TRẦN TRUỔNG
Đã
từng xuất ngoại viếng thăm danh lam thắng cảnh xứ người,
Thành vẫn không nén được niềm ngạc nhiên kỳ thú, khi phong
cảnh hùng vĩ tuyệt vời của quần đảo Nam Du hiển bày trước
mắt. Hạ Uy Di nổi tiếng thế giới, nhưng nếu so sánh với
Nam Du (1), có lẽ chỉ là một bóng mờ nhạt. Thế mà, tiếc
thay! Mấy người Việt biết đến phong cảnh thần tiên của
quê hương mình. Ngay đối với người dân Rạch Giá, dù Nam
Du là một ấp địa phương thuộc quận châu thành, cách tỉnh
lî khoảng chừng 100 cây số, nhưng họ cũng tưởng đó là
chốn hoang đường lạ hoắc. Họ chỉ nghe biết loáng thoáng
về một chốn mù khơi mang địa danh kỳ cục là Củ Tron,
nơi xuất phát một giáo phái chủ trương khỏa thân, đầy
lạ lùng, kỳ bí. Vào thời Pháp thuộc, khoảng năm 1937, giáo
chủ đạo "Trần Truồng", từ hòn Củ Tron (2), bỗng hứng
chí hướng dẫn ba, bốn mươi nam nữ đệ tử, tất cả đều
trần như nhộng, dong buồm thẳng đến thị xã Rạch Giá,
thản nhiên biểu dương lực lượng quanh chợ, rồi đến tư
dinh Tỉnh Trưởng đưa kiến nghị "đòi nước". Thuở đó,
biểu tình đòi nước là việc cực kỳ nguy hiểm đưa đến
án tử hình hay tù rục xương nơi Côn đảo. Người dân vốn
nhác gan, không dám nghe, không dám thấy, không dám bàn bạc
liên hệ. Thế nhưng, vụ "cởi truồng" lạ lùng hấp dẫn
quá, nên không ai bảo ai, họ cũng đổ xô ra xem và nhiều
người bạo phổi còn vỗ tay hoan hô cổ võ. Diễn biến bất
ngờ làm viên Tỉnh Trưởng Phú Lang Sa và đám lính mã tà
điên đầu nhức óc. Họ phải huy động toán lính khố đỏ,
nổ súng thị oai, để vất vã tách rời đám biểu tình với
kẻ hiếu kỳ, rồi tống thầy trò đạo khỏa thân vào khám.
Viên Tỉnh Trưởng cáo già dấu nhẹm vụ xáo trộn chính trị
địa phương, bằng cách âm thầm áp giải nhóm biểu tình
trở lại hoang đảo ngăn cấm mọi sự di chuyển. Mặc khác,
họ loan tinh xuyên tạc là nhóm trần truồng Củ Tron biểu
tình "đòi nước ngọt", chớ không phải đòi đất nước,
như lúc đầu nhầm lẫn.
Tuy
người thuật chuyện đã dùng luận điệu mĩa mai, giễu cợt
để kể lại chuyện người xưa, nhưng lòng Thành vẫn cảm
thấy dâng tràn một niềm cảm kích đối với những kẻ quê
mùa dốt nát ở chốn hoang đảo, mà dám thẳng thắn bày tỏ
lòng yêu nước chân thành của họ. Đó là lý do thầm kín
thúc đẩy Thành, hướng dẫn phái đoàn Tỉnh, viếng thăm
Củ Tron, với hy vọng tìm thấy manh mối ngừơi xưa.
Tạm
biệt khu chợ cá Bạch Đằng náo nhiệt và vùng biển đen
đủi phù sa, thuyền tiến lần ra khơi. Khi Hòn Rùa, hòn Me,
hòn Đất bắt đầu mất dạng, bốn phương trời toàn là
biển cả mênh mông, chiếc thuyền con trở nên nhỏ nhoi lạc
lỏng. Sau 10 giờ tù túng và ngất ngư bởi những đột sóng
dập dồi liên tục, lòng háo hức biển khơi giảm lần. Thành
bỗng dưng thèm đất liền, nhớ mùi nồng nồng của đất
mới cày, mùi ngòn ngọt ngây ngây của cánh đồng lúa trổ.
Vì thế, khi quần đảo Nam Du vừa ló dạng trong sương mù
mờ ảo ban mai, tình đất đã khiến chàng rộn ràng sung sướng.
Thuyền len lỏi giữa các hoang đảo dị dạng, mỗi hòn một
sắc thái, một vẻ đẹp riêng. Hòn Kỳ Lân, hòn Đồi Mồi
cục mịch như con vật tiền sử khổng lồ. Hòn Trụi phẳng
lỳ. Hòn Nhạn trơ vơ sỏi đá. Hòn Móng Tay thon dài xinh xắn,
được điểm tô trên bãi cát nhỏ xíu bằng hai cội thiên
tuế già phất phơ. Giống như người hùng cô đơn hiên ngang
trước quân thù trùng điệp phủ vây, cây sơn đá cong veo
trơ trọi trên sường đồi hòn Trống, rễ cuồn cuộn bám
víu vách đá khô cằn không chút đất, mà vẫn ngạo nghễ
nhìn đời. Dưới nước, san hô hình gạc nai, hình bông cải,
hình nấm Đông cô, hình hoa hồng khổng lồ. mọc chen chúc
nhau như một xóm làng đông đúc. Ơû đó, từng đàn cá mũm
mĩm, rực rỡ màu sắc, vi kỳ ẻo lả thẩn thơ bơi lội,
rồi bỗng vội vàng biến mất. Thuyền tiến vào trung tâm
quần đảo. Bốn hòn đảo lớn: hòn Củ Tron, hòn Dầu, hòn
Mấu, hòn Nồm đã khéo léo nằm quay quần theo chu vi hình tròn,
tạo vùng biển mênh mông ở giữa thành một biển hồ yên
tịnh. Dù mùa biển động, mặt hồ cũng chỉ gợn sóng lăn
tăn nên hàng mươi bãi biển quanh hồ, với hàng dừa thơ mộng,
luôn êm ả, saün sàng chờ đón ghe thuyền vào trốn bão.
Thiên
nhiên ở đây thật hoàn hảo. Trời cao ngất, biển mênh mông,
núi non xanh tươi hùng vĩ, bãi cát trắng tinh mịn màng. không
nơi nào bị xã hội văn minh làm vẩn đục. Còn những căn
nhà lá nhỏ, bụi chuối, hàng dừa. của người dân mộc mạc,
không hề đối nghịch mà chỉ hoà hợp dịu dàng với thiên
nhiên, tạo thiên nhiên thêm đậm đà thơ mộng. Những ngày
trên đảo, Thành thường thơ thẩn dưới hàng dừa hoặc lang
thang trên đỉnh đồi cao, để nhìn rừng cây rưng rức cười
cợt gió, hay nghe tiếng sóng thì thầm với ghềnh đá xa xa.
Không phải bận rộn với xã hội lễ nghi hình thức, với
danh vọng bạc tiền, con người thật tựï do thư thả. Trong
phúc giây, Thành cảm giác mình nhẹ nhàng, bay bỗng, "trần
truồng" rong chơi với thiên nhiên muôn điệu. Ờ nhỉ ! - Thành
thầm nghĩ thiên nhiên đâu cần phải che dấu, đội lốt,
nhân danh., trời đất, cỏ cây. muôn đời vẫn trần truồng
mà trong sạch. Thành bỗng dưng cảm thấy gần gũi hòa hợp
với Ông đạo khỏa thân của ngày xa xưa ấy.
