THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
.
TƯỞNG NIỆM VỀ MỘT NGƯỜI ANH
Hư Thân Huỳnh trung Chánh
Kính tặng chị Nguyên Khiêm và các cháu

Vừa di chuyển về Sacramento, tôi đã liên lạc với hai anh Nguyễn ngọc Điện và Lê quang Phục rủ nhau viếng thăm anh sau mười mấy năm xa cách, nhưng đám bạn già chúng tôi rề rà lần lựa hứa hẹn mãi trong hơn ba tháng trời mà vẫn chưa thực hiện nỗi chuyến đi, để rồi chúng tôi phải ngỡ ngàng khi nghe tin anh đã từ giả cõi đời.

Thế rồi, vào ngày thứ năm 16.12.2004 chúng tôi đưa nhau đến San Francisco, viếng thăm anh lần chót. Chúng tôi trang nghiêm đến trước linh cữu anh, thành tâm thắp nén hương. Anh Điện hỏi nhỏ : Mình lễ mấy lạy anh? Tôi đáp : Tôi sẽ lễ ba lạy như lễ Phật, phần anh thì xin tùy tiện, sao cũng phải cả!” Tôi đã bộc lộ lời lẽ nầy với tất cả lòng thành thật của mình và đã lễ anh trang trọng như lễ một  vị Phật. Tôi vốn học hạnh kính trọng tất cả mọi loài chúng sanh, ai cũng có Phật tánh và đều đáng quý cả, huống chi là đối với một người đức hạnh, một bậc đàn anh khả kính như anh Nguyên Cung Trần đại Khâm.

Chúng tôi đều là đồng nghiệp ngày xưa của anh tại Việt Nam. Anh là thẩm phán khóa đàn anh. Khi tôi tập sự tại Tòa Sơ Thẩm Saigon, thì anh đã làm Chánh Án tại Ninh Thuận; khi tôi về miền Tây, thì anh là Chánh Án Bình Dương; khi tôi về Long An thì anh được tuyển chọn vào Giám Sát Viện; khi anh trở về ngành tư pháp nhậm chức Dự Thẩm niên trưởng Tòa Sơ Thẩm Saigon, thì tôi đã rời ngành tư pháp sang lập pháp. Tóm lại, tôi với anh như chơi trò cút bắt, tuy làm chung một ngành, hiểu biết nhau khá nhiều qua công vụ, nhưng thỉnh thoảng mới họp mặt nhân ngày Đại Hội thẩm phán mà thôi. Dù chưa có duyên gần gũi, tôi vẫn kính trọng anh, vì hiểu anh là một thẩm phán liêm khiết, công minh, chính trực. Do đó, chẳng ai ngạc nhiên khi anh được đề bạt làm Chủ Tịch Ủy Ban Điều Tra tai Giám Sát Viện, một cơ chế đặc biệt đảm trách giám sát guồng máy hành pháp các cấp – nói giản dị là cơ quan đặc trách điều tra về tệ trạng tham nhủng – nên có rất nhiều quyền hạn, có ngân sách riêng khá dồi dào và cũng có nhiều đặc ân nếu biết “uyển chuyển du di” cho bè phái.  Môi trường nầy có lẽ không thích hợp với người có tâm huyết, chí công vô tư như anh, nên tôi đã không ngạc nhiên khi thấy anh chỉ làm một nhiệm kỳ, rồi lẵng lặng trở lại ngành tư pháp. Anh được Tối Cao Pháp Viện đề cử làm Dự Thẩm niên trưởng, một chức vụ quan trọng chỉ dành cho những thẩm phán có khả năng và trong sạch. Tòa Sơ Thẩm Saigon là Tòa án ngoại hạng, chức vụ Chánh Án và Dự Thẩm niên Trưởng chỉ dành cho những thẩm phán ngạch trật cao, khả năng nghề nghiệp vững chắc và nổi tiếng liêm khiết. (Dư Thẩm niên trưởng cũng còn gọi là Dự Thẩm Phòng 1 có trách nhiệm và quyền hạn chỉ huy các vị Dự Thẩm phụ trách từ Phòng 2 đến Phòng 10. Thông thường Dự Thẩm niên trưởng chỉ đảm nhận thẩm tra những những vụ án quan trọng, và phân phối những hồ sợ khác cho các phòng còn lại. Thời gian nầy, tôi biết chắc có một người bạn đồng khóa với anh, trung gian đề nghị anh không giam một bị cáo để đổi lấy số bạc vài mươi triệu đồng, nhưng anh đã gạt bỏ ngoài tai).

