LOÀI HOA
BÌNH DỊ
Quà
Vu Lan cho ba
Thuở
mới kiến tạo, lộ Lâm Quang Ky giống như một con đê chạy
dài theo bờ biển ấp Vĩnh Lạc, Rạch Giá. Ngày ấy, trên
bãi sình lầy hoang vắng chỉ có rừng mắm chằng chịt. Nhưng
biển cứ cần cù mang phù sa tô bồi mãi, nên chẳng bao lâu,
những căn nhà xinh xắn đã xuất hiện trên mặt tiền đường,
rồi từ từ lấn sâu thêm mãi. Khi tình hình an ninh ở miền
quê trở nên tồi tệ, dân chúng đổ xô ra tỉnh làm nhà ở
thật khan hiếm. Nhu cầu cấp bách không thể chờ đợi đất
bồi "cà rịch cà tang" nên có người nghĩ đến giải pháp
cất nhà sàn. Thế rồi, với chiếc cầu ván hẹp té xử dụng
như đường đi độc đạo vào đất liền, những chiếc nhà
sàn thô sơ san sát quây quần bên nhau. Cầu được chấp nối
mãi nên dài nhằn, nhưng càng lúc càng teo dần. Khoảng bắt
ngang những căn cuối cùng, cầu ốm nhom với miếng ván long
đinh, vùng vằn theo từng bước chân đi. Cầu riêng vào nhà
bé Vân – căn nhà cuối cùng -, thực ra, chỉ là một khúc
tre, gát lơ mơ trên hai cặp cừ đóng chéo. Những lần đầu,
bước lên cầu tre lắc lư, Vân níu cứng tay mẹ, nhít từng
bước, mà run như thằn lằn đứt đuôi. Bây giờ, thì Vân
quen thuộc rồi, em đi thoăn thoắt như đi trên đất liền.
"Ví
dầu! Cầu ván đóng đinh
Cầu
tre lắt lẻo gặp ghình khó đi"
Gặp
ghình khó đi như thế nào, bé Vân vẫn thương lối về, thương
con cầu gầy guộc, xóm giềng đìu hiu, và nhất là thương
căn nhà tiều tụy, tổ ấm đã chứa chan bao tình yêu thương
mật ngọt của mẹ cha.
Chị
Năm, mẹ của bé Vân, cũng bằng lòng không kém. Chị thường
sung sướng bảo: "Đây mới chính là căn nhà của mình". Bao
năm rồi, chị Năm ôm con theo chồng vất vả di chuyển ngược
xuôi với đơn vị. Chị cũng có nhà trong trại gia binh, nhưng
đó đâu phải là nhà "của mình". Huống chi, thời gian đó,
chị lúc nào cũng phập phòng lo sợ cho tánh mạng của chồng,
nên đâu có phút nào vui. Anh hạ sĩ Năm bị thương rồi bị
giải ngũ. Tiền lính thì đã tính liền. Vợ chồng không còn
xu ten dính túi, lủi thủi về Rạch Giá tạm nương náu với
gia đình bà cô. Thời may, nhờ bè bạn giới thiệu, anh Năm
thuê được chiếc xích lô đạp để kiếm sống qua ngày.
Nhà bà cô chật chội, anh Năm theo bạn bè đến chùa Phổ
Minh, toạ lạc tại góc đường Cô Giang và Lâm Quang Ky, ngủ
nhờ. Do đó, anh vô tình khám phá ra được xóm nhà sàn trên
bãi biển, mà "xí" phần để cắm dùi.
Anh
Năm, tuy thỉnh thoảng cũng mơ về thời quân ngũ hào hùng,
nhưng thường thì anh an phận với kiếp sống lam lũ của mình.
Dù gân cốt rã rời, mồ hôi nhuể nhại mà mang được tiền
về cho vợ quí, con cưng là mãn nguyện lắm rồi. Vả chăng,
bé Vân cũng đáng để mà cưng. Em ngoan ngoãn và biết thương
yêu cha mẹ, tuy hơi nhỏng nhẻo một chút. Đã 9 tuổi đầu,
Vân vẫn thường chui rúc vào lòng mẹ, ỏng a ỏng ẹo, nói
đớt nói đát, đòi mẹ ru cho ngủ. Một tay mẹ xoa đầu,
tay khác vỗ mông nhè nhẹ, rồi cất tiếng ru à ơ…, ví dầu…,
để cho Vân lim dim "măn vú" mẹ mà đi lạc vào giấc ngủ
thần tiên. Sáng nào thức dậy, vừa trở mình "ư" một tiếng,
thì đã có mẹ bên cạnh, tíu tít nâng niu. Mẹ đỡ dậy,
chãi đầu, đánh răng, lau mặt. Đôi khi Vân còn trận thượng,
nằm thẳng cẳng để mẹ thay quần áo thì cơn nhỏng nhẻo
mới đả nư. Vân mà đau một tí thì phải biết, Vân mặc
sức làm tình làm tội mẹ. Vân rên nhè nhẹ để mẹ cuống
quít lo âu. Vân vùng vằng không uống thuốc, không ăn cháo…
để mẹ ỉ ôi năn nỉ. Có lần mẹ mắng: "Con gái hư quá!",
nhưng Vân biết mẹ mắng yêu thôi. Mẹ chẳng bao giờ nghĩ
là con mình hư, mà còn khuyến khích ngầm cho Vân nhỏng nhẻo
nữa kia. Thật ra, Vân biết nhỏng nhẻo cũng hư chút chút,
nhưng nhỏng nhẻo thích thú lắm, Vân làm sao mà chừa được?
Với
cha, dù biết được yêu thương đậm đà, Vân cũng không dám
nhỏng nhẻo quá mức. Ba trầm lặng quá, không nựng nịu,
ôm hôn Vân chùn chụt như mẹ. Thương lắm, ba vuốt tóc Vân
nhè nhẹ, rồi dúi cho con một đồng, để Vân chạy ù ra quán
"chệc" Lủ mua bánh lỗ tai heo, bánh men, hay miếng Xoài, trái
cóc. Đòi quà, đòi đồ chơi mà òn ỉ với ba thì chắc ăn.
Ba không bao giờ từ chối. Mẹ có cằn nhằn ba, thì ba cười
dễ dãi: "Tội nó mà mình! Thôi cũng cho con mình nó có với
người ta".
Ba
thừơng cho rằng ba là Phật tử lâu năm, - ba đến chùa gởi
xe lấy xe hàng ngày cả năm rồi -, nên ba cũng khuyến khích
vợ con đi chùa cho có phước. Ba sắm cho mẹ một áo dài,
Vân cũng có quần áo mới, để ăn mặc lành lặn khi lễ Phật.
Phần ba, ba chỉ độc có quần "xà lỏn" với chiếc áo nhà
binh bạc màu, nhưng ba nói ba không cần đồ mới: "Tui vào
chùa bằng cửa sau để bửa củi làm công quả, khi gởi xe
và lấy xe thì trời đã tâm tối, thì cần gì quần áo lành
lặn. Còn đạp xích lô mà bận quần áo tốt, thì thiên hạ
chửi cho đó".
Chính
vì thế mà ba không có quần dài để dự lễ quy y. Nhờ thầy
chu đáo cho mượn bồ đồ lam ba mới đở lúng túng. Lễ quy
y đó ảnh hưởng rất nhiều đến nếp sống của ba. Ba thường
nhắc nhở lời thầy dạy về giới cấm uống rượu. Rượu
làm cho con người mất tự chủ. Say sưa đâu còn biết đến
chánh niệm, rồi thì giới nào cũng phạm đựơc. Những thứ
độc chất khác như xì ke, ma tuý, cần xa…, tuy thời Phật
tại thế chưa xảy ra để đặt giới luật ngăn cấm, nhưng
những thứ này, cũng làm con người mất tự chủ, lạc lỏng
chánh niệm, thì cũng phải chừa bỏ như là rượu. Thuốc
lá thật ra không nguy hiểm, miễn là đừng để quá ghiền
mà lảng quên chánh niệm thời thôi. Ba nói ba không hiểu chánh
niệm là cái gì? Nhưng ba là Phật tử thuần thành, ba nghe
lời thầy bỏ rượu, bỏ thuốc hút. Vả chăng, ba nói: "Thầy
dạy thời giờ uống rượu, hút thuốc… là thời giờ lảng
quên hiện tại, mà tui thì tui đâu muốn lảng quân con gái
cưng của tui".
Tiền
để dành được, do việc cai rượu và thuốc, ba "cất ca cất
củm" mấy tháng trời, rồi đưa hết cho Vân và bảo: "Con
đi cúng dường cho có phước". Biết ba "ăn gian", muốn dành
hết phước cho con, chớ không giữ gì cho ba, Vân bỏ tiền
vào thùng phước sương, rồi lâm râm khấn vái: "Phật ơi!
Tiền này là của ba con. Xin Phật ban phước cho ba. Kiếp sau
ba có nghề nào khá khá một chút, chớ còn đạp xích lô hoài,
khổ cực lắm…".
***
Ngày
chúa nhựt, Vân thường lân la đến chùa, len lén nhìn sinh
hoạt Gia Đình Phật Tử. Những em bé trạc tuổi Vân, quần
áo xinh xắn, ca hát, nhảy múa, nô đùa thật là vui. Vân thèm
thuồng quá!
Một
chị huynh trưởng, có lẽ thấy Vân mê mang, đờ đẩn, nên
ngoắt lại, rồi mời mọc:
Em
cưng! Em thích sinh hoạt không? Vào đây chơi vơi chị. Em nhé!
Vân
vừa e thẹn, vừa mừng rỡ, rụt rè đến bên chị. Sau buổi
sinh hoạt sơ khởi, Vân tung tăng về nhà, reo vang:
Ba
ơi! Nghe con hát nè:
"Xin
ba má con chừa!
Con
không dám vui đùa
Với
những kẻ hư thân
Mà
ba má hổng có ưa…"
Hay
lắm! Hay lắm! – Ba vổ tay – Ai dạy con đó?
Thưa
ba chị Diệu Lý, đoàn trưởng Oanh Vũ dạy tụi con đó. Ba
cho con gia nhập Oanh Vũ nghe ba?
ƯᡠTốt
lắm!
Chị
Diệu Lý nói con phải có đồng phục Oanh Vũ thì mới sinh
hoạt được.
Y᠍á
lên tiếng – bồ đồ đầm đó mắc lắm! Thôi tham gia Phật
tử Phật tôn làmgì?
Chị
Diệu Lý nói đồng phục rẻ rề hà! – Vân năn nỉ –
Rẻ
với người ta kìa. Còn mình nghèo thì sắm sao cho nỗi?
Thôi
mà mình! – Ba ôn tồn – Tội nghiệp cho con! Nghèo thì cũng
rán cho con có đồng phục như con người ta!"
Thời
gian Oanh Vũ quả là thời gian thần tiên. Vân được các anh
chị huynh trưởng thương yêu, chăm sóc, vừa được dạy dỗ
giáo lý, vừa được hướng dẫn vui chơi. Anh chị lại hy
sinh chăm sóc cả việc học hành, thi cử của các em. Nhờ
thế, vừa học xong tiểu học năm 12 tuổi, Vân đã đỗ ngay
vào trung học Nguyễn Trung Trực dễ dàng. Nỗi mừng của ba
thật bất tận. Ba khen, ba thưởng Vân đủ thứ. Tuy còn lâu
mới tụ trường, ba đã mua sắm đầy đủ cho con: quần áo
nữ sinh đồng phục, giầy dép, tập vở, bút mực…
Vân
lại được huynh trưởng cho chuyển lên ngành thiếu. Dĩ nhiên,
ngành thiếu hấp dẫn vô cùng, Oanh Vũ nào mà lại không ước
mơ.
