Nếu Los Angeles, Nam California, thường được dí dỏm so sánh
như Saigon, thủ đô của Việt kiều tại Hoa Kỳ, thì thung
lũng điện tử Santa Clara, miền Bắc Cali có thể mường tượng
như Cần Thơ, một thứ Tây đô mầu mỡ, đầy âm ấp xí
nghiệp điện tử, sẵn sàng mở rộng cửa đón nhận làn
sóng thuyền nhân đang khát khao tìm chốn định cư lập nghiệp.
Từ tiểu bang Iowa, lạnh lẽo cô đơn, thiếu vắng đồng hương,
Tùng trốn chạy về San Jose, lòng chỉ cầu mong được sống
gần gũi với cộng đồng người Việt, được nghe tiếng
mẹ đẻ, được nhìn thấy màu da vàng, và nhứt là được
ăn cơm, húp nước mắm... một cách tầm thường là hạnh
phúc tuyệt vời rồi. May mắn hơn nữa là mới tròm trèm sáu
tháng học điện tử lem nhem, tiếng Anh còn điếc lác câm
ngọng, nhờ bạn bè hướng dẫn bày vẽ kê khai kinh nghiệm,
rồi giới thiệu nâng đỡ, Tùng đã "vớ" ngay được một
chân chuyên viên điện tử thơm phức tại công ty F.P.S inc.
Ngành điện tử đang trên đà hưng thịnh, xí nghiệp mọc
như nấm, tranh nhau thuê tuyển nhân viên nên điều kiện tuyển
dụng dễ dãi, mà việc quản trị cũng cảm thông cởi mở.
Do đó mà Việt kiều đùm túm dắt díu nhau về xin việc, rồi
lần lần hãng xưởng nào, cũng đầy nhóc thợ Việt Nam. Phân
xưởng của Tùng, thợ Việt Nam chiếm đa số, ngồi đối
diện chàng là Sơn, bên phải là Vĩnh. Anh em đùm bọc chỉ
dẫn nhau công việc, hàn huyên tâm sự đều bằng tiếng mẹ
đẻ..., thoải mái như đang sống tại nước nhà. Bữa ăn
trưa nhộn nhịp và thích thú đặc biệt, anh em lỉnh kỉnh
mang theo toàn thức ăn Việt, để chia xẻ nhau thưởng thức
tài nghệ nội trợ của quí bà. Hai thời nghỉ giải lao thì
anh em lại tu tập nhau từng nhóm để bàn bạc đủ mọi đề
tài, từ chuyện tào lao không đầu đuôi đến chuyện nghiêm
trang đạo đức, chuyện quê cha đất tổ gầy gò thương đau
ở chân trời xa vắng... Tình đồng bào ruột thịt là chất
liệu nuôi dưỡng Tùng giữ vững niềm tin để gắng gượng
sống kiếp tha hương lạc lõng xứ người. Tuy nhiên tình đồng
bào đôi khi cũng khiến chàng chua xót trước cảnh "một con
sâu làm rầu nồi canh". Thật ra, không phải người Việt nào
cũng giữ tư cách và đối xử với nhau chí tình. Trong cộng
đồng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện những phần tử bỉ ổi,
lố bịch... gây tai tiếng chung, hoặc tệ hơn nữa, đã không
ngần ngại "đâm sau lưng" đồng bào ruột thịt. Tình trạng
đó lại càng tệ hại khi xí nghiệp bắt đầu xuống dốc,
việc làm bấp bênh, nhân công có thể bị sa thải bất cứ
lúc nào. Viễn ảnh mất việc, mà hậu quả có thể kéo lôi
thêm nạn mất nhà cửa, mất xe cộ... khiến cho lắm kẻ tranh
đua nhau tâng công, bợ đỡ thượng cấp bằng nhiều kiểu
cách ly kỳ. Tuy nhiên, đối với phái nữ, vũ khí "cổ điển"
mà hữu hiệu muôn đời vẫn là nhan sắc mỹ nhân.
Đang cặm cụi làm việc, chợt nghe tiếng nàng Mỹ Lý cười
giỡn hinh hích với người trưởng phân xưởng trong phòng,
Sơn bực bội cằn nhằn:
- Chúng nó ngày càng lộng hành, bốc hốt công khai không biết
xấu hổ là gì cả?
- Đúng là hạng "gái điếm" vậy mà khi mới vào làm việc,
màu mè giả dạng gái nhà lành, trâm anh thế phiệt chớ!,
Vĩnh góp ý.
Tùng là kẻ ba phải, nghĩ rằng người đẹp tuy có phần lố
lăng, nhưng dùng lời lẽ nặng nề như hai bạn cũng hơi quá
đáng, nên có ý dí dỏm đẩy đưa câu chuyện sang hướng
khác:
- Ừa! thì thân tha phương cầu thực của chúng mình cũng tròm
trèm với hạng gái điếm, chớ có cao quí gì đâu?
Thấy hai bạn tròn xoe mắt trước lời phát biểu lạ lùng
của mình, Tùng giải thích thêm:
- Ngày xưa Nguyễn Du vì phải buộc lòng làm quan cho trào vua
khác mà đã tự so sánh mình là nàng Kiều, một thứ gái điếm
bán thân nuôi miệng rồi. Bây giờ bọn mình lại phải đem
thân phục vụ nước ngoài, chẳng lý tưởng, chẳng hứng
thú... thì còn tệ hơn nhiều. Vậy thì nếu ví von phận mình
cũng là một hạng với kẻ bán thân nuôi miệng thì cũng không
có gì là quá đáng!
Vĩnh trẻ trung vui nhộn, thấm ý cười ngất tán rộng:
- Kể ra, nếu hành nghề mãi dâm mình cũng thuộc vào hạng
sang, thù lao rộng rãi, vui làm mệt nghỉ, tức chửi cũng được,
phong lưu chán.
- Đúng vậy!, Tùng tiếp lời, đồng bào mình trong nước và
ở Đông Âu phải nai lưng ra bán thân mà có được gì đâu?
