Điều
hành Sở kiều lộ thành phố Thượng Hải là nhiệm vụ khá
gian nan: đường xá hư hỏng liên miên, phương tiện eo hẹp,
mà sửa sang chậm trễ là bị kêu rêu, khiếu nại, báo chí
bươi móc la ó, thượng cấp xỉ vả, do đó, suốt ngày Lương
Quân chỉ vùi đầu vào đống hồ sơ cao nghệu trên bàn, đặt
kế hoạch, phân phối công tác, rồi theo dõi các toán kiều
lộ thi công. Vào những ngày cuối năm, nhân viên rộn ràng
chuẩn bị đón Xuân lơ là công tác, dù chàng cố gắng thúc
đẩy, họ cũng ù lì ra, thành thử chàng bất ngờ có những
giờ phút nhàn hạ. Quân vội vã đến khu phố hàng hóa Âu
Mỹ, nối đuôi theo đám khách hàng sang trọng, ngắm nghía
từng món hàng đắt giá, để chọn lựa một món quà đặc
biệt cho Tú Uyên, nhưng cân nhắc mãi vẫn chưa tìm được
thứ nào vừa ý. Đang thất vọng, Quân chợt thấy quán trà
Thái Hưng, chàng nghĩ đến một bộ trà quí, loại đối ẩm
cổ kính chưng bày trong tủ, vội vào tiệm đặt mua, dặn
gói thật đẹp làm quà tặng đặc biệt. Trong khi chờ đợi,
chàng chọn một cái bàn con nhâm nhi ngụm trà, lơ đãng nhìn
khách dập dìu trước cửa. Chợt Quân thấy ba chàng trai mày
râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao ồn ào xô cửa bước vào
trà gia, bọn họ : Ngọc, Tài và Ngân đều là bạn đồng
liêu, là những viên chức chánh quyền cao cấp trong tỉnh
Thượng Hải, Quân đã có thời giao du mật thiết với họ,
nên chàng đành hớn hở chạy đến chào đón, mời họ ngồi
chung bàn đối ẩm. Chưa kịp kéo ghế ngồi, thì Tài đã
trách móc:
- Độ
rày, Lương huynh bỏ bê anh em quá! Lần nào rủ anh đi nhậu
anh cũng tìm lý do né tránh cả! Anh lơ là với bè bạn quá!
- Đường
xá hư hỏng liên miên, công việc bù đầu các anh ạ!
Ngọc
châm chọc:
- Bận
việc! Hay bận rộn với người đẹp a Lương huynh? Anh từ
chối đi nhậu với bạn bè, giờ nầy lẻn đến trà gia chắc
có hẹn hò với ai phải không?
Quân
ấp úng:
- Không!
Không! Tôi... tôi buồn tình đi lang thang, chợt ghé vào đây
nhâm nhi tách trà nhìn thiên hạ sắm Tết vậy thôi, chớ
nào có hẹn ai!
Đúng
lúc đó, người quản lý mang thùng quà gói tươm tất trao
cho chàng. Tài và Ngân nhao nhao chất vấn:
- Món
quà gì đặc biệt vậy? Giá cả bao nhiêu lận? Anh mua
tặng cho thượng cấp hả?
Lương
Quân còn đang ngập ngừng, thì Ngọc bỗng hóm hỉnh:
- Quà
tặng cho Tiết cô nương phải không Lương huynh?
Quân
không quen nói dối, nên đành từ tốn thú thật:
- Vâng!
món quà nầy tôi dự định tặng nàng, và đây chỉ là một
bộ bình trà tầm thường mà thôi.
- Ha!
ha! - Ngân lè nhè lên tiếng - nghe thiên hạ đồn, người đẹp
chỉ thu nhận toàn đồ vật trị giá ngàn vàng, vòng ngọc,
kim cương lấp lánh, chứ còn thứ quà kém giá trị như thế
nầy thì... hì!hì! chắc nàng vất ngay vào sọt rác quá!
Quân
hơi nóng mặt, nhưng vẫn nhẫn nhịn:
- Tôi
nghèo! Khả năng chỉ có từng đó, nếu nàng chê thì đành
chịu chớ biết làm sao bây giờ!
Ngọc
ranh mãnh lên tiếng:
- Coi
bộ anh Ngân chẳng hiểu biết tí nào cả! Lương huynh nhà
ta là nhân vật đặc biệt của người đẹp anh ạ! Món quà
nào của Lương huynh nàng chẳng nâng niu quí trọng!
Tài
và Ngân đồng trố mắt kinh ngạc lên tiếng:
- Thật
thế à! Thật thế à!
- Úi
chu choa! Chuyện động trời trong giới ăn chơi thượng lưu,
không lẽ hai anh lại mù tịt sao?
Quân
lúng túng phất tay cản ngăn Ngọc kể chuyện riêng tư của
mình, nhưng chàng ta phớt lờ như chẳng hiểu, cứ tiếp tục
ngoác mồm òm òm phát ngôn bừa bãi:
- Nè!
Đừng thấy Lương huynh lù khù mà lầm nhé! Lù khù vác cái...
khu... chạy ngờ ngờ đó nhen!
Đoạn,
hắn chăm chăm nhìn Quân, rồi gằng giọng vặn hỏi:
- Nghe
nói từ ngày Tiết nương hội ngộ với Lương huynh, nàng
mê mệt anh nên đóng kín cửa chẳng còn giao thiệp với ai
nữa phải không?
- Đời
tư của nàng ra sao tôi không tò mò tìm hiểu, nên việc nàng
còn giao thiệp hay ngưng giao thiệp với bất cứ người nào
tôi cũng không hề lưu ý. Riêng phần tôi, xưa nay chúng tôi
vốn là bạn học thân tình, tình cảm bạn bè vẫn bình
thường giữ nguyên như vậy không có gì là đặc biệt cả!
Ngọc
ngạo mạn cười hô hố, rồi ra giọng bổ báng:
- Thật
vậy sao? Vậy mà, thiên hạ lại đồn rằng “Người đẹp
mê tít Lương Quân, nên kể từ khi nàng gặp chàng thì nàng
đóng cửa chẳng còn giao thiệp với một ai nữa! Nàng còn
cơm nước hầu hạ chàng mới ”ghê” chớ! Hà! Hà!Người
ta cũng kháo rằng : “Lương Quân xuất ngoại học được
“tài nghề phòng the” gì kỳ đặc hơn người, nên mới
được nàng biệt đãi như vậy!”
Chàng
vốn hiền lành thường bị bạn bè “bắt nạt”, dẫu họ
châm chọc quá trớn như thế nào cũng nhẫn nhịn, không
ngờ lần nầy, Ngọc lại đụng chạm đến Liễu Uyên mới
khiến Quân nổi giận bừng bừng không kềm hãm được, chàng
hùng hổ hét lớn : “Đồ ăn nói mất dạy!”, rồi chàng
thộp ngực Ngọc, cung tay định đập vở cái mặt đểu giả
của hắn. Ngọc to mồm nhưng rất nhát gan, trước phản ứng
dữ dội của Quân, hắn chỉ biết co rúm người lại, cuống
quít van xin:
- Xin
lỗi! Cho tôi xin lỗi! Tôi chỉ nói giỡn cho vui thôi, xin
anh đừng giận!
Tài
và Ngân vội vã chen vào can ngăn, họ đồng khuyên giải Quân
giảm cơn thịnh nộ buông tha cho Ngọc, khiến chàng nguôi ngoai
dần, nới lỏng bàn tay. Ngọc vuột thoát, lấm lét thụt lùi
ra xa, rồi lủi đi một nước.