Ba
ơi! Ba ơi! Con được chuyển lên ngành thiếu rồi! – Tiếng
của Vân mừng rơn làm ba vui lây. Ba phụ họa:
Con
ba giỏi quá!
Thật
ra, đủ tuổi thì chuyển ngành chớ con ba có giỏi gì đâu,
nhưng Vân không đính chánh. Em sẽ gần ba ỏng ẹo:
Mờ!
Con cần có áo dài đồng phục của ngành thiếu. Ba à!
Chuyện
ấy dễ mà!
Bỗng
nhiên Vân nhìn ba. Mấy thuở mà Vân có dịp nhìn ba thật kỷ
đâu. Vân thấy ba độ rày đen và gầy gò quá. Thỉnh thoảng
ba lại ho nũa. Vân thương quá, không muốn "vòi vỉnh" ba điều
gì hết.
Mà
thôi ba à! Chầm chậm lúc nào cũng được. Con mặc đồng
phục Oanh Vũ đỡ vậy!
Tầm
bậy! Con lớn rồi. Phải có áo dài chớ con!
Tuần
sau, khi Vân hí hửng đến nhà chị thợ may trong xóm lấy áo
lam về, thì thấy mẹ vừa tiễn anh Minh Tâm, Liên Đoàn Trưởng
Gia Đình Phật Tử ra khỏi nhà. Mắt mẹ buồn hiu làm Vân
cụt hứng không khoe được áo dài mới. Vân lại thắc mắc
không biết đã có lầm lỗi điều gì, để anh Minh Tâm đến
gặp mẹ trách móc không? Vân lăn xăn hỏi mẹ nhưng mẹ chỉ
lắc đầu. Vân không hiểu biến cố nào đã khiến mẹ như
kẻ mất hồn, mắt đăm đăm nhìn về biển khơi xa xôi mà
nước mắt rưng rưng.
Tối
đến, ba về nhà – Ba về trễ, thường thì Vân đã ngủ
say, nhưng hôm đó băn khoăn về ưu tư của mẹ nên còn trằn
trọc -, có lẽ ba khám phá ngay sự khác lạ của mẹ:
Má
nó có gì buồn vậy?
Im
lặng.
Tui
có làm điều gì bậy đâu? Sao má nó lại khóc? – Ba lo lắng
bồn chồn-
Mấy
tuần nay Ông mang về mấy lần 500 đồng. Tiền ở đâu mà
có như vậy?
Tưởng
chuyện gì! Tui nhận mối tháng rồi người ta trả trước
vậy thôi! Tui có trộm cắp của ai mà má nó quính quáng vậy?
Tui
hổng tin
Tui
thề đó!
Đừng
có thề ẩu! Tiền đó là tiền bán máu. Hồi chiều Bác sĩ
Minh Tâm – anh Minh Tâm thật ra là cán sự y tế – ghé ch
tui biết sự thật hết trơn rồi.
ƯᡠMáu
dư thì cho bớt chớ có nhằm nhò gì!
Nhằm
lắm chớ. Bác sĩ nói lâu lâu cho máu một lần thì được,
chớ bán máu hà rầm như Ông thì chết sớm. Mà! Tui không
biết tại sao Ông làm như vậy chớ?
Thì
tui cũng muốn má con bà, cũng có cái này, cái kia như vợ con
người ta.
Tui
hổng chịu! Tui hổng cho ông bán máu. Thiếu tiền thì rán
tiện tặn, chớ tui nói thiệt. Nếu ông bán máu một lần
nữa, thì tui cho con Vân nghỉ học, để hai má con tui đi ở
đợ cho người ta…
Nói
tầm bậy.
Ba
chồm dậy la lớn. Rồi im lặng hồi lâu, mà vẫn nghe tiếng
mẹ khóc thút thít, ba nhỏ giọng gượng gạo:
ƯᡠThì
tui không bán máu nữa. Tiền tui đạp xích lô cũng dư sức
nuôi hai mẹ con bà mà…
Vân
nằm yên, xoay mặt vào vách, nước mắt ràn rụa, mà vẫn
gắng dằn để khỏi bật thành tiếng nức nở, vì Vân nghĩ,
nếu ba biết Vân nghe rõ mọi chuyện, ba sẽ khổ hơn nhiều.
Nhưng
hàng năm, chùa Phổ Minh tổ chức lễ Vu Lan thật long trọng.
Với chủ đề "Một bông hồng cho mẹ", bài thuyết pháp của
thầy thật hay, thật cảm động, làmcho nhiều người rơi
nước mắt. Vân sung sướng đón cánh hoa hồng màu đỏ sẽ
gắn lên ngực em. Em hãnh diện còn mẹ và được sống trong
tình thương của mẹ. Bất ngờ, chị Diệu Lý vụng về đâm
cây ghim vào ngón tay Vân. Vân đau nhói, khẻ kêu "ui da". Một
giọt máu điểm trên chiếc áo dài lam làm Vân rùng mình, rởn
óc. Vân chợt nhớ đến ba. Em tự hỏi ba đã đổ bao nhiêu
giọt máu, bao nhiêu mồ hôi cho chiếc áo lam này, cho cuộc
đời của em. Nước mắt Vân long tròng, làm cho chị Diệu
Lý luống cuống, xuýt xoa xin lỗi.
Chị!
Em không đau đâu! Em khóc vì nhớ ba thôi!
Vân
ấp úng rồi lẩn tránh ra cổng. Tình cờ, Vân thấy ba đứng
bên cạnh chiếc xích lô gần đó. Ba chực hờ rước khách,
vừa ngóng nghe thời pháp.
Ba
ơi! Con đã có bông hồng cho má. Con muốn có một bông gì
tượng trưng cho ba nữa!
Bông
tượng trưng cho ba thì… ơ, ơ, bông bậy bạ gì chả được.
Để ba tìm cho con.
Ba
đến bồn bông trước cổng chùa, vừa định hái đóa bông
"Tí Ngọ" thì dừng lại, - có lẽ ba thấy bông tí ngọ tức
bông mười giờ, chưa tối đã khép ngủ, sáng bét mới chịu
nở ra, thật là nhàn nhã không hợp với ba – ba ngắt một
cánh bông dừa màu đỏ, bông bình dị, dãi dầu mưa nắng
như cuộc đời của ba. Vân sung sướng đón bông dừa, trang
trọng cài lên áo. Nhìn ba rồi nhìn cánh bông dừa mong manh,
tự nhiên Vân cảm thấy sợ hãi bang quơ. Ba vô tình không
biết, lên tiếng:
Thầy
thuyết pháp về tình mẹ hay quá! Nghe lời thầy, con hãy về
nhìn má con, rồi nói là con thương má thật nhiều….
Dạ!
Con sẽ nói với má như vậy.
Rồi,
Vân lặng yên nhìn ba thật kỷ, cảm thấy thương yêu dâng
tràn. Em nhỏ nhẹ:
Ba
ơi! Con muốn nói với ba điều này!
Gì
đó con!
Ba
có biết rằng con hãnh diện la con của ba, và con rất thương
ba không?
Rồi
Vân ôm chằm ba và khóc như mưa. Ba cũng ôm Vân và ba cũng
khóc. Những giọt nước mắt thương yêu của ba đã nhỏ ấm
trên bờ vai của em.
Lần
lần, Vân hiểu Vu Lan là mùa báo hiếu cho cha và mẹ. Sau này,
dù vị trí của người cha có bị ban tổ chức đại lễ lãng
quên hay làm lu mờ, thì Vân vẫn nhớ đến cha. Em âm thâm
cài cho em một bông dừa đỏ, bên cạnh bông hồng. Em hãnh
diện về tình yêu thương của cha lẫn mẹ đã dành cho em.
***
Biến
cố thương đau năm 1975 làm đảo lộn nếp sống bình thường.
Thầy Phổ Minh bị kiểm soát gắt gao, rồi bỗng nhiên mất
tích. Anh Liên Đoàn Trưởng Minh Tâm đi học tập, rồi Gia
Đình Phật tử tự đình chỉ sinh hoạ. Nhiều gia đình bè
bạn đã tan nát thương đau. Giới xích lô nhất thời sinh
sống được, nhưng cũng kiệt quệ dần. Qua năm sau, thì ba
thất nghiệp, vì chủ xe xin lấy xích lô lại để tự nuôi
thân. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó, thì anh Minh Tâm đi học
tập về. Anh ra vốn cho ba đứng tên mua một chiếc tàu một
bloc máy để đánh cá ven biển. Hoa lợi sẽ chia đều cho hai
gia đình chung sống. Đó là loại tàu nhỏ không vượt biên
được nên ít bị công an doom ngó, nhờ vậy, rất tiện để
xử dụng như một thứ taxi, nhận người ở đất liền để
chuyển giao ra tàu lớn giả dạng đánh cá ngoài khơi. Một
tổ chức vược biên móc nối thuê ba với điều kiện tiền
bạc hậu hỷ, nhưng ba chọn giải pháp hợp tác miễm phí
để đưa vợ con và gia đình anh Minh tâm cùng vượt biên.
Mọi
việc đều diễm biến tốt đẹp. Chỉ với bốn ngày hành
trình, chiếc tàu 72 người Việt tị nạn đã cặp bean Trengganu,
Mã Lai. Sau hai ngày chờ đợi, cả nhóm được di chuyển đến
trại tị nạn chánh thức Pulau Besar. Hòn đảo Pulau Besar cách
đất liền bằng một con rạch nhỏ, được Phủ Tị Nạn
Liên Hiệp Quốc thường xuyên thăm viếng, nên việc quản
trị rất thoải mái. Người dư tiền, có thể sang ngay một
chỗ cư trú, qua sông đi chợ hàng ngày, hay thuê taxi đến
tỉnh l#259;n chơi phung phí thỏa lòng. Kẻ nghèo thì phải
chấp nhận vất vả. Khẩu phần ăn tuy được trợ cấp tạm
đủ, nhưng chổ ở, nhu cầu cần thiết khác thì phải tự
lo liệu lấy. Do đó, để tránh cảnh tạm trú trong hội trường
trống trải, anh Minh Tâm và ba, đã tức tốc vào rừng đốn
cây, đốn lá để đựng hai cái lều nhỏ, rồi đến giừơng
chỏng, bàn ghế thô sơ. Sau đó, ba lại đi làm công dựng
nhà cho những kẻ khác, để có tiền sắm sửa vài bộ quần
áo thay đổi cùng vài chi tiêu lặt vặt cần thiết khác. Ba
làm việc quá cần cù mẹ ngăn cản khuyên lơn ba nghỉ ngơi,
thì ba than thở: "Không đạp xích lô, thì tui phải kiếm việc
gì làm. Chớ ở không hoài, thì tui buồn không chịu nỗi!"
