NGỘ
Sư
Huệ Chiếu chẩm rãi vun bón mớ phân chuồng cho mấy cây ăn
trái còn tơ trước sân chùa. Sư bón phân trang nghiêm, long
trọng như đang hành lễ, mà cũng dịu dàng nâng nui như một
người mẹ hiền âu yếm mớm cơm cho bầy con nhỏ. Sư nhín
một phần phân chuồng chia xẻ cho cây trôm già trước ngỏ.
Đúng ra, cây trôm không cần cũng không đáng được bón phân,
nhưng sư, giống như bậc cha mẹ cưng con, vẫn bù đắp cho
đứa trưởng thành như thời ấu thơ. Ngôi chùa, tục danh
chùa cây TRÔM, vốn xây cất trên một gò đất đầy trôm.
Giống trôm cung cấp hoa lợi rất khiêm tốn, mủ trôm tuy nên
thuốc nhưng không mấy hấp dẫn, nên bị tiêu diệt lần lần.
Cây trôm trước ngỏ là cây trôm mà hai mươi năm trướ đây
khi tình cờ vân du đến giồng TÂN HIỆP, thấy dân làng đang
chuẩn bị hạ sát cây trôm cuối cùng, sư đã kịp thời ngăn
cản. Thế rồi sư quyết định dừng lại ngôi chùa làng vắng
vẻ để mai danh ẩn tích. Sư cũng chọn cho ngôi chùa danh hiệu
LINH PHONG (1). Danh hiệu gợi lại hình ảnh lúc nhỏ cho sư
duyên lành màsư đã đón nhận được như một làn gió kỳ
diệu rung chuyển toàn diện thân tâm sư, nhân chuyến hành
hương Phú Quốc ngày trước.
***
Sư
pháp danh Mật Hiệp, hiệu Trí Hải, tự Hưng Việt, đệ tử
của thiền sư Quang Huệ, chùa Kim Chương (2), trấn Đông Phố,
Gia Định thành. Ngày còn là một sa di, sư đã chứng kiến
buổi lễ trang nghiêm, cảm động để suy tôn đông cung Nguyễn
Phúc Dương lên kế nghiệp Chúa hầu gầy dựng lại cơ đồ
nhà Nguyễn. Buổi lễ do Hoà Nghĩa Đạo Lý tướng quân và
bổn sư Quang Huệ chủ xướng ngay trong khuôn viên chùa. Hình
ảnh đó khắc ghi sâu đậm vào tâm cang sư, ảnh hưởng trọn
vẹn sự nghiệp tu hành của sư. Sư chọn nếp sống dấn thân
phục vụ đạo pháp và dân tộc.
Mà
dân tộc, với sư, đồng hoá với cơ nghiệp của giòng họ
Nguyễn. Sư nối gót sư phụ, kiên trì, tận tụy, trung thành
với chúa Nguyễn. Chúa gặp bao nhiêu nỗi nguy nan, cơ đồ
bị tan hoang mấy lượt tưởng không bao giờ cứu vãn được,
mà lòng sắc son, trung quân ái quốc của sư vẫn không hề
suy giảm. Chúa Nguyễn Atrôi giạt đến chốn nào, sư cũng
tìm cách để yểm trợ. Nhờ lớp áo tu hành, sư đi lại dễ
dàng, quan sát được binh tình Tây Sơn, rồi báo cáo cho Chúa.
Sư cũng phụ trách vận chuyển quân lương khi cần thiết.
Ngoài ra, nhân việc du phương hoằng hóa, sư để sưu tầm
những bậc tài trí thuyết phục họ về với Nguyễn Vương.
Các vị tướng Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Tánh, Nguyễn Văn Nghĩa…,
đã được sư móc nối để về với nhà Nguyễn.
