Ở
xứ Hoa Kỳ nầy, coi bộ thiên hạ chẳng mấy thuở có được
những giờ phút nhàn nhã "trà dư tửu hậu" để bàn chuyện
tào lao, nên những tin tức thuộc loại "xe cán chó" chẳng
được ưa chuộng mấy. Giựt gân như chuyện anh chàng Ted Bundy,
đẹp trai nho nhả, mà lầm lầm lì lì tàn sát cả trăm thiếu
nữ ngây thơ cũng chỉ sôi động một tuần rồi lụn tàn
trong quên lảng. Dường như, ngoài những trận bóng bầu dục,
với những cầu thủ thượng thặng mà "giới mộ điệu" tôn
sùng như bậc đại anh hùng, không có một vấn đề trọng
đại nào đáng để họ quan tâm. Do đó, chuyện bà triệu
phú Ăng Lê chết đi, di chúc để hết tài sản cho chú mèo
bốn cẳng, trong khi chị bếp hầu hạ bà ta suốt đời chẳng
có một xu ten, cũng không mấy ai cho là lạ hay thắc mắc bất
mãn. Trường hợp thằng Steve là một ngoại lệ đặc biệt.
Steve càm ràm bà triệu phú quá cỡ, nhưng hắn cà khịa không
phải vì cảm thương cho số phận hẩm hiu của người đầy
tớ trung thành, mà chỉ vì ghét cay đắng giống nòi nhà mèo.
Steve vốn yêu chó nồng nhiệt, nên chẳng mấy ưa mèo. Do đó,
hắn chủ trương nếu bà triệu phú kia, để hết gia tài sự
sản cho trự chó bá vơ nào cũng hợp lý hơn cho chú mèo vô
tích sự đó. Tính thương chó quá khích của Steve trầm trọng
nên biến chứng thành bệnh, bệnh không truyền nhiễm chết
người nhưng gây phiền phức cho bè bạn vô kể. Steve có thể
lải nhải không ngừng những lời ca tụng tài ba, tính trung
thành và ngoan ngoãn của con Rover, y hệt như các bà mẹ say
sưa ganh đua nhau tán dương con cái họ. Kẻ nào lỡ mồm khơi
chuyện chó, thì hắn liền hùng hổ xông vào đấu hót, nhai
đi nhai lại những chuyện cũ xì, dai nhách về chú chó. Ai
dại dột nhận lời mời của Steve đến nhà y mới lãnh đủ
tai họa. Y vồn vã chiều chuộng cung phụng khách đủ thứ,
miễn là khách phải chịu khó ngồi yên lặng để y khoa trương
thành tích tam đại nhà chó. Khách ngất ngư Steve vẫn chưa
chịu buông tha, vì tiếp theo đó lại còn tiết mục chó trổ
tài biểu diễn lắm trò: chó nằm ngữa, chó đứng hai chân,
chó nhảy vòng, chó nhặt banh... Khách nể nang khen ngợi vài
câu, thì Steve nổi hứng huênh hoang là chó của y khôn ngoan
tột cùng, vì nó biết cười, biết khóc, biết nhõng nhẽo,
biết nói như con người. Y ra lệnh cho chó cười, và mặc
dầu y ráng hết sức tiếp hơi, méo mồm méo miệng hướng
dẫn, mà chẳng ai mường tượng nỗi nụ cười phát ra từ
con Rover. Thật ra, không mấy ai có thể cảm thông ngôn ngữ
chó hơn Steve. Cũng tiếng "gâu gâu ẳng ẳng" không khác gì
nhau, nhưng Steve có thể giải thích thành lắm chuyện: khi thì
Rover lạnh, Rover đói khát, Rover xin đi chơi, đòi "ị"... Ngoài
Ðức người duy nhất biểu đồng tình với Steve đôi chút,
những người bạn đồng hương của y ai cũng lắc đầu nguầy
nguậy, chẳng thèm tin tưởng tí xíu cái thuyết thấy được
nụ cười của chó và hiểu được tiếng chó của y. Có lẽ
chính vì vậy mà đang là kẻ nổi tiếng kỳ thị người Á
Ðông - y thâm thù tất cả những dân tộc nào dính dáng đến
màn "sực phàn" thịt chó đó mà -, Steve bỗng long trọng coi
Ðức là bậc tri âm thắm thiết.
Tuy
thông cảm với Steve, nhưng đúng ra, Ðức không hiểu biết
nhiều về giống chó. Vốn là một Phật tử thuần thành tiêm
nhiễm thuyết luân hồi, Ðức nghĩ rằng trong bao tiền kiếp
ngược xuôi lăn lộn trong lục đạo, mỗi người có thể
có những giây liên hệ bí ẩn đặc biệt với một giòng
sông, một vùng đất, một giống dân, một loài thú nào đó...
Steve có thể đã chất chứa ít nhiều chủng tử mang tầng
số tương đương với loài chó, nên có những giây liên hệ
mật thiết với loài nầy. Chuyện y thấy được nụ cười,
hiểu được tiếng sủa có lẽ không phải là chuyện hoang
đường. Chính Ðức chắc cũng ngầm chứa những hạt giống
ràng buộc mơ hồ và kỳ lạ với một giống côn trùng hiền
lành, mà tên cúng cơm Ong Ðức của chàng tuy vô tình nhưng
cũng hàm ẩn một nhân duyên huyền bí nào đó.
Nhà
Ðức ở hẻm Bùi Thị Xuân, nhưng giang san trẻ thơ của chàng
lại chính là vườn Tao Ðàn thơ mộng. Có thể một phần
vì tính tình nhút nhát, thân thể yếu đuối Ðức không mấy
phù hợp với đám bạn bè nghịch ngợm luôn luôn hiếp đáp
Ðức và trêu ghẹo chàng là thứ "ong đực vô dụng", nên
Ðức trở nên cô đơn, chỉ thích lang thang một mình trong
vườn Tao Ðàn, say mê ngắm nhìn từng cành cây, cọng cỏ,
đóa hoa. Chàng có thể bỏ hàng giờ để say sưa theo dõi nàng
nhện dệt mạng lưới, chăm sóc một con sâu đo, lắng nghe
tiếng dế kêu rúc rít hay thả hồn theo những cánh chuồn
chuồn, cánh bướm bay lượng nhởn nhơ.
Tuy
nhiên có lẽ giống côn trùng gắn bó với Ðức nhứt là loài
ong. Từ con ong bầu mập ú, ong vò vẽ rắn rỏi, cho đến
con ong mật hiền lành, loài nào Ðức cũng đều cảm thấy
gần gũi thương yêu đặc biệt. Nhờ những năm trời quan
sát tìm hiểu sinh hoạt loài ong, Ðức có thể thân mật làm
quen, đùa giỡn, và cũng hiểu biết ít nhiều ngôn ngữ của
chúng. Chúng cũng biểu lộ được những cảm xúc vui buồn,
thương ghét qua ánh mắt, cặp râu rung rinh. Ngoài ra, bằng
lối vỗ cánh, nhịp điệu bay, cách lượn thành đường vẽ
trong không gian như một tín hiệu, chúng cũng kháo với nhau
lắm chuyện: chỉ điểm nhau một cụm hoa ngọt ngào vừa nở
hay rủ rê nhau "tiếu ngạo giang hồ". Gần gũi với chúng,
Ðức học được nếp sống thương yêu, hợp quần... cũng
như lối thưởng thức hoa trầm lặng bằng khứu giác. Nhờ
vậy khứu giác chàng trở nên bén nhạy hơn. Chính năng khiếu
đặc biệt đó đã hướng dẫn Ðức chọn chốn định cư
tại Jamestown, một thị xã đìu hiu le the không đến một trăm
dân cư sinh sống nầy.
Mấy
tháng trước, từ miền Bắc Mỹ lạnh lẽo, Ðức dự định
xuôi về vùng Houston nắng ấm. Trên xa lộ 190, vừa qua khỏi
thị xã Jasper, đến giòng sông Neches bất ngờ chàng thoáng
ngửi được hương vị nhẹ nhàng tinh khiết của hoa sen. Ðức
thoạt nghi ngờ khứu giác của mình vì không tin hoa sen sinh
trưởng chốn nầy. Dù vậy, Ðức vẫn hiếu kỳ dừng xe lại,
quyết tâm truy nguyên địa điểm phát xuất hương sen. Giòng
sông Neches tại điểm tiếp giáp với cầu xa lộ 190 bỗng
nở rộng ra đến hơn 4 dặm để biến thành biển hồ bát
ngát. Giữa hồ xuất hiện vài hòn đảo nhỏ, có hòn trơ
trụi đá, có hòn cây lá xanh um. Ngoài ra, lại có rặng cây
nổi bình bồn, - có lẽ đồng chủng loại với cây mắm nước
nhà nhưng to hơn -, rễ bám sâu tận đáy hồ mà vẫn trườn
mình trên mặt nước, tạo nên những bóng mát hữu tình cho
những chiếc thuyền con lạc lõng. Bờ hồ hướng Bắc được
tu bổ thành một công viên quốc gia xinh xắn, có rừng cây
cao rợp bóng, bãi cỏ sởn sơ, phân thành khu cắm trại, picnic,
bơi lội... được thiết trí đầy đủ tiện nghi cho việc
sinh hoạt ngoài trời.
Ðức
thuê thuyền máy lái xuyên qua bờ hướng Nam. Ði hơn nửa đoạn
đường, vừa vượt khỏi rặng cây nổi, đã thấy lờ mờ
đám lá lô nhô trên mặt nước. Ðến nơi, mới biết đó
chỉ là một vùng cồn cát ngầm, cạn cợt nước, phủ đầy
rau hoang đong đưa theo giòng nước lững lờ. Tuy chưa tìm được
sen, nhưng hương sen biến mất từ lâu bắt đầu phảng phất,
dù vậy Ðức cũng phải lái thuyền cả dặm nữa, mới thấy
bóng dáng của một rừng sen ẩn hiện xa xa. Sen chen chút mọc
dọc theo bờ tràn ra hồ hàng trăm thước, một loại sen màu
vàng nhạt, búp thon, cánh mỏng, tinh khiết. Ðức tắt máy
nổ. Chàng dùng dầm bơi lách chậm chạp nhẹ nhàng, tránh
gây tổn thương hoa và cũng tránh tiếng động phá tan bầu
không khí vắng lặng u tịch của chốn hoang dã nầy. Ðức
không thuộc vào hạng người yêu hoa theo lối chiếm đoạt,
tàn sát hoa thu hoạch chiến lợi phẩm, mà chỉ thích trầm
lặng hàng giờ bên hoa để chiêm ngưỡng, như nhà nghệ sĩ
chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên tuyệt tác. Do đó, dừng
thuyền giữa rừng sen, Ðức bèn lắng lòng, buông xả tất
cẳ những phiền toái lòng thòng của cuộc đời để hòa
mình trọn vẹn với thiên nhiên, sống như sống thực trong
thế giới loài sen.
Trong
thế giới an bình đó, dù là một con côn trùng nhỏ đang nhởn
nhơ sinh hoạt, trời nước mông mênh, cọng lá cành hoa: một
búp bé bỏng sơ sinh, búp thiếu nữ, đóa hoa trưởng thành,
đóa hoa tàn tạ hay một đài sen khô héo gục đầu, tất cả
đều trở nên sống động, đều chuyên chở những ý nghĩa
nhiệm mầu. Ðức chợt xúc cảm nhớ đến những lần chàng
đã mang "ba lô", bồng súng lội trên đầm sen Cái Bèo, Ðồng
Tháp ngày trước, trong khi đạn nổ vang rền và hận thù căm
căm dồn trên ánh mắt. Sen nước mình duyên dáng thanh cao,
hương vị đậm đà tinh khiết biết chừng nào mà mấy ai
được diễm phúc bình thản thưởng thức hoa đâu? Ðức bùi
ngùi quên cả hiện tại, mãi đến khi nghe tiếng ong vo ve bên
cạnh mới bừng tỉnh dậy. Chàng theo dõi bầy ong vừa xuất
hiện; bầy ong thật dễ thương, đặc biệt là con đầu đàn
dáng dấp to lớn, oai nghi mà đài các như một nàng công chúa.
Ðức mĩm cười thương yêu, thân thiện xòe tay mời mọc.
Có lẽ loài vật cảm thông được bản chất hiền hòa của
Ðức, nên con ong to bay lượn quanh chàng vài vòng rồi dạn
dĩ đậu vào. Ong nhìn người, và người nhìn ong, như đôi
bạn thiết chia xẻ nhau thưởng thức cái đẹp của hoa sen.
Hốt nhiên Ðức mĩm cười với con ong, rồi buộc miệng khen:
"Em bé duyên dáng và dễ thương quá!". Nàng ong chẳng biết
có hiểu chi không mà e lệ chớp mắt, rồi luống cuống bay
quanh quẩn bên chiếc thuyền của Ðức, như chẳng nỡ tách
rời.
Khi
Ðức quay thuyền trở về thì trời đã sụp tối, nên đành
nghỉ đêm tại thị xã Jasper. Ðêm đó, đọc báo địa phương
thấy công ty khai thác lâm sản JW corp. tuyển chân thợ máy,
Ðức đệ đơn thử thời vận không ngờ may mắn được chấp
nhận ngay. Thế là Ðức dừng chân lập nghiệp chốn nầy.
Chàng lại được Steve giới thiệu thuê một căn nhà vừa
ý tại Jamestown, tuy chỉ cách sở làm chừng 5 dặm, nhưng lại
tọa lạc ở ven rừng thông vắng vẻ, hợp với kẻ thích
ẩn thân chốn thiên nhiên vắng lặng. Chủ nhân căn nhà bận
bịu công ăn việc làm tại Tyler, thỉnh thoảng mới về nên
mong có người cư ngụ săn sóc hơn là để hoang phế, do đó,
chỉ lấy tiền thuê giá tượng trưng.
Ðức
thường lang thang ở khu rừng sau nhà, thả hồn phiêu lãng
theo những áng mây trắng bềnh bồng trên đỉnh đồi thông
xinh tươi thẳng tấp. Rừng không thú to, nhưng có rất nhiều
thỏ, sóc, chim chóc, gà rừng..., nên không khí luôn luôn sống
động mà không ồn ào náo nhiệt. Dưới chân cây phong già
rợp bóng, chàng treo một cái võng đong đưa đọc sách. Ngưng
đọc sách thì Ðức lơ đảng nhìn bầu trời xanh, quan sát
những cánh chuồn chuồn, cánh bướm bay lượn vẩn vơ, hay
theo dõi đám ong thợ tranh đua nhau lấy mật mang về tổ lập
ngay trên cành cây phong nầy. Buổi chiều mát mẻ, Ðức thường
dành thời giờ để chăm sóc vườn hoa sân trước: hai cây
tường vi đơm đầy những chùm bông màu tím hoa cà tươi mát,
mấy cụm hoa hồng rực rỡ và một dàn dạ lý xanh um. Ðức
dự trù sẽ trồng thêm vài bụi cúc, mươi cây pensée để
vẫn có hoa nở vào lúc sang thu. Ðang tỉ mỉ cắt tỉa cành
lá thừa cho bụi hồng màu đỏ thẩm, Ðức nghe tiếng chân
chạy trên đường, nên ngẩng đầu chào như thường lệ:
"Chào cô". Cô bé Mỹ tuổi chừng đôi tám, mảnh dẻ duyên
dáng, thỉnh thoảng chạy thể dục trên đường, Ðức đã
gặp vài lần, và lúc nào cũng lịch sự chào nhau chiếu lệ.
Lần nầy, bỗng nhiên cô bé dừng lại, tò mò hỏi:
- Chào
Ông! Xin lỗi, Ông là người Á Ðông?
- Vâng!
Tôi là người Việt Nam. Tên tôi là Ðức Ong. Ong có nghĩa
là con Bee đó!
- Ngộ
quá há! Họ tôi cũng là Bee. Tên tôi là Linda Queen Bee!, cô
bé cười khanh khách.
Nghi
là cô bé bịa tên giả bỡn cợt mình, nhưng Ðức vẫn lịch
sự:
- Hân
hạnh được biết cô!,
- Ông
có vẻ là người ưa thích thiên nhiên. Ông thích tường vi
lắm phải không?
- Tường
vi nở rộ một màu rực rỡ cả vùng, quả thật rất đẹp,
nhưng thâm tâm tôi chỉ thích loài hoa có hương vị kìa.
- Vậy
thì ông thích hoa dạ lý rồi!
- Không
hẳn vậy! dạ lý hương vị gắt gao nồng nặc quá!
- Thế
thì tôi biết ý ông rồi! Chắc là hoa hồng, mà phải là loại
hồng nhung đỏ thẩm thì hương thơm mới êm dịu phải không?
nhưng hoa hồng tuy đài các kiêu sa mà sánh sao bằng hoa phong
lan cánh bướm, hương vị thanh thoát nhẹ nhàng hơn!
Phong
lan hoa như cánh bướm là loại cây chùm gởi đeo bên nhánh
cây đối diện với tổ ong sau nhà, Ðức thỉnh thoảng được
may mắn thưởng thức hương vị lấy làm thích thú, không
ngờ cô bé nầy nhỏ tuổi mà cũng am tường, thật là một
điều lạ lùng.
- Nhận
xét của cô đúng lắm! Nhưng...
Cô
bé liếng thoáng cười, khoát tay rồi cướp lời:
- Hà
hà! Loài hoa thượng thặng của ông, có lẽ là loài hoa dại
mọc trên vùng nước sình lầy dọc bờ Nam sông Neches chớ
gì? Hoa đó hương vị thanh cao, tinh khiết làm sao ấy!
Ðức
không thể tưởng tượng nỗi ở xứ nầy lại có kẻ tri
âm đồng điệu thấu rõ ruột gan mình trong nghệ thuật thưởng
thức hương hoa. Chàng bỗng sinh lòng cảm mến cô gái, nên
thân mật lên tiếng:
- Khâm
phục! Khâm phục! Hoa đó không phải hoa dại đâu! Người
Việt Nam gọi là hoa sen hay liên hoa, tiếng Anh là lotus. Người
nước tôi thích hoa sen vì hương vị thanh cao tinh khiết, vẻ
đẹp đoan trang thanh thoát, và nhứt là đặc tính hoa ở chốn
bùn lầy mà chẳng nhiễm ô mùi bùn. Do đặc tính thù thắng
đó, trong Phật giáo, hoa sen được tôn vinh như là biểu tượng
của sự trong sạch thanh tịnh. Vì vậy có pháp môn tu tập
để giữ thân tâm thanh tịnh, tạo duyên để được vãng
sinh về cõi đất thanh tịnh, tức Liên hoa quốc.
- Lạ
quá hén! Không ngờ loài hoa đó lại có một giá trị tín
ngưỡng cao quý như vậy!
- Ðối
với người bình dân nước tôi, thì sen còn được chuộng
vì giá trị thực dụng nữa. Lá sen dùng để thay giấy gói,
các bà nội trợ chế biến để gói cơm, gói chả đem hấp
hoặc nướng để tăng thêm vị ngon; hột sen, ngó sen, củ
sen đều là những thức ăn quí giá. Ngay như nhị sen, cái
mầm xanh xanh giữa hột sen, cũng có người chịu khó gom góp
để châm nước uống thay trà, vị nó đắng nhưng hậu lại
ngọt, giúp cho thân tâm tươi tỉnh và diệt dục.
- Thích
quá nhỉ! Thế mà người nước nầy lơ là coi như hoang dại
không ngó ngàng gì tới! Tiếc ơi là tiếc!
Nhận
thấy Linda chịu nghe, chịu tìm hiểu hoa sen, Ðức rộn ràng
mời mọc:
- Tôi
có sưu tập tranh ảnh hoa sen nhiều loại, đặc biệt có sen
Tây vức lá to như cái lộng. Nếu cô ưa thích, xin mời cô
vào nhà vừa uống loại trà ướp sen, ăn bánh nhưn sen, vừa
thưởng thức tranh ảnh hoa sen thì mới hứng thú.
- Dĩ
nhiên là tôi thích lắm chớ!