Có
lẽ ba buồn thật, ba thường lang thang một mình, thẩn thờ
như kẻ mất hồn, rồi thỉnh thoảng lại chép miệng thở
dài: "Không biết đến xứ người, làm sao tui nuôi nổi vợ
con đây?". Chẳng biết có phải vì khí hậu, vì điều kiện
vệ sinh hay vì buồn lo hành hạ, mà sức khoẻ của ba ngày
càng sa sút. Ơণ273;ảo mới 6 tháng, mà ba hom hem già đi hàng
mười tuổi. Ba lại ho nữa. Ba ho từng cơn rũ rượi làm đau
xoáy cả ruột gan Vân. Năn nỉ ba đi khám bệnh thì ba phản
đối. Ba quả quyết ba vẫn khoẻ mạnh. Cho đến một hôm,
sau cơn ho dữ dội, ba ộc từng ngụm máu tươi, rồi ngất
xỉu. Ba được đưa đến bệnh viện Trengganu điều trị.
Bệnh viện cho biết ba bị lao phổi đến thời kỳ thứ ba,
nhưng họ chỉ có thể cho nằm bệnh viện 2 tuần, rồi cung
cấp thuốc để về đảo tự tịnh dưỡng. Bệnh nặng, mà
điều kiện sinh sống ở trại lại khắc nghiệt, cực khổ
thì sức khoẻ thật khó lòng khôi phục.
Trại
tị nạn ngày càng đông dân số, vì người đi định cư thì
ít, mà số vượt biên lại quá nhiều. Khi nhân số của trại
tăng lên đến năm ngàn người, thì trại không nhận người
mới vì sẽ đóng cửa. Để giải quyết tình trạng đó, chánh
quyền Mã Lai khuyến khích các phái đoàn quốc gia đệ tam
đến trại phòng vấn và nhận cho định cư hàng loạt. Những
gia đình khác vượt biên chung tàu, đều đã được tuyên
thệ, nhưng không biết nguyên nhân gì, mà gia đình Vân, một
gia đình thương binh thuộc thành phần ưu tiên, thì không phái
đoàn nào hỏi han đến. Mới đây, phái đoàn Hoa Kỳ, tuyên
bố chấp nhận tất cả những dân tị nạn vượt biên đến
trước ngày 31-12-78, nhưng gia đình Vân lại cũng bị bỏ rơi.
Vân khiếu nại và chứng minh mình đã đến trước thời điểm
đó hằng 6 tháng, thì họ trả lời có lẽ hồ sơ bị thất
lạc, nên sẽ cứu xét sau.
Từ
lâu, dân trại xầm xì rằng bệnh tình của ba là nguyên nhân
để các nước tránh né. Ai mà lại mang con bịnh về để
lay cho dân họ. Luận điệu đó ngày càng có người phụ họa,
để bàn tán xôn xao. Vân lo ngại điều đó sẽ lọt vài tai
ba, khiến ba thêm khổ sở. Nhưng tránh né thế nào cũng có
lúc ba nghe. Ba buồn rầu héo hắt. Ba than vắn thở dài "Tui
mà chết, chắc vợ con tui mới hết khổ". Vân bụm miệng
ba khóc lóc năn nỉ": Ba phải sống với con! Ba ơi!".
Rồi
đến lượt gia đình anh Minh Tâm đi định cư. Đưa tiễn anh
rời trại, Vân cảm thấy bối rối nôn nao. Em vừa buồn xa
một người anh cả bao che, chăm sóc, vừa phân vân cho tương
lai vô vọng của mình. Anh Minh Tâm kéo Vân đứng riêng một
góc để dặn dò:
Vân
à! Em có biết rằng ba em đã thường bán máu để lo cho gia
đình không?
Dạ
biết! Nhờ anh thông báo nên má em mới ngăn chặn ổng được.
Em
lầm rồi! Ba em vẫn tiếp tục không kể đến thân mạng của
ông. Nhưng ổng năn nỉ anh dấu diếm dùm, vì nếu không lo
được cho vợ con thì ông cũng sẽ tự tử cho rồi!"
Anh
Minh Tâm đi rồi mà Vân vẫn còn ngồi khóc một mình. Thương
ba vô vàn, mà không có phương cách nào giúp cho ba vơi khổ,
giúp cho ba hết bịnh. Gần đây, ba thường dặn dò Vân thương
mẹ và lo lắng cho mẹ. Thì ra, ba đã nghĩ đến giải pháp
biệt ly. Vân thầm nhủ: "Ba ơi! Con sẽ ở cạnh ba hoài. Không
đi định cư một mình đâu?"