Đầu
Xuân Đnh Tị, sư đã vất vả lặn lội đến Vạn Tượng,
nước Xiêm La hầu gặp Chúa Nguyễn Abáo cáo về tình trạng
suy yếu của Tây Sơn tại Gia Định. Nhờ đó, Chúa quyết
địnnh đem quân về nước. Thủy quân Chúa về đóng tại
Ba Hòn, Hà Tiên, lập căn cứ tạm để liên lạc với các
thuộc hạ vẫn còn nằm vùng tại miền Nam, để chuẩn bị
phản công. Đoạn, Chúa cho thủy quân đưa gia quyến ra Phú
Quốc tạm lánh, rồi đem quân về Long Xuyên, công khai tấn
công bính lính Tây Sơn. Lúc đó, thực lực của Chúa Nguyễn
rất yếu ớt. Sự phải ra sức khuyến dụ người đệ tử
tên Nguyễn Văn Trương, một viên tướng Tây Sơn, mang 300 lính
và 15 chiến thuyền về với Nguyễn Vương. Từ đó, lực lượng
phục quốc lớn mạnh nhanh chóng. Chúa tấn chiếm Gia Định,
rồi lần lần, đánh phá các tỉnh miền Trung. Chỉ trong vòng
5 năm, tức năm Nhâm Tuất, Chúa Nguyễn Athống nhất sơn
hà, tự xưng là Vua, lấy niên hiệu là Gia Long.
Tưởng
nhớ lòng trung quân ái quốc của sư, vua triệu ra Phú Xuân.
Trước mặt triều thần văn võ, Vua nhiệt liệt nhắc nhở
thành tích của sư, rồi long trọng tấn phong người đạo
hiệu Hưng Việt Quốc Sư, để đảm nhận trách vụ lãnh đạo
tinh thần cho cả nước. Vinh dự đó khiến sư vừa hân hoan
vừa cảm động, nguyện tận trung báo đáp hồng ân của hoàng
thượng. Sau đó, Vua đã thảo luận tương đắc với sư về
những vấn đề trọng đại liên quan đến sự thịnh trị
của đất nước. Sư trình bày với hoàng thượng về viễn
ảnh một tổ chức Phật giáo lớn mạnh, để phục vụ cho
dân tộc và đạo pháp. Vua nhiệt liệt tán dương dự án của
sư, rồi tự nguyện đề xướng chương trình xây cất một
ngôi Quốc tự nguy nga tại Phú Xuân, sao cho xứng đáng với
danh vị Quốc sư cao tột. Đoạn Vua thân mật ủy thác Quốc
sư một công tác bí mật và tối quan trọng tại miền Nam.
Nguyên Vua đã từng bị truy lùng phải lẫn trốn khắp hang
cùng ngỏ hẻm miền Nam. Vua đã thoát tân an toàn nhờ biết
khai thác đức từ bi của giới tu hành, và cũng nhờ nắm
vững được địa hình các hang động, hoang đảo thuộc miền
duyên hải Vịnh Thai Lan. Vua canh cánh lo sợ dư đảng Tây Sơn
sẽ xử dụng chính đường lối cũ của mình để lẫn trốn
gây hậu hoạ mai sau. Do đó, Vua phái Quốc sư xuôi Nam, nhân
danh hành hương các chùa chiền miền Nam để hình thành hệ
thống tình báo trong giới tu hành hầu sớm phát hiện được
kẻ địch trà trộn.
"Ở
trong chăn mới biết chăn có rận", sư hiểu rất rõ tâm lý
tu sĩ và tình hình Phật giáo đồ, nên đã tiến hành công
tác bí mật dựa trên một phương pháp hoàn bị. Với thiểu
số đạo đức cao tăng, sư dùng lễ kính thân cận tạo cơ
hội đầu tư xa xôi. Đối với kẻ tham lam, thì sư công khai
quăng tiền ra mua chuộc biến thành thứ tay sai đắc lực.
Còn đối với những vị tu hành, tuy không đến nỗi tham tiền
lộ liễu, nhưng lại ưa danh vị trong đạo, thì sư mang bằng
sắc, chức tăng cang, hoà thượng nhử mồi. Chiêu thức thâm
độc này khiến cho nhiều vị tu hành thoát tục, bỗng lục
đục tranh nhau chạy tục tằn thô lỗ. Dĩ nhiên là món mồi
danh lợi đã được sư khéo lé che đậy dưới chánh nghĩa
"tứ ân", nên giới tu hành đến với Quốc sư vì danh lợi,
cũng có thể tự dối lòng là dấn thân cho lý tưởng Phật
đà.