Tôi vượt biên và định cư tại San Jose vào cuối năm 1978. Mấy năm sau (1981), tôi nghe tin anh cũng vượt thoát và định cư tại San Francisco, nhưng chưa rõ địa chỉ. Tình cờ chúng tôi gặp nhau tại chùa Kim Sơn,Watsonville, California. Chúng tôi tâm sự với nhau khá nhiều, và dù trước kia chưa thân mật nhau, nhưng tôi cảm thấy như đã gần gũi nhau tự kiếp nào. Tôi không ngờ anh là một Phật tử thuần thành, chẳng những thâm cứu giáo lý cao sâu, có niềm tin kính vô biên vào Tam Bảo mà còn thực sự sống hằng ngày trong đạo pháp nữa. Anh nhẹ nhàng buông bỏ quá khứ, nên không hề ngậm ngùi luyến tiếc thời vàng son, và điểm nầy rất hợp ý tôi. Anh đã từng bị đưa đi học tập sáu năm, và chắc chắn đã phải gánh chịu nhiều nỗi nhục nhằn, gian khổ, nhưng anh không bao giờ trách móc hay oán hận một ai. Sau nầy tôi có nghe con gái anh kể, là ngay trong thời gian đang bị giam giữ, anh lo ngạiï cho vợ con ở nhà vì xót xa mà sanh tâm oán hận nên đã biên thơ nhắc nhở lời Phật dạy : “Chỉ có tình thương mới xóa bỏ oan trái hận thù”  để dặn dò con cái nên luôn sống trong đạo pháp. Tôi cũng là Phật tử, và cũng cố gắng sống thương yêu, không giận hờn thù hận, nhưng tôi chỉ an vui nhẫn nhục được vài tháng mà thôi, sau đó, tuy bề ngoài không dám lộ vẻ gì khác lạ, mà mỗi khi bị nhục mạ, bị lên án về những tội lỗi tầy trời của mình thì oán hận cũng dâng lên ngùn ngụt. Tôi tu tập yếu kém, nên rất cảm phục đức độ của anh. Tôi cũng được biết, vì định cư quá trễ, nên khi vừa đến San Francisco anh đã vất vả làm việc ngay với đồng lương tối thiểu tại Mc Donald, trạm xăng, lò bánh mì Bakers of Paris…, để dành dụm từng đồng gởi về Việt Nam, lo cho vợ con còn kẹt lại và cũng không quên đùm bọc bà con cô bác nghèo khó. Lòng anh lúc nào cũng tràn ngập tình thương, tôi nghe kể rằng trong những ngày cuối cùng của chế độ, anh đã dang rộng hai tay đón nhận khoảng 50 thân hữu từ Huế di tản vào Nam, và sau đó, dù đã mất việc và phải chuẩn bị đi tù, mà vẫn còn can đảm đem hết tiền dành dụm phân phát cho họ làm lộ phí về quê. Chuyện nầy thì tôi cũng không làm nỗi : Tôi chỉ rộng rãi bố thí khi tiền bạc dồi dào, còn gặp lúc khó khăn chật vật, thì tôi vẫn dự phòng cho gia đình mình trước.  Có lẽ, nhờ tâm anh rộng rãi thênh thang, nên trong mọi hoàn cảnh : vinh, nhục, giàu, nghèo, thành, bại…như thế nào anh cũng đều thanh thản an vui trong đạo. Anh hồn nhiên hòa hợp với nếp sống khiêm tốn ở xứ người, anh chia xẻ những gì anh có cho kẻ khác, anh hết lòng bảo trợ chùa, anh không quản ngại lái chiếc xe cũ mèm đưa đón đồng hương thiếu phương tiện di chuyển.
 
Tự nếp sống của anh là bài pháp không lời về tâm lượng bồ tát hạnh, tươi mát như một cổ thụ xanh um, khiến tôi rất thích gần gũi nương tựa học hỏi. Rất tiếc là chỉ một thời gian ngắn sau, vào mùa hè năm 1987 thì gia đình tôi phải di chuyển về Dallas sinh sống. Nghe tin nầy, anh từ San Francisco xuống San Jose, hợp cùng với anh Trần khương Trinh đưa tiển tôi. Khi từ giả, anh từ tốn thương yêu, coi tôi như đứa em nhỏ dặn dò : “Anh Chánh ạ! Anh em mình là Phật tử thuần thành, thì dù trong hoàn cảnh nào, nơi nào, Chánh cũng đừng bao giờ quên đạo pháp nhé!”. Lời dặn dò đó, tôi nguyện tạc dạ chẳng quên, không chỉ riêng ở kiếp nầy mà kiếp kiếp về sau. Chính vì vậy, mà tuy chúng tôi sống cách xa nhau nhưng tôi vẫn cảm thấy rất gần gũi nhau. Tôi lưu lạc đến Dallas (Texas), rồi sang Phoenix (Arizona) tổng cộng 17 năm. Trong thời gian nầy tôi vẫn được bạn bè thông báo những tin tức liên quan đến gia đình anh. Tôi rất xúc động khi đón nhận tin anh xuất gia tại Như Lai thiền viện vào đầu năm 1997, rồi sang Miến Điện khổ hạnh hành thiền. Tôi cảm khích về chí khí trượng phu “đại hùng đại lực” của anh và cũng thầm xấu hỗ riêng mình, vì tôi cũng từng ước nguyện xuất gia, dù chỉ tu giao duyên vài tháng thôi tại một ngôi chùa Miên từ thuở chưa quá ba mươi tuổi, mà mãi đến giờ vẫn chưa thực hiện nỗi. Mấy lần về San Jose, tôi dọ hỏi phương cách đến thiền viện viếng thăm anh, bấy giờ là vị Tỳ Kheo mang pháp hiệu Dhammika (tức Pháp Hộ), nhưng rất tiếc chẳng lần nào hội đủ cơ duyên thuận tiện.

Cuối cùng thì tôi cũng thăm được anh. Lần nầy chúng tôi cùng im lặng, nhưng tuy không lời mà tôi nghĩ chúng tôi vẫn tương thông hiểu biết nhau. Trong thâm tâm tôi cũng không cho rằng đây là phút giây vĩnh biệt, vì tôi tin tưởng rằng mãi mãi trong những kiếp sau nầy, dù dưới dạng tu sĩ hay cư sĩ, dù là nông dân, thợ thuyền, hay bất cứ ngành nghề nào, trên con đường vô tận trao dồi Bồ Tát hạnh, tôi và anh sẽ vẫn gặp nhau để nâng đỡ và sách tấn nhau. 
  
Ngày 02.01.2005
 

 
 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap