"Ðất
trầm thủy, trủng bong lầy lội, âm thịnh dương suy". Câu
tuyên bố cộc lốc của thầy địa lý già phán quyết cho
vùng Tầm vu (1) ngay từ thời khẩn hoang lập nước có giá
trị như một sấm ký, ám ảnh dân làng, nhất là khi tình
trạng chênh lệch nam nữ trầm trọng bắt đầu xuất hiện.
Trẻ em trai có phần hiếm hoi. Gia đình nào may mắn được
một thằng cu giữa bầy con gái thì thật là đại phước.
Câu
hát ru em thịnh hành một thời:
"Gái
Tầm Vu đồng xu ba đứa
Trai
Thủ Thừa cởi ngựa sang mua!"
phản
ảnh phần nào tình trạng dư thừa con gái ở Tầm Vu, tuy rằng
"giá cả" không rẻ mạt như vậy. (Thật ra, thì vào thời
khai hoang dựng nước, con gái miền Nam ở bất cứ nơi nào,
cũng được quí trọng, bởi lẽ số di dân ở miền ngoài
vào lập nghiệp hơn 2/3 là nam giới).
Nhà
họ Dương cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của định luật
vô hình đó. Dương phu nhân, sau khi sản xuất "liền tù tì"
mười cô tiểu thơ, gân cốt rã rời, mà vì thương chồng,
vẫn ước mơ gom tàn lực tạo một tác phẩm hoàn hảo chót,
một cậu út nối dõi tông đường. Thôi thì miếu nào, ông
đồng bà cốt nào?, hễ nghe tiếng linh thiêng thì bà đều
đến
để lễ bái cầu cạnh. Dương ông cũng lo lắng không kém.
Nghe ai chỉ dẫn thuốc đại bổ nào dễ tạo hạt giống nam
Ông đều thử. Ông lại mời thầy địa lý về sửa hướng
nhà, hướng bếp, thay giường đổi chiếu, rồi cũng sửa
đổi luôn thói quen vợ chồng nữa. Trăm phương ngàn kế chỉ
để mưu cầu một đứa con trai.
Có
lẽ trời không nở phụ lòng người, phu nhân nằm mộng thấy
phượng hoàng vào nhà, thì bắt đầu thọ thai. Niềm hi vọng
manh nha và ngày càng tăng trưởng. "Bắt mạch" ước mơ của
họ Dương, các thầy bói toán mặc sức tung hoành. Kẻ xem
tướng, chỉ tay, người trổ tài dịch lý, tử vi đẩu số,
âm dương ngũ hành? để tán tỉnh gia chủ. Các bà thầy, bà
mụ cũng không vừa. Họ tranh nhau vạch bụng, vạch ngực phu
nhân để tiên đoán: "núm đỏ quầng to sanh gái; núm săn sái
thon dài sanh trai", "bụng nhọn ra trai, bụng chày bày ra gái",
hoặc giả "Dạ trên sanh gái, dạ dưới sanh trai", vân vân
và vân vân. Trăm ngàn mồm mép của cậu bé trai phương phi
sẽ ra đời vào đầu Xuân Quí Mùi (nhằm Minh Mạng ngũ niên)
sắp tới. Nức lòng hả dạ, Dương Ông tổ chức mừng Xuân
thật linh đình. Ông bao dàn một gánh hát bội, trao giải thưởng
múa lân, ứng tiền tổ chức các trò vui nhộn: đấu cờ,
đẩy cây, đua xuồng, leo cột mở, bắt vịt? để dân làng
san sẻ niềm vui với gia đình Ông.
Chuẩn
bị cho giờ nở nhụy khai hoa, làng trên xóm dưới trông ngóng
tin để kịp thời chúc tụng, đoàn lân lấp ló sẵn đầu
ngỏ chực hờ múa may lãnh thưởng. Trong nhà heo, gà, vịt
đã trói sẵn chờ "mần thịt", gia nhân lui tới rộn ràng,
treo pháo lớn pháo nhỏ, trong ngoài, chờ lệnh để châm ngòi
cho nổ vang long.
Có
tiếng trẻ sơ sinh khóc, cả nhà nín thở chờ đợi. Dương
Ông chạy vội vào phòng. Cháu bé thật kháu khỉnh, nhưng Dương
Ông đâu có thời giờ để ngắm nhìn mặt mày. Ông chỉ châm
bẩm vào một chỗ, dụi mắt ngó tới ngó lui, tìm hoài vẫn
không thấy trái ớt con con, mà chỉ là con sò bé bỏng. Dương
Ông hổn hển trở ra, lấp bấp: "dẹp hết ! bỏ hết !", rồi
loạng choạng quỵ xuống trường kỷ nằm thiêm thiếp.
***
Thất
vọng khiến cho Dương Ông oán ghét Phật Trời, rồi đổ dồn
hờn căm lên đầu đứa con sơ sinh vô tội. Bóng dáng mũm
mịm dễ thương của bé Xuân chỉ nhắc nhở Dương Ông lại
cảnh bẻ bàng, khi Dương Ông ba hoa quá lố về đứa con trai
thông minh xuất chúng, không bao giờ hiện hữu của Ông. Mới
sanh được ba ngày, thì bé Xuân đã được giao cho vú Năm
? Vú Năm vừa sanh con thì đứa nhỏ chết yểu, nên được
thuê làm vú ? cho bú mớm nuôi dưỡng, với chỉ thị là chỉ
quanh quẩn ở khu nhà dưới dành cho gia nhân, hầu tránh chạm
mặt Ông.
Trong
hoàn cảnh đó, bé Xuân chỉ có thể sống lặng lẽ, hoà mình
với đám con gia nhân, và với sự thương yêu trìu mến của
vú. Cha thì ghẻ lạnh, các chị khinh khi không nhìn nhỏi, mẹ
thỉnh thoảng mới ban vài cử chỉ mến yêu nho nhỏ. Tuy nhiên,
vì không từng cực khổ với con, tình mẹ con kém khắn khít,
đã vậy thấy bé Xuân lam lũ lăn lội với đám trẻ nghèo
hèn, không lộ được cái phong lưu, kiêu kỳ? như các chị,
nên bà cũng nãn lòng, rồi ngày càng lơ là. Dù bị gia đình
hất hủi, bé Xuân không hề oán trách, nàng vẫn thương cha
mẹ dù luôn luôn phải tránh xa cha. Bởi vì, chỉ cần vin vào
một lỗi rất nhỏ của em, thì Dương Ông đã có cớ để
nổi giận đùng đùng, đánh đập em tàn nhẫn như đối xử
với kẻ thù.