Khi
hành hương tại Chùa Thập Tháp Di Đà, phủ Qui Ninh, Bình Định,
Quốc sư tình cờ khám phá được những hành vi nhũng lạm
của viên tri phủ sở tại. Quốc sư vội phúc bẩm về triều,
và viên tham quan liền bị thải hồi để điều tra. Sau đó,
chuyến hành hương trầm lặng của sư bỗng huyên náo và khởi
sắc theo một chiều hướng mới. Giới quan lại, thoáng nghe
hung tin của viên tri phủ Qui Ninh đã run sợ rỉ tai nhau cẩn
mật đề phòng. Họ theo dõi sư từng bước để nghiên cứu
tỉ mỉ một kế hoạch đón tiếp sư, sao cho sư ngỡ là đã
tai nghe mắt thấy sự thực và chỉ toàn là sự thực. Tất
cả những địa điểm sư đến đều được chuẩn bị dàn
cảnh, những nhân vật sư tiếp xúc phải được "đả thông"
trước. Thế là, từ độ ấy, đến địa phương nào, sư
chỉ được nghe dân chúng thi đua nhau ca tụng đức độ thanh
liêm vì dân vì nước của giới quan lại sở tại. Quốc sư
lại vui mừng khám phá thêm là giới quan lại chính là giới
Phật tử thuần thành bậc nhứt. Họ tranh nhau thỉnh cầu
sư dạy đạo, rồi cả nhà xin được quy y với sư. Viên tri
phủ Đông Phố lai tung "khổ nhục kế" thần sầu. Sau khi nghe
thời pháp, viên quan ràn rụa nước mắt mừng rỡ được
nghe chân lý tối thượng, đoạn quỳ lạy Quốc sư, xin từ
quan để theo Quốc sư xuất gia đầu Phật. Lối trình diễn
xuất thần đó khiến Quốc sư xúc động vô cùng. Sự thương
yêu giảng dạy người đệ tử mới, là tu hành thì không
nhất thiết phải xuất gia. Làm quan mà thương yêu chăm sóc
dân là đã thực hành Phật đạo rồi. Không dám trái ý Quốc
sư, tri phủ Đông Phố bắt buộc phải hi sinh tiếp tục làm
quan tham ô như cũ. Quốc sư lại ghé ngôi tổ đình, mang về
bằng sắc "Sắc tứ Kim Chương tự". Gặp lại huynh đệ, tuy
tình cảm đậm đà thắm thiết, nhưng sư chỉ lưu lại hai
ngày rồi ra đi. Có thể, vì sư thấy thiếu vắng những lời
ca tụng xuất phát từ "đáy lòng thành thật" của nhóm đệ
tử mới, và phần khác, vì sư cảm giác dường như chư huynh
đệ tư tưởng xưa quá rồi, không theo kịp những tiến bộ
vượt bực của sư như đám đệ tử mới trung thành.
***
Trấn
Hà Tiên là địa điểm cuối cùng và quan trọng nhất của
chuyến hành hương. Theo đúng chương trình vạch sẵn, Quốc
sư được quan Chưởng vệ (4) thống lĩnh 5 vệ thủy quân
miền duyên hải phương Nam hiệp cùng quan Trấn Thủ Hà Tiên
long trọng đón tiếp từ ranh giới huyện Kiên Giang, để dùng
ghe hầu xuôi theo kinh đao về Ba Hòn (3), một vùng tập trung
đa số núi đá vôi của Hà Tiên. Đá vôi có tính chất là
dễ bị soi mòn bởi nước mưa, do đo, qua năm tháng, những
núi đá vôi thường bị xẻ đụt để biến thành những hình
thù kỳ dị hoặc cấu tạo nên những hang động thần bí,
với vô số thạch nhũ dị dạng. Những hang động rộng rãi,
xinh đẹp, nổi tiếng như Thạch Động ở thị trấn Hà Tiên,
chùa Hang ở Bình Trị… đều được kiến lập thành chốn
tu hành dập dìu khách hành hương lễ bái. Số lớn còn lại
như núi Đá Dựng và nhóm núi vùng Ba Hòn, hang ngách ngang dọc
chằn chịt, vắng người lui tới, là chốn ẩn thân lý tưởng
của những phần tử trốn tránh ngoài vòng pháp luật. Thấu
hiểu mối lo âu của nhà Vua, Quốc sư dừng lại Ba Hòn khá
lâu để tìm hiểu dân tình. Nhận thấy núi đá vôi cằn cỗi
khó tự túc nếu thiếu nguồn tiếp tế lương thực của dân
xóm chài, nên Quốc sư kết nạp ngừơi trong giới cư sĩ.
Ngoài ra, hai vị tu sĩ ngụ tại Chùa Hang và Chùa Khóm Tre đều
là những vị đầy nhiệt tình đạo pháp, đã được sư nhận
làm pháp đệ, nên chắc chắn sẽ phục vụ quân vương đắc
lực. Nhân dịp này, Quốc sư cũng được viên Chưởng vệ
đưa đi viếng hang Tiền, căn cứ bí mật của Vua trong thời
gian chuẩn bị tổng phản công để chiếm Gia Định thành
năm Đinh Tị. Núi Long A宠là ngọn núi đá vôi khá lớn toạ
lạc cách Ba Hòn chừng 2 dặm về hướng Bắc. Hai phần của
núi còn tựa vào đất liền, phần ba còn lại chồm xa ra ngoài
biển. Núi cũng có những khóm cây thưa thớt mọc cằn cổi
trên vài cụm đất nhỏ, phần còn lại bao phủ bởi loại
đá răng cưa tua tủa nhọn hoắc, không lối leo trèo. Co đường
lên núi lại là con đường biển. Nước biển sâu, thuyền
có thể vào sát chân hòn. Neo thuyền bên bến đá xâm xấp
nước, khách liền thấy lẫn khuất sau vồ đá nhô ra, một
hang sâu thăm thẳm. Mò mẫm bước vào hang, mắt vừa quen với
bóng tối, khách bỗng khám phá trong ánh sáng mờ ảo, một
thế giới thạch nhũ cả ngàn loại sai biệt về hình dáng
lẫn màu sắc, nhưng đều mang tính chất diễm ảo thần tiên.
Hang nở rộng dần thành động. Động hình nó. Từ trên chóp
đỉnh cao ngất, ánh sáng dìu dịu tỏa nhẹ, làm phong cảnh
thiên nhiên thêm huyền bí. Mọi cảnh vật: Vách đá vằn vện
lồi lõm, hồ nước con con, thạch nhũ, viên sỏi láng bóng,
một đám rong rêu, tất cả đều phô bày nét đẹp đặc thù.
Ngay như giọt nước thoát từ trái thạch nhủ no tròn, bỗng
mường tượng như một viên kim cương long lanh màu sắc. Trung
tâm động rộng rãi đủ cho bầy tôi Vua Gia Long quay quần
họp mặt. Cạnh đó, một lò đúc đã từng được thiết
lập để đúc tiền kẻm, dùng cho chi phí quân lương. Đó
cũng là lý do, mà hang Long A宠cũng được gọi là hang Tiền.
Thạch động còn có đường hang lên dần tới đỉnh, nhờ
vậy, hang động nói chung, có sức chứa cả ngàn người, với
ưu điểm là chòi canh trên đỉnh cao, có thể quan sát rộng
rãi bốn phương trời.
Quốc
sư được quan Chưởng Vệ hướng dẫn sang một ngách nhỏ,
đi len lỏi đến một động hẹp hình chữ nhật, như một
gian phòng thiên nhiên. Phòng trống trải được hoá công thiết
trí sẵn một chiếc giường đơn bằng đá nhẳn thín.
Thưa
Quốc sư! Viên Chưởng Vệ lên tiếng, đây là nơi hoàng thượng
ngủ nghĩ. Tìm được long sàn này, bọn bầy tôi ai nấy hân
hoan tin tưởng Chúa thượng quả thật là bậc "Chính vì Vương"
nên mới được Trời Phật an bài mọi việc. Nằm trên long
sàn, một hôm hoàng thượng nhìn lên vách đá kia, chợt thấy
hình ảnh ngày quân ta chiến thắng rõ ràng hiển bày trước
mặt. Trước đó, thuộc hạ ai ai cũng nức lòng quyết tâm
chiến đấ tiêu diệt quân thù. Vách đá đó, vì vậy, được
mang tên là "Sấm ký nham".
