, Luật, Luận nào sư
cũng thông suốt, nên pháp từ của bất cứ bậc cao tăng nào
cũng tầm thường: sư đã biết từ lâu rồi, hoặc cũng không
thấy có gì mới lạ. Do đó, không có pháp gì được sư trân
quí, nâng niu, ôm ấp ngày đêm mà tri hành, cho nên, dù tu suốt
đời thì sư cũng chỉ là một học giả uyên bác, chớ không
thể là một hành giả chân chính được. Chính kiến thức
bao la của sư được củng cố bằng niềm tự hào sâu kín,
đã biến thành một khối cứng ngắt để sư bám chặt vào
đó, đâu có thèm nhận thêm điều gì nữa đâu là sự giác
ngộ.
Hiểu
được chính mình, sư liền tìm phương pháp điều trị. Tàu
dừng lại chợ Cao Lãnh, nên sư cũng ghé chợ mua một bộ
quần áo cũ, để giả trang thành một người dân nghèo tầm
thường. Sư đến ngôi chùa làng Hoà An, tục danh Miểu Trời
Sanh, để xin vị trụ trì cho tá túc ở miếng đất hoang sau
chùa mà tu hành dưới lốt cư sĩ. Rồi sư lẩn quẩn tại
làng Hoà An và Mỹ Trà để xin làm công lặt vặt kiếm sống
đấp đổi qua ngày. Bây giờ thì không còn ai long trọng kính
cẩn: "Bẩm thầy! Bẩm đại sư!." nữa. Người ta gọi sư
là Chú Năm, anh Năm hay thằng Năm Tịnh. Thằng Năm Tịnh thật
thà chân chất, bị người ta bốc lột, lường gạt, mắng
nhiếc. cũng cười hềnh hệch, nên được gán cho bí danh Năm
Khờ. Năm Khờ len lỏi sống chung đụng với đủ hạng người
mà lại lãnh hội được yếu lý thiền thâm trầm hơn thời
làm một nhà sư khả kính.
Một
hôm Năm Khờ đang cuốc đất làm mướn cho một gia chủ thuộc
xã Mỹ Trà, thì thấy viên Hương Thân xăn xái đi lại.
-
Ê! Năm
Khờ! Lại biểu!
-
Dạ thưa
thầy Hương Thân có điều chi dạy bảo.
-
Thằng
Năm! Mầy có chịu làm phu đổ thùng không? Có tiền khá lắm!
Nguyên
người phu đổ thùng cầu tiêu cho các khu phố chợ Cao Lãnh
bỏ đi mất, ban hội tề tìm người thay thế mãi mà chưa
được. Nghề bần tiện hôi thúi bị người đời tẻ lạnh
khinh khi, nên dù trả tiền nhiều mà chẳng ai ham. Chỉ một
tuần lễ thiếu phu thùng mà cả chợ hôi thối bẩn thỉu
khiến Ông Tây Chủ Quận nổi giận gắt ầm lên. Hương Thân
sực nhớ đến Năm Khờ dễ dụ nên mới tìm đến gạ gẫm.
TâmTịnh
tuy quyết định chọn nếp sống kham khổ để lập hạnh,
nhưng quả thật không ngờ có kẻ đề nghị mình hành nghề
phu thùng. Sư ngần ngừ một chút, rồi quyết định đồng
ý. Công việc hằng ngày của sư cũng dễ thôi. Xế trưa, chợ
búa bắt đầu thưa thớt, sư khởi đầu làm việc. Sư đẩy
xe ba gác thùng không đến từng dãy hẻm sau khu phố, đến
từng cầu tiêu nhất thùng đầy phân ra, lau chùi cầu sạch
sẽ, thay vào thùng không. Sư gán phân ra xe ba gác. Đầy xe
thì sư đẩy về miếng đất công thổ làng đổ vào hầm
ủ phân, rửa sạch thùng, rồi đi chuyến khác. Phố chợ Cao
Lãnh lèo tèo, mà mỗi ngày sư chỉ đi phân nửa khu phố, nên
cũng không quá mệt nhọc. Sư cũng dành một ít thời giờ,
cắt về một mớ cỏ đem trộ trong hầm ủ phân, hầu phân
chóng quai. Số phân này sư sẽ bán cho những người Tiều,
mua về để trồng rau cải, dưa mướp. bán ở chợ Cao Lãnh.
Chất cặn bã thúi tha này lại biến thành chất bổ cho cây
trái thơm tho mà người người sẽ tiêu thụ. Đâu có thứ
gì dơ dáy, thối tha mãi đâu?
TâmTịnh
nhờ kinh nghiệm của tháng ngày làm công nên khi đổ thùng,
dù có khó khăn cũng vượt qua dễ dàng. Thật ra, những ngày
đầu hốt phân thúi tha, sư cũng khó chịu, nhưng sư chỉ cần
tụng "Bát Nhã Tâm Kinh", quán ngũ uẩn không có tự tánh, và
liền thấy không còn cực khổ nữa. Tướng không các pháp
cũng vậy, vốn không có tự tán thì làm sao có nhơ có sạch,
có thơm có thúi.
Một
hôm, trong khi gánh hai thùng phân đi về hố ủ phân, sư vừa
đi vừa theo dõi hơi thở, đặt từng bước chân nhẹ nhàng,
ung dung sung sướng như đang đi trên tịnh độ, sư bỗng nghe
lời dạy của Đức Phật vang động: "Xá lợi Phất! Cõi nước
của Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh. Như thế Xá
lợi Phất! Nếu tâm ngươi thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công
đức trang nghiêm". (9)
Trong
giây phút đó, bỗng sư ngộ đạo. Sum la vạn tượng biến
mất để hiển bày trọn vẹn khối quang minh chiếu diệu,
trong suốt, trạm nhiên và vắng lặng. Khối quang minh đó vừa
là cõi Cực Lạc đất đai bằng phẳng bằng bảy thứ báu,
những hàng cây báu, cung điện lầu các châu báu, ao sen có
8 công đức, có chim ca lời pháp., và cũng là cõi ta bà gò
nổng, hầm hố, chông gai, nhơ bẩn thúi tha này.
Sư
bất giác cười vang rền khi thấy trường hợp ngộ đạo
của mình tương tợ với tổ Thanh Nguyên Duy Tín ngày xưa:
"Khi sư chưa học thiền, thấy cứt là cứt. Khi dụng công
hành thiền thì thấy cứt chẳng phải là cứt. Rồi nay khi
đã thấy chân tâm mầu nhiệm, thì cứt cũng chỉ là cứt
mà thôi". (10)
Và
cũng bởi vì cứt chỉ là cứt, nên sư lại tiếp tục gánh
phân đổ thùng để làm đẹp cuộc đời. Và cũng bởi vì
chúng sanh phân biệt mùi cứt thúi, nên sư cũng nghe mùi thúi.
Sư thoa dầu phọng trên tay chân một lớp dầy, để mùi hôi
thúi không bám chặt vào da, do đó, rửa ráy dễ sạch sẽ
hơn.
Chẳng
bao lâu, đến tháng chạp năm Bính Thìn (1916), TâmTịnh biết
cơ duyên mình ở cõi Ta Bà sắp hoàn mãn, nên lưu lại chuyện
đời mình, nhờ thầy Pháp Hoa Miểu Trời Sanh lưu truyền lại
để chuyển giao cho người cháu cố, hầu tạo cho cháu chút
duyên lành trên co đừơng tu tâm dưỡng tánh.
***
Tiếng
cười vang rền của ông lão gánh phân, tức nội tổ của
chàng dường như vẫn còn âm hưởng đâu đây, khiến Diệp
vừa xúc động vừa cảm phục cuộc đời liệt oanh của người.
Giữ phong thơ di cảo như một báu vật, Diệp thầm nguyện
sẽ noi gương người mà sửa đổi tâm tính mình. Tuy nhiên,
công danh sự nghiệp của Diệp rộng rãi thênh thang quá, chàng
cứ mài miệt theo đuổi danh lợi không bao giờ thấy mỏi
mệt, thành thử cũng không dành bao nhiêu thời giờ cho việc
tu tập.
Diệp
không ngờ chàng đã xây dựng lâu đài công danh trên cát.
Nền Cộng Hoà nguy nga tưởng chừng vững chắc muôn đời,
đến năm 1975, bỗng lung lay tận gốc. Vào những ngày cuối
tháng 4, tình hình vô cùng hổn loạn. Thấy một số sĩ quan
chỉ huy quân đội đã lánh mặt ra nước ngoài, Diệp cũng
vội vã cho gia đình di tản theo. Phần chàng, vốn tôn trọng
kỷ luật, Diệp đành tuân lệnh cấp chỉ huy cao cấp của
ngành tư pháp, không rời nhiệm sở, thành ra, đến khi vị
nguyên thủ tạm thời và cuối cùng của quốc gia tuyên bố
đầu hàng thì đã quá muộn màng.
Diệp
bàng hoàng nhận chân được cái hư ảo của lợi danh trên
cuộc đời vô nghĩa bọt bèo. Chỉ mấy phút trước, chàng
vẫn là vị thẩm phán uy quyền, và bây giờ, đã biến thành
kẻ tội phạm. Tội ngụy quyền nguy hiểm hơn cùi hủi, nên
những kẻ trước kia cầu cạnh chàng, nay lãng tránh xa. Dù
sao Diệp cũng là một Phật tử thuần thành, thấm nhuần giáo
lý vô thường vô ngã, nên khi cuộc đời bị đảo lộn cũng
không quá lo lắng bi ai. Diệp nghĩ: " Trên đời này đâu có
gì bền vững. Thịnh rồi suy. Suy rồi thịnh. Tân chế độ
rồi cũng sẽ không thoát được định luật đó". Diệp thấy
rất rõ điều này, nhất là khi chàng nhận xét rằng, ngoài
khả năng khoát lát khoe khoang, giới cầm quyền bất tài, dốt
nát chỉ biết xử dụng vũ lực để đàn áp hoặc thủ đoạn
bịp bợm để lường gạt dân mà thôi.
Dù
đã tập để xem thịnh suy nhẹ nhàng như giọt sương rơi
đầu cành, (12) nhưng Diệp vẫn là một con người yếu hèn,
nên cũng trãi qua đôi lần xúc động. Diệp ngậm ngùi hay
tin Trung Tá Trương Cuội, cựu quận trưởng Kiên Aân, Kiên
Giang, đứa em nuôi của chàng đã chết. Người ta bắt Cuội
đưa ra Toà án Nhân dân xét xử. Cuội bị bẻ răng, chặt
ngón tay, ngón chân, trước khi lãnh phát đạn ân huệ. Chàng
cũng bồi hồi khi đường Công Lý, nơi Pháp Đình Saigon toạ
lạc đã đổi tên thành Nam Kỳ Khỡi Nghĩa. Không biết ai
đã cám cảnh thành thơ:
"Nam
Kỳ Khỡi Nghĩa tiêu Công Lý
"Đồng
Khởi lên rồi, mất Tự Do" (13) Công Lý làm sao tồn tại khi
mà tinh thần thượng tôn luật pháp bị thay thế bởi quan
điểm hận thù giai cấp, và hành xử mù quáng bởi những
đảng viên thiếu học, hẹp hòi và kỳ thị.
May
mắn là chỉ trong vòng một tháng sau thì Diệp đi trình diện
học tập cải tạo. Ơû tù, cũng là một điều hay vì Diệp
khỏi thấy những điều trái tai gai mắt nữa mà nảy sanh
lòng sân hận. Chấp nhận cái nghiệp tù của mình, Diệp cố
gắng giữ tâm luôn luôn bình thản, nhẹ nhàng. Chàng tự an
ủi, cho đây là cơ hội tốt tu tâm, dưỡng tánh, tránh xa
cám dỗ của cuộc đời. Cứ coi nhà tù là ngôi chùa và mình
ở chùa làm công quả, ăn uống kham khổ, vậy thôi.
Dĩ
nhiên, Diệp vốn quen lịch sự nhỏ nhẹ với mọi người,
mà trong bước đường tù tội bị những kẻ thô lỗ, ăn
nói cục súc hách dịch, căm hờn sai khiến, chửi bới. thì
việc giữ tâm bình thản cũng khó khăn. Lúc đầu, Diệp phải
quán cán binh cộng sản là những thiện tri thức hành hạ
mình để nhắc nhở cuộc đời khổ đau kíp tinh tấu tu hành.
Về sau, Diệp nghĩ rằng, những người anh em này vốn là những
nông dân dốt nát, ngọng ngệu., vì chất phác nên dễ bị
nhồi sọ bằng một thứ chủ nghĩa vô lương để khơi dậy
sự hận thù và biến họ thành một thứ công cụ hi sinh xương
máu cho đảng. Thật là tội nghiệp! Thật đáng thương!
Khổ
dịch lớn nhứt đối với tù nhân không phải là lao động,
mà giờ phút học tập chánh trị. Đó là lúc tù nhân lặng
yên nghe xỉ vả về chế độ cũ, về tội ác Mỹ nguî, vàcũng
nghe khoe khoang về đỉnh cao trí tuệ, về chủ nghĩa xã hội
siêu việt. Nhục nhã ẩn nhẩn chịu đựng, nhưng mấy ai mà
không điên cuồng tức tối trong lòng? Diệp đã phải cầu
cứu đến "chung trà của thầy Thiện Hoa" thì tâm mới an vui
hỉ xả. Thuở sanh thời có lần thầy day Diệp: "Thiền sư
uống trà trong tỉnh thức, nên trang trọng chiêm ngưỡng sự
sống màu nhiệm trãi ra trước mắt mình. Thiền sư chiêm ngưỡng
trà, chiêm ngưỡng cảnh vật, chiêm ngưỡng người. mà tràn
đầy an lạc. Biết uống một chung trà thiền, thì có đủ
khả năng uống ngụm nước bọt trong tỉnh thức để thương
yêu chiêm ngưỡng người đối diện, mà không phân biệt người
đó là ai". Diệp thực tập, nuốt nước bọt, tỉnh thức
chiêm ngưỡng màu trời xanh, rừng cây rậm rạp, làn gió hiu
hiu. để hưởng vài giây phút thoải mái khi học tập chánh
trị; còn như, chiêm ngưỡng người cán bộ lên lớp mà an
lạc, thì chắc phải còn lâu lắm. Diệp đã chia xẻ kinh nghiệm
của mình cho vài người bạn thân và ai cũng thích thú. Sau
đó, khi người nào mất chánh niệm, nghe chửi mắng mà lộ
vẻ khẩn trương, thì anh em chỉ cần nói nhỏ "trà thầy Thiện
Hoa", tức khác người kia mỉm cười tươi tỉnh lại.
Từ
Long Thành, Diệp bị chuyển lên trại Sa Ác A (14), mang bí số
TH6A, rồi được phân phối vào đội Rau Xanh. Con đường đi
đến miếng đất khai hoang làm rẩy không quá xa, nhưng những
ngày đầu chưa quen lao động, mà phải vật lộn với những
cây to, rễ sâu, cành lá chằng chịt. tù nhân cũng mệt đứ
đừ. Chuyến về, trong khi cố lê lết chậm chạp từng bước,
bỗng nhiên Diệp nhớ đến ngày còn thơ, trong chàng cũng bước
chầm chậm như thế này, để kinh hành niệm Phật. Từ đó,
đi lao động hay đi bất cứ nơi nào, Diệp cũng kinh hành niệm
Phật. Diệp tập phối hợp câu niệm Phật, với bước chân
và hơi thở. Nếu có thể đi chậm, Diệp thở vào, bước
chân mặt và niệm "Di Đà Phật". Nếu phải bước nhanh, Diệp
bước 6 bước cho "lục tự Di Đà", nhưng hơi thở thì cũng
1 lần thở vào, 1 lần thở ra mà thôi. Phương pháp này rất
hợp với những người lớn tuổi, nên khi được Diệp rũ
thực hành, cụ Lương đã góp ý: "Chẳng biết tôi có được
vãng sanh về Tịnh độ hay không, nhưng tôi biết chắc một
điều, là ngay bây giờ, khi đi kinh hành niệm Phật, tôi cảm
thấy tâm mình thanh tịnh". Diệp cũng tán đồng quan điểm
này, vì chàng không còn thấy mệt mỏi trong ngày tháng tù
đày.
Khẩu
phần hàng tháng của tù nhân là 15 kilo thực phẩm, mà phần
lớn là bo bo, khoai sắn. Loại có chất đạm thiếu sót hẳn.
Do đó, đói là chứng bệnh kinh niên hành hạ mọi người.
Tù nhân, bạ gì ăn nấy: rau cải trời, rau sam, rau dền hoang.
đều tốt, nhưng nếu ngàn năm một thuở mà bắt được ếch
nhái, rắn rít, chuột. thì đó là đại tiệc. Thiếu ăn nên
anh em tranh nhau kể lể về các loại thức ăn cho đở đói,
đở thèm. Tần "con"là người kể chuyện ăn uống thần sầu
nhất, anh có lối diễn tả đầy đủ chi tiết, gợi hình,
gợi mùi vị. khiến cho người nghe nuốt nước miếng ừng
ực. Tình trạng đói dai dẳng khiến cho nhiều người, bình
thừơng đạo mạo, trở nên ươn hèn thiếu tư cách. Người
ta có thể chửi bới, hận thù nhau chỉ vì một mẫu thịt
vụn, một con tôm khô. Gia đình Diệp di tản, Diệp thuộc
"diện mồ côi" không có thân nhân thăm nuôi nên thiếu thốn
xác xơ. Tuy Diệp không đến nổi bận tâm đến món ăn như
người khác, nhưng thỉnh thoảng, những cơn thèm kinh khủng
cũng ám ảnh chàng, làm chàng tự hổ thẹn trong lòng. Một
hôm, trong lúc đi vệ sinh, cầu tiêu tại trại học tập cải
tạo là loại cầu tiêu thùng, Diệp nhìn thấy dòi lúc nhúc
cả nuồi đang hồ hởi tranh nhau cục phân của chàng, gợi
cho chàng liên tưởng đến câu chuyện dòi đầy lý thú. Có
vị A La Hán quán sát thấy đứa em mình, vì quá tham ăn uống
mà phải đoạ lạc làm kiếp dòi vất vưởng, nên xử dụng
thần thông để biến thành con dòi bạn, hầu tìm phương cứu
độ. Dòi A La Hán khuyên nhủ bạn giảm tính hung hăng giành
giựt để có thể sinh về một cõi thù thắng. Trong khi đang
hả hê nhờ bon chen được một vị trí cao cả nhất trong
đống phân, mà lại bị lãi nhãi vô duyên, chàng "Dòi Cao Cả"
bực mình gây gỗ: "Thôi đừng nói chuyện bá láp. Ơû đây
đầy vẫy cao lương mỹ vị béo bổ thơm phức không đâu
sánh bằng. Làm gì có cõi nào hạnh phúc, sung sướng hơn cõi
này?". Câu chuyện đó khiến cho bệnh thèm ăn của Diệp biến
mất. Chàng nghĩ thức ăn sai khác trên cõi ta bà này, tuỳ
theo nghiệp lực của loài thọ lãnh mà cảm thấy ngon hay dở.
Tất cả đều là giả hợp, là huyễn, đâu đáng gì để
bận tâm. Thế rồi, Diệp quyết định trường chay để nuôi
dưỡng hạt giống từ bi. Điều trớ trêu, là khi nhu cầu
ăn uống của Diệp giảm thiểu, thì gia đìn của chàng tại
Hoa Kỳ đã tìm ra được cách chuyển tiền về Việt Nam cho
thân nhân thăm nuôi chàng thừa thải. Dư thừa thì Diệp san
sẻ cho bè bạn, phần chàng thì Diệp chỉ cần chút muối
mè để ăn với rau rừng là đầy đủ lắm rồi.
***
Thời
gian đối với tù cải tạo dường như vô nghĩa. Không có
bản án rõ rệt thành thử thân phận tù có thể vài năm,
mà cũng có thể là mãn kiếp. Tù nhân cứ sống trong hi vọng
phập phồng, để chờ được trúng xổ số trong những đợt
tha nhỏ giọt. Sau hơn 4 năm cải tạo, Tần không còn đủ
nhẫn nại chờ đợi nên chuẩn bị kế hoạch y đào thoát.
Gia đình Tần mua chuộc được một công an áo vàng lái xe
Honda đâu cách nông trường không xa. Sau buổi ăn trưa, Tần
giả vờ đi vệ sinh, chuồn ra điểm hẹn để được tên
công an cung cấp bộ quần áo vàng, rồi đèo nhau bằng xe Honda
về Saigon. Đến chiều khi Quản Giáo kiểm điểm nhân số
khám phá ra vụ trốn tù, vội đánh kẻng báo động, thì đã
quá trễ. Tuy rất nhiều bạn bè am tường âm mưu trốn tù,
nhưng chỉ có Diệp và cụ Lương "lãnh đủ" tai hoạ, vì cả
hai là bạn thân nhất, ăn uống chung, ngủ và lao động cạnh
Tần. Sau khi bị cật vấn liên tiếp, Diệp và cụ Lương bị
quản giáo tống sang Tổ phân tiểu, một tổ trừng giới nhằm
trị những phần tử chống đối. Tổ có nhiệm vụ đến
hầm ủ phân, lấy phân đem lên trộn với tro, mạt cưa hay
cỏ mục, rồi cung cấp cho đội Rau Xanh. Cụ Lương lớn tuổi
và gầy yếu, vừa bước gần hầm phân nặng mùi, là đã
nôn mửa đến ngất người mà không kềm hãm được. Thương
cụ, nên Diệp nhường cụ phụ trách việc lấy tro, mạt cưa
và cỏ mục. Phần chàng, Diệp quyết "ăn thua đủ" với hầm
phân. Tuy nhiên, dù có tụng "Bát nhã Tâm Kinh" liên hồi và
quán chi thì quán, nhưng định lực của Diệp yếu ớt quá
và hoàn toàn vô hiệu. Cứt vẫn là cứt. Thúi tha vẫn là
thúi tha. Diệp ngao ngán muốn quăng thùng bỏ đi, rồi ra sao
thì ra, nhưng cuối cùng cũng ráng nín thở bước xuống nấc
thang thật nhanh, xúc đủ 2 thùng phân, chạy thục mạng ra
một khoảng xa, tha hồ nôn mửa. Tuy vậy, chỉ vài ngày ghê
tởm thì Diệp cũng quen dần, chàng chấp nhận nghiệp của
mình bình thản và không thở than.
Buổi
sáng ngày trừng giới thứ năm, trên đường đi đến hầm
ủ phân, Diệp thấy một cô bé tuổi chừng 12 tất tả đi
về hướng của chàng. Chàng đoán cô bé là con của viên giám
thị (15), mà nghe đồn gia đình họ mới vừa dọn vừa về
Sa Aùc.
-
Chú ơi!
Xin lỗi chú có phải tên là Trương Công Diệp không ạ!
Thầm
khen đứa bé ngoan, Diệp dừng lại trả lời:
-
Cháu
tên là Cải. Hồi đó má cháu bị ở tù tại Cao Lãnh..
Diệp
nhớ ngay người đàn bà thiến chồng. Chàng đoán trong 3 năm
tù tội gần gũi với tù chánh trị, bà ta đã được móc
nối hoạt động cho họ, rồi cải giá với viên giám thị
này.
-
À! Chú
nhớ ra rồi! Cháu tìm chú có việc chi không?
-
Má cháu
bảo gởi chú hủ chao này để ăn chay. Má cháu nói hồi xưa,
chú gởi tương chao cho tù hà rầm hà! Chú cũn có gởi cháu
sữa nữa!
-
Chú rất
cám ơn má cháu, nhưng chú đã được tiếp tế đầy đủ
rồi. Chú chỉ nhận lần này thôi nhé!
Diệp
cầm lấy hủ chao rồi quay mặt đi thật nhanh. Chàng muốn
dấu diếm cảm xúc của mình. Diệp chợt cảm thấy buồn
rười rượi. Sự hiện diện của đứa bé trạc tuổi đứa
con đầu lòng, đã nhắc nhở Diệp cảnh biệt ly sầu thảm
của mình. Tần nay mãn nguyện rồi, phần chàng thì biết đến
khi nào mới rời khỏi chốn này? Nỗi nhớ niềm thương dày
vò khiến Diệp mệt mỏi và suy yếu hẳn ra, suýt khuîu xuống.
Diệp cố gắng bước từng bước xuống nấc thang trơn trợt.
Đang lúc tinh thần dao động, Diệp mất thăng bằng chới với
lọt xuống hầm phân. Diệp lún từ từ, cho đến khi ngập
ngừng đến háng mới dừng lại được. Chung quanh chàng triệu
triệu con dòi lúc nhúc, có con đã bò nhột nhạt trên đùi
chàng. Trong phúc giây sững sờ đó, Diệp quên nhờm gớm,
quên mùi thúi nồng nực, để trố mắt nhìn bầy dòi lăn
xăn trong thế giới riêng của chúng. Diệp tủi thân, thương
niềm bất hạnh của mình, và thương lây số kiếp hẩm hiu
của đàn dòi dơ bẩn. Tình lân mẫn gợi Diệp ý nghĩ rằng
mình lăn lội luân hồi a tăng kỳ kiếp, lẽ nào lại không
từng ở chốn này? Diệp bỗng nhớ đến nội tổ và giáo
lý "tâm tịnh thì cũng đã thoát ly khỏi sanh tử luân hồi.
đâu chẳng phải là nhà? Đâu chẳng là tịnh độ? Hà huống
phải nhọc công mơ mộng đến nước nào? Đến thế giới
nào? Trong tù hay ngoài tù?"
An
nhiên và thanh thản, Diệp xúc hai thùng phân, gánh lên vai đi
từng bước khinh an và hỷ lạc. Rồi Diệp mỉm cười, ngâm
nga nho nhỏ:
Thênh
thang nơi tù ngục
Ai
nhốt được tâm ta?
Trong
hầm phân Sa-Aùc,
Aûnh
hiện bóng Lăng-Già.
Bồ
đề và phiền não,
Chẳng
gần cũng chẳng xa.
Thân
tâm hằng thanh tịnh
Tịnh
độ cõi ta bà.
"Trong
ba ngàn thế giới,
Đâu
chẳng phải là nhà?" (16)
Tháng
4. 1989
GHI
CHÚ:
*Thầy
Thiện Hoa: Thượng Toạ Thiện Hoa, Viện Trưởng Viện Hoá
Đạo Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt (1966-1973). Thầy là một
tăng sĩ tài đức đã dâng hiến đời mình cho dân tộc và
đạo pháp.
Giặc
thầy chùa: Cuộc khởi nghĩa năm 1898 tại Phú Yên, do Võ
Trứ chủ xướng, với sự tham dự của Trần Cao Vân, bị
bọn thực dân gọi là "giặc thầy chùa", vì số tăng sĩ Phật
giáo tại Phú yên và Bình định tham gia thật đông.
Nhà
giây thép: Bưu điện; Kho bạc: Ngân khố; Trường Tiền:
Công Chánh.
Kinh
Người Biết Sống Một Mình: tức Bhaddekaratta Sutta do thầy
Nhất Hạnh dịch, Lá Bối xuất bản.
Công
án "VÔ": Một thầy tăng hỏi tổ Triệu Châu: "Con chó có
Phật tính không?". Tổ đáp: "Vô"
Công
án Càn thỉ quyết: (tức Que cứt khô) Một thầy tăng hỏi
tổ Vân Môn: "Phật là gì?". Tổ đáp: "Que cứt khô"
Công
án Buông xuống đi: Có một Ông tăng đến hỏi tổ Trịêu
Châu: "Không mang gì hết đến đây thì thế nào?" Tổ đáp:
"Buông xuống đi". Ông tăng bạch lại: "Một vật chẳng mang
theo thì buông xuống cái gì?" Châu nói: "Buông chẳng xuống
thì dở lên đi"
Bà
la môn Móng Tay Đen: Một Thầy Bà la môn tên là Móng tay
Đen mang đến cúng Phật hai cây bông nguyên cành rễ khổng
lồ, thầy dùng phép thần thông nắm chặt mỗi tay một cây.
Phật gọi tên, thầy liền dạ. Phật liền bảo: "Buông xuống
đi". Thầy bà la môn bỏ cây hoa trái trước mặt Phật. Phật
lại bảo buông xuống nữa. Thầy bỏ luôn cây hoa tay mặt.
Phật lại bảo buông nữa. Thầy bà la môn bạch: "Tôi có gì
nữa đâu mà buông bỏ. Phật muốn dạy gì?". Phật đáp: "Tôi
không hề bảo thầy buông hết mấy cây hoa, tôi bảo thầ
bỏ là bỏ sáu căn sáu trần sáu thức. Khi thầy bỏ hết
không còn gì để bỏ, đó là lúc thầy thoát ly tất cả ràng
buộc của sanh tử luân hồi".
Bát
Nhã Tâm Kinh: Bồ tát Quán Tự Tại khi quán chiếu thâm
sâu bát nhã ba la mật, bỗng soi thấy năm uẩn đều không
có tự tánh. Thực chứng điều ấy xong, Ngài vượt thoát
tất cả mọi khổ đau ách nạn. Nghe đây Xá Lợi Tử. Sắc
chẳng khác gì không. Không chẳng khác gì sắc. Sắc chính
thực là không. Không chính thực là sắc. Còn lại bốn uẩn
kia, cũng đều như vậy cả. Xá Lợi Tử nghe đây. Thể mọi
pháp đều không. Không sanh cũng không diệt. Không nhơ cũng
không sạch. Không thêm cũng không bớt. Cho nên trong tánh không.
Không có sắc thọ, tưởng, hành thức, cũng không có nhãn,
nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương vị,
xúc, pháp. Không có 18 giới (từ nhãn đến ý thức). Không
hề có vô minh, không có hết vô minh, cho đến không lão tử
cũng không hết lão tử, không khổ, tập, diệt, đạo, không
trí cũng không đắc...(bản dịch của T.Nhất Hạnh).
Kinh
duy ma cật, bản dịch T.Huệ Hưng, phẩm Phật Quốc: Phật
bảo: "Này Xá Lợi Phất! Cõi nước ta thường thanh tịnh như
thế! Nhưng vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt, nên
hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Vì
như chư thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để
ăn, nhưng tuỳ phước đức của mỗi vị mà sắc sớm có
khác. Như thế, Xá Lợi Phất! Nếu tâm ngươi thanh tịnh, sẽ
thấy cõi này công đức trang nghiêm".
Tổ
Thanh Nguyên Duy Tín
có lời tự thuật như sau: "Sãi tôi,
ba mươi năm trước, khi chưa học thiền, thấy núi là núi,
thấy nước là nước; Sau nhân theo bậc thiện tri thức chỉ
cho chỗ vào, thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng
phải nước. Rồi may thể nhập chốn yên vui tịch tỉnh y
nhiên, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước".
Kinh
Duy Ma Cật, Phẩm Văn thù sư Lợi, bản dịch T. Huệ Hưng.
Ông Duy ma Cật đáp: "Vì tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi
bịnh. Nếu tất cả chúng sanh không bịnh, thì bịnh tôi lành".
Như
giọt sương rơi đầu cành:
trích từ bài kệ của Vạn
Hạnh thiền sư:
Nhậm
vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô
(Sá chi
suy thịnh trên đời
Thịnh
suy như hạt sương rơi trên đầu cành
bản
dịch T.T.Mật Thể)
Công
Lý và Tự do là tên đường cũ. Nam Kỳ Khỡi Nghĩa và
Đồng Khởi là tên đừơng mới.
Sa
Ác là 1 Trung tâm lao động cải tạo toạ lạc tại Xuyên
Mộc, tỉnh Đồng Nai. Sa Aùc có 2 trại A và B.
Giám
thị trong chế độ cộng sản tương đương với chức
Giám đốc Trung tâm cải huấn.
Hai
câu thơ: "Trong ba ngàn thế giới
Đâu
chẳng phải là nhà" trích từ bài kệ của tổ Thường
Chiếu (đời Lý):
Đạo
bản vô nhan sắc
Tân tiên
nhật nhật khoa
Đại
thiên sa giới ngoại
Hà xứ
bất vi gia?
(Đạo
vốn không nhan sắc
Mà ngày
càng gấm hoa
Trong
ba ngàn cõi ấy
Đâu
chẳng phải là nhà?
bản
dịch của T.T. Nhất Hạnh)