Thế
nhưng, Ông đạo đã chết vào năm 1944. Trên đảo, ngoài các
cô cậu bé tí vẫn hồn nhiên trần truồng hành đạo, không
tìm đâu được dấu vết gì về đạo khỏa thân. Viên Trưởng
ấp cho biết, trên đảo không có tu sĩ nào, ngoại trừ Ông
đạo "BÉ NĂM" tại Củ Tron. Nghe danh hiệu Bé Năm hơi lạ,
saün tánh hiếu kỳ, Thành nhất quyết đòi viếng thăm Ông
đạo, cho biết sự tình.
Bãi
Vắng, gian san của Ông đạo Bé Năm, chỉ cách bãi Ngự chừng
15 phút đường ghềnh, nhưng viên Trưởng ấp tận tụy với
thượng cấp đã chọn đường biển, dù việc lái thuyền
vào bãi rất khó khăn bởi đám đá ngầm lổm chổm, như muốn
xua đuổi kẻ phàm trần. Lỏm đất bằng gầy guộc bao phủ
bởi đồi núi xanh rì, đã được gia chủ tiện tặn xử dụng
từng tấc đất. Vài mươi cây dừa cao nghệu được trồng
dài ra tận bãi cát, kế đó, là căn nhà sàn thô sơ: mái tranh,
vách đất, sàn nhum ọp ẹp. Trước sân, có vài cây ăn trái:
mít, đu đủ. cùng với liếp rau, dàn mướp. Phía sau, là vài
mươi bụi chuối lá xiêm mập ú được trồng tiếp giáp đến
mép đồi. Oâng lão tuổi trên 70, mặc áo bà ba vải nâu bình
dị, dáng dấp cần cù của một nông dân già, đang lúi húi
chăm sóc nia chuối khô tươm mật, giựt mình và mừng rỡ
đón chào khách lạ. Sau khi được giới thiệu, Ông lão khoanh
tay lễ phép chào:
-
Hân hạnh
được tiếp đón Ông Phó. Kính mời Ông Phó vào nhà nghỉ.
Tôi xin phép nấu nước trà đãi khách.
Lão già
đưa Thành vào nhà, và mặc dù Thành ngăn cản, cũng nhất
quyết lui cui nhóm lửa. Nhà trống trơn làm Thành luống cuống,
không biết nên đứng hay ngồi xẹp xuống sàn. Trước mặt,
là kệ thờ Phật, trên đó có hai quyển sách giấy đã vàng
hoe cũ kỷ: quyển Kinh Nhật Tụng của Hội Phật Học Nam Việt
và quyển Pháp Bảo Đàn Kinh của Đoàn Trung Còn. Tò mò, Thành
lật vài trang sách, vô tình thấy hàng chữ viết "thân tặng
anh Đốc Phủ Lê Quang Phước. Chánh Tri". Khám phá bất ngờ
làm Thành giật mình, vì Ông đốc phủ sứ Lê Quang Phước,
chính là vị tỉnh trưởng dân sự đầu tiên tại tỉnh Rạch
Giá, khi người Pháp bàn giao chính quyền địa phương cho Việt
Nam. Ngài đã từ dịch, lui về quận Kiên Tân, lập chùa hoằng
dương Phật Pháp rồi bất thình lình bỏ đi mất tích. Không
biết Ông đạo Bé Năm nầy có liên hệ gì với vị Tỉnh
trưởng ngày xưa?
Thành
vôi đến ngổi gần bên Ông lão, lựa lời để gợi chuyện:
-
Xin lỗi
cụ, - Thành thật lễ phép - có phải cụ tục danh là Lê Quang
Phước, nguyên tỉnh trưởng Rạch Giá không ạ!
-
A! - Ông
lãi bối rối - Dạ! Đó là chuyện của 20 năm về trước.
Xin Ông Phó cứ gọi tôi là "Bé Năm" như mọi người là quí
rồi.
Trước
một vị đàn anh, đã có thời vang bóng, mà khiêm cung ẩn
dật, xem danh lợi như phù du, Thành vừa ngạc nhiên vừa cảm
phục.
-
Dạ thưa
Ông Năm. Xin Ông Năm xem cháu như một đàn em. Và nếu không
có gì trở ngại. Xin Ông Năm cho cháu được biết nguyên do
nào đã khiến Ông Năm rời Kiên Tân, đổi tên họ, để về
đây?
-
Chuyện
dài, - Ông Năm hiền hoà - nhưng tôi vẫn saün sàng kể cho
người hữu duyên. Trước hết, xin mời Ông Phó dùng chút
trà. Trà rừng mà có người tâng bốc là trà tiên, mọc hoang
ở đây, lá già, lá non, khô hay tươi đều xử dụng được.
Trà thơm, nhưng thật ra không thể nào so sánh được với
trà đất liền, đã được sấy, ướp công phu.
Sau hai
tuần trà, Ông Năm bắt đầu câu chuyện: Như Ông Phó đã
biết, sau khi từ dịch, tôi về quận Kiên Tân, xây cất ngôi
chùa khang trang để khởi đầu ước mơ hoằng dương Phật
Pháp. Mọi việc đều tiến triển tốt đẹp, ngọai trừ,
ngôi vị trụ trì luôn luôn bị khủng hoảng. Tôi thỉnh vị
thầy nào về trụ trì, thì quí thầy chỉ ở từ 6 tháng đến
1 năm rồi tự ý bỏ đi. Thuở đó, tôi nghĩ quí thầy lỗi
trăm đường, vì xét cho kỹ, tôi hết lòng vì đạo, đâu
có làm điều gì sai lầm đâu. Tuy nhiên, khi yết kiến bổn
sư, Hoà Thượng Huệ Quang, trước khi thầy tham dự Hội Nghị
Phật Giáo Thế Giới, tôi thỉnh ý thầy thì được thầy
chỉ dạy: "Các vị cổ đức cho rằng chùa xây dựng bằng
sự đóng góp rộng rãi của bá tánh thường trường tồn,
trong khi chùa của một đại thí chủ hay một nhóm người
dễ suy sụp., lý do là việc trường tồn của ngôi chùa tùy
thuộc rất nhiều vào duyên phúc người lập. Chùa của con
gặp rắc rối về vị trụ trì, kể ra thì cũng bình thường
thôi. Nhưng thầy khuyên con nên trì tụng Pháp Bảo Đàn kinh,
để mọi việc sẽ được hanh thông."
Về
Kiên Tân, tôi trì tụng Kinh Pháp Bảo Đàn liên tục. Đến
ngày thứ hai mươi mốt, tụng đến đoạn thầy tăng tên Pháp
Đạt (4), cậy đã tụng kinh Pháp Hoa ba ngàn bộ khi lễ Lục
Tổ, đầu không sát đất, nên bị Tổ quở: "Lạy mà đầu
không sát đất, sao bằng chẳng lạy. Trong lòng ngươi chắc
có một vật, NGƯƠI CHẤT CHỨA VIỆC CHI VẬY?". Câu hỏi của
Lục Tổ làm tôi rung động. Tôi tự hỏi mình ĐÃ CHẤT CHỨA
SỰ NGHIỆP GÌ mà khi xá chào hay thưa chuyện với thầy trụ
trì tâm tôi kiêu ngạo bất phục. Pháp từ của Lục Tổ thật
giản dị. Tụng kinh, trì giới, xây chùa, hoằng pháp. là những
phương tiện để tu tâm. Nếu ôm ấp phương tiện đó như
một công đức, một sự nghiệp thì cống cao ngã mạn pháp
sanh, ngã chấp nặng nề, tham sân si tăng trưởng. Than ôi!
Tôi đã tự cho mình công đức cao dầy nên chầm chập phán
xét người, mà không hồi quang phản chiếu tự xét mình, chỉ
thấy lỗi người chớ đâu thấy lỗi mình (5).
Tôi
vội đến tăng phòng thầy trụ trì, vị sư trẻ mà bấy lâu
nay, trong thâm tâm tôi vẫn đánh giá thầy thiếu vốn liếng
nội điển, ồn ào, hời hợt, lại thường khoe khoang tài
thuyết pháp, tài làm thơ khi tọa thiền ! ! !, nhưng lần này,
tôi thấy thầy thật thánh thiện, viên mãn tròn đầy như
kim thân vị Bồ tát. Tôi quỳ xuống, lễ thầy kính cẩn thành
tâm như lễ Phật, rồi giao hẳn ngôi chùa cho thầy, ra ẩn
cư chốn này.
Từ
khi biết "buông bỏ sự nghiệp", biết thấy lỗi mình mà không
thấy lỗi người, tôi tự thấy đạo đức mình còn thấp
kém. Tôi chỉ mới có thể hành được cái hạnh tầm thường
mà đứa trẻ lên năm nói được, chớ đâu đạt được một
phần, lời lẽ cao siêu mầu nhiệm của người lớn. Do đó,
tôi đổi tên là Bé Năm, hầu nhắc nhở rằng đạo đức
mình non kém, cần phải ngày ngày tu sửa."
Thành
lắng nghe mà lòng bồi hồi cảm động, không ngờ mình được
diễm phúc hầu chuyện với bậc trưởng thượng đạo cao
đức trọng. Chàng vừa tôn kính vừa thân thiết với Ông
lão, nên đến lúc phải giả biệt, đã bịn rịn không muốn
rời bước. Có lẽ Ông Năm cũng cảm mến Thành, Ông ân cần
đưa chàng ra tận bãi, và khuyên nhủ:
-
Thành
ạ! Phó Tỉnh Trưởng là huyễn, mà tù nhân hay thợ điện
cũng đều là huyễn cả!
Ngày
đó, Thành tưởng Ông Năm nhằm mục đích khuyên chàng nên
đối xử bình đẳng với mọi người, dù đó là nhân viên
thuộc hạ, thợ thầy hay tù nhân. Ngờ đâu câu dặn dò chính
là lời tiên đoán tương lai vận mạng của chàng. Nhờ hiểu
lý huyễn, chàng đã khinh thường khổ nhục thương đau tại
trại tù học tập cải tạo; chàng cũng đã dững dưng trước
đời sống vật chất sô bồ, để cần cù an phận với nghề
thợ điện tử tại xứ người.
***
Tham
dự buổi pinic do công ty tổ chức tại bờ biển Galveston,
Thành lại có dịp thấy biển khơi. Galveston thật tầm thường,
ồn ào, nhơ bẩn. Mà cho dù phong cảnh ở đây có đẹp tuyệt
trần, thì Thành cũng coi như là loại cảnh giả, không hồn,
không có chút gì làm cho lòng chàng lưu luyến. Ơû xứ nầy,
làm sao tìm ra được một bác nông dân, một bác thợ chải
hiền lành? Làm sao sản sanh ra được một Ông Năm thầm trầm
giản dị?
Không
hoà hợp với đám đông reo hò cười cợt, Thành chọn một
tảng đá thật xa để ngồi trầm lặng. Đang mơ màng nhớ
lại từng chi tiết chuyến viếng thăm Củ Tron ngày trước,
thì thình lình Thàn nghe tiếng đàn bà léo nhéo bên tai. Đó
là Mỹ Lệ, ngừơi đàn bà bay bướm, đang kéo lôi Bob, tên
chỉ huy hảo ngọt, đến một chỗ kín đáo để trửng giỡn
bốc hốt. Cảnh trái tai gai mắt đó làm Thành buồn nôn, vừa
gớm ghiếc vừa xấu hỗ chung cho người Việt. Lòng khinh bỉ
dâng tràn, đến nổi, Thành phải quay mặt đi tránh khỏi phải
nhổ bãi nước miếng vào mặt Mỹ Lệ. Hốt nhiên, chàng có
cảm giác như Ông Năm nhìn chàng rồi mĩm cười nhắc lại
lời tục tổ: "NGƯƠI CHẤT CHỨA SỰ NGHIỆP GÌ." Chàng cảm
thấy sửng sờ thảng thốt, một cái gì trống không, tươi
mát, tràn ngập làm nước mắt chàng ràn rụa, - một kinh nghiệm
lạ lùng khó tả - Chàng lẩm bẩm:"Ờ nhỉ ! Mình làm Phó
Tỉnh, có chút chức phận, chút tiền chớ có hành vi đạo
đức nào cao đẹp đâu? Mình có dựng được chùa, có bố
thí thân mạng hay hết tài sản chưa? Mà sao mình tự cao tự
đại khinh khi người khác? Chàng Ngọc mình chê là hạng "trung
tá y sĩ", chàng Mai thì nịnh nọt bợ đở, chàng Bách thì
bần tiện bẩn thỉu., còn các cô Mỹ Lệ, Thanh Nhã, Thiên
Kim thì minh khinh là thứ dâm đảng, đĩ điếm rẽ tiền. Ngay
như các vị tu sĩ, ngoài bổn sư, Hoà Thượng Thiện Hoà, có
mấy vị được cao tăng dạy dỗ mà đến giờ nầy, vẫn
chỉ thấy lỗi người chớ chưa biết thấy lỗi mình. Thật
là xấu hổ, đáng bị thầy "quở". Mà không ! Thầy từ bi
thầy có bao giờ quở trách ai đâu. Thầy chỉ hiền hoà thở
dài, than nhỏ nhẹ "tội nghiệp" mà thôi. Bỗng nhiên, Thành
cảm thấy gần gũi với thầy hơn cả ngày xưa. Thầy là Viện
Chủ chùa Aán Quang, vị tu sĩ nổi tiếng hiền hòa, saün sàng
đùm bọc chu cấp cho tất cả tu sĩ không "nhà", dù là bật
đạo đức tăng hay kẻ trần tuc tăng. Đệ tử tại gia của
thầy, trong đó có cả Thành, thường soi bói nhìn các tu sĩ
ở trọ để mách với thầy về tư cách của họ: vị lố
lăng chửi thề, vị bay bướmhào hoa lại cũng có vị rượu
thịt bừa bãi. Những tưởng thầy sẽ đuổi họ ra khỏi
chùa, ngờ đâu thầy chỉ thở dài "tội nghiệp". Thế thôi.
Thầy vần đối xử với các vị đó như bát nước đầu,
tương kính như đối với bậc đồng vai vế. Bây giờ Thành
mới hiểu được thầy. Thầy không bao giờ thấy lỗi người,
mà thầy bao dung thương xót cho kẻ yếu hèn, bị dục vọng
cuốn lôi vào vòng oan nghiệt.
Lòng
rộn ràng thay đổi, Thành đứng lên quan sát mọi người.
Ai chàng cũng thấy rất dễ thương, và hành vi nào của họ
chàng cũng có thể hiểu và thông cảm được cả.
Chàng
bỏ dở buổi pinic, lái xe về Houston đến ngôi chùa Việt
Nam gần nhất, lên chánh điện lễ Phật. Chàng quỳ xuống,
chiêm ngưỡng dung nhan từ bi của đức Phật và đón nhân
nụ cười thật nhẹ của Ngài, nụ cười từ bi thông cảm,
thương cho chúng sanh hèn yếu lầm lạc. Thành lễ Phật xong,
thì thầy trụ trì cũng vừa bước vào chánh điện. Thầy
hiện hữu như là hình ảnh sáng ngời của bổn sư hay của
Ông Năm đạo hạnh. Thành phủ phục xuống lễ thầy trang
trọng như lễ một vị Bồ tát.
Sự
nghiệp chàng, lòng chấp ngã kiên cố của chàng, lòng tự
tôn tự đại của chàng. hốt nhiên tan vỡ thành mảnh vụn.
Chàng đứng lên nhẹ nhàng thanh thản, như mây bay, gió thoảng,
như cành cây, như cục đất. trần truồng trong trắng thong
dong.
Tháng
10.87
Ghi
chú:
1/
Quần đảo Nam Du, tức Pulau Dama (theo hải đồ quốc tế),
tức Củ Tron (địa danh bán chánh thức lâu đời của dân
biển), gồm 21 hòn đảo, nhưng chỉ 4 đảo lớn: Nam Du (Củ
Tron), Mấu, Dầu, Nồm là có dân cư trú. Về phương diện
hành chánh, Nam Du là một ấp thuộc xã Lại Sơn, quận Kiên
Thành, tỉnh Kiên Giang.
2/
Tục danh của giáo chủ đạo khỏa thân là Sáu Đài (?). Người
đã hành đạo, thâu nhận đệ tử và sau đó cũng từ trần
tại hòn Mấu vào khoảng năm 1944. Sự kiện Ông đạo khoả
thân hướng dẫn đệ tử về Rạch Giá đòi quyền Pháp trả
nước là sự kiện có thật. Tuy nhiên, không có tài liệu
nào chắc chắn về chủ trương, đường lối, giáo lý của
phái nầy.
3/
Hoà Thượng Huệ Quang: một trong những vị cao tăng đã đóng
góp công đức lớn cho phong trào chấn hưng Phật giáo Miền
Nam. Ngài đã liễu đạo năm 1954 tại Aán Độ, trong khi tham
dự Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới, với tư cách là Phó Hội
Chủ Tổng Hội Tăng Già toàn quốc.
4/
"Vị tăng Pháp Đạt ở Hồng Châu thường tụng kinh Pháp Hoa
đế n lễ Lục Tổ mà đầu không sát đất. Tổ quở: Lễ
mà đầu không sát đất, chi bằng đừng lễ. Trong tâm Ông
ắt có một vật, ông chất chứa việc gì ? Pháp Đạt thưa:
đã tụng được ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa. Tổ bảo: Ông nếu
tụng đến muôn bộ, đạt được ý kinh mà chẳng lấy làm
hơn thì cùng ta sánh vai. Nay Ông mang sự nghiệp nầy trọn
chẳng biết lỗi, nghe ta nói kệ đây:
Lễ
vốn chặt cờ mạn
Sao
đầu không sát đất
Có
ngã tội liền sanh
Quên
công phước khôn sánh
Pháp
Bảo Đàn
(Trích
từ quyển Yếu Chỉ Thiền Tông, Hoà Thượng Thanh Từ)
5/
Phần nầy cũng lấy ý từ Pháp Bảo Đàn:
Thần
Hội hỏi Lục Tổ Huệ Năng: "HoàThượng ngồi thiền, thầy
hay chẳng thấy".
Sư
lấy gậy đánh Thần Hội 3 gậy mà hỏi rằng: "Ta đánh ngươi
đau hay chẳng đau".
Đáp:
"Cũng đau mà cũng chẳng đau"
Sư
nói: "Ta cũng thấy mà cũng chẳng thấy"
Thần
Hội hỏi: "Cũng thấy mà cũng chẳng thấy, nghĩa là sao?"
Sư
nói: "Ta thấy là thường thấy các tội lỗi của tâm mình,
mà chẳng thấy điều phải quấy, tốt xấu, của người.
Bởi vậy cũng thấy mà cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau
mà cũng chẳng đau, nghĩa là sao? Nếu ngươi chẳng biết đau,
thì đồng với loài cây đá, còn biết đau thì đồng với
kẻ phàm phu, liền sanh giận hờn. Cứ như chỗ ngươi hỏi
trước: Thấy hay chẳng thấy, ấy là chấp ;hai bên. Chỗ ngươi
nói: Cũng đau mà cũng chẳng đau, ấy là còn sanh diệt.Trích
Pháp Bảo Đàn (Hoà Thượng Minh Trực)