Giai
đoạn này Quốc sư đã nghe nhắc nhở mãi, nên không mấy
ngạc nhiên. Sấm ký nham cũng không có gì đặc biệt, đó
chỉ là một tảng đá rằn ri hổn tạp, lồi loom, nhiều vết
nứt rạn, rong rêu, mốc meo, trong ánh sáng lờ mờ có thể
biến thành hình ảnh sống động bởi người giàu óc tưởng
tượng. Nhìn vách đá cũng giống như nhìn đám mây bồng bềnh,
để suy tưởng thành hình người hình thú. Quốc sư không
tin thuyết huyền bí màu nhiệm, tuy nhiên, Quốc sư lại kích
thích bởi ý định nằm nghỉ ngay tại địa điểm xưa Vua
nằm, nên tỏ ý mệt mỏi cần phải nghỉ ngơi. Còn lại một
mình, sư thoải mái nằm xuống. Cảm giác mát lạnh của giừơng
đá truyền vào người sư, khiến sư khoan khoái và tươi tỉnh.
Tình cờ sư hướng về sấm ký nham, rồi bỗng nhiên mắt
sư như bị một hấp lực vô hình dán chặt vào đó. Những
đường nét tạp nhạp bất động bỗng trỗi dạy nhảy múa,
để kết hợp lẫn nhau thành những hình ảnh chập chờn.
Rồi sư bỗng thấy hình ảnh sư, với đầy đủ đường nét
rõ rệt, đang lom khom dưới cội cây trôm. Sư mừng rú lên
chờ đợi ngôi Quốc tự nguy nga sắp hiện ra, thì tên lính
hầu cận của viên Chưởng Vệ bước vào phá rối:
Kính
thưa Quốc sư! Quan Chưởng Vệ con kính mời Quốc sư thưởng
thức trà!
Giả
ảnh đột ngột tan biến, dù Quốc sư nhanh nhẹn khoát tay
đuổi tên lính như "đuổi tà", nhưng vẫn không cứu vãn kịp.
Sư cố gắng tập trung sức tưởng tượng nhìn mãi sấm ký
nham mà cũng vô dụng, đành phải trở ra ngoài.
Kính
mời Quốc sư chén trà Long Tỉnh.
Dù
đang bực bội, sư cũng niềm nở khen ngợi:
Trà
Long Tỉnh pha bằng nước suối ngầm, quan Chưởng Vệ quả
thật là bậc tao nhân sành sỏi.
***
Phái
đoàn trở về thuyền để lên đường đi Phú Quốc. Phú Quốc
là một hải đảo có diện tích rộng lớn, hội đủ điều
kiện cho một lực lượng nổi dậy đồn trú lâu dài. Đất
đai Phú Quốc phì nhiêu có thể trồng đủ loại ngũ cốc,
nước ngọt khắp nơi, thú rừng thật nhiều, rừng cây danh
mộc to lớn có thể dùng để đóng chiến thuyền rất thừa
thải. Dãi núi Cẩu Sừng tức Cửu cửu Sơn, gồm 99 đỉnh
cao sâu hiểm trở, một người lẫn trốn thì không quân đội
nào truy tầm được. Trong những vùng có dân cư ngụ: Dương
Đông, Cửa Cạn, Hàm Ninh, An Thới, chỉ riêng Dương Đông
mới hình thành được chính quyền xã như vậy, chỉ mới
kiểm soát được một phần vạn diện tích toàn đảo. Chuyến
đi hành hương Phú Quốc, vì vậy, có một tầm quan trọng
đặc biệt.