Thế
là bé lăn lóc bụi đời ở khu nhà gia nhân, ở sau hè, ngoài
vườn, chớ đâu dám léo hánh đến gian nhà lớn nguy nga. Như
những trẻ nghèo, bé lấy đất sét nắn đồ chơi hay lấy
vành nia làm vòng, đánh chạy loanh quanh. Bé cũng theo bạn bè
ra đồng bắt cua, bắt cá, bẻ bông súng, mò ấu? hay đôi
khi lén qua khuôn viên chùa, hái chùm ruột, me dĩa (me non), me
dốt (me chín)? về làm bữa tiệc mắm ruốc sau vườn.
Các
chị cô sanh năm một, nên chẳng bao lâu, mấy cô đã trưởng
thành một lượt. Các cô chị ăn không ngồi rồi, quanh quẩn
trong nhà lớn mãi sanh ra bực dọc, bịnh hoạn? nhứt là nhàn
cư vi bất thiện, không việc chi để làm, thời các cô chỉ
rên rỉ, mộng mơ chuyện vợ chồng. Biết bệnh trạng các
con, Dương Ông một mặt lo săn rể, mặt khác rước thầy
đồ về, mượn tiếng cho con học chữ thánh hiền, mà thâm
tâm chỉ mong chúng bout rỗi rãnh sanh tâm bệnh. Thầy đồ
gặp phải đám tiểu thơ, quan được hầu hạ nuông chìu nên
biếng nhác chẳng để tâm vào việc học hành, nên thật chán
chường. Thấy trong đám trẻ lam lũ có bé Xuân, ngoan hiền,
thầy gọi đến dạy chơi, bất ngờ thâu nhận được một
học trò giỏi. Chỉ mới lên 8 tuổi, trong vòng một tháng,
bé Xuân đã thuộc làu làu bộ Minh Tâm Bảo Giám. Thầy đồ
thương quí quá, đi đâu cũng dẫn theo như một chú tiểu đồng.
Thầy đồ sang chùa đàm đạo với thầy Hải Thiện, bé Xuân
cũng đi theo để nấu nước pha trà chăm sóc quí thầy. Một
hôm, sau khi nghe thầy trụ trì giảng về lịch sử Ðức Phật,
thình lình bé Xuân đến bên thầy, kính cẩn thưa:
-
Thưa
thầy! Con xin phép thầy cho con được đi tu.
-
A! Con
gái mà cũng muốn thành Phật sao con? ? Thầy mĩm cưởi trêu
ghẹo.
-
Thưa
thầy! Nếu ai cũng có Phật tính không phân biệt trai hay gái,
thì con tu cũng có thể thành Phật. Ðúng không thầy.
Thầy
Hải Thiện giựt mình, không dám trả lời khinh xuất, chẩm
rãi dạy:
-
Ðúng
vậy con! Trai hay gái, sang hay hèn, tu cũng đều thành Phật
cả. Con thấy không? Chùa làng mình có thờ tượng Phật Thích
Ca, Phật A Di Ðà, chư bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm,
Ðiạ Tạng?, ngoài ra, còn tượng 18 vị la hán, tượng tam
thanh, tượng Quan Công, Ông Tiêu?, hình tướng khác biệt, đẹp
có, xấu có? nhưng tất cả đều có Phật tính, là PHẬT ÐÃ
THÀNH hay PHẬT SẼ THÀNH. Ðó là nguyên lý, tất cả là một,
mà một cũng là tất cả đó con.
Ngẫm
nghỉ hồi lâu, thầy dạy tiếp:
-
Con còn
quá nhỏ để xuất gia. Vã lại, muốn xuất gia con phải được
cha mẹ cho phép. Nhưng con có thể tu tại gia liền bây giờ,
không cần phải vào chùa cạo đầu mới tu.
Ðoạn
thầy Hải Thiện làm lễ quy y cho Xuân, ban pháp danh nàng là
Thanh Hôi, chữ Thanh thuộc thế hệ thứ 41 giòng Lâm Tế, chi
phái Liễu Quán, và chữ Hội, hàm ẩn sự việc bé Xuân sớm
đã hội được nghĩa màu.
Sau
khi quỳ trước Phật đài nguyện giữ giới không sát sanh,
không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, không uống
rượu?, bé Xuân cương quyết noi gương thầy trường chay để
nuôi dưỡng hạt giống từ bi. Em ăn chay âm thầm, nên chỉ
có thể dùng rau đậu nấu lẫn lộn với thịt, phương pháp
mà em học được khi nghe hai thầy luận đàm về Lục tổ
Huệ Năng. Em được hai thầy dạy dỗ tận tình, về Nho lẫn
Phật, nên sở học của em ngày càng uyên bác. Thấy Xuân thiết
tha với nguyện vọng xuất gia cầu đạo, thầy đồ và vú
Năm, tuy không bằng lòng, nhưng cuối cùng vẫn chuyển thỉnh
cầu của nàng đến Ông bà Viên ngoại. Ông bà chấp thuận
dễ dàng, chớ không có gì rắc rối như thầy đồ dự tính.
Có lẽ, đó là giải pháp tốt đẹp, vì ông bà sẽ không
phải ân hận khi đối xử tệ bạc với cô gái út của mình.
Thế
là Xuân bắt đầu tập sự làm điệu năm 14 tuổi, rồi được
thầy cho thọ giới sa di ni. Gia đình viên ngoại sống phong
lưu cạnh chùa, quên dần cô gái út, trừ vú Năm vẫn âm thầm
qua lại chăm nom săn sóc nàng. Thấy Xuân vất vả đảm đương
mọi việc trong chùa, gánh nước, bữa củi, trồng rau, quét
dọn trong ngoài, và cơm nước phục vụ thầy?, vú thật đau
lòng. Vú ước ao được kề cận tu chung với cô chủ để
săn sóc cô. Tuy nhiên, vì vú Năm ở trong hoàn cảnh "ở đợ
nát đời" ? anh Năm khi đưa vợ đến ở vú đã nhận một
số nợ. Tiền lời của số nợ được trả bằng công chị
Năm ở đợ. Chừng nào trả được tiền vay thì chuộc vợ
về, bằng không thì chị Năm phải ở đợ không công suốt
đời ? nên chị không có chút tự do để định đoạt số
phận mình.