Đúng
ra, Liễu tú Uyên luôn luôn vẫn chỉ là cô em hàng xóm bé
nhỏ của Quân. Cả hai cùng sinh trưởng tại một xóm rẫy
tại một vùng quê hẻo lánh thuộc huyện Ôn Châu. Thời xa
xưa ấy, nhà nghèo ở kề cận nhau, hai bà mẹ góa chồng
phải quần quật làm lụng mưu sinh suốt ngày ở rẻo đất
cao trên đồi, bỏ mặc cho đám trẻ con ở nhà tùy tiện nương
tựa nhau lây lất sống còn. Ở tuổi lên sáu, Quân đã phải
giữ thằng em trai tên Sĩ bốn tuổi, và dầu chỉ lớn hơn
bé Uyên mười một tháng, mà Quân vẫn được mẹ của
bé tin tưởng gởi gắm trông chừng. Đói thì Quân lục cơm
nguội cho chúng ăn, nếu còn cá muối hôm trước để dành
thì tuyệt vời, nếu không thì đã có tiêu chuẩn thường
nhựt: nước tương, củ cải xấy, kèm theo cà dưa sau hè
nếu có. No đủ rồi thì Quân ễnh người sóc nách bồng
em, tay kia dắt díu con bé hàng xóm, đưa nhau ra cánh đồng
cỏ trước nhà lăn lóc nô đùa: chạy nhảy tung tăng, rượt
đuổi chuồn chuồn, bươm bướm, hái những đóa hoa dại,
đôi khi Quân may mắn hái được những trái nhãn lồng chua
chua ngọt ngọt, chia nhau ăn như bữa tiệc linh đình. Gợi
nhớ nhất là vào những cơn mưa rào ngày hè, ba đứa trẻ
mặc tình thỏa thích tắm mưa, sau đó lại còn được tự
do vọc nước, vọc sình đã đời. Có lần Quân cao hứng
móc đất nắn thành những con gà vịt heo bò... xinh xắn khiến
cho bé Uyên cứ xăm xoi mãi và khâm phục “quá trời”. Mấy
năm sau, Quân lại phải dắt díu con bé đi học trường làng,
nắn nót kèm dạy Uyên từng nét chữ, từng câu văn, từng
bài toán, thân thương nhau như anh em ruột rà.
Lên
trung học Ôn Châu, Quân cũng hồn nhiên tiếp tục kề cận
chăm sóc cô hàng xóm như ngày còn nhỏ bé, dù nay “nàng”
đã nhởn nhơ tươi thắm theo lứa tuổi xuân thì. Một hôm
Quân vô tình nghe hai bà mẹ vẻ mặt nghiêm trọng đang bí
mật thầm thì với nhau, tuy chàng chỉ loáng thoáng nghe: “Ờ!
Ờ! Mình phải giữ kín, chờ tụi nó ra trường mới tính!..”
“Ờ! Thì mần liền chớ sao...?”, nhưng khi thấy ánh mắt
hai bà hướng về chàng với nụ cười hể hả, Quân liền
đoán ra âm mưu của hai bà, chàng giả vờ như không nghe thấy
gì dầu trong lòng bỗng sôi sục cơn vui bất tận. Từ dạo
đó, trước mặt con bé mà bao năm chàng tự tại rầy la răn
dạy, Quân bỗng mất vẻ tự nhiên, trở nên dè dặt nói
năng lúng túng, lén lút ngắm nhìn, rồi bâng khuâng dệt mộng,
trong khi con bé chẳng biết gì, vẫn thơ ngây đùa giỡn,
nhỏng nhảnh vòi vĩnh, đôi khi còn thân mật cấu véo, nắm
tay nắm chân ông anh chẳng chút thẹn thùng. Một chiều nọ,
song đôi rảo bước trên con đường làng, Quân chỉ cây liễu
xanh tươi, lúng túng lên tiếng: “Anh yêu thích bóng liễu
rũ vô cùng, sau nầy, anh sẽ trồng cây liễu sau nhà, mặc
tình chăm sóc và ngắm nghía cho thỏa!” Quân ấp ủ mối
tình tha thiết, nghiền ngẫm một lời nhắn gởi, đợi chờ
mãi mới có cơ hội trao nàng, ngờ đâu Liễu Uyên ơ hờ
chẳng chút lưu tâm. Nàng đỏng đảnh chu miệng: “Liễu
rũ buồn thấy mồ à! Em chỉ thích cánh hoa đào rực rỡ
bay lác đác theo ngọn gió chiều mà thôi!” Sau một thoáng
hụt hẫng bẽ bàng, Quân gượng gạo nói vớt vát: “Cũng
được thôi, nếu em thích đào, thì anh sẽ trồng đào, chăm
sóc đào anh cũng vui lắm!” Thế nhưng, Uyên đang phóng tầm
mắt đuổi theo cánh nhạn bay chập chờn trên khoảng trời
xa, nào có chú ý lắng nghe đâu mà thấu rõ lòng chàng. Nàng
vẫn thơ ngây hời hợt như vậy đó!
Nhờ
học hành xuất sắc Quân được học bổng toàn phần ngành
kỹ sư công chánh thuộc Viện Đại Học Thượng Hải. Thân
phận sinh viên nghèo, chàng đã phải gánh chịu bao gian
khổ trong chuỗi ngày tập tễnh chen chân tìm đất sống
chốn thị thành. Thương cảnh bẩn chật của gia đình,
Quân không nỡ để mẹ già hi sinh đỡ đần gì cả, chỉ
ráng tự xoay xở sống còn bằng mớ tiền học bổng đói
rách mà thôi.
Được
nhận vào ký túc xá sinh viên đỡ khoảng tiền thuê phòng
trọ, nhưng thời gian đầu có những chi phí đột xuất chẳng
thể vay mượn ai được, chàng chới với tưởng chừng phải
bỏ học. May là nhờ có người bạn thân hiểu rõ hoàn cảnh
bi đát nầy, giới thiệu chàng làm công bán thời cho tiệm
bách hóa gần trường, nên những khó khăn tài chánh cuối
cùng rồi cũng trôi qua. Chỉ trong thời gian ngắn, Quân tạm
sống ổn định, rồi còn có thể tiện tặn gởi chút đỉnh
tiền giúp đỡ gia đình, kèm theo một phần quà nho nhỏ
cho cô em hàng xóm nữa.
Hai
năm sau đến lượt Uyên tốt nghiệp trung học. Nàng có năng
khiếu về văn chương thi phú, nhưng chỉ vào hạng khá về
khoa học nên cơ hội được nhận vào đại học với học
bổng rất mong manh. Tuy nhiên, hai năm miệt mài trên ngưỡng
cửa đại học giúp Quân hiểu biết ít nhiều về các thể
thức và ngõ ngách khác nhau để xin trợ cấp. Bấy giờ,
Hội Phụ Nữ Thượng Hải vừa thành lập, đang phát động
phong trào vận động nam nữ bình quyền, cổ súy nữ giới
tự giải phóng khỏi tháp ngà gia tộc cổ lổ, nâng cao trình
độ học thức bằng mọi giá. Dĩ nhiên, là Hội cũng khuyến
khích giúp đỡ nữ sinh các cấp theo đuổi việc học hành,
nhờ vậy khi Quân gõ đúng cửa, nạp đơn cho Uyên, nàng được
cấp ngay một học bổng cho ngành sinh ngữ, đại học Văn
Khoa. Học bổng nầy so ra có phần ưu đãi hơn học bổng
quốc gia của chàng nhiều.
Khi
nàng còn ở quê, Quân ngày đêm nhung nhớ mong chờ nàng sớm
nhập học để tiện thăm nom gần gũi. Khi Uyên bước vào
phân khoa văn học, thấy cả đội ngũ sinh viên đẹp trai,
sang trọng tranh nhau chào đón tán tỉnh nàng, Quân mới choáng
váng âu lo trước bao cạm bẫy đang rình rập nàng. Phần
Uyên thì lúc nào cũng vô tư lự như con chim sơn ca, nhảy
nhót líu lo. Nàng đã có ông anh chu đáo bảo vệ, thì
có điều gì cần phải nghi ngại lưu tâm nữa. Cuối
tuần, Quân thường đến nữ ký túc xá mang cho nàng
vài nhu yếu phẩm cần thiết, rồi đưa nàng đi đây
đó trong thành phố, thường thì rủ nhau xem một suất
hát, hay lông nhông đi bát phố lướt mắt nhìn thiên
hạ dập dìu. Một hôm, bỗng Tú Uyên hứng chí đòi
viếng chùa lễ Phật. Quân đề nghị viếng chùa nào
nàng cũng lắc đầu, cuối cùng mới khám phá ra rằng
nàng nghe bạn bè trầm trồ về màu sắc tuyệt vời
của pho tượng cẩm thạch chùa Ngọc Phật (1) nên muốn
xem cho biết.
Tú
Uyên vốn là cô bé háo động lăng xăng, nào ngờ khi
bước vào cửa chùa lại ra vẻ rất nghiêm trang chững
chạc, nàng chân thành lễ Phật rồi lặng yên chiêm ngưỡng
pho tượng ngọc thạch diệu tướng trang nghiêm mãi, khiến
nhóm thiện tín vừa tục tục bước vào chánh điện
lộ vẻ bất bình. Quân mấy lần nhắc nàng dời bước,
nhưng dường như nàng đang ngơ ngẩn xuất thần, chẳng
nghe thấy gì cả, miệng lẩm bẩm “đẹp quá! đẹp
quá!” Chợt xuất phát từ đám đông xúm xít phía
sau, có tiếng nửa đùa vui nửa nghiêm túc vặn hỏi:
“Phật đẹp hay ngọc đẹp? Ngọc tan vở thì tượng Phật
ra sao? vẫn còn đẹp chứ?” Uyên lí nhí đáp như một
phản ứng: “không! dĩ nhiên chẳng đẹp tí nào!” rồi
nàng dáo dác nhìn đám đông dò tìm xem ai vừa lên tiếng,
nhưng chẳng thấy người nào tỏ vẻ gì khác lạ cả.
Độ chừng kẻ vô danh nào, vì bực mình nàng đã độc
chiếm vị trí lễ bái khá lâu cản trở họ nên đã
buông lời phê phán, Tú Uyên bẻn lẻn lủi nhanh khỏi chánh
điện.
Chẳng
ngờ, giọng nói lúc nảy vẫn tiếp tục đuổi theo nàng:
“Ngọc Phật cũng là sắc, sắc tức là không. Hà!
hà! nếu chưa thấy ngọc tượng là không, thì làm sao
thấy được Phật, a cô nương?” Giọng nói lần nầy
có phần ngạo nghễ cười cợt, và dù thanh âm phát
ra rất rõ mà Quân và Uyên đều chẳng truy tìm ra ai,
quả là chuyện bối rối và khó hiểu vô cùng.
Mấy
tuần sau, trong khi đang chạy nhảy đuổi theo đàn bướm
chập chờn quanh mấy khóm phong lan lủng lẳng bám trên
những cành cây ngân hạnh ngoằn ngoèo tại khu cổ thụ
Vườn Bách Thảo, Uyên suýt đụng ngã giá vẽ bức tranh
phong cảnh dở dang của người lạ, một nghệ sĩ phong
trần, với mái tóc bồng bềnh và chiếc áo khoác
bạc màu, dường như chẳng chút lưu tâm. Uyên ấp úng
xin lỗi, nhưng anh chàng họa sĩ đang chăm chỉ pha trộn
một ánh hồng cho nền trời xanh vẫn dửng dưng. Chàng
ta ngắm nghía áng mây trôi lơ lửng, rồi gật gù một
mình “đẹp quá! đẹp quá!” Thật là lạ lùng, chàng
họa sĩ sao có giọng nói tương tợ như kẻ vô danh đã
“dạy đời” Uyên tại chùa Ngọc Phật ngày trước.
Uyên liếc mắt dọ hỏi Quân, Quân cũng nghi nghi, nhưng sợ
nàng “hỏi cho ra lẽ” sanh phiền phức nên ra dấu ngăn
cản, nhưng Uyên không nhịn được, nàng cất tiếng châm
chọc:
-Mây
đẹp hay trời đẹp! nếu mây tan hay mây đen kéo đến
thì liệu trời còn đẹp không?
Chẳng
ngoảnh mặt nhìn kẻ đối thoại, hắn lừng khừng đáp
:
- Dĩ
nhiên vẫn đẹp lắm chứ!
Đáng
lẽ, theo phản ứng của Uyên thì nàng phải “phang” liền
: “Ủa! vậy mà nảy giờ tôi tưởng ông câm và điếc
chứ!”, nhưng đến lúc nầy thì chàng họa sĩ đột
ngột quay mặt nhìn lại, khiến Uyên bỗng bàng hoàng
xao xuyến cả tâm cang. Anh chàng nầy chỉ có đôi mắt
sâu sâu thu hút, ngoài ra chỉ khôi ngô ở mức trên trung
bình, nhưng cái dáng dấp dày dạn phong sương gàn gàn
bất cần đời của hắn, tạo cho Uyên cảm giác như đã
quen thuộc với anh ta tự bao giờ. “Chắc mình đã từng
gặp anh ta rồi mà, không ở kiếp nầy, thì cũng ở
kiếp xa xưa nào đó?”, Uyên thầm nghĩ. Nàng đang chìm
đắm trong suy tư, chưa biết phải đối đáp với hắn
ra sao thì hắn đã man man nói tiếp:
- Với
tôi, thì hoa nở rồi hoa tàn, trời quang đãng rồi trời
mưa bão, mỗi sát na thay đổi là một nhiệm mầu và
đều thể hiện vẻ đẹp vô song của nó cô ạ!
Uyên
bắt bẻ:
- Mỗi
vật mỗi thời đều đẹp, vậy sao ông không quăng cọ
đi, bày đặt vẽ tô chi cho phí công!
- Cô
nói đúng lắm! Đáng lẽ tôi nên bỏ cái nghiệp vẽ
nhố nhăng nầy cho rồi. Vạn vật vô thường biến đổi
sống động từng sát na, mà khả năng tôi thì hạn hẹp,
thường thường khi phóng bút ra bất quá tôi chỉ phát
họa được vài nét cứng động chết ngắt mà thôi.
Uyên
mát mẻ:
- Chà!
thì ra họa sĩ cũng có những bức tranh thiên thu sống
động vượt qua không gian vả thời gian chăng?
- Không
dám! không dám!
Họa
sĩ mĩm cười, mở cuộn vải chọn một bức tranh trao
cho Uyên, rồi tiếp lời:
- Tôi
đã mang tâm huyết ra mô tả lòng chí thành cô gái trước
Phật đài nhưng chỉ đạt được đôi phần, hi vọng có
kẻ thâm nhập vào tranh và cảm nhận được mối tâm
thành vô ngôn kiếp kiếp bất tận nầy... Và nếu như
cô thích thưởng thức, thì xin tự nhiên giữ lấy nó.
Tranh
chuyên chở nổi tâm thành kiếp kiếp dĩ nhiên là chuyện
huyễn hoặc khó tin, nhưng nét vẽ người con gái trong
tranh thanh thoát trang nghiêm lễ Phật quả thật rất tuyệt
vời. Tuyệt vời nhất là người con gái đó lại là
Uyên trong phút giây xuất thần lễ bái tại chùa Ngọc
Phật. Uyên xúc động nghẹn ngào ngắm nhìn mãi bức
tranh, lắp bắp từng tiếng rời rạc:
- Tôi...
tôi... tôi... xin cám.. cám ơn Ông... ông...
- Tên
tôi là Thế Như, họ Trần. Rất hân hạnh được quen
biết với cô. – chàng họa sĩ đỡ lời –
Sau
phút giây xúc động dâng tràn, Uyên bình tỉnh lại, nhanh
nhẩu lên tiếng :
- Tôi
cũng xin trân trọng giới thiệu: anh họ tôi là Lương Quân
và tôi là Liễu tú Uyên, chúng tôi cũng vinh hạnh được
quen biết Trần tiên sinh. Và lần nữa tôi xin chân thành
cảm tạ tiên sinh về quà tặng vô giá nầy...
Uyên
lăn xả theo Thế Như chẳng khác chiếc lá rời cành
rối rít cuốn theo con trốt mù mịt. Nàng cũng hội
nhập ngay cái nếp sống bất cần đời, với lối
lý luận ương gàn “triết lý dỡm” của Thế Như.
Anh ta tán tụng thiên nhiên, thích chăm sóc cỏ cây, tôn
trọng sự sống mọi loài thì Uyên cũng a tùng theo thương
yêu loài vật không nỡ sát sanh... Cuối tuần nào Thế
Như cũng đề ra những chuyến du ngoạn leo đồi, vượt
suối, bơi thuyền, hành hương tự viện... và dĩ nhiên
luôn luôn được Tú Uyên nhiệt tình hưởng ứng. Quân
cũng gắng gượng tham gia vài chuyến, nhưng giao thiệp
dài lâu càng thấy “họ” khắn khít nhau xốn xang quá,
nhất là nhận thấy tính tình không phù hợp với Thế
Như nên chàng né tránh lần. Mà càng né tránh, thì
sự thật phũ phàng chịu “thua cuộc” càng rõ rệt
hơn khiến Lương Quân đau khổ tột cùng. Giả thử chàng
vuột mất nàng vào tay một người xứng đáng có sự
nghiệp vững chắc tương lai huy hoàng có khả năng tạo
dựng hạnh phúc cho nàng thì nỗi xót xa còn nhỏ, nhưng
không đủ sức ngăn cản để cho nàng rơi vào tay của
kẻ ương gàn vô tích sự không nghề nghiệp chẳng chút
tương lai, mới là nỗi khổ đau khôn nguôi dằn vật
tâm cang chàng. Lương Quân ngại mang tiếng dèm siểm kẻ
vắng mặt để cạnh tranh người đẹp nên chàng chỉ
thường xuyên nhắc nhở Uyên cẩn thận giao du, tìm hiểu
lý lịch gốc gác người ta, chọn người yêu phải nghĩ
đến tư cách và tương lai sự nghiệp người đó có
đủ bảo đảm hạnh phúc gia đình mai hậu không? Thế
nhưng nàng theo học thuyết bất cần đời, dám bỏ học
theo chàng họa sĩ đi Tô Châu để chỉ nghe một tiếng
chuông Hàn sơn(2), thì chẳng lời khuyên nào đáng
được nàng lưu tâm cả.
Để
tránh tiếp cận với cảnh trái tai gai mắt, Quân quyết
định trốn chạy đi thật xa. Chàng vận động xin được
một học bổng cao học tại San Francisco, Hoa Kỳ rồi rời
nước ngay sau khi vừa tốt nghiệp.
Du
học sinh xứ người, sinh sống chật vật, học hành thi
cử bù đầu, nên mối tình si dằn vật nguôi ngoai dần.
Mấy tháng sau Quân lại mất liên lạc với Uyên, tin tức
về nàng mù tịt, nên sau nầy thỉnh thoảng nhớ đến
Uyên chàng cũng chỉ có thể hướng về đất nước
thân yêu của mình với chút ngậm ngùi. Cũng may là ở
San Francisco có nhiều người Hoa tụ tập về sinh sống,
nên chỉ trong một thời gian ngắn, chàng được cộng
đồng nhỏ người Tiều Châu khám phá, họ tranh nhau níu
kéo chàng về nhà tiếp đãi như bà con ruột rà. Họ
gói ghém tình cảm hoài hương mặn nồng trong tô canh
cải, tô hủ tiếu, viên há cẩu, viên xíu mại... nâng
niu trao cho chàng, nhờ vậy Quân cũng cảm thấy vơi bớt
nỗi cô đơn lạc lõng ở xứ người.
Sau
khi tốt nghiệp, Quân hồi hương rồi được phối trí
đặc trách ngành kiều lộ thành phố Thượng Hải,
một chức vụ béo bổ mà bao kẻ ước mơ. Tuy nhiên,
đối với người có tư cách như Quân thì trách vụ
nầy nặng nề, công việc ngập lút đầu mà đồng
lương công chức giới hạn, nên chàng chỉ biết an phận
sống tằn tiện, chớ chẳng dám giao du hào phóng như
các bạn đồng liêu.
Quân
bắt đầu dò tìm tin tức của nàng trong nhóm bạn sinh
viên ngày xưa, hầu hết tiết lộ chỉ nghe tin đồn rằng
người yêu họa sĩ của nàng lâm bạo bệnh lìa đời
khiến nàng thất chí bỏ học, rồi sau đó biệt dạng
chẳng còn ai nghe tung tích gì nữa. Mẹ Quân đã xa lìa
quê cũ, dọn về ở với Sĩ, đứa con Út đang giữ
chức vụ phụ tá Phòng Kinh Tế huyện Ôn Châu. Nhân chuyến
về huyện lỵ thăm gia đình, Quân cũng muốn ghé thôn
xóm cũ thăm mẹ Uyên dọ hỏi tin tức của nàng, nhưng
Quân ngần ngại rồi đổi ý khi nghe chú em kể rằng
bà cụ có lần trách móc chàng đã ham du học xa bỏ
bê con gái bà bơ vơ chốn thị thành. Nhiều tháng trôi
qua, một hôm Quân ép lòng tham dự buổi tiệc sang trọng
khoản đãi giới công chức cao cấp thành phố, thờ
ơ nghe nhóm bạn đồng liêu tranh nhau kháo chuyện, ai cũng
muốn chứng tỏ mình là tay sành sõi nhất trong giới
ăn chơi. Câu chuyện xoay quanh kỳ nữ Tiết nương, một
giai nhân nổi tiếng về nhan sắc tuyệt trần, văn tài
xuất chúng, kỹ thuật cầm ca cũng điêu luyện hơn người...
Nàng là thần tượng bậc nhất của tao nhân mặc khách
đương thời, nhiều kẻ, đã bỏ ra hàng mươi lượng
vàng chỉ mong hội kiến nàng một lần, nghe nàng ngâm
một bài thơ Đường, ngắm nàng đàn ca khúc nhạc trữ
tình... cũng đủ mãn nguyện rồi, cũng được tiếng
là khách phong lưu tao nhã, bởi lẽ biết bao kẻ mang vàng
chất đầy mâm dâng hiến bị nàng chê là hạng phàm
phu tục tử chẳng xứng đáng giao du.
- Hà!
Hà! Các anh dám tin không? Tôi không tốn đồng nào mà
vẫn hân hạnh được nghe người đẹp ca ngâm đấy! –
một anh chàng hơi trọng tuổi hớn hở khoe vang – Đám
trẻ tuổi nhao nhao phản đối:
- Bác
nói giỡn chắc!
- Chuyện
coi bộ khó tin quá!
- Ậy!
khó tin mà có thật các cậu ạ! Ngày 14 tháng 7 vừa
qua, tôi may mắn được mời dự lễ Độc Lập do Tòa
Lãnh sự Pháp khoản đãi. Không ngờ họ mời được
nàng. Lúc đó, hội trường đang ồn ào, bỗng lặng
yên phăng phắc khi thấy bóng nàng xuất hiện. Nàng đẹp
như Tiên giáng trần, khoan thai vẫy tay chào thính giả,
rồi bắt đầu thánh thót ngâm bài Đường thi “Tiễn
bạn” bằng tiếng Hoa lẫn tiếng Pháp:
Sương
đêm ướt cỏ bên hồ
Trăng
khuya lạnh lẽo núi mờ mờ xanh
Người
rằng biên ải xa xăm
Thì
xin được gửi theo chân mộng hồn (3)
Sau
đó, nàng gảy đàn, cất tiếng oanh vàng hát líu lo
bản nhạc “La Parisienne”, cũng bằng cả hai ngôn ngữ.
Nghe có kẻ ái mộ xầm xì rằng nàng vốn là cựu
sinh viên Văn Khoa thông thạo nhiều ngoại ngữ, nên hát
tiếng Pháp giọng Đầm rặc, khiến mấy thằng Tây mê
tít thò lò…
Vừa
nghe người lạ lập lại bài Tiễn bạn của Tiết Đào(3),
Quân bỗng xúc động chạnh nhớ đến Uyên, nàng cũng
thích Đường thi và thỉnh thoảng cũng ngâm nga bài nầy,
rồi đến khi anh ta tiết lộ rằng Tiết nương là cựu
sinh viên Khoa Sinh Ngữ bỗng dưng chàng linh cảm cô ta chính
là Uyên, nỗi mừng vui chen lẫn với đớn đau chua xót
dâng tràn khiến Quân như chết lặng người chẳng còn
nghe thấy gì nữa, mãi đến khi thực khách lần lượt
chia tay, chàng mới uể oải lủi thủi ra về.
Tiết
nương là kỳ nữ nổi tiếng nên việc truy tìm nàng
tương đối dễ. Quân chỉ cần hứa thưởng tiền cho
người phu xe quen biết, hắn đi loanh quanh vài giờ trở
lại báo cáo đã nắm vững địa chỉ, sẵn sàng đưa
chàng đến tận nơi. Ngần ngừ trước ngôi biệt thự
khang trang khá lâu Quân mới rụt rè gõ cửa. Cô gái giúp
việc lanh lợi bước ra nhìn chàng như dò xét. Quân ấp
úng lên tiếng :
- Tôi
có việc cần, muốn xin gặp Tiết cô nương.
Cô
bé nhìn chàng mấy lượt như không tin lỗ tai mình, rồi
lúng túng hỏi :
- Ông
có lễ vật ra mắt cô nương không?