Vĩnh cười hềnh hệnh bổ túc:
- Thì họ là thứ gái mãi dâm bị chơi lường, đã bị bè
đảng tú bà bốc lột chận tiền đầu tiền đuôi, lại bị
bọn ma cô áo vàng áo đỏ rình rập kềm kẹp khủng bố...
nữa.
Ngừng một lúc lâu, để đè nén cơn đau buồn trong lòng,
Vĩnh ấm ức văng tục:
- Mẹ nó! đã bị chơi lường, ăn chận mà còn bị buộc phải
hồ hởi hoan hô "vui sướng quá! lao động vinh quang quá!".
Thế mới đau chớ!
Sơn vốn là một nhà mô phạm, nghiêm trang đạo mạo mà nay
bỗng nghe hai bạn đồng nghiệp, một già một trẻ, đua nhau
đùa giai so sánh thân phận mình chung chung với gái mãi dâm
hèn hạ, đâm ra bực bội, nhăn nhó càm ràm:
- Anh Tùng cứ bày đầu cho thằng Vĩnh nói bậy không hà!
Tùng lặng yên tủm tỉm cười nhận lỗi. Đối với chàng
thì những bậc chân đạo đức cũng có thể hiện thân hành
nghề hèn hạ ti tiện, ngược lại, kẻ tồi bại, lưu manh
bon chen danh lợi cũng dễ chiếm đoạt một nghề nghiệp cao
sang, vậy thì có nghề nào đáng kính, nghề nào đáng khinh
đâu? Do đó, Tùng chẳng hề có mặc cảm gì với giới mãi
dâm, huống chi, ấn tượng về đóa sen trắng mà chàng đã
có duyên phát hiện từ hai mươi lăm năm về trước, vẫn
chưa hề phai lạt.
*
*
*
Sau những giờ phút nhức đầu bởi đống hồ sơ dầy cộm,
chứa đầy những tranh luận hơn thua, Tùng lái xe lang thang
ra ngoại ô, về hướng nhà Vàm Cống, rồi ghé thăm chùa Phước
Thạnh, ngôi chùa quê xinh xắn nằm ven rạch Gòi Bé, xã Mỹ
Thới. Xe vừa ngừng trước cổng, thì dì Diệu Hạnh, đang
nhổ cỏ trước sân ngẩng mặt nhìn, rồi đon đả lên tiếng:
- A! cháu Tùng! sao lâu quá mới đến vậy cháu!
- Thưa mấy ngày nay cháu bận việc quá! Ơ! mà cháu cũng mới
ăn cơm chay tại đây ba hôm trước mà đi!
- Ậy! dì có thể dành cho cháu mấy cái bánh ích nhưn đậu.
Cháu mà đến trễ thì hư hết trơn hà!
Tùng xá chào dì rồi lên chánh điện lễ Phật. Lễ Phật
xong, chàng đã thấy dì chờ sẵn dúi cho chàng hai cái bánh
ích, cử chỉ đậm đà thương yêu như một bà ngoại dành
quà cho cháu nhỏ. Tùng tủm tỉm cười, bóc lá ăn ngay:
- Ngon lắm dì ạ!
Dì cười hể hả, vui sướng trở ra sân trước tiếp tục
chấp tác. Tùng đi vòng ra đám rẫy khu vườn sau chùa tìm
thầy. Hai thầy trò thường vừa săn sóc vườn tược, vừa
trò chuyện trồng cây, chiết nhánh, ươm hoa..., những mẩu
chuyện không "ăn nhập" gì đến việc tu hành, nhưng dường
như lại mênh mang đạo vị. Vừa thấy Tùng, thầy chỉ đống
bắp vừa hái, rồi bảo:
- Con gom nhánh cây khô đốt lửa, nướng mớ bắp đầu mùa
thưởng thức chút hương vị đồng quê đi!
- Chà! bắp ăn tại rẫy thì ngon ngọt nhứt hạng rồi! Tội
nghiệp dì Diệu Hạnh quá! không biết dì có thể cạp nỗi
bắp nướng không?
- Răng dì sún hết trơn thì làm sao cạp thứ nầy được!
Dì Diệu Hạnh móm sọm không còn một cái răng, lụm cụm
lắm rồi, thế nhưng dì vẫn bền bỉ công quả, tận lực
hộ trì tam bảo không biết mỏi mệt. Thân thể già yếu,
mà dì vẫn giữ được sắc thái tươi mát, mộc mạc mà hồn
nhiên..., dì tu mà dường như không cần phải cố gắng gò
gẫm gì cả. Lúc nào, dì cũng hoan hỉ đón mừng thiện tín
viếng chùa nhiệt tình như bà mẹ già dang rộng cánh tay đón
những đứa con thân yêu quay trở về nhà. Tùng lên tiếng:
- Hình ảnh của dì Diệu Hạnh thật đẹp! Con cảm giác như
lúc nào dì cũng an lạc. Đôi khi con bỗng ước mơ mình trở
nên hồn nhiên chơn chất như dì thì quí giá vô cùng!
- Đúng vậy! chính cái chơn chất, tự nhiên, càng bình thường
càng gần gũi với đạo. Ngược lại, cái vốn trí thức:
khôn khéo, so đo, suy luận thiệt hơn lại làm trở ngại việc
tu hành. Ngày xưa, bổn sư thầy thường kể câu chuyện của
bà cư sĩ chùa Giác Lâm thuở trước, để nhắc nhở chúng
đệ tử tâm niệm điều đó. Vị nữ cư sĩ tục danh là Lê
Thị Tốt, vốn là người đàn bà quê mùa dốt nát, xấu xí
vì gương mặt rỗ chằng, sống với nghề gánh nước thuê
tại chợ Cây Mai. Cảm ân đức của tổ sư Giác Lâm, tức
thiền sư Viên Quang, dì xin quy y rồi phát nguyện trải thân
công quả trọn kiếp. Tổ ban cho dì pháp danh là Tế Dung, nhưng
không ai chịu nhớ, người ta cứ xúm nhau xách mé gọi dì
là "tư Rỗ", mà dì cũng dễ dãi nhận chịu bí danh xấu xí
đó. Tánh dì hiền lành, chơn chất và đặc biệt rất hoan
hỷ. Đối với bất cứ ai trong chúng, dì cũng thành khẩn
tôn kính là bậc thiện căn, đại trí, xứng đáng nhận sự
cúng dường phục vụ. Do đó, dì hoan hỉ nhận lãnh mọi công
việc nặng nhọc, khó khăn, hi sinh cho mọi người rảnh rang
tu tập, còn dì, mặc cảm phận mình ngu dốt, hèn kém chỉ
lủi thủi công quả "bòn" chút duyên lành mà thôi. Chùa Giác
Lâm thuộc thiền tông, nhưng xét căn cơ dì tư, tổ Viên Quang
dạy dì hành trì pháp môn niệm Phật... Tuy nhiên, để tránh
trường hợp hành giả miệng niệm Phật như con két, mà tâm
lại rong ruổi theo trần cảnh, quay cuồng với tham, sân, si,
mạn... không chút tương ưng với câu niệm Phật, tổ khuyến
cáo trong bốn oai nghi vẫn phải quán niệm những bài kệ trong
quyển Tì ni nhật dụng thiết yếu, như các thiền sinh. Dì
tư tối dạ, học trước quên sau không thuộc nỗi bài kệ
nào, thành thử sư dặn dì "khi đi đứng nằm ngồi, hay trong
bất cứ động tác nào cũng chỉ cần thầm nghĩ đến một
niệm thiện là đủ". Lối luyện tâm sơ cơ của dì: ăn cơm
mong người người được no, mặc áo mong người được ấm,
tắm rửa mong người được mát mẻ..., có vẻ trẻ con, nhưng
đối với dì tư lại có giá trị vô song. Tánh dì chơn chất
giản dị, cứ tuân lời thầy thành tâm thực hành, không hề
thắc mắc, so đo, suy luận hơn thiệt, cứ dõng mãnh tinh tấn
trong mấy mươi năm không thối chuyển, nhờ vậy tâm địa
ngày càng thanh tịnh, rồi đạt đến chỗ niệm Phật nhất
tâm bất loạn mà chẳng ai ngờ. Một hôm, trong khi đang nấu
cơm, nghe tiếng nước sôi dì quán niệm mong chúng sanh nghe
được pháp mầu, thì bỗng nhiên thế giới cực lạc hiện
bày, tất cả thanh âm dì nghe: tiếng suối chảy, gió reo, chim
ca cùng hòa điệu thành những bài thuyết pháp vang lừng. Thời
gian sau, biết trước giờ tịch diệt mà dì vẫn lo hoàn tất
việc cơm nước hầu hạ đại chúng, nhiên hậu mới tắm
rửa, rồi quì lạy từ tạ tổ Viên Quang, đoạn vào bếp
lần chuỗi niệm Phật mà thị tịch. Sau đó, tổ Viên Quang
họp chúng tán dương đạo hạnh của dì, khiến cho lắm người
trước kia tệ bạc khinh khi dì, đã phải dập đầu sám hối.
Câu chuyện hào hứng vừa kết thúc thì Tùng đã vội từ
giã để kịp trở về Tòa án trước giờ tan sở, hầu giải
quyết kịp thời những hồ sơ dẫn giải can phạm trong ngày.
Từ ngày được bổ nhiệm giữ chức vụ Chánh án Tòa án
An Giang, Tùng mới khám phá ra là dường như chàng không mấy
phù hợp với nghề nghiệp của mình. Chàng lè phè, không câu
nệ lễ nghi hình thức, mà nay lại phải ra vẻ nghiêm nghị
đạo mạo giữ gìn thật là phiền toái. Ra ngồi xử án phải
xúng xính áo thụng đen, tua cầu vai lông thỏ... chàng đã
ngao ngán lắm rồi. Đã vậy, lại còn phải gượng gạo tham
gia bao nhiêu lễ lạc, tiếp tân mà lúc nào cũng ra vẻ long
trọng, đường hoàng, cân nhắc từng lời, từng cử chỉ...
bực bội vô cùng. Ngay những bữa ăn gọi là thân hữu cũng
vẫn phải dè dặt, khách sáo, màu mè... chớ đâu được thoải
mái, thong dong.
Vừa tan sở, Tòa Tỉnh đã đưa xe đến rước Tùng dự bữa
cơm thân mật do Đại Tá Tỉnh Trưởng khoản đãi. Ngồi chung
trên xe lái ra vùng ngoại ô mát mẻ, vị đầu tỉnh thân mật
lên tiếng:
- Mình sẽ dùng cơm ở một địa điểm đặc biệt, thiên
nhiên và thơ mộng. Tôi chắc chắn Ông Chánh án sẽ thích
thú!
- Thế Đại Tá cho tổ chức tại một công viên sao?
- Không! tại một khu vườn cây trái của tư nhân, có hồ
sen thả cá vàng, có hồ bơi dưới bóng cây râm mát, lại
yên tỉnh kín đáo mà đầy đủ tiện nghi nữa!
- Ô!
như vậy có lẽ mình làm phiền lòng gia chủ quá đi!
- Chẳng
phiền hà chi đâu Ông Chánh án! đây là nơi nghỉ mát dành
cho thân hữu, vả lại chính gia chủ, thầu khoán Văn Thành
vẫn thiết tha mong được quen biết với Ông Chánh án kia mà!
Tùng
thoáng giựt mình vì không ngờ bữa cơm nhân danh thân mật
dường như có hậu ý quanh co, chớ không đơn giản bình thường
nữa. Thầu khoán Văn Thành là một nhà đại doanh thương tại
tỉnh nầy, ai mà chẳng biết, và dĩ nhiên Tùng cũng phải
nghe danh. Ông ta là chủ nhân một nhà thuốc tây đồ sộ,
nhưng lợi tức cơ sở thương mãi chính thức nầy chẳng thấm
tháp gì nếu so sánh mức thu hoạch vô kể bằng lối làm ăn
luồn lõi thậm thục. Lão thương gia cáo già nầy chẳng những
nắm vững được nghệ thuật “móc nối ăn chia”, mà lại
biết tận dụng nhan sắc mặn mà của hai cô con gái đang xuân
sẵn sàng chiều chuộng, òn ỉ… giới chức cao cấp trong
chánh quyền, để tạo dựng nên một ưu thế vô song trên
thương trường. Thương gia muốn làm ăn suôn sẻ phải nhờ
lão làm trung gian điều đình trả giá với giới chức thẩm
quyền, và giới chức muốn liếm láp an toàn kín đáo cũng
phải trông cậy lão dàn xếp. Do đó, lão nắm trọn quyền
phân phối phân bón, đường, xi măng, thuốc lá…, là những
thứ hàng đắc như tôm tươi, vừa xuất hiện đã đột ngột
khan hiếm, để rồi người ta mặc tình cắt cổ giới tiêu
thụ một cách công khai, chẳng úy kị gì cái gọi là “ủy
ban vật giá tỉnh”. Bàn tay lông lá của lão cũng bảo trợ
cho đám thầu số đuôi, đám buôn lậu xì ke, ma túy…, làm
ăn ồ ạt với sự bao che của các quan trong ban bài trừ tứ
đổ tường. Tùng chẳng thích giao du với hạng người nầy,
nhưng kẹt cứng đã vô tình hứa với viên Tỉnh Trưởng,
nên đành bức rức ngồi yên.
Chiếc
xe lướt êm ru trên con đường ra ngoại ô, vượt khỏi ngôi
chùa Phước Thạnh quen thuộc chừng năm trăm thước thì rẽ
vào cửa ngõ rộng mở đi vào một khu vườn to lớn. Xe lăn
bánh rào rạo trên lối đi trải sỏi đá nhỏ, giữa hai hàng
cây kiểng xanh um, dẫn đến ngôi biệt thự kiến trúc tân
kỳ. Tùng mê mẩn ngắm khu phong lan sân trước, những chậu
hoa kiều diễm, kiêu kỳ quí giá đong đưa khoe sắc. Khách
vừa bước xuống xe thì đã thấy hai mỹ nhân lộng lẫy với
loại trang phục sang trọng tíu tít đón rước.
- Xin
giới thiệu Ông Chánh án: cô Mộng Kiều và cô Mộng Ngọc,
con cưng của bác Văn Thành!, viên Tỉnh Trưởng lịch sự lên
tiếng.
- Chào
hai anh! xin lỗi hôm nay ba bị chóng mặt, tụi em xin thay mặt
ba tiếp đãi hai anh vậy!
Thế
rồi hai cô thật tự nhiên, cô chị choàng vai viên Tỉnh Trưởng,
cô em níu tay Tùng dìu đưa vào nhà.
Tùng
và vị đầu tỉnh tuy vồn vã thân mật nhau, nhưng đó chỉ
là lề lối khách sáo xã giao, đâu có thâm tình để đưa
nhau vào chỗ thơ mộng lả lướt như thế nầy. Tùng ngượng
ngập cứng người, khiến viên Tỉnh Trưởng phải lên tiếng
trấn an:
- Ở
đây chỉ có chúng mình thôi, xin Ông Chánh án tự nhiên đừng
ngại. Nè Mộng Ngọc! chăm sóc cưng chiều bạn của anh nhé!
- Như
để khuyến khích Tùng nhập cuộc, vị đầu tỉnh lơi lả
nựng mông nàng Mộng Kiều, cười rúc rít, rồi nháy mắt
với Tùng.
Thật
ra Tùng cũng bàng hoàng ngây ngất trước thân thể nồng nàn
khêu gợi của Mộng Ngọc, nhưng chàng chủ trương “kẻ làm
đĩ chính phương cũng còn chừa một phương lấy chồng”,
chàng có thể ăn chơi xả láng nơi nào cũng được, nhưng
ở tỉnh nầy thì quả thật không dám.
- Ơ!
anh dùng loại rượu chi? để nguyên chất hay pha soda?, nàng
Mộng Ngọc thỏ thẻ.
- Ô!
tửu lượng tôi kém cõi lắm! cô cho tôi chai xá xị được
rồi!
- Uống
rượu mạnh ăn ngon cơm anh ạ! say thì đã có em săn sóc ngại
gì! nhà có sẵn hai phòng đầy đủ tiện nghi mà!
- Nè
hai anh!, nàng Mộng Kiều lên tiếng, em đề nghị mở nhạc
nhảy vài bản cho yêu đời nhé!
- Xin lỗi! Tôi nhà quê nên vụ đó mù tịt!, Tùng lại ngượng
ngập giải thích.
Thấy mình cứ trả lời tréo ngoe làm mất cuộc vui người
khác, vả lại, Tùng cũng muốn tránh làm kỳ đà cản mũi
ông bạn đang khao khát vui thú lả lướt mộng mơ với người
đẹp, nên Tùng viện cớ thích nhìn cây lá thiên nhiên, để
bước ra ngoài thong dong rảo bước trong khu vườn tươi mát.
Vườn gồm đủ loại cây ăn trái, phân chia vị trí cân xứng
theo nhu cầu trang trí hơn là để thu hái trái, nên rất trang
nhã, khoảng khoát. Tùng đi tắt ngang hàng mận hồng đào,
nhìn chùm trái bầu bỉnh nổi gân đỏ đong đưa theo gió,
rồi mon men đi đến cái hồ sen hình bầu dục. Chàng ngồi
dưới góc dừa, rễ đâm tua tủa, thảnh thơi lặng ngắm những
đóa sen thanh khiết, rồi lơ đảng theo dõi đàn cá chép vàng
đỏ tung tăng bơi lội.
- Anh lại mơ mộng cô nào rồi? Mình vào nhà thủy tạ bóng
mát thì mới thanh nhã anh ạ!, Mộng Ngọc lẽo đẽo bám theo
sau chàng, nũng nịu lên tiếng.