Chùa
Thiên Thai theo truyền thống thiền tông, tuy vẫn chuyên cần
công phu khuya và tốt, cùng trau dồi nội điển thâm sâu. Sau
thời công phu, là thời toạ thiền, ngoài ra, sa di Xuân phải
học oai nghi và giữ chánh niệm theo những phương pháp do thiền
sư Ðộc Thể đề ra trong quyển Tì Ni Nhật Tụng Dụng Thiết
Yếu. Ði đứng nằm ngồi hay làm bất cứ động tác gì, đệ
tử phải luôn giữ chánh niệm bằng cách quán những câu kệ
trong lành. Như khi nghe chuông thì quán:
"Văn
chung thinh
Phiền
nào khinh
Trí
huệ trưởng
Bồ
đề sinh?"
Khi
vào nhà vệ sinh thì quán:
"Ðại
tiểu tiện thới
đương
nguyện chúng sanh
khí
tham sân si
quyên
trừ tội pháp"
Thanh
Hội thích hợp với phương pháp quán niệm nầy. Có lần,
quét lá me sân chùa, gặp lúc me vừa có trái non, trẻ nít
trong làng phá phách, quăng cành lá bừa bãi, làm cô sa di bực
mình. Nhưng khi vừa cầm chổi quét đi một lược, thì câu
quán niệm đã tự động hiện ra:
"Cần
tảo già lam địa
Thời
thới phước huệ sanh
Tuy
vô tân khách chí
Diệc
hữu Thánh nhơn hành."
Thanh
Hội giựt mình nhớ lại, giữ vững chánh niệm, mĩm cười
thương yêu, không để giận hờn, bực bội xâm chiếm tâm
mình. Từ đó, Thanh Hội hiểu ra là tu thiền chính là tu tâm.
Ði, đứng, nằm, ngồi, trồng rau, gánh nước? mà xử dụng
được để tu tâm là thiền, còn "toạ thiền cho mục đất"
nhưng tâm không chuyển, thì cũng thật là vô ích.
***
Sau
hai năm tận tình dạy dỗ đứa học trò cưng, thầy Hải Thiện
gởi đệ tử đến ni viện Phổ Ðà, tức chùa Cây Mai, Gia
Ðịnh thành; để nhờ sư bà Diệu Nghĩa hướng dẫn. Ni Viện
Tịnh Ðộ Tông nên không có câu kệ giòng phái, các pháp danh
của thầy lẫn trò đều bắt đầu bằng chữ Diệu, khó phân
biệt tôn ti trật tự như thiền tông. Thật ra, tịnh độ
tông quan niệm pháp danh cũng chỉ là giả tạm, nên các thứ
giả khác: pháp tự, pháp hiệu, vai vế giòng phái? lưu tâm
cũng được mà không lưu tâm cũng chả sao. Quan niệm đó cũng
rất thâm thúy, đầy thiền vị. Ni viện ở nơi đô hội,
tông tịnh độ lại hợp với căn cơ quần chúng thời mạt
pháp, nên Phật tử thật đông đúc. Ni sư Diệu Nghĩa vừa
đức độ, vừa có tài hướng dẫn và tổ chức nên đã gầy
dựng được phong trào tịnh độ thuần thành tại vùng Cây
Mai. Phật sự bề bộn, lễ nghi giao tiếp phiền phức? mà
sư bà vẫn giữ được sắc thái an nhiên thanh tịnh, công
phu cao dày thật hiếm có. Thanh Hội có dịp để học nơi
vị thầy khả kính, từ nội điển, đến đức độ, cách
đối xử "tuỳ duyên bất biến" của sư bà. Dĩ nhiên, cô
cũng phải dành phần lớn thì giờ chia xẻ trách nhiệm với
10 sa di ni cùng trang lứa để hổ trợ thầy. Thanh Hội bắt
đầu phụ trách bếp núc, rồi hương đăng. Sau đó, do tư
cách chửng chạc, khoan hoà, lại tinh thông chữ nghĩa, kinh
điển, sư bà chọn cô làm thị giả.
Cơ
thể con gái khoảng tuổi 15 đến 17 phát triển thật nhanh.
Thanh Hội không bao lâu đã trưởng thành, một cô gái xinh
đẹp khác thường. Vẻ đẹp của cô có cái gì thùy mị,
trang nghiêm của hoa sen tinh khiết. Từ thân thể nàng như toả
ra được niềm hòa ái khiến ai cũng yêu mến trong đạo vị.
Trong chùa, trừ hai cô sa di Diệu Kim và Diệu Ngọc thường
xầm xì phê bình:
-
Thứ
làm bộ làm tịch thấy ghét!
-
Mặt
mày nó rồi sẽ lấy chồng chớ tu giống gì ?
-
Nó nịnh
thầy, thầy cưng cho làm thị giả, chớ có biết gì đâu??
còn thì
ai cũng thương mến nàng.
Tuân
theo chỉ dạy của sư bà, Thanh Hội trì niệm lục tự Di Ðà
cẩn mật. Sáu chữ "Nam Mô A Di Ðà Phật" lúc nào cũng nối
liền không dứt trong tâm nàng, thành ra, dù nghe các sư tỷ
dị nghị, tâm nàng cũng đâu có khe hở nào để xúc động
như thường tình. Ðối với nàng, thì tịnh độ và thiền
như nhau không khác.
Chùa
lớn, không khí rộn rịp, không được yên tịnh như chùa
làng, và dĩ nhiên, thỉnh thoảng cũng có đôi chuyện thị
phi phiền não xảy ra, mà kẻ tu hành chỉ coi đó là nghịch
duyên thử thách mình.
Thật
ra, Phật tử cũng có hạng "cầu danh cầu lợi", nhưng quá
quắt như gia đình của viên lãnh binh Trương Ðại Nhơn, thì
quả thật đặc biệt? Bà lãnh binh đền chùa là để tạo
dịp "tác oai, tác phúc", khoe của, khoe tiền, và đòi hỏi
những ưu quyền đặc biệt hay áp lực chùa tổ chức theo
thị hiếu của bà. Ðầu Xuân Canh Tí, quan bà yêu cầu ni sư
phải đến tư gia hành lễ cầu siêu cho thân nhân, viện cớ
Bạch phu nhân, vợ của viên Tổng Trấn tiền trảm hậu tấu
Gia Ðịnh thành, có nhả ý tham dự lễ cúng dường, mà bà
lớn "thân phận quốc gia" không đến chùa được. Thế là
ni sư Diệu Nghĩa hướng dẫn phái đoàn ni cô đến hành lễ.
Rủi ro cho Thanh Hội, ngày ấy, Bạch công tử, con trai cưng
của Tổng Trấn và cũng là rễ quí của quan lãnh binh, lại
ở nhà. Hắn vừa thấy ni cô là đã đảo điên tâm thần.
Vốn là kẻ không tin Phật Pháp, mà công tử ta lại đòi quì
hàng đầu, mắt đăm đăm nhìn Thanh Hội, chẳng chút nể nang.
Cô vợ biết tính chồng, bực quá chỉ biết hờn lây nói
mát Thanh Hội:
-
Mặt
mày coi lịch sự (2) quá hén! Có tính tu thiệt không đó!
Từ đó,
Bạch công tử ngày nào cũng lân la đến chùa để trêu ghẹo
Thanh Hội. Hắn không úy kỵ gì chốn ni phòng, cứ xông đại
lục tìm ni cô, rồi sàm sở: "Em hai! Em hai đẹp mà đi tu chi
cho cực khổ ! Em hai theo qua mà an hưởng giàu sang!". Thanh Hội
chỉ biết nhẫn nhục yên lặng hay lẫn trốn vào phòng thầy
để được yên thân. Có lần, thấy công tử nói năng sổ
sàng quá, ni cô nhỏ nhẹ thưa: "Tiểu ni nguyện suốt đời
tu hành. Xin công tử đừng phá phách tiểu ni. Tội nghiệp".
Chỉ có thế mà Diệu Kim, Diệu Ngọc đã to nhỏ với nhau
là Thanh Hội phạm dâm giới vì đã nói chuyện với trai, rồi
cả hai đoan quyết là sớm hay muộn gì, nàng cũng sẽ hoàn
tục.
Trước
nay, Thanh Hội chưa bao giờ lâm vào hoàn cảnh phiền não lạ
lùng như thế nầy. Trong buổi công phu sáng, tụng Lăng Nghiêm
thần chú, ni cô chân thành mong cầu Ðức Phật từ bi gia hộ
cho cô thoát khỏi nạn ma vương nầy. Ngờ đâu, tụng kinh
xong, từ chánh điện xuống hậu liêu, bỗng dưng thấy viên
lãnh binh Trương Ðại Nhơn, đằng đằng sát khí, mặt khinh
người vác hất lên trời. Lãnh binh bà mặt mũi chầm dầm,
chống nạnh đứng bên cạnh cô con gái, mặt hoa ủ dột. Không
khí thật căng thẳng nặng nề, mà không ai biết được chuyện
gì nghiêm trọng đã xảy ra. Mọi người chỉ lặng lẽ chấp
tay xá chào tôn kính khách rồi chờ đợi.
Bất
thình lình, quan bà gọi sư bà, theo lối gọi con cháu:
-
Nè !
Bà thầy, - rồi chỉ tay vào mặt Thanh Hội ? Tui đã nói với
bà thầy là cái con nầy mà tu hành cái quái gì ? Chính cái
con mặt trằng nầy dụ dỗ thằng rể của quan mấy ngày nay
đi đâu mất biệt? Con kia ! mầy dấu công tử chốn nào ?
? Dừng lại lấy hơi, bà có vẻ thêm tức tối, đập bàn
đùng đùng ? Hừ ! Cái đồ dâm đãng mà giả bộ tu hành.
Chùa nầy chứa chấp thứ dâm đãng phá hoại gia cang người
ta, thì bà thầy phải chịu trách nhiệm hết?
Quan
Ông cũng trề môi gằn từng tiếng:
-
Chùa
nầy lập được thì phá cũng được. Quan đã có công lập,
quan muốn đuổi ai thì đuổi?
Hai vợ
chồng thi nhau la hét, chửi bới đủ điều không dành cho ai
chen vào một lời giải thích. Rồi chừng như "đã nư" rồi,
thì cũng ầm ầm dẫn đám tuỳ tùng đi mất. Thật ra, quan
bà hiểu rõ tính nết của cậu rể dâm đãng, bỏ nhà bỏ
cửa vui chơi thỏa thích chốn thanh lâu là việc quá tầm thường.
Nhưng khi được mật báo công tử đến chùa ghẹo người,
sẵn ganh tị với nhan sắc Thanh Hội và ấm ức ni sư Diệu
Nghĩa "ngoan cố" khó điều khiển, nên quan bà đến chùa chửi
bới chơi cho bỏ ghét.
Sư
bà lộ vẻ buồn trong một thoáng, rồi giữ lại vẻ bình
thản thường nhựt, lặng lẽ vào phòng đóng kín cửa. Các
đệ tử ai cũng áo não thẩn thờ. Thanh Hội để nước mắt
chảy ràn rụa. Cô đã học để giữ tâm mình trong chánh niệm,
không để ngoại cảnh chi phối, nhưng lần nầy, cô chới
với, thụ động, để sầu đau chất ngất trong lòng. Ðau
khổ quá, cô bỏ buổi thọ thực và buổi công phu chiều,
mênh mang trong đầu ý nghĩ chết. Ôi! Tạo hoá trớ trêu sanh
làm chi cái gương mặt thanh tú nầy để cho người yêu kẻ
ghét! Ôi ! cái gương mặt nầy chẳng có ích lợi gì chỉ
là nguyên nhân của phiền muộn, chướng ngại việc tu hành.
Cô ước mong sao chl mình được xấu xí, để có thể tu hành
một cách bình thường như mọi người. Thanh Hội chợt nhớ
tới chất độc của mủ xương rồng, có thể làm da thịt
lở lói như phong cùi, nên cố quyết tâm ra sau vường chùa,
chặt xương rồng cào mặt, xức mủ vào để phá hủy gương
mặt mình. Tay Thanh Hội vừa sắp đưa lên mặt, thì bị nắm
lại rồi có tiếng của sư bà, thật thương yêu:
-
Họi con!
Con không phải tự hành hạ xác thân con như vậy? Thầy có
biện pháp an toàn cho con.
Sáng
hôm sau, sư bà Diệu Nghĩa may cho nàng một khăn đội đầu
? loại mủ che đầu đặc biệt của ni ? với đặc điểm
là khăn che kín cả mặt, chỉ chừa hai lỗ nhỏ nơi tầm mắt.
Ðoạn sư bà đích thân đưa Thanh Hội lên đến núi Châu Thới,
Phổ Tịnh am, để xin Am chủ, ni sư Viên Ðức cho nàng nương
náu. Tuân lời dạy của am chủ, Thanh Hội đội khăn che mặt
thường trực, để tránh rắc rối lôi thôi bởi khách tham
quan chùa.
Tổ
chức theo thanh qui của Bách Trượng thiền sư " Nhất nhựt
bất tác, nhất nhựt bất thực", các ni cô chia nhau làm lụng
rất cực khổ để tự lập, chớ không dựa vào sự yểm
trợ của Phật tử. Ðất núi rất hẹp, cằn cỗi, thiếu
phân, thiếu nước? nên việc trồng rau, bắp, đu đủ? để
có hoa lợi thật gian nan. Gặt hái xong, lại phải gánh xuống
núi, giao cho các bạn hàng mua sỉ. Công phu thì thật nhiều,
mà tiền thu vào thì chỉ đủ mua gạo, muối, tương? qua ngày.
Tuy nhiên, ai cũng hiểu làm lụng là một phương pháp để
tu, nên khổ thế nào cũng không sanh lòng chán nản. Những
ngày đầu ở núi, đi chân không bước trên vùng sỏi đá
bén nhọn, vai gánh nước nặng trĩu, Thanh Hội bị rách nát
cả chân, phải kéo lê từng bước. Tuy nhiên, ở cỏi "ta bà
kham nhẫn" nầy, cực khổ gì rồi cũng quen dần đi. Chỉ sau
hai tháng "huấn nhục", ni cô Thanh Hội đã cảmthấy Phổ Tịnh
am, thật là nơi lý tưởng để thanh tu. Quí ni sư thông cảm
hoàn cảnh nàng, hết lòng thương yêu chăm sóc, và dạy dỗ.
Do đó, chỉ hai năm làm lụng hành thiền, Thanh Hội đã đạt
những bước tiến rất dài về nội tâm.
***
Mùa
thu năm Dần, Thanh Hội được am chủ báo tin quý thầy, sau
khi hội ý, đã chấp nhận cho ni cô được thọ giới tỳ
kheo ni tại Ðại giới đàn THIÊN THAI, do bổn sư ni cô là
Thượng Toạ Hải Thiện tổ chức tại Tầm Vu vào ngày rằm
tháng giêng năm Quý Mão. Lễ thọ giới tỳ kheo đối với
người xuất gia thật quan trọng, Thanh Hội hân hoan đón nhận
tin mừng và nguyện tinh tấn tu hành để không phụ lòng hoài
bảo quý vị ân sư.
Từ
ngày mùng 10, sư bà Diệu Nghĩa đã cẩn thận cho người đón
Thanh Hội về Phổ Ðà ni viện, rồi sau đó, sư bà đích thân
hướng dẫn 18 nữ đệ tử, gồm 5 phụ giới sư, 6 giới nữ
tỳ kheo ni, 3 giới tử sa di ni và 4 giới tử Bồ tát tại
gia, đi tham dự Ðại giới đàn.
Các
phái đoàn lần lượt vân tập về Tầm Vu từ ngày 13. Ðến
nơi, mỗi người đều nhận lãnh một trách vụ để tiếp
ban tổ chức hoàn thành đại lễ. Quý ni lại rất bận rộn
với công tác "ẩm thực" cho hàng ngàn người, nên Thanh Hội
không có chút rãnh rỗi nào để hầu chuyện bổn sư hay thăm
thân nhân cạnh chùa. Ngày hôm sau, chư tăng ni bắt đầu hội
họp, lược duyệt chương trình, cung an chức sự, rồi đến
thủ tục chất vấn luật nghi các giới tử. Buổi họp thu
hẹp, nhưng cũng đã gồm trên 150 tăng ni tham dự, vì ngoài
52 giới tử, mà 12 vị là cư sĩ, lại còn "tam sư, thất chứng",
các vị tuyên luật sư, thỉnh dẫn sư, tả hữu giám đàn,
và phụ giới sư nữa. Ni cô Thanh Hội thật không ngờ mình
được diễm phúc tham kiến các bậc trưởng thượng đông
đủ như vậy. Chỉ cần ngắm nhìn quí tôn túc hoà thượng
mỉm cười, khoát tay, gật đầu thôi?, thì Thanh Hội đã cảm
thấy hưởng được niềm an lạc ngập tràn.
Sáng
sớm ngày rằm tháng giêng, Phật tử đã đông đủ tề tựu.
Nghi lễ chánh thức bắt đầu, tuần tự từng tiết mục tiếp
nối nhau trong trang nghiêm và đạo vị. Giới tử tỳ kheo ni
bắt đầu theo thứ lớp được khai đạo. Ni cô Thanh Hội
đội khăn che mặt làm nhiều người thắc mắc, tưởng cô
bị tàn tật hay phong cùi chăng? Vì vậy, để tránh kẻ bàng
quan dị nghị về ngũ quan của giới tử, khi hoà thượng giáo
thọ đưa Thanh Hội trở ra làm lễ tấn đàn, thì khăn che
mặt không còn nữa. Ðại chúng bỗng ngạc nhiên đến bất
động, vì trước mắt họ lại xuất hiện một ni cô trẻ
đẹp như thần tiên, vừa thoát tục, vừa thánh thiện, như
là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ tát diệu hiền. Thế là
đại chúng ai cũng cảm mến nàng. Cảm mến lại gia tăng thành
kính phục, khi họ chứng kiến phong thái an nhiên của ni cô
trong khi hành lễ "Nhiên hương cúng Phật". Nguyên các tân tỳ
kheo, trước khi thọ Bồ tát giới, đã nguyện dùng chỗ cao
quý nhất trên thân thể là đỉnh đầu, để đốt 3 nén hương
cúng Phật. Lễ nghi nầy nhấn mạnh rằng Phật Pháp trân quí
nhiệm màu, nên những người con Phật ý thức rằng mình thật
là may mắn, có đại nhân duyên nên mới được gặp và thọ
trì; do đó, đã noi gương chư Phật, chư Tổ để xả thân
cầu pháp? thì lễ nghi đất hương đỉnh đầu cũng chỉ là
một lễ kính thật khiêm tốn, nhưng cũng đủ cho hàng tại
gia chiêm ngưỡng nét trang nghiêm, hùng tráng của hạnh cúng
dường.
Ðại
giới đàn tiếp nối với việc trao truyền Bồ tát giới,
Sa di giới, sau đó đến phần thuyết pháp và bế mạc trong
thành tựu và phấn khởi của mọi ngừơi.
Sáng
hôm sau, các phái đoàn Phật giáo lần lượt ra về. Thanh Hội
xin phép được ở lại chùa Thiên Thai vài ngày, trong khi sư
bà Diệu Nghĩa hướng dẫn 17 nư đệ tử đi đường bộ hướng
về Gò Công, để viếng thăm Từ An ni viện.
Phái
đoàn mới khởi hành vào giờ Mão, mà giờ Thìn đã thấy
người xa phu, mặt mũi bơ phờ, hộc tốc chạy về, vừa trao
thơ cho Thượng Toạ Hải Thiện, vừa hổn hển giải thích:
-
Ðại
nạn ! Ðại nạn ! Bị cướp bắt hết trơn rồi thầy ơi.
Bức
thơ chỉ có mấy hàng vắn tắt:
"Lục
Thiên anh hùng gởi đại sư Hải Thiện.
"Mười
bốn bà vải và bốn mụ đàn bà đã bị chúng anh hùng bắt
giữ.
"Ra lệnh
cho đại sư phái ni cô Thanh Hội đến làm áp trại phu nhân
cho chúng anh hùng, thì các tù nhân sẽ được tha toàn mạng.
"Nếu
không. Giờ ngọ ngày mai là giờ trảm quyết 18 nhân mạng.
Ðại sư hãy cho người đến thu nạp xác chết về cầu siêu.
"Diệu
Kim thảo theo lệnh của Thiên ý Ðại Vương"
Phía
dưới lại có hình vẽ tuy vụng về, nhưng cũng diễn tả
được hình ảnh một ngừơi trên cây rơi xuống giữa hai
con hổ.
Nguyên
cách đường đi Gò Công chừng hai dặm, có một đầm sình
lầy lội rộng lớn, mọc đầy dừa nước, loại lấy lá
để lợp nhà. Vì quá rộng không khai thác, đầm nước lại
sâu, cây dừa nước sinh trưởng khá mạnh, lá to che hết ánh
sáng, nên người dân gọi là "đám lá tối trời". Người
bình thường chỉ có thể đến mé đầm, đốn mớ lá ở
ngoài chớ không ai đủ can đảm lội sâu vào giữa đầm,
sình mềm đến ngực, mà lại tối tăm không tìm ra phương
hướng. Thế nhưng bọn cướp lục thiên: Ðại ca Thiên Ý,
cùng 5 đàn em: Thiên Thân, Thiên Nhản, Thiên Nhỉ, Thiên Tỷ,
Thiên Thiệt, gốc là bọn đốn lá chuyên nghiệp, rành địa
thế, giỏi võ, lại luyện được lối chạy nhảy như bay
trên tàu lá?, nên chúng dùng đầm lầy làm sào huyệt, xuất
biến xuất hiện, quan quân bao vây hàng tháng trời cũng không
tiêu diệt được. Từ đó, bọn cướp càng làm lộng. Chúng
đón đường bắt khách thương nạp mãi lộ, và giết người
không gớm tay nếu ai chống lại chúng. Quí ni cô nghèo không
nghĩ đến chuyện bị cướp bóc, không ngờ, chúng nghe người
ca tụng về nhan sắc tuyệt vời của ni cô Thanh Hội, nên
mới tấn công. Mưu sự bất thành, chúng nổi cơn bắt hết
cả bọn, rồi doạ giết nếu như ni cô Thanh Hội không thế
mạng.
Thơ
do sư tỷ Diệu Kim viết theo lệnh của bọn cướp, nhưng hình
vẽ có lẽ là sáng kiến riêng, nhằm gợi lại câu chuyện
tiền thân Ðức Phật. Ðức Phật bị hổ dữ rượt phải
trốn trên cây. Hổ mẹ chờ mồi mãi không được, đói quá
nên quên cả tình mẫu tử, định vồ cả hổ con ăn thịt.
Ðức Phật không nở thấy cảnh hổ con bị giết, buông tay
xuống tự tử để hai con hổ có thức ăn.
Diệu
Kim dùng tranh khích lệ kẻ khác hy sinh tánh mạng để cứu
mình, kể ra, thì lòng dạ có chỗ ngoắt ngoéo, nhưng Thanh
Hội vốn thực thà trung hậu, nghĩ sư tỷ có hảo ý chỉ
giáo mình, nên chấp tay cảm tạ và nguyện xin tuân theo. Thật
ra, Thanh Hội vừa thọ giới Bồ tát. Sư cô đã nguyện ban
vui cứu khổ chúng sanh. Nếu chỉ cần cứu một mạng người
mà sư cô chết, sư cô cũng không từ nan. Huống hồ, sư cô
có thể đổi mạng sống cho đến 18 người, trong đó lại
có ân sư, thì dĩ nhiên, sư cô không có chút gì ngần ngại.
Do đó, dù có ý kiến ngăn cản, việc lẽ, bọn cướp tráo
trở khó lường, sư cô vẫn nhất quyết nhờ người xa phu
đưa đi ngay đến chốn hang hùm.
Xe
ngựa dừng lại ở bên đường, và sư cô phải đi bộ thêm
cả dặm đường trên đồng khô lồi lỏm, để đến căn
nhà là dùng làm điểm hẹn của bọn cướp.
Bọn
cướp vừa thấy sư cô là đã mừng rỡ reo hò. Thiên Thân,
Thiên Nhản vồ vập tranh dành người đẹp. Sư cô bình tỉnh,
rút dao nhọn dí vào ngực, nghiêm nghị nói:
-
Tiểu
ni đến đây là tuân theo điều kiện trao đổi người. Nếu
quí vị chưa thả hết các tù nhân mà đụng chạm đến thân
thể tiểu ni, thì tiểu ni quyết tâm tự sát.
-
Xin tuân
lệnh người đẹp ? Thiên Ý cười hềnh hệch ? Bọn anh hùng
nầy đâu có sai lời.
Thế
là cả bọn chia nhau mở trói thả đám tù nhân. Tù nhân mừng
khôn xiết, mạnh ai nấy chạy thoát thân, không người nào
nhớ tới vị thầy khả kính vẫn còn đang thẩn thờ tại
đó. Biết ý sư bà không nở bỏ đi, sư cô Thanh Hội năn
nỉ:
-
Xin thầy
thương con đi ngay đi. Phật tử Cây Mai rất cần thầy hướng
dẫn. Thầy ngần ngừ thì cả hai cùng chết chớ chẳng ích
chi.
Sư bà
công phu hàm dưỡng đã cao, ngày trước từng bị đám Trương
Ðại Nhơn chửi mắng mà vẫn an nhiên tự tại, nhưng lần
nầy, bà như kẻ mất hồn, chầm chậm bước đi mà nước
mắt đã chảy dài trên má.
Chí
nguyện độ sanh, quên bản thân mình để cứu người đã
tạo cho sư cô sức mạnh phi thường, bình tỉnh đối đầu
với bọn cướp. Cứu người an toàn rồi, nghĩ đến phận
mình trong tay bọn cướp, sư cô bất giác rụng rời. Bao nhiêu
ý nghĩ đua nhau xuất hiện: "Ôi! Nếu bị chúng giết chết
hay tùng xẻo thì may quá, chớ còn chúng hành hạ bằng sự
dâm đảng thì làm sao ta chịu nổi. Ôi ! ta có nên tự tử
không? Tự tử có phạm giới sát không? Có phạm giới vọng
ngữ vì dối gạt bọn chúng không? Ôi ! có lẽ kiếp nào đó,
mình đã từng hiếp đáp người, nên kiếp nầy mới lâm vào
hoàn cảnh nầy".
Chợt
thấy một cánh nhạn trên trời, sư cô liền nghĩ tiếp: "
Ôi kiếp phù sinh ngắn ngủi như vết nhạn bay, vô tung tích,
có đáng gì đâu? Ta đã nguyện xả thân cứu độ chúng sinh,
thì thân xác này đã kể là không. Bị giết hay bị đánh
đập, trong sạch hay nhơ bẩn, cũng là không. Có gì đáng phải
băn khoăn hay sợ hãi !".
Tự
nhiên, sư cô thu hồi lại thu hồi lại hùng tâm, bình tỉnh
quăng dao xuống đất rồi nói:
-
Tiểu
ni xin giữ tròn lời hứa. Bây giờ thì quí vị có thể hành
hạ tiểu ni thế nào cũng được. Tiểu ni không oán trách
giận hờn.
Bọn
Thiên Thân, Thiên Nhãn chộn rộn tay chận, nhưng thấy đại
ca chúng khoát tay, nên đành dừng lại.
-
Ha ha
! ? Thiên Ý cười đắc chí ? Bọn ta lục thiên huynh đệ là
anh em đồng sanh cộng tử, có phước cùng hưởng, có họa
cùng chia. Nàng là vợ, thì cũng là vợ chung của 6 anh em ta,
sẽ được sung sướng trọn đời. Thôi ! Hãy cởi bộ áo
tu hành ra đi, để cùng ta vui thú. Còn cưởng lại thì đừng
trách bọn ta vũ phu lỗ mãn.
Sư cô
không để tâm đến lời suồng sả vô nghĩa của bọn cướp,
mà điềm nhiên đem lòng tư bi vô lượng quán sát họ. Họ
chỉ là những kẻ tội nghiệp đáng thương, thiếu hạt giống
đạo đức nên bị dục vọng sai khiến trở thành mù quáng,
lầm lạc. Lòng từ bi thúc đẩy sư cô tìm phương cảm hóa
họ.
Sư
cô lặng yên nhập định, quán thân mình chỉ là một cái
bao chứa đựng đầy vẩy 36 món dơ dáy thối tha: máu, xương,
tim, ruột, gan, phẩn, mồ hôi, nước tiểu? Rồi sư cô lại
quán mình là một cái thây ma vừa chết, mặt mũi bầm xanh,
thây ma lần lần sinh chương, nức nẻ chảy nước vàng lầy
thúi, dòi thú đục ăn, trơ lại nhúm xương tàn.
Mây
đen từ đâu kéo đến che khuất mặt trời. Trong bóng tối
lập loè, bỗng mơ hồ có tiếng sư cô vọng lại:
-
Nầy
các hành giả! Hãy quan sát cho kỹ bộ xương trắng hếu biết
đi nầy, có đáng để quí vị yêu mến chăng?
Lạ lùng
thay, sư cô đang đứng mĩm cười mà bọn cướp hung ác thì
rung lẩy bẩy, cúi đầu quỳ lạy không ngừng, miệng thì
van xin:
-
Lạy
sư phụ! Xin sư phụ mở lượng hải hà tha tội chết chúng
con!
Có lẽ
do chí nguyện độ sanh bao la, nên định lực của sư cô mạnh
mẻ, khi sư cô thành khẩn quán niệm như thế nào, thì bọn
cướp thấy hiển hiện trước mắt chúng hình ảnh đó. Bọn
chúng thấy sư cô trở thành một túi đựng đủ thứ dơ dáy
bầy nhầy, kế đó sư cô chết đi, thân thể từ bầm xanh
cho đến khi sình thúi rồi trở thành nắm xương tàn, là đã
kinh hồn hoảng vía, tay chân run rẩy muốn chạy trốn đi mà
không lết nổi. Cho đến khi bộ xương biết đi, phát ra tiếng
nói và từ từ đi tới, thì bọn chúng sợ quá ngã sụm xuống,
quỳ lạy xin tha chết mà thôi.
(Hiện
tượng trên đối với thiền gia là việc rất bình thường.
Ngay những kẻ ngoại đạo, như các fakir Ấn Ðộ, định lực
cạn cợt, tham lợi háo danh cũng còn có thể biểu diễn. Các
nhà thôi miên, định lực càng hẹp hòi, có người cũng còn
tạo được giả cảnh hiện tiền.)
Thấy
bọn chúng thành tâm, sư cô bảo:
-
Quý vị
gây nên tội, thì quí vị tự sám hối, làm lành để chuộc
tội mình. Tiểu ni không buộc tội ai và cũng không tha tội
cho ai được.
Trời
đất bỗng nhiên sáng lại. Sư cô ngồi kiết già, chấp tay
nghiêm chỉnh, thuyết kinh Nhân Quả Báo Ứng cho bọn cướp.
Bọn
cướp trước nay hành động gian ác chẳng uý kỵ chi. Nay nghe
pháp mới biết tội ác ngập trời, dầu có bầm thây ra trăm
mảnh cũng chưa đáng, sợ hãi vô cùng. Chúng chỉ biết vâng
lời sư cô, nguyện bỏ ác làm lành, đem thân mình "làm trâu
ngựa" để phục vụ đồng bào, chuộc lại lỗi lầm ngày
trước.
Ðộ
bọn cướp xong, sư cô trở về. Sáu tên cướp bịn rịn thầy,
đi theo đưa tiễn. Vừa đến đầu lộ, thì may quá, có tiếng
xe ngựa lộc cộc chạy đến. Người khách thương vừa thấy
bọn cướp chận xe lại, đã hoảng hồn nói lấp vấp:
-
Bẩm
đại vương ! Xin đại vương thu nhận? thu nhận? thu nhận?
- hắn cà lăm cà lặp vì không biết nên đề nghị tiền mãi
lộ bao nhiêu cho vừa, nhiều thì tiếc quá, còn ít thì sợ
bọn cướp nổi giận -
-
Không
! Không ! Bọn ta chỉ nhờ quý vị đưa sư phụ về Tầm Vu
mà thôi, - Thiên Ý lễ phép ?
Rồi
chúng chắp tay kính cẩn hướng về sư cô:
-
Chúng
con vâng lời sư phụ sẽ giải tán nội ngày nay. Tội chúng
con nặng nề, không biết đến đời kiếp nào mới chuộc
lại tội xưa.
-
Ðức
Phật dạy : "Quăng đao đồ tể, tức khắc thành Phật", các
Phật tử không nên quá bận tâm với lỗi lầm xưa mà nhục
chí tu hành. Ðiều nên nhớ, đao đồ tể là tâm đao. Chớ
tay không cầm đao nhưng tâm ôm ấp đao thì tu cũng vô ích.
Xe ngựa
đã từ từ chạy đi, mà các tên cướp vẫn còn quỳ lạy
thầy mãi. Ni cô dừng lại chùa Thiên Thai trình bày nội vụ
cho bổn sư, rồi trở về thăm nhà.
Bọn
xa phu và khách thương, mồm năm miệng mười, chứng kiến
cảnh bọn cướp tùng phục sư cô, vội vã loan tin cho bà con
lối xóm. Có tên còn dám quả quyết rằng sư cô là đệ tử
chân truyền của Lê Sơn thánh mẫu hạ san độ đời. Chính
mắt y thấy, sư cô chỉ tung một chưởng là bọn cướp đã
ngã rạp qui hàng. Sau đó, chẳng bao lâu sư cô đã biến thành
huyền thoại, dân làng tranh đua nhau ca tụng.
Sư
cô về nhà thật đúng lúc. Ông bà thân sinh reo mừng đón
cô con gái quí tài ba xuất chúng. Lần đầu tiên trên đời,
Dương Ông mới nhìn kỹ con mình. Chao ơi ! Út Xuân đẹp quá
! Dễ thương quá ! tài ba quá ! Sao giống mình quá !!! Mừng
vui thật lớn, nhưng Dương Ông lăn xăn mà vẫn khó mở lời
với đứa con mà trước kia Ông lạnh nhạt.
Dương
bà thì ôm chầm lấy con, líu lo tíu tí:
-
Má nhớ!
Má thương con qúa! Sao con về thăm má trễ như vậy?
Rồi
ngắm nhìn con gái giây lâu, ba la lớn:
-
Chèn
đét ơi! Sao nó lịch sự, nó giống tui hồi đó quá hén! Hén
Ông!!!
-
Thưa
ba má. Con mừng ba má vẫn mạnh khoẻ. Lúc nào con cũng nhớ
ba má và cảm tạ ba má đã cho con xuất gia học đạo. Sau
con xin ba má cho Vú Năm được tự do. Vú đã ở nhà mình đến
20 năm là quá đủ rồi?
-
Ðược
rồi! Có con xin thì ba má đồng ý ngay. ? Hai Ông bà tranh nhau
chấp thuận. ? Rồi xây qua vú, bà nói:
-
Nè Năm!
Cô Út xin cho bây đó! Bây được tự do muốn đi đâu thì
đi.
-
Thưa
hai Ông Bà. Con chỉ xin theo cô út đi tu mà thôi.
Sư cô
ở lại nhà đôi giờ, cố gắng thuyết pháp cho cha mẹ về
thuyết nhân duyên, và hướng dẫn cả nhà tu tịnh độ. Sau
đó, sư cô đưa Vú Năm sang chùa Thiên Thai, xin thầy thu nhận
vú, rồi long trọng quỳ lạy xin tạ ơn thầy. Thầy Hải Thiện
nghiệm trọng nhìn sư cô, rồi khẩn trương hỏi:
-
Hậu
sự như thế nào?
-
Nhạn
quá trường không! (3)
Ðoạn
sư cô lên chánh điện, toạ thiền mà viên tịch.
Than ơi
! Chư Bồ tát khi đã hiển lộ thần thông thì đâu chấp nhận
lưu lại trần gian để cho người đời suy tôn sùng bái.
Sư
cô Thanh Hội đã như thế mà đến và đã đi như thế mà
đi. Hai mươi năm ngắn ngủi như vết nhạn lưng trời vô hình,
vô tích.
***
Theo ẩn
ngữ không lư hình tích của sư cô, thầy Hải Thiện tổ chức
lễ hỏa thiêu thật đơn giản. Nhưng tiếc xá lợi ngũ sắc,
thầy giữ lại phân chia cho Thiên Thai, Phổ Ðà và Phổ Tịnh
đồng giữ. Thương tiếc sư cô không nguôi, người dân ghép
tên họ với pháp danh sư cô, thành DƯƠNG XUÂN HỘI, để đặt
địa danh cho vùng Tầm Vu cũ.
Ðiều
lạ lùng, là từ khi làng mang địa danh Dương Xuân Hội, thì
con gái ở đây nổi tiếng ngoan hiền, xinh đẹp, mà nạn trai
thiếu gái thừa cũng không còn nữa. Chiều chiều, các cô
gái đã hãnh diện hát ru em:
"À?
ơ ! Gái Dương Xuân trăm phần duyên dáng
Trai
Thủ Thừa mấy hạng xứng đôi".
---
o0o ---
Ghi
chú:
TẦM
VU: Ðịa danh xưa. Nay thuộc xã Dương Xuân quận Bình Phước,
tỉnh LONG AN.
Lịch
sự: đẹp
Trích
từ bài kệ của HƯƠNG HẢI thiền sư (1628 ? 1715)
Nhạn
quá trường không
Ảnh
trầm hàn thủy
Nhạn
vô di tích chi ý
Thủy
vô lưu ảnh chi tâm
Nhạn
liệng giữa hư không
Bóng
chìm dưới nước
Nhạn
không để dấu vết lại
Nước
chẳng lưu bóng làm chi
(trích
VNPG Sử Lược, T.T.Mật Thể)