Quân
sửng sờ giây phút, cười gượng đáp :
- Xin
lỗi! tôi đãng trí lỡ bỏ quên ở nhà rồi. Thôi để
bữa khác trở lại tôi sẽ mang quà và xin gặp sau cũng
được.
Dợm
bước đi, song vẫn Quân ráng gỡ gạc hỏi:
- Cháu
ơi cho tôi hỏi thăm chút nhé: “Cô chủ đây có phải tên
thật là Liễu tú Uyên không?”
- Không!
tôi không nghe ai mang tên đó bao giờ!
Quân
lầm lủi ra về, chàng vô cùng khó chịu trước điều
kiện phải có quà quý giá ra mắt, nên lúc đầu quyết
định bỏ cuộc chẳng màng tìm kiếm ai nữa, nhưng mỗi
ngày mối ray rứt muốn biết rõ sự thực của nàng,
muốn gặp lại nàng cứ gia tăng. Cuối cùng, chàng đành
gom góp tiền dành dụm mua quà lò dò tìm đến. Cũng
cô giúp việc ba tháng trước chạy ra chào đón, nhưng
khi Quân trao quà tặng thì cô ta lắc đầu ngầy ngậy
nói :
- Giờ
thì khác rồi. Cô nương tôi không nhận quà của ai nữa
và cũng chẳng thích gặp ai hết!
- Ủa!
quả thật có chuyện lạ lùng vậy sao cháu?
- Chuyện
thật như vậy đó! Thôi xin ông cảm phiền nhé!
- Tôi
không tin đâu! Tôi nghi cháu chê quà nầy kém giá trị
nên kiếm cớ ngăn cản tôi phải không?
- Không
phải vậy đâu ông! Tự nhiên cô nương đổi tánh vậy
hà! Mà cũng tại cái ông sư lỳ lợm đó hết á!
Nhận
thấy cô ta tỏ vẻ giận khi nhắc tới ông sư liên quan
trong vụ nầy, nên Quân vội vàng khai thác thêm cho rõ
:
- Ông
sư lỳ lợm đó cử chỉ ra sao? Nói nặng nhẹ như thế
nào mà xảy ra cớ sự nầy? Cháu kể tôi nghe được
không?
- Chuyện
như vầy nè! Một hôm cách nay chừng hai tháng, buổi
sáng vừa mở cửa bỗng có ông sư trờ tới yêu cầu
cho gặp cô nương. Cháu thầm rủa “tu mà nói chuyện
khùng điên!”, rồi khép ngay cửa lại. Nào ngờ, ông
sư đó lỳ lợm quá chừng, cứ ôm bình bát đứng suốt
ngày. Cháu ái náy mang thức ăn chay mặn đủ loại ra
cúng dường, nhưng sư luôn luôn lắc đầu, cứ nhất
quyết đòi diện kiến cô nương mới dời bước. Đến
sáng hôm sau thấy sư vẫn đứng trơ trơ ở đó, cháu
đành nhượng bộ năn nỉ sư hiểu dùm là những bậc
cao nhân xin tiếp chuyện với cô nương thường có quà
trọng hậu mới mong cô nương cho tiếp kiến, kết luận
cháu xin sư thông cảm và rút lui dùm. Sư hăng hái tuyên
bố: “Tôi mới chính là bậc cao nhân chính hiệu
đây! Còn tưởng chuyện gì khó chớ quà tặng quí
giá thì tôi cũng chuẩn bị sẵn sàng đây nè!” Nói
đoạn, sư mở tay nải lôi ra một quả chuông nhỏ kèm với
chiếc dùi, bảo cháu mang vào trao cho cô nương. Thấy cháu
lơ là không ngó ngàng tới loại quà kỳ dị đó, sư
dọa: “Nè! nếu cô biết điều đưa chuông cho cô nương
thì tôi hứa chắc sẽ không làm phiền ai nữa, bằng
không tôi đứng ở đây hoài đến lúc gặp cô nương
để hỏi cho ra lẽ đó mới thôi!” Nghe bùi tai, cháu
lỡ dại bưng chuông vào nhà mà gây ra nông nổi nầy...
Ôi! cô nương có mệnh hệ gì thì... hởi ôi! hởi ôi!..
Bình
thường Quân khá bình tỉnh, nhưng trong lòng đang căng thẳng
tột độ, mà ả cứ “cà bập hởi ôi hởi ôi” hoài,
sốt ruột quá, chàng đành cắt ngang hối thúc :
- Cháu
có đưa chuông cho cô nương cầm không? Phản ứng cô nương
lúc đó như thế nào vậy?
- Dạ
cháu bưng chuông vào phòng khách mà chưa đưa và chưa
kịp giải thích thì cô nương chợt chụp cái dùi chuông
xem xét suy nghĩ lung lắm, đoạn cô nương gõ chuông một
tiếng. Thế rồi, chẳng hiểu vì sao bỗng nhiên cô nương
xây xẩm khuỵu xuống suýt té nhào, nếu cháu chậm
tay không đỡ ngồi xuống ghế dựa, thì nguy rồi. Lát
sau, vừa tỉnh tỉnh cô nương liền bảo: “Con ra mời vị
mang chuông vào cho cô đàm đạo”. Cháu mời sư vào, châm
trà đãi khách. Cô nương tỏ ra ân cần chào đón sư,
hai người bàn chuyện gì chắc quan trọng lắm nên cô
nương có vẻ lo lắng nghiêm nghị chớ không cười nói
dòn tan như bình thường.
- Cháu
có nghe ngóng được chút gì không? Có nghe sư hù dọa,
làm tiền, hoặc chỉ trích cô nương không?
- Dạ
không! cháu đứng xa nên không biết gì. Chỉ có điều
là vào ngày hôm đó, hình như có lần cháu chợt thấy
cô nương mặt tươi vui rạng rỡ, mà lệ lại rơi lả
chả thật là khó hiểu.
- Chỉ
có vậy thôi thì cũng đâu có gì nguy hiểm đáng lo
lắm!
- Lúc
đầu cháu cũng nghĩ như vậy, nào ngờ, vừa tiển
nhà sư ra khỏi cửa, thì chuyện rắc rối phát sanh tức
thời! Cô nương bỗng chui rúc trong phòng tuyên bố không
gặp ai nữa, cô không màng ăn uống, năn nỉ lắm thì
chỉ dùng muối dưa chai lạt qua ngày. Mấy ngày sau cô
nương lại trở chứng nữa, cô quăng bỏ đồ nhung gấm
lụa là, bảo mua vải thô về tự may mặc. Ôi! cháu lo
cho cô nương quá chừng hà! chẳng biết cô nương có
bị ác nhân trù ếm gì không mà ra nông nổi như thế
nầy?
Quân
nghĩ rằng có lẽ nhà sư là người đã từng lo tang
lễ cho Thế Như, nay đã vô tình hay hữu ý tìm đến
khơi dậy vết thương lòng của Uyên, khiến nàng nhất
thời chán đời, muốn sống co rút lại mà thôi. Quân
an ủi cô giúp việc :
- Bệnh
của cô nương còn chạy chữa được cháu hãy yên tâm.
Giờ thì cháu vào thông báo là có người tên là Lương
Quân muốn hầu chuyện với cô nương.
Cô
bé vui vẻ bước vào trong lí nhí báo cáo chưa dứt
lời, thì Tú Uyên đã hớn hở cuống quít đâm sầm
ra cửa đón Quân.
- Uyên
muội!
- Đại
ca!
Tuy
ăn mặc vải vóc thô sơ, cũng không trang điểm tươm tất,
Uyên vẫn xinh đẹp mặn mà. Nàng xúc động nghẹn ngào
nhìn Quân, và thân mật như đứa em gái nhỏ ngày xưa,
nàng nũng nịu :
- Sao
đến giờ nầy đại ca mới chịu dời gót đến nhà
muội. Muội ngỡ đại ca chê trách muội hư hèn chẳng
đếm xỉa tới nữa chớ!
- Đừng
nói sàm như vậy nè! Uyên muội mất tung tích, lại thay
đổi tên họ khiến huynh khốn đốn bao ngày mới dò
tìm được. Vừa biết địa chỉ huynh đã tới ngay mà!
- Sao
huynh không thăm hỏi mẹ em?