Hai người bước lên chiếc cầu màu hồng tươi đưa ra ngôi
nhà thủy tạ bát giác nên thơ ở giữa hồ. Mộng Ngọc nắm
tay chàng thỏ thẻ:
- Coi kìa anh! cặp cá lội song song đó có đẹp đôi như mình
không anh?
Tùng tìm cách lảng tránh sang đề tài khác:
- Ơ! vùng đất nầy lập vườn cây ăn trái coi bộ thành công!
Thửa vườn xoài ở kế bên đây đơm trái sai oằn thấy mà
ham! Có lẽ, nhờ vậy họ mới xây căn nhà ngói nhỏ xinh xắn
làm sao á!
- Đâu phải nhờ hoa lợi sở vườn anh!, - giọng nàng đượm
mùi chua chát – tiền của cô con gái làm đĩ cho lính Mỹ
ở Pleiku gởi về cất nhà đó anh!
Thấy vẻ mặt ngỡ ngàng của Tùng, cô ta bổ túc với giọng
châm biếm:
- Thời buổi nầy đĩ là nhứt hạng trên đời anh ạ!
Rồi cô lại giở trò ngâm nga tao đàn mùi rệu:
- Anh đi lính! Anh làm trung sĩ!
Em ở nhà, lấy Mỹ nuôi son.
Mai nầy yên nước yên non
Anh về, anh có Mỹ con anh bồng![1]
Tùng vốn không cảm tình với bài thơ mà mấy ông nhà báo
hùa nhau rêu rao là ca dao thời đại để xỉ vả kẻ buôn
hương bán phấn. Thật ra, họ chỉ là nạn nhân của xã hội
đầy bẫy rập, bấp bênh, đáng thương xót hơn độc cay đay
nghiến. Tùng cũng hơi khó chịu về lời lẽ mạ lỵ, người
láng giềng vắng mặt của Mộng Ngọc, vả chăng, chàng nghĩ
“lấy Mỹ nuôi con còn có lương tâm hơn hạng lấy quan quyền
để làm áp phe” nhiều lắm. Tùng lơ lửng góp ý:
- Kể ra! Làm nghề mãi dâm mà xây cất được ngôi nhà cho
cha mẹ thì cũng đáng khen đấy chứ!
Rồi không đợi cho cô nàng trở lại đề tài nầy nữa, Tùng
chuyển hướng:
- Bác Văn Thành thật là sành sõi! phối hợp được nghệ
thuật kiến trúc Đông Tây, nên ngôi biệt thự thì sang trọng,
quí giá, còn hồ sen nầy lại trang nhã, nên thơ.
Được Tùng vô tình khơi dậy niềm tự hào của gia đình,
người đẹp hứng thú khoe khoang cái giàu sang của họ. Nàng
hướng dẫn giải thích tường tận: từ các loài hoa kiểng
hiếm hoi trong vườn cho đến các vật dụng chưng bày tại
phòng khách, thứ nào cũng đắc giá, sang trọng cả. Từ đó,
Tùng chỉ cần khen ngợi, gợi chuyện để mời nàng nói, rồi
chịu khó nghe, vẫn cảm thấy đỡ lúng túng hơn là phải
thường trực đề phòng bị mê hoặc bởi đòn phép giai nhân.
Khi cơm nước đặt sẵn đã được nhà hàng mang tới, ngồi
vào bàn ăn thấy vẻ mặt ông bạn tuy thỏa mãn mà cũng ra
chiều mệt mỏi, Tùng yên chí sẽ được ra về êm thấm khi
tiệc tàn.
Bất ngờ, khi Tùng đứng dậy từ giã, thì nàng Mộng Kiều
lại ấp úng với viên đầu tỉnh:
- Anh nói giúp dùm tụi em đi!
- Mình là người nhà cả mà! hai em cứ nhờ thẳng Ông Chánh
án đi, ngần ngại làm gì!
Mộng Kiều ngọt ngào:
- Anh à! tụi em có việc nầy xin nhờ anh nhé: Ba em có tánh
thương người, nghe họ khóc lóc năn nỉ mua dùm họ mấy mẫu
vườn, mà bây giờ giá đất lên cao thì họ ngược ngạo
mướn luật sư kiện đòi lấy lại. Anh nghĩ coi có tức không!
Tâm lý con người bao giờ cũng kể phần phải về mình nên
Tùng trả lời phân hai:
- Nếu làm giấy tờ mua bán rõ ràng thì việc gì phải lo.
Đâu ai có thể đổi trắng thay đen được.
Mộng Ngọc õng ẹo:
- Anh hứa giúp nghen anh! anh mà muốn như thế nào chả được!
Chừng như sợ Tùng chậm hiểu câu nói ỏm ờ của mình, nàng
bổ túc:
- Ba em nói: “Tốn kém bao nhiêu chẳng nề hà, chớ chịu thua
bọn ngu dốt mạt rệp đó thì tức lắm”.
Tùng nghiêm trang đáp:
- Thật ra, tòa án không có nhiều quyền hành như bên quân
đội và hành chánh đâu cô. Bản án xét xử phải tuân theo
luật lệ, viện dẫn lý do hợp lý, nếu không người ta chống
án lên tòa trên lòi ra điểm gượng ép thì nguy lắm!
- Ơ! Thì anh cứ giúp dùm em dưới nầy đi! họ chống án thì
đã có mấy anh tòa trên hứa rồi!
Ra về, cầm mảnh giấy ghi số vụ kiện mà người đẹp dúi
vào tay, Tùng nóng lòng vào ngay văn phòng tìm cho ra hồ sơ
vụ số 316H Nguyễn Văn Tý k/Hứa Văn Thành, để xem thử nội
dung vụ kiện như thế nào mà người ta phải dày công vận
động như thế.
Đúng như dự đoán, người đẹp đã dấu diếm sự thật.
Đây chỉ là một vụ mãi lai thục (1), nghĩa là một vụ bán
đất có quyền chuộc lại. Trong khế ước đã ghi rõ, người
bán có quyền chuộc sở vườn trong thời hạn ba năm, nếu
không vụ buôn bán sẽ trở thành thiệt thọ. Nguyên đơn Nguyễn
Văn Tý đã mang tiền đến gặp nhà thầu Văn Thành xin chuộc
ruộng đúng hạn, nhưng y lánh mặt, kiện ra Tòa thì luật
sư của y cứ viện dẫn những lý lẽ mơ hồ xin mua đứt,
đồng thời sử dụng thủ đoạn kéo cưa để tiếp tục hưởng
hoa lợi sở vườn. Tùng đã soạn thảo bản án sẵn chờ
hai ngày nữa sẽ tuyên, theo đó chàng tuy tuyên bố chấp thuận
đơn xin chuộc ruộng của Nguyễn Văn Tý, nhưng không cho thi
hành tạm. Giờ đây, hiểu rõ con người và đòn phép của
gia đình Văn Thành, chàng thấy bản án cần phải thi hành
ngày sau khi tuyên, dù có kháng cáo hay không. Và như vậy, thì
họ sẽ không còn có thể sử dụng đồng tiền để xin đình
hoãn kéo dài ở tòa trên cướp đoạt hoa lợi sở vườn thêm
nữa.
Trong phiên tòa, hai người đẹp hiện diện hiu hiu tự đắc,
thỉnh thoảng liếc mắt tình tứ nhìn chàng, yên chí nắm
vững thắng lợi. Đến khi nghe chàng đọc án, hai nàng bỗng
xìu mặt, hầm hầm bỏ đi một bước.
Tùng đang ngồi trong văn phòng[2] cẩn thận đọc từng
hồ sơ phi phạm do Ty Cảnh Sát dẫn giải, trước khi chấp
cung. Tùng bỗng chú ý đến một hồ sơ hơi bất thường.
Nghi can Nguyễn Thị Hai, bị bắt về tội hành nghề mãi dâm,
tuy nhận tội đã hành nghề mãi dâm tại Pleiku nhưng phủ
nhận hành nghề nầy tại địa phương. Điểm kỳ lạ là
nhân viên sở kiểm tục đã bắt giữ y thị tại bến xe đi
Saigon, chớ không phải tại một khách sạn, một thanh lâu
hoặc một nơi có thể hành lạc được. Nguyên tội hành nghề
mãi dâm chỉ hội đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nếu
sự bán dâm mang tính chất thường xuyên. Do đó, theo luật
lệ, nhân viên kiểm tục phải có hai báo cáo khác nhau chứng
minh đã bắt gặp người đàn bà dâm hai lần riêng biệt thì
mới hợp lẽ. Tuy thông thường, do sự yêu cầu yểm trợ
chánh sách lành mạnh hóa xã hội, tòa án dễ dãi không đòi
cảnh sát trưng đủ bằng chứng về yếu tố thường xuyên,
nhưng ít ra cảnh sát cũng bắt nghi phạm quả tang đang hành
lạc, đang rước khách tại một khách sạn, một động thanh
lâu…, chớ không hề có trường hợp bắt người đang ngồi
trên xe đò chờ đi Saigon như thế nầy cả. Nghi ngờ có việc
ám muội, Tùng điện thoại gọi viên đại úy trưởng phòng
cảnh sát tư pháp cảnh cáo việc làm tắc trách của y, thì
viên sĩ quan trẻ cuống quít:
- Thưa ông Chánh án, vụ nầy liên hệ đến cô Mộng Kiều,
nên… nên thượng cấp ép tụi em làm, chớ em cũng biết người
ta đâu có tội tình gì!
Tùng biết thượng cấp nào đã chỉ thị rồi, nên không nỡ
khiển trách viên sĩ quan cảnh sát, chàng ra lịnh cho gọi nghi
phạm vào để tìm hiểu bí ẩn bên trong. Người con gái gầy
gò tiều tụy, nhan sắc tầm thường, không có gì hấp dẫn
để thu hút khách làng chơi. Không hiểu cô ta bị đánh đập
hay dọa nạt như thế nào, mà lại dại khờ thú tội hành
nghề mãi dâm cho lính Mỹ tại Pleiku. Chàng khoác tay cho người
lính hầu cận ra ngoài để tránh cho cô gái khỏi thẹn thùng,
rồi nhỏ nhẹ lên tiếng:
- Xin chị yên tâm. Chị vô tội nên tôi sẽ trả tự do cho
chị liền bây giờ. Nhưng tôi có vài việc muốn hiểu biết
riêng nên yêu cầu chị khai hoàn toàn thật những điểm nầy…
- Dạ!
- Chị có hành nghề mãi dâm không?
- Dạ có! Nhưng con chỉ làm nghề nầy ở Pleiku, chớ không
tại tỉnh nhà!
- Có thật không hành nghề tại đây không?
- Dạ! Con làm nghề xấu xa nầy phải dấu diếm ba má. Ổng
bả biết chắc dám tự tử mà chết, thì làm sao con dám làm
ăn ở đây được!
- Thế chị có thù oán gì với ai không?
- Dạ không! Dạ nhân dịp về thăm nhà, con ở lại thêm vài
ngày chờ nghe xử vụ kiện sở vườn của ba con, mà chỉ
lẩn quẩn trong làng mà thôi. Không ngờ hôm sau, ra bến xe
đò vừa mua vé đi Saigon, thì bị cảnh sát bắt!
- Vụ kiện đó có phải là vụ Nguyễn Văn Tý xin chuộc sở
vườn phải không?
- Dạ phải!
Biết rõ nguyên do thúc đẩy đám Mộng Kiều nhẫn tâm hại
người, Tùng lại tò mò muốn hiểu biết thêm chi tiết về
cuộc đời của cô gái đáng thương, nên hỏi tiếp:
- Chị có thể cho tôi biết hoàn cảnh nào đưa đẩy chị
vào nghề nầy?
- Dạ con muốn trả nợ cho gia đình.
- Chị có thể kể rõ đầu đuôi ra được không?
- Chồng con là một trung sĩ địa phương quân tại tỉnh Chương
Thiện, phải tác chiến rất hiểm nghèo. Ba con thương rể,
năn nỉ ông Văn Thành vận động cho về chỗ an toàn, thì
người ta đòi một trăm năm mươi ngàn đồng. Ba không sẵn
tiền, đành năn nỉ ông Văn Thành mượn đỡ trong hạn ba
năm. Ông Văn Thành tính vốn lời là ba trăm ngàn, rồi buộc
ba làm giấy tờ thục ruộng, nói là để tượng trưng vậy
thôi. Tin tưởng người đồng hương ba ký tên ngay, vì ba độ
chừng, với hoa lợi sở vườn chỉ cần hai năm cũng đủ
sức trả nợ rồi. Không ngờ sau đó ông Văn Thành lại trưng
giấy tờ ra chứng minh ba thục ruộng, chớ không phải vay
nợ, để tranh đoạt hoa lợi sở vườn. Từ đó, gia đình
con điêu đứng vì mất hoa lợi thì sự nghiệp tiêu tan chớ
đâu còn phương tiện chuộc ruộng nỗi. Họa vô đơn chí,
tiểu khu Chương Thiện có vài thay đổi nhân sự, người mới
đến đòi chồng con chi tiền trà nước hàng tháng. Vì không
chạy đâu đủ tiền để “đóng hụi chết”[3] , chồng
con lại bị chuyển ra đơn vị tác chiến, rồi tử trận.
Đau khổ tang chồng, về nhà lại chứng kiến hoàn cảnh cơ
cực của gia đình, nên con nén thương đau theo bạn bè ra Trung
dùng tiền tử tuất làm vốn buôn bán lo cho gia đình. Không
ngờ, thiếu kinh nghiệm nên buôn bán thua lỗ hoài, rồi lần
lần cụt vốn. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng không lối thoát,
con nhắm mắt đi làm nghề nầy, nhờ vậy mới có đủ tiền
chuộc ruộng, xây lại nhà cho ba má và cho đứa em đi học
tại Saigon…
- Thế hàng tháng chị kiếm được bao nhiêu mà có thể gởi
về nhà lo lắng nhiều thứ quá vậy?
- Dạ! mỗi tháng được chừng tám mươi ngàn, con gởi hết
về nhà, vì ở đó người ta nuôi ăn, nuôi ở rồi…
Tùng là nhân viên cao cấp, lương hàng tháng ba mươi ngàn đồng,
thương mẹ lắm mỗi tháng gởi về ba ngàn là quá sức rồi,
không ngờ cô gái nầy lại hi sinh đến chừng đó, thật đáng
khâm phục. Chịu ảnh hưởng từ quyển tiểu thuyết người
anh cả của Lê Văn Trương, theo đó người anh đã hi sinh nuôi
các em học thành tài, để rồi bị các em bội bạc khinh khi,
Tùng đâm ra lẩm cẩm lo lắng cho số phận cô gái hi sinh mù
quáng nầy. Chàng bèn gợi cho cô ta ý nghĩ dự phòng tương
lai bản thân:
- Chị gởi tiền về cho cha mẹ, thì tiền nầy trở thành
của chung. Mà ngành nghề của chị đâu kéo dài lâu được,
rủi ro chị không làm ra tiền, mà đám em ai cũng có gia đình
nấy, ai sẽ lo cho chị đây. Vậy chị cũng nên có vốn liếng
riêng. Hàng tháng chị gởi một phần cho cha mẹ và giữ phần
nào cho tương lai của mình. Tôi đề nghị chị mở chương
mục tiết kiệm tại ngân hàng hoặc mua một số vàng hủ
thân về già…
- Dạ thưa đời con đâu đáng gì mà con phải giữ lại cho
con nữa!
- Nầy chị!… ơ…
Tùng tuy không phải là người xấu, nhưng khi phải hi sinh,
phải bố thí thì so đo, tính toán cặn kẽ… nên định cố
gắng tiếp tục thuyết phục cô gái nghe theo đề nghị của
mình. Tuy nhiên, vừa mở miệng thì chàng khựng lại sượng
sùng vì cảm thấy nhân phẩm của mình thua xa nhân phẩm của
người đối diện. Cô gái đã hi sinh theo tinh thần ba la mật,
cho tất cả mà không so đo suy tính hơn thiệt, chớ không phải
hành động với tâm phân biệt tầm thường như chàng. Tùng
cảm phục cô gái và thấy mình không thể mang cái tâm lượng
hẹp hòi của mình để “dạy” người có tâm lượng bồ
tát được. Tùng đành chuyển câu nói nửa chừng sang chuyện
khác:
- Ơ! Có phải nhà chị ở cạnh chùa Phước Thạnh không? Thỉnh
thoảng chị có đến chùa chớ?
- Dạ có! Lễ Vu Lan rồi con ở chùa cả ngày!
- Ủa, tôi cũng đến dự lễ sao không gặp chị!
- Dạ con chỉ lẩn quẩn tại bếp làm công quả, chớ không
dám lên khách đường hay chánh điện!
Tùng lại định mở miệng “dạy đời” là đến chùa thì
ai cũng như ai, cứ lên chánh điện mà tụng kinh lễ Phật.
Thế nhưng, một lần nữa, Tùng cảm giác rằng mình đã “hố
nặng”, vì chợt hiểu rằng bất cứ hình thức nào trong
sinh hoạt Phật giáo đều chỉ nhằm mục đích tu tâm. Ở
nhà bếp khiêm cung công quả mà tu sửa tâm hữu hiệu thì
giá trị gắp trăm ngàn lần kẻ vênh váo nơi chánh điện,
gõ mõ chuông to, tụng kinh lớn…, mà tâm thì vẫn buông lung
chạy theo danh sắc… Hình ảnh của dì Diệu Hạnh, dì tư
Rỗ, chị Nguyễn Thị Hai… suốt đời âm thầm công quả,
cần cù và hoan hỉ phục vụ cho chúng sanh an vui tu tập…
bỗng sáng ngời, cao cả, tột cùng. Sự hiện hữu của họ,
những vị bồ tát vô danh đó, vô cùng cần thiết cho đời,
vì Tùng nghĩ, nếu vắng hình bóng họ có lẽ ngôi chùa sẽ
giảm đi phần sinh khí và việc hoằng pháp cũng hạn hẹp
lu mờ.
Không còn gì để nói, Tùng đứng lên tề chỉnh tiễn khách.
- Bây giờ, chị có thể tự do ra về. Tôi đã liên lạc với
cảnh sát ngăn chận không cho họ tìm cách hãm hại chị nữa.
Xin chị yên tâm.
Rồi có lẽ do thói quen hay do lòng kính trọng nảy sinh mà
chàng bỗng chấp hai tay lại nghiêm trang chào, lối chào của
Phật tử với nhau. Chàng thầm niệm:
“Sen búp xin tặng người
Một vị Phật tương lai”.[4]
Người con gái tiều tụy lầm lủi đi ra, nhưng từ thân hình
còm cõi, bệ rạc đó Tùng thấy hiện rõ một đóa hoa nhân
phẩm thanh cao, tinh khiết… như đóa sen trắng vươn mình ra
khỏi vũng bùn nhơ.
Ghi
chú:
Để
tránh ngộ nhận, tác giả xin xác định là ngoài nhân vật
chánh: cô gái quê tại An Giang, hi sinh thân xác mình hành nghề
mãi dâm tại Pleiku để tạo vườn, xây nhà cho cha mẹ và
nuôi em đi học là sự kiện có thật, những nhân vật và
sự kiện khác trong truyện đều là chuyện tưởng tượng.
[1]
Mãi lai thục là một thể chế đặc biệt của luật lệ điền
sản Việt Nam, theo đó, người bán có quyền chuộc lại ruộng
trong một thời gian giao kết (nếu khế ước không rõ rệt,
thời gian nầy là 30 năm). Quá hạn, nếu người bán không
chuộc ruộng, việc mua bán mới trở thành thiệt thọ. Trong
thời gian chưa chuộc ruộng, hoa lợi sở đất do người mua
thụ hưởng. Chủ nợ có thể lợi dụng thể chế nầy, ép
con nợ làm văn tự mãi lai thục, để dễ dàng chiếm đoạt
tài sản con nợ thiếu phương tiện trả, mà khỏi phải kiện
thưa rườm rà.
Khác
với mãi lai thục, các thể chế tương tợ để đương, để
áp hay ốp bộ, người chủ nợ chỉ giữ quyền ưu tiên trên
sở đất, ngăn chận việc bán đất, nhưng con nợ vẫn là
sợ hữu chủ và hưởng hoa lợi sở đất. Nợ đáo hạn không
thanh toán, chủ nợ phải đưa ra Tòa xin phát mãi sở đất
đề thu hồi nợ.
[2]
Mãi lai thục là một thể chế đặc biệt của luật lệ điền
sản Việt Nam, theo đó, người bán có quyền chuộc lại ruộng
trong một thời gian giao kết (nếu khế ước không rõ rệt,
thời gian nầy là 30 năm). Quá hạn, nếu người bán không
chuộc ruộng, việc mua bán mới trở thành thiệt thọ. Trong
thời gian chưa chuộc ruộng, hoa lợi sở đất do người mua
thụ hưởng. Chủ nợ có thể lợi dụng thể chế nầy, ép
con nợ làm văn tự mãi lai thục, để dễ dàng chiếm đoạt
tài sản con nợ thiếu phương tiện trả, mà khỏi phải kiện
thưa rườm rà.
Khác
với mãi lai thục, các thể chế tương tợ để đương, để
áp hay ốp bộ, người chủ nợ chỉ giữ quyền ưu tiên trên
sở đất, ngăn chận việc bán đất, nhưng con nợ vẫn là
sợ hữu chủ và hưởng hoa lợi sở đất. Nợ đáo hạn không
thanh toán, chủ nợ phải đưa ra Tòa xin phát mãi sở đất
đề thu hồi nợ.
[3]
Mãi lai thục là một thể chế đặc biệt của luật lệ điền
sản Việt Nam, theo đó, người bán có quyền chuộc lại ruộng
trong một thời gian giao kết (nếu khế ước không rõ rệt,
thời gian nầy là 30 năm). Quá hạn, nếu người bán không
chuộc ruộng, việc mua bán mới trở thành thiệt thọ. Trong
thời gian chưa chuộc ruộng, hoa lợi sở đất do người mua
thụ hưởng. Chủ nợ có thể lợi dụng thể chế nầy, ép
con nợ làm văn tự mãi lai thục, để dễ dàng chiếm đoạt
tài sản con nợ thiếu phương tiện trả, mà khỏi phải kiện
thưa rườm rà.
Khác
với mãi lai thục, các thể chế tương tợ để đương, để
áp hay ốp bộ, người chủ nợ chỉ giữ quyền ưu tiên trên
sở đất, ngăn chận việc bán đất, nhưng con nợ vẫn là
sợ hữu chủ và hưởng hoa lợi sở đất. Nợ đáo hạn không
thanh toán, chủ nợ phải đưa ra Tòa xin phát mãi sở đất
đề thu hồi nợ.
[4]
Mãi lai thục là một thể chế đặc biệt của luật lệ điền
sản Việt Nam, theo đó, người bán có quyền chuộc lại ruộng
trong một thời gian giao kết (nếu khế ước không rõ rệt,
thời gian nầy là 30 năm). Quá hạn, nếu người bán không
chuộc ruộng, việc mua bán mới trở thành thiệt thọ. Trong
thời gian chưa chuộc ruộng, hoa lợi sở đất do người mua
thụ hưởng. Chủ nợ có thể lợi dụng thể chế nầy, ép
con nợ làm văn tự mãi lai thục, để dễ dàng chiếm đoạt
tài sản con nợ thiếu phương tiện trả, mà khỏi phải kiện
thưa rườm rà.