Quốc
sư được quan Chưởng Vệ mời ngự trên chiếc thuyền chỉ
huy, đóng kiên cố và đầy đủ tiện nghi. Thuyền xuôi gió,
sáu cánh buồm căng phòng, đưa thuyền lướt nhẹ nhàng trên
sóng biển. Thuyền rời Ba Hòn, lần lượt xuyên qua mấy mươi
hòn đảo duyên dáng quay quần nhau như họ hàng, nên được
gọi tên chung là HÒN HỌ. Ưu tư với công tác, Quốc sư thầm
nghĩ: "Đảo nhỏ, đất đai bằng phẳng, gần đất liền,
không phải là môi trường lẫn trốn". Rồi có lẽ nhằm phô
trương chiêu bài hành hương, Quốc sư hỏi tên lính hầu:
Chẳng
hay trên các hải đảo nầy có tu sĩ không?
Thưa
không.
Phong
cảnh đẹp mà thiếu cao tăng thì đáng tiếc thật!
Dạ
thưa Quốc sư cũng có cao tăng ạ! Dạ con được nghe ở Hòn
Nghệ, có người tu hành đắc đạo. người ta nói Ông đạt
pháp đi mây về gió. Người ta nói Ông đạo nghe và nói chuyện
với loài chim, loài cá. Người ta nói Ông đạo khi còn tu ở
hòn Mấu, ngồi trên bãi cát thuyết pháp cho đá, đá cũng
bò lên từng đàn sắp từng hàng thứ tự từ nhỏ đến lớn
để nghe nũa. Người ta lại nói…
Nghe
tên lính cứ lập lại câu "người ta nói" hơi nhiều, mệt
quá, nên Quốc sư khoát tay bảo yên lặng, rồi hỏi:
Có
ai thực sự biết Ông đạo hay mọi người đều chỉ đồn
nghe đãi mà thôi?
Dạ
thưa! Dạ thưa! Chắc ai cũng nghe đồn đãi rồi kể lại mà
thôi!
Hòn
Nghệ gì đó có gần với Phú Quốc không?
Dạ
thưa Quốc sư! Đảo ấy trên đường đi, hiện rõ ở trước
mặt chúng ta kia kìa!
Tên
lính già chỉ hòn đảo xa tít mù khơi, hòn đảo có dáng dấp
như một nắp vung đầy đặn, với cái núm ở trên. Dù đã
ở trong tầm mắt, thuyền xuôi gió phóng nhanh, nhưng cũng phải
mất hai ngày mới đến nơi. Nhìn diện tích hòn đảo khá
rộng, phần Nam đảo sừng sững núi đá vôi đầy hang động
nguy hiểm, Quốc sư thình lình quyết định ghé lại để hành
hương. Thật ra, Quốc sư khônh tin gì về huyền thoại đắc
đạo của Ông thầy tu Hòn Nghệ, nhưng đảo nằm nửa đường
đi Phú Quốc, một vị trí chiến lược, nên vị tu sĩ vô
danh đó cần được móc nối.
Bãi
cát cạn nên chiếc thuyền phải neo ở ngoài xa. Chiếc xuồng
thúng tre nhẹ hửng được thả xuống để đưa Quốc sư và
phái đoàn tháp tùng vào bãi. Trên thúng Quốc sư đã thấy
căn nhà cỏ nhỏ bé lụp xụp núp sau hàng dừa đơm trái.
Một lão già mặt mũi nhăn nheo, tóc râu bạc trắng, vận bồ
quần áo nâu củ mèm, rách nát, đang xăm xoi đám bắp lơ thơ.
Lão già lù khù thoáng giựt mình, ngây ngô ngó sửng khách
phương xa đột ngột xuất hiện. Người lính giàphóng nhanh
đến bên lão, kính cẩn chào thật sâu và Ông lão cũng đáp
lễ long trọng không kém.
Thưa
Ông đạo! Hai vị đây là Quốc sư và Quan Chưởng Vệ thủy
quân.
Danh
vị Quốc sư, từ quan chí dân, vừa nghe qua đã gập đầu
vái lạy, thế nhưng lão già ngây ngô chỉ gật đầu chiếu
lệ mà thôi. Có lẽ lão già quê mùa dốt nát trọn đời chưa
từng được nghe đại danh Quốc sư hay quan Chưởng Vệ, nhân
vật cao cấp nhất lão tiếp xúc chỉ là hạng lính quèn, thảo
nào, đối với lính thì kính nễ còn đối với đại nhân
vật thì lại dửng dưng. Vừa khó chịu vừa nản lòng, thấy
không thể khai thác gì được lão già khờ khạo, nhưng Quốc
sư cũng giả vờ hiếu kỳ vồn vã và thăm hỏi:
Chẳng
hay lão tu theo pháp môn nào! Tu đã bao lâu rồi vậy?
Thưa
Quốc sư ! Năm mươi năm trước con được một thầy đồ
dạy niệm câu: "Nam VÔ Tịnh THỒ Giáo chủ A Di Đà Phật".
Con cứ thế mà niệm liên tục, chớ không tu hành chi cả.
Nguyên
chữ Vô ( ) và chữ Thổ ( ), trong nhà Phật, tùy trường hợp
phát âm là MÔ và ĐỘ thì mới đúng. Nho gia không hiểu lẽ
đó, nên mới đọc câu niệm Phật sai lầm. Thấy kẻ tu hành
dốt nát, bỏ mấy mươi năm làm việc vô dụng, Quốc sư rủ
lònng thương, chỉ dạy:
Lão
phải niệm như thế này mới đúng: " Nam mô tịnh độ giáo
chủ A Di Đà Phật".
Dạ!
Con xin đa tạ Quốc sư chỉ dạy.
Đoạn
lão già khóm róm cúng dường sư nước dừa và thỉnh nguyện
được cúng dường cơm trưa. Tuy khù khờ, nhưng lão nấu nướng
nhanh nhẹn. Chỉ một thoáng là đã dọn lên mấy món ăn ngon
tuyệt: gỏi bắp chuối, mít non kho, canh chua củ hủ nhum…
Hai ngày trên thuyền, dù sao cũng tù túng, nên được thoải
mái "độ cơm", Quốc sư cũng dùng rất thật tình.
Ì
ạch leo trở lên thuyền, Quốc sư đâm ra bực bội tên lính
già nhiều chuyện làm sư phí phạm thời giờ vô ích. Viên
Chưởng Vệ có vẻ cũng kém vui, nhưng chưa dám để lộ ra
ngoài, chỉ dò dẫm:
Thưa
Quốc sư! Ngài nhận thấy lão đạo này như thế nào?
A!
ông đạo ấy… THỰC…. NGỘ…!!
Người
miền Nam dùng chữ ngộ có nghĩa là ngộ nghĩnh dễ thương,
mà cũng có thể là khùng khiệu, tầm bậy tầm bạ, không
giống ai. Quốc sư dùng chữ thật khéo, chữ NGỘ không nặng
nề thô lỗ làm giảm đức độ bậc chân tu đạo hạnh, nhưng
khi được phát âm dài ra thì cũng diễn tả được ý chê
bai khinh miệt trong lòng.
Thuyền
lại lướt sóng. Câu chuyện bực mình về Ông đạo khùng
cũng nguôi ngoai. Quốc sư ngồi trên mui đón gió mát và dự
định lần chuỗi niệm Phật. Xâu chuỗi bồ đề to tướng
của Vua ban biến mất. Sư sực nhớ khi phải đi vệ sinh trên
đảo, sư gởi tạm xâu chuỗi tại bàn thờ Phật, rồi quên
lửng. Quốc sư bối rối không biết nên quyết định như
thế nào? Thuyền đi khá xa, nếu quay lại ngược gió phải
chạy giác lời giác lỗ (5) thì mất rất nhiều thì giờ.
Còn chờ chuyến về ghé lại thì chẳng biết bảo vật có
còn không?
Quốc
sư bồn chồn nhìn về hướng hòn Nghệ. Thình lình Quốc sư
thấy lờ mờ hình dáng một người rời đảo thoan thoát đi
trên biển cả. Sư dụi mắt, cấu tai để kiểm chứng mình
đang tỉnh thức. Rõ ràng là Ông đạo đang bước trên nước
giống như đi trên đất liền. Khoan thai mà nhanh như làn gió,
lão già đã đi tới thuyền, bước lên đến bên Quốc sư
trao xâu chuỗi bồ đề:
Thưa
Quốc sư, Ngài đã bỏ quên xâu chuỗi này.
Quốc
sư như bị thôi miên cứng động, giờ mới cầm lấy xâu
chuỗi, rồi ú ớ:
Dạ
thưa Ngài! Ngài là bật thần thông cái thế. Xin Ngài từ bi
cho con được sám hối tội ngã mạn của con.
Thần
thông chi đâu thưa Quốc sư! Khi đi lão chỉ việc bước tới
mà không khởi tâm phân biệt, đâu là đất, đâu là biển,
đâu là trời mây, nên không bị ngăn ngại mà thôi!
Nói
xong Ông lão bước theo một áng mây trôi đi mất.
Quốc
sư lâu nay tuy tu hành mà tâm sôi sục phân biệt thiệt hơn,
thành bại, nhục vinh…., nên tuy tu theo nẽo chánh, mà tâm
lẫn khuất theo đường tà. Nay vừa nghe Ông lão đối đáp,
bỗng cất tiếng thở than:
Ta
vọng chấp lục trần mà dám múa may dạy bậc đại sĩ phân
biệt mô vô, thổ độ, thật đáng hổ thẹn! Tâm không
phân biệt thì đâu là chỗ trụ, mà không chỗ trụ thì sao?
(6)
Quốc
sư quì xuống, hướng về Hòn Nghệ cung kính lễ 3 lạy. Khi
Quốc sư đứng dậy, thì thấy viên Chưởng Vệ đứng bên
cạnh, trố mắt ngạc nhiên, thưa hỏi:
Thưa
Quốc sư ! ngài lễ Trời Phật hay thánh thần, sao không để
con ra lệnh thiết lập bàn thờ cho long trọng?
Quốc
sư hiểu Ông đạo xuất hiện để chỉ điểm riêng cho Quốc
sư, chớ không lộ cho kẻ sơ cơ thấy thần thông mà lầm
lạc thành cứu cánh, nên người từ tốn đáp:
Thưa
quan Chưởng Vệ! Tôi kính lễ ÔNG ĐẠO HÒN NGHỆ. O⮧ đạo
là Bậc THỰC… NGỘ ….
Chữ
Thực Ngộ lần nầy hòan toàn có ý nghĩa khác, khi sư phát
âm kéo dài lại diễn tả được lòng thành tâm quy ngưỡng
của sư. Ngừng một lát, Quốc sư nói tiếp:
Thưa
quan Chưởng Vệ. Chuyến hành hương đến đây là hoàn mãn.
Quan Chưởng Vệ có thể hạ lệnh cho thuyền trở về đất
liền được rồi.
Tháng
2/1989
Cước
chú:
Linh
Phong cổ tự, toạ lạc tại xã Tân Hiệp, quận Bến Tranh,
Định Tường.
Kim
Chương tự: do Đạt Bổn thiền sư kiến lập năm 1755 với
tên Thiên Trường tự. Về sau được đổi tên thành Kim Chương
tự, nơi đông cung Nguyễn Phúc Dương được suy tôn kế nghiệp
Chúa Nguyễn (1755).
Ba
Hòn: Ba Hòn chỉ cho 3 hòn nhỏ mọc liên tiếp nhau tại ngã
ba Hà Tiên Kiên Lương. Vùng Ba Hòn là vùng núi đá vôi mà
Công ty Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên được thiết lập một lần
với quận Kiên Lương.
Thủy
quân triều Nguyễn có 15 vệ chia làm 3 doanh. Chỉ huy cấp doanh
là Chưởng Vệ.
Thuyền
buồm ngược gió phải lái theo đường gẩy (zigzag) một lượt
lời và một lượt lỗ.
Phật
dạy: "Tu bồ đề! Các vị Đại Bồ Tát phải giữ tâm thanh
tịnh, chớ nên sanh vọng tâm trụ chấp nơi sắc trần, thinh
trần, hương trần, vị trần, xúc trần và pháp trần. Tóm
lại, Bồ tát đừng khởi vọng tâm trụ chấp một nơi nào
cả" (Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm).
Kinh
Kim Cang lược giải (T. Thiện Hoa)