- Ơ!
huynh nghe chú Sĩ cho biết bà có lời trách huynh ham du
học khiến Uyên muội long đong, nên ngại gặp bà vì chẳng
biết giải thích sao cho vẹn toàn. Vã lại, chính huynh
cũng ái náy trước nỗi đớn đau của muội về sự
ra đi đột ngột của Thế Như, mà lúc đó huynh không
kề cận để chăm lo chia sẽ.
Quân
thở dài hối tiếc, rồi xót xa tiếp lời :
- Chắc
mất mát năm xưa vẫn còn ray rứt muội phải không?
- Huynh
yên tâm đi, thuở đó quả thật muội cũng đau khổ lắm,
giờ hiểu ra mới hay “tất cả chỉ là ảo ảnh” thì
còn vướng bận gì nữa!
- Muội
dối lòng rồi! Muội khoe hết khổ mà sao huynh thấy
muội chưa bình thường, muội có vẻ lôi thôi thiểu
não như thế nào á!
- Không
phải đâu! Không phải đâu! Muội chẳng thiểu não tí
nào, muội tự chọn nếp sống đơn giản vì sở thích,
chỉ có vậy thôi! Huynh không nhận thấy muội đang an
lạc sao?
- Thật
lạ! Muội thay đổi hoàn toàn, muội có nếp sống bất
cần đời chẳng có ngày mai! Tại sao vậy?
- Bởi
lẽ... giờ nầy thì muội đã nhận chân được rằng
không phải chỉ riêng vụ Thế Như là ảo, mà tất cả
đều là tuồng ảo hóa huynh ạ!
Quân
đang ngẩn ngơ chưa đối đáp thì nàng lại ngâm nga :
“Pháp
giới như không hoa
“Sự
vật đều như huyễn
“Thế
gian hằng như mộng...(4)
“Sanh
tử tuồng ảo hóa!
Quân
trố mắt nhìn Uyên, cất tiếng như than như trách :
- Thôi
hỏng to rồi! Tiểu muội bị nhà sư kỳ lạ nào đó
mê hoặc rồi! ông ta đầu độc muội cách nào mà muội
thay đổi nhanh chóng vậy?
- Chắc
con bé Quế xí xọn đã mách cho huynh hết mọi sự rồi
phải không?
- Ờ!
Ờ!...
- Câu
chuyện khá dài, nhưng nếu huynh muốn biết, muội cũng
không dấu diếm mảy may, miễn là huynh có thời giờ
và lắng lòng nghe mới được!
- Dĩ
nhiên là huynh muốn hiểu rõ, nên nếu phải lắng nghe
suốt đêm cũng bền lòng mà!
Hôm
đó muội đang đọc sách tại thư phòng thì bé Quế
rón rén bước vào, tay lo le quả chuông, miệng nhóp nhép
như làm trò khỉ, khiến muội phải bật cười. Thoạt
nhìn quả chuông muội bỗng cảm thấy có gì gần gũi
thân thương nên ưa thích, bèn hứng chí đứng lên cầm
dùi thỉnh nhẹ một tiếng. Chao ôi vạn vật bỗng chòng
chành đảo lộn khiến muội khuỵu xuống, rồi trước
mắt muội hiện ra một ngôi chùa xưa lắt lẻo trên đỉnh
Chung Nam. Ngôi chùa khang trang, tổ chức qui cũ, đệ tử
xuất gia lẫn tại gia đông đúc và đều nức lòng trau
dồi đạo hạnh, quy ngưỡng hòa thượng viện chủ Thiền
Lâm. Bấy giờ, ngôi chùa rộn rịp hẳn lên, môn nhân
đệ tử tề tựu về long trọng tổ chức lễ thượng
thọ 80 tuổi đời 60 tuổi đạo của đại lão hòa thượng.
Sau phần nghi lễ chúc thọ cầu kỳ đầy ấp lời tán
tụng cao ngất của các phái đoàn tu viện gần xa, sư
trụ trì Như Vân thay mặt môn sinh đê đầu đảnh lễ
khẩn khoản hòa thượng mở lượng hải hà hứa khả
cho chúng đệ tử hiếu thảo xây dựng ngôi đại tháp
bát giác chứa nhục thân hòa thượng sau nầy, đặc
biệt sẽ tạc khắc tôn xưng sự nghiệp cao ngất của
người, để ngàn sau có nơi chiêm bái mà nương tựa
tu tập. Hòa thượng xúc động nghẹn ngào, hòa thượng
vui quá đổi là vui. Hàng ngày thị giả Như Thế báo
cáo diễn tiến từng bước công trình, vì hòa thượng
thích duyệt xét mọi kế hoạch, theo dõi thực thi từng
chi tiết nhỏ. Công trình xây dựng hoàn thành thì lão
hòa thượng cũng mòn mỏi trút tàn hơi. Hai năm qua, suốt
ngày đêm hòa thượng một lòng chăm lo nhớ nghĩ đến
hậu sự vuông tròn của mình, nên khi lâm chung Người
cũng chẳng rời xa tư tưởng nầy. Người lẩn quẩn
sung sướng lắng nghe chư tôn đức tăng ni vân tập về,
hợp cùng chúng đệ tử thi đua nhau kể lể nỗi thương
tiếc và tán dương công đức như trời như biển của
Người. Người theo dõi tận cùng lễ di quan, cho đến
khi quan tài đưa vào đại tháp, cửa đóng kín mít, thiên
hạ lũ lượt ra về, cuối cùng Lão hòa thượng mới
thực sự yên tâm. Bây giờ, Người mới chợt nhớ nghĩ
đến cõi về thì bỗng dưng tất cả trở nên mù mịt
chẳng biết phương hướng đâu mà tìm.
Nghe
tiếng gọi lo sợ của tiểu Quế, muội choàng tỉnh,
cảm giác đã hiểu rõ đầu đuôi mọi chuyện nên bảo
nó mời khách tặng chuông vào. Sau khi an tọa, nhà sư
lên tiếng :
- Đệ
tử Như Thế xin vấn an ân sư!
- Không
dám! Không dám! Bây giờ Ngài đã là bậc thánh, còn
ta là kẻ đang lặn ngụp trong chốn luân hồi, thì làm
sao dám nhận là sư phụ của Ngài!
- Đệ
tử có được ngày hôm nay là nhờ ân sư chăm sóc và
dày công dạy dỗ, nên lúc nào, hoàn cảnh nào đệ tử
cũng tạc dạ ghi ơn.
- Hởi
ôi! ta hư hèn tu tập không ra gì thì dạy ai? Ngài đã
tu như thế nào để thực chứng quả vị bất thối
chuyển mới thật đáng tuyên dương, Ngài nên truyền
dạy ta mới phải!
- Đệ
tử tư chất tầm thường, cứ cẩn mật theo lời dạy
dỗ của sư phụ mà tu âm thầm, chết âm thầm, không
bị oan gia ràng buộc, nhờ vậy may mắn vãng sanh mà
thôi. Còn sư phụ là bậc tăng tài hiếm có, đã hi sinh
trọn đời cho đạo pháp, trùng tu tự viện, chấn chỉnh
sơn môn, đào luyện tăng tài... công đức rộng sâu khó
ước lường, chỉ vì một chút sơ suất nhỏ khi cận
tử mà phải lộn lại chốn nầy.
Đáng
tiếc thay!
- Hởi
ôi! ta yên chí công phu hàm dưỡng mình cao dày, niệm
Phật đã nhất tâm, quê hương Tịnh độ cận kề, nào
ngờ vừa mới nghe thiên hạ thổi phồng tán dương công
đức đã đắc chí, đệ tử tung hô xây bảo tháp thờ
kính đời đời đã mê đắm... thì còn vãng sanh chốn
nào cho được?
- Chúng
đệ tử ai cũng đinh ninh thầy về cõi Phật, mãi đến
khi con được vãng sanh mới khám phá rằng thầy bị
trầm luân, mà nguyên nhân chánh là vụ xây dựng tháp
do con khởi xướng. Con bèn thành khẩn xin Tam Thánh thương
xót gia hộ cho con trở về cõi Ta Bà để tùy duyên
nhắc nhở thầy, may mắn là thầy đã từng tận tụy
suốt đời lo cho đạo pháp, nên thỉnh cầu được chuẩn
y.
- Ta
rất cảm khích thâm tình của Ngài đã bền bĩ xử
dụng đủ mọi cách để cứu độ ta! Nghĩ lại, lần
đầu tại chùa Ngọc Phật sợ ta mê đắm ngọc mà quên
đạo Ngài lên tiếng chỉ điểm mà ta chẳng chút quan
tâm, rồi Ngài hiện thân làm họa sĩ nhắc nhở ta bao
lần, thậm chí đưa ta đến Hàn Sơn tự nghe chuông, dùng
cái chết cảnh cáo cũng vô hiệu, không ngờ lần nầy
quả chuông nhỏ ngày xưa mà làm được việc. Ngài đã
truy tầm ra quả chuông nầy hay thật là hay!
- Thưa
thầy! Có lẽ lần nầy thì nghiệp cũ thầy vừa trả
xong, công đức xưa thành thục, nên tiếng chuông thỉnh
đúng lúc đã thức tỉnh được thầy. Giờ đây, con
xin từ tạ, hẹn sớm gặp lại nhau ở cõi Cực Lạc
phương Tây.
Câu
chuyện chưa kết thúc hẳn, Quân đã nôn nóng nêu thắc
mắc:
-
Ơ!.. Ơ! Kiếp trước Hòa thượng tiểu muội...ơ...
Uyên
cười ngất:
- Kiếp
nầy biết kiếp nầy. Lương huynh bao giờ vẫn là huynh
của tiểu muội. Xin huynh làm ơn bỏ danh xưng hòa thượng
tiểu muội kỳ cục đó, cho muội nhờ!
- Kiếp
trước muội đâu có làm gì quá đáng mà kiếp nầy
phải truân chuyên với nghiệp kỹ nữ nầy?
- Huynh
biết không? “Ăn cơm” của thí chủ khó tiêu lắm, phải
tu hành chân chính mới mong hóa giải được. Nếu không
thì thức cúng dường trở thành món nợ oan gia, mà
người thụ hưởng phải gánh vác trả dài dài. Hai năm
cuối cùng của kiếp hòa thượng muội đã gom góp tiền
cúng dường của thiên hạ không nhằm phục vụ đạo pháp
mà chỉ vì cái ngã, ham hố kiến tạo tháp nêu danh với
đời, nên phải đọa lạc. Nợ nần nhiều thí chủ mà
mong trả nhanh trong một kiếp thì phải lâm cảnh gian truân
bầm dập tấm thân như vậy đó, huynh ạ!
- Tiểu
muội có dự định gì cho ngày mai chưa?
- Dĩ
nhiên đã sắp xếp xong rồi. Muội đã bắt đầu nếp
sống cư sĩ chay tịnh hai tháng nay, muội nguyện một
lòng tu tập Niệm Phật cho đến khi nhất tâm bất loạn
hầu được vãng sanh về cõi Tây Phương. Vài ngày nữa
muội sẽ bí mật dọn về căn phố nhỏ ở Hồng Khẩu
trốn tránh tiếp xúc với thiên hạ. Còn ngôi biệt thự
nầy thì muội đã ngã giá bán rồi, tiền sẽ gởi
ngân hàng để có hoa lợi xây xài hàng tháng.
Quân
lo lắng:
- Muội
ẩn tu như vậy, chắc huynh khó gặp!
- Đâu
được, riêng Lương huynh thì phải thăm muội thường xuyên
giúp đỡ muội tu chớ! Muội nhập thất thì huynh phải
hộ thất tươm tất nhé!
- Tưởng
gì khó, chớ chuyện nầy huynh sẵn sàng tình nguyện
mà!
Uyên
thiết trí một phòng trên lầu như một chánh điện
nhỏ, hàng ngày tinh tấn hành trì sáu thời Niệm Phật
lễ bái. Cứ cuối tuần thì Lương Quân đến Hồng
Khẩu ăn chay và tham gia Niệm Phật. Thời gian đầu, Quân
ăn chay Niệm Phật vì Uyên, chàng cũng đọc sách báo
Phật giáo cho Uyên vui, thế rồi lần hồi chàng thấm
đạo vị mà không hay. Chàng hào hứng sưu tập trọn bộ
Phật học tòng báo(5) để tìm hiểu giáo lý Phật
giáo đủ mọi đề tài, cũng nhờ tờ báo nầy hướng
dẫn, chàng thỉnh được nhiều kinh sách quý báu để
nghiên cứu, đặc biệt có bộ Ấn Quang văn sao bốn
quyển do Thượng Hải Thương Vụ Ấn thư quán xuất bản
năm 1922. Sau khi nghiền ngẫm từng chữ từng câu trong
Văn Sao, chàng bỗng phát bồ đề tâm “nguyện một
lòng một dạ Niệm Phật A Di Đà hầu được vãng sanh
về cõi Tây Phương Cực Lạc, sau đó, nguyện sẽ trở
lại cõi Ta Bà đời đời kiếp kiếp cứu độ chúng
sanh”. Chàng giữ trường chay và thực hành Niệm Phật
theo phương pháp “thập niệm sổ tức” do Ngài Từ
Vân đời Tống chỉ dạy cho người đa đoan công việc(6).
Quân Niệm Phật chân thành tha thiết, càng niệm càng
tinh tấn, càng cảm nhận niềm vui đạo vị. Có lẽ Uyên
cũng nhận thấy điều nầy nên có lần nàng ca ngợi
chàng là bậc thượng căn, Quân liền chối bây bẩy:
- Đừng
nói giỡn nà! Huynh lờ khờ chớ đâu có thông minh lanh
lợi như người ta! Phải xếp huynh vào hạng hạ căn mới
đúng!
- Không
hẳn như người ta thường nghĩ đâu huynh! Người bản
chất hiền lành thật thà, không tham sân, không tranh hơn
thua... nhờ vậy khi tu thì chân chất một lòng một dạ
mà tu: Niệm Phật dễ nhất tâm, tọa thiền chóng nhập
định, họ đã tu nhiều kiếp mới được tâm nầy. Với
đời thì họ bị chê là thằng khờ khạo, nhưng với
đạo họ chính là bậc thượng căn.
- Còn
như thế nào thì kể là hạ căn hả muội?
- Kẻ
tự hào thông minh lanh lợi dù xuất gia hay tại gia thường
lấn lướt người khác giành thế lãnh tụ cho thỏa
mãn cái ngã cao ngạo của mình, nếu lanh lợi mà còn
kèm theo tài biện luận ngược xuôi, khéo léo mánh mun
thì tai hại chẳng biết đâu mà lường. Hạng “thế
trí biện thông”(7) nầy với đời là bậc thượng,
nhưng với đạo chắc là hạ hạ căn quá!
Đầu
Xuân năm Giáp Tí (1924), Quân đưa Tú Uyên và tiểu Quế
– Quế dạo nầy cũng nương theo cô chủ hâm mộ đạo
Phật – viếng Phổ Đà sơn, thánh địa của Bồ Tát
Quán Thế Âm. Cả ba lần lượt theo phái đoàn hành hương
chiêm bái khắp thánh tích, nơi mà theo truyền thuyết
vị Bồ Tát cứu khổ cứu nạn từng xuất hiện: Quan
âm khiêu (vết chân Bồ Tát trên tảng đá), Quan Âm tử trúc
(rừng trúc tím), Phạm Âm Hải Triều âm động, Viện Quan
Âm Bất Khẳng Khứ, các chùa Phổ Tế, Pháp Vũ và Huệ Tế,
nơi nào cũng phảng phất một bầu không khí mầu nhiệm
thiêng liêng, khiến khách hành hương nức lòng quy ngưỡng
đạo pháp. Đặc biệt tại chùa Pháp Võ, nhân tháp tùng
theo nhóm Phật tử khác viếng Tàng kinh Các lễ hòa
thượng Ấn Quang, Quân và tiểu Quế may mắn hiện diện
đúng lúc để xin thọ giới quy y với Ngài. Tại chùa
Phổ Tế, phái đoàn chiêm bái “Quan Âm tam thập nhị
ứng tùy hình”, và nghe thầy tri khách kể truyền thuyết
rằng chư lão hòa thượng khi rũ bỏ được muôn duyên
thường đến thánh địa khẩn nguyện sớm về cõi
Phật trong thời gian ngắn đều toại ý. Lúc ấy, bỗng
nhiên Uyên bùi ngùi khẽ thở than:
- Muội
cũng từng ao ước như thế nầy mà không buông bỏ nổi,
phải đợi đến bây giờ mới thực hiện, kể ra quá
trễ nhưng cũng phước đức lắm rồi.
Trở
về đất liền khoảng năm tuần, sau khóa công phu chiều
ngày mùng 10 tháng hai, Uyên bỗng tỏ ra nghiêm trọng cho
biết có việc cần ủy thác với chàng. Quân còn đang
ngơ ngác thì nàng đã kính cẩn chấp tay thưa:
-
Muội khởi tu trở lại vừa tròn hai năm thì may mắn
đã hội đủ phước duyên vãng sanh vào lúc 12 giờ trưa
ngày vía Quan Âm, tức 19.02 âm lịch sắp tới. Muội đã
làm giấy tờ chuyển hết tài sản cho Lương huynh rồi,
xin huynh theo tờ di chúc mà xử lý dùm. Muội muốn ra
đi âm thầm chỉ cần huynh và tiểu Quyên hộ niệm là
đủ, sau đó đem thiêu rồi rải tro cốt ở cánh rừng
nào cũng được, nhằm bón phân cho cây lá thêm tươi...
Vào
lúc 11.30 giờ ngày dự trù, Uyên trang nghiêm lễ Phật,
đoạn ngồi kiết già Niệm Phật âm thanh vừa đủ nghe.
Quân và tiểu Quế ngồi hai bên hộ niệm. Chừng nửa
giờ sau, Quân nghe như có tiếng nhạc lưng trời, hương
thơm thoang thoảng, nhìn lại thì Uyên đã ra đi thanh thản
với nụ cười nhẹ.
Quân
cẩn mật xử lý mọi việc đúng y theo di chí của Uyên:
chu toàn hậu sự, cúng dường, ấn tống kinh, phát chẩn,
rồi lại phải tạo dựng tương lai cho tiểu Quế, rước
hai bà mẹ già về sống chung để tiện bề chăm sóc.
Hai bà bạn xưa có người hủ hỉ tâm sự, cùng sống
cùng tu với nhau nên rất hài lòng. Khi mọi việc sắp
xếp hoàn mãn rồi, thì Lương Quân cũng đã ngoài 50
tuổi, chàng từ dịch lui về Phổ Đà ẩn tu với sư
phụ, sau đó, ra đi biền biệt, chẳng ai biết đã lưu
lạc chốn nào.
Tháng
08.2007
Lời cuối
truyện:
Trong
quyển “Mấy Điệu Sen Thanh” do hòa thượng T.Thiền
Tâm lược dịch các sự tích Vãng Sanh Tịnh Độ, có
sự tích nhan đề “MỘT KỲ NỮ”(8), thuật lại chuyện
người kỹ nữ xinh đẹp tài hoa thích ngâm vịnh Đường
thi của danh kỹ Tiết Đào tức Hiệu Thơ, nên khách phong
lưu gọi nàng là Hiệu Thơ. Đang lúc thanh xuân, bỗng một
hôm nàng tỉnh ngộ đạo mầu, giữ thân tâm trong sạch,
quy y Tam Bảo, tinh tấn Niệm Phật nguyện cầu vãng sanh
Tịnh Độ. Nàng ẩn cư tại phố Hồng Khẩu, thiết
trí điện thờ Tam Thánh, sớm hôm trì niệm. Nàng gởi
tiền vào ngân hàng lấy tiền lời sinh sống, nàng chẳng
tiêp xúc ai ngoài người thân tín tên Lương Quân. Vào
tháng hai năm Dân Quốc 13(1924), nàng mời Lương Quân đến
thông báo trước ngày vãng sanh, sau đó chuyển giao tài
sản và ủy thác họ Lương lo hậu sự, cúng chùa ấn
tống kinh sách, chu cấp mẹ già... Đúng chính xác ngày
đã thông báo, nàng Hiệu Thơ không bịnh mà an lành Niệm
Phật vãng sanh về cõi Tây Phương. Nhận thấy đây là
một trường hợp vô cùng hi hữu:
1.
tài hoa xinh đẹp ở tuổi thanh xuân mà sớm hiểu đạo.
2.
hiểu đạo là buông bỏ tất cả, một lòng Niệm Phật.
3.
Niệm Phật trong thời gian ngắn đã biết trước chính
xác ngày giờ vãng sanh.
4.
Không bịnh khổ, an lành Niệm Phật mà vãng sanh.
Biết
trước ngày giờ vãng sanh đã là chuyện hiếm có,
không bệnh an lành Niệm Phật vãng sanh ngay trong giới
tu sĩ cũng không có nhiều, riêng sự kiện chỉ Niệm
Phật ngắn hạn mà đạt được thành quả như trên là
trường hợp hy hữu chưa từng nghe nói trong giới cư
sĩ.
Rất
tiếc người xưa không mấy tôn trọng giới kỹ nữ nên
lược thuật sự tích quá vắn tắt. Dẫu sao, căn cứ
vào lược thuật nầy tác giả cũng đủ tin tưởng cô
nương nầy là bậc Bồ Tát vướng chút nghiệp trần,
thị hiện Niệm Phật vãng sanh để kiến tạo niềm
tin cho mọi giới.
Tác
giả chân thành đảnh lễ vị kỹ nữ Bồ Tát và xin
phóng tác sự tích nầy thành truyện ngắn dâng cho bạn
đọc.
Ghi chú :
1.
Chùa Ngọc Phật: Chùa ở thành phố Thượng Hải do hòa
thượng Khả Thành xây dựng năm 1918 để tôn trí tượng
Phật Thích Ca bằng ng̣ọc do Ngài Huệ Căn thỉnh từ
Miến Điện từ năm 1882.
2.
Chuông Hàn Sơn: Chùa Hàn Sơn tại Tô Châu là ngôi chùa cổ
nổi tiếng, và tiếng chuông chùa đã được giới văn
nhân khắp năm châu hâm mộ, nhờ bài thơ bất hủ nhan
đề “Phong Kiều dạ bạc” của thi sĩ Trương Kế:
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền.
(Quạ
kêu trăng xế trời sương
Bến
Phong đóm lửa đối buồn mênh mang
Thành
Cô Tô, chùa Hàn San
Nửa
đêm chuông vọng đưa sang khách thiền)
3.
Tiết Đào: Danh kỹ thời Đường là người đẹp thông
tuệ và tài hoa được Nam Khang Vương tiến cử giữ
chức Quân trung Hiệu Thơ, nên được người đời tôn
xưng là Hiệu Thơ cô nương. Cô nương có nhiều bài thơ
nổi tiếng như 4 bài vịnh: Xuân, Hạ, Thu, Đông (có
trích dẫn trong tích Một Kỹ Nữ). Bài Đường thi trong
truyện nầy nhan đề “Tiễn bạn”, do Quỳnh Chi phóng
dịch, nguyên văn như sau:
Tống
hữu nhân
Thuỷ
quốc kiêm gia dạ hữu sương
Nguyệt
hàn sơn sắc cộng thương thương
Thuỳ
ngôn thiên lý tự kim tịch
Ly
mộng yểu như quan tái trường
Quỳnh
Chi phóng dịch :
Tiễn
bạn
Sương
đêm ướt cỏ bên hồ
Trăng
khuya lạnh lẽo núi mờ mờ xanh
Người
rằng biên ải xa xăm
Thì
xin được gửi theo chân mộng hồn
4.
Ba câu trên là kệ trích từ Kinh Lăng Già.
5.
Phật học tòng báo: cơ quan truyền giáo của Hội Phật
Giáo Thượng từ đầu thế kỹ 20
6.
Phép thập niệm sổ tức của Ngài Từ Vân: Sáng
tối 2 thời: Nếu có tượng Phật thì lễ 3 lạy, đoạn
chấp tay (đứng hoặc quì) niệm Nam Mô A Di Đà Phật
liên tục cho đến khi hết một hơi thở kể là một
niệm, niệm 10 hơi thở là xong phần niệm, kế đó,
đến phần sám nguyện lễ Phật vắn tắt là hoàn
tất .
7.
Thế trí biện thông : Trí thông minh biện bác theo thế
sự. Trí nầy là nạn thứ 7 trong bát nạn. (Bát nạn
tức 8 thứ chướng nạn chẳng thể tu học thành đạo
được, trong đó, ba nạn đầu là sanh chốn địa ngục,
ngạ quỉ, súc sanh...)
8.
Mấy Điệu Sen Thanh phần ba : Tứ chúng vãng sanh – Sự
Tích : Một Kỹ Nữ -trang 426.
08-20-2007
12:34:43