Vân
có ý định bày tỏ cho ba hiểu rõ lòng mình, nhưng suy nghĩ
hoài Vân vẫn thấy khó mở lời. Vân ngần ngại không dám
nhắc đến những chữ: bệnh hoạn, định cư, phái đoàn…,
mà phản ứng gợi cho ba niềm khổ sầu bất tận. Vì vậy,
mà Vân trằn trọc, giất ngủ đến thật chậm và thật nặng
nề.
Khi
Vân thức giấc thì trời đã sáng. Cảnh trầm lặng của trại,
bỗng bị phá tan bởi những tiếng ồn ào, tiếng người chạy
rầm rộ. Có tiếng ai la lớn: "Trời ơi! Có người treo cổ
trong rừng! Ghê quá!". Bỗng nhiên Vân linh cảm nạn nhân là
ba: em phóng chạy theo những kẻ hiếu kỳ, chạy như điên
không kể gì đến gai gốc gạch nát mặt mày, tay chân em.
Rõ ràng là ba. Ba treo tòn ten trên nhánh cây, chết thật là
thê thảm. Trên ngực ba, ba ghim lá đơn thỉnh nguyện cho vợ
con một chỗ dung thân. Tờ giấy phảng phất như một bản
án tử hình dành cho kẻ phạm trọng tội: "Tôi thương vợ
con".
***
Không
bao lâu thì Vân và mẹ được định cư ở Hoa Kỳ. Phải mất
vài năm để ổn định cuộc sống, bây giờ, thì Vân đã
trưởng thành, có nghề nghiệp vững chắc, tự tin và yêu
đời. Giống như những con chim lẻ bạn, rồi cũng tìm về
quây quần bên nhau. Vân bắt đầu thăm dò những tổ chức
Gia Đình Phật Tử để về sinh hoạt. Nghiệp trưởng cũng
đeo đuổi anh Minh Tâm. Anh đã hao tốn bao tâm huyết để khởi
xướng và xây dựng được một Gia Đình Phật Tử hùng mạnh
tại một ngôi chùa Việt Nam ở Los Angeles. Nghe tin, Vân vội
vã đưa mẹ đến tìm anh. Tình cờ, Vân đã đến chùa đúng
vào đại lễ VU LAN. Lễ Vu Lan tổ chúc thật long trọng và
thật cảm động, với những biểu ngữ, những bài pháp, những
hình ảnh, tô đậm tình mẹ. Vân sung sướng đón nhận bông
hồng màu đỏ, sung sướng còn mẹ và được sống trong tình
thương bao la của mẹ. Bất chợt Vân nhớ đến người cha
bất hạnh, nàng ngậm ngùi ước ao có một đoá bông dừa
màu trắng cho người. Vân lặng lẽ đến các bồn hoa trong
khuôn viên chùa lục tìm. Nàng chỉ thấy nơi này toàn là những
loài hoa quyền quí, cao sang, chớ đâu có các loài hoa bình
dị, quê mùa, mộc mạc, nôm na… như bông dừa, như mống
tay, sao nhái, mồng gà của xứ mình.
Trong
làn nước mắt nhạt nhòa, Vân bỗng thấy bón cha lờ mờ
trong bộ y phục phu xích lô cũ kỹ. Nàng thổn thứ lập lại
lời đối thoại 7 năm về trước: " Ba ơi! Con muốn có một
bông gì tượng trưng cho ba đó". Ba nàng cúi xuống, ngắt một
cánh bông dừa màu trắng trao cho nàng. Đoá bông mảnh khảnh
mong manh quá, nàng chưa kịp cài lên áo, thì đã vỡ tan theo
ảo ảnh cha nàng.
Tháng
7, 1988