Cô
bé nhanh nhẩu đáp, rồi nối gót theo Ðức. Ðức vừa mở
cửa, thì bỗng thấy cô gái loạng choạng bước lui trở ra,
mặt mày xanh xao, như sắp té quị, Ðức hoảng hốt:
- Ôi!
cô có sao không?
- Tôi
hơi xây xẩm. Tôi vốn bị phản ứng bởi chất hóa học nên
cảm thấy ngộp thở.
- Xin
lỗi cô! Tôi mới xịt thuốc trừ dán buổi chiều, nên không
khí trong nhà còn nồng nặc quá! Ðức lúng túng giải thích.
- Ơ!
thế mà tôi ngỡ Ông thương mến thiên nhiên và vạn vật
mọi loài kia mà!, lời lẽ cô gái hơi gay gắt khó chịu.
Như
một nhà đạo đức giả bị lột mặt nạ, Ðức thẹn thùng
giải thích:
- Tôi
vốn thương sinh vật, nhưng riêng loài dán thì không biết
do oan nghiệp từ kiếp nào tôi lại không ưa chúng nỗi. Gây
nghiệp sát rồi tôi ái náy vô cùng, nghĩ rằng trong kiếp
nào đó, mình cũng là con dán hôi hám, cũng chui vào thức ăn
người tìm sống, mà sao giờ nầy mình lại không dung thứ
chúng được?
- Ô!
Ông có thể tin nỗi chuyện loài vật chuyển kiếp thành loài
người sao?, Linda vui vẻ trở lại.
- Tôi
theo Phật giáo nên tin tưởng vào thuyết luân hồi, theo đó,
tùy theo nghiệp quả mà chúng sanh phải lặn hụp trong sáu
đường: trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh. Như vậy thì thú tiến bộ thành người và người cũng
có thể bị đọa thành thú.
- Ơ!
sao ở nước nầy người ta chỉ chủ trương luân hồi tiến
hóa, theo nghĩa loài vật tiến bộ thành người chớ người
không bị thoái hóa thành thú vật được.
- Thật
ra, dựa vào hoằng nguyện độ sanh vô biên của chư Phật,
chư Bồ Tát và thuyết "chúng sanh là Phật sẽ thành", ta nhận
thấy yếu tố tiến hóa trong luân hồi rất rõ rệt. Tuy nhiên,
tiến hóa không thể hiểu giản đơn như một con đường thẳng
tắp suông sẻ, vì kẻ lầm lạc tạo nhân ác thì nghiệp lực
có thể dẫn dắt đến cõi thấp hơn, nên việc thoái hóa
tạm thời cũng có thể xảy ra, điều đó tương tợ như phải
đi con đường vòng, đường gãy, đường trôn ốc... để
đạt đến mục đích. Trong kinh điển Phật thỉnh thoảng
vẫn nhắc nhở đến những trường hợp đọa lạc, như chuyện
bà Thanh Ðề bị sa đọa thành quỷ đói, chuyện một kẻ
giàu bần tiện tiếc của tái sanh làm kiếp chó để bảo
vệ tài sản trước kia.
Tuy
nhiên, chuyện luân hồi lâm ly nhất có lẽ là chuyện tưởng
tượng về tiền thân, hậu kiếp của bà hoàng hậu Hy Thị.
Nguyên vua Lương Võ Ðế, nước Trung Hoa, một đêm nằm ngủ
thấy hoàng hậu Hy Thị, chết không bao lâu về báo mộng rằng
bà đã bị đọa thành con mãng xà hôi thúi rất là khổ sở,
nên khóc lóc xin chồng tìm phương giải cứu. Hoàng đế bèn
cầu cứu hòa thượng Chí Công, một đắc đạo cao tăng đương
thời. Hòa thượng hợp tăng chúng soạn bộ Lương Hoàng Sám,
lập đàn tràn tụng kinh siêu độ cho hoàng hậu thoát kiếp
mãng xà. Nhân dịp nầy hòa thượng giải thích tiền căn của
hoàng hậu là một con dế, sống trong chậu kiểng trước ngôi
chùa cổ. Mến chuộng nếp sống tu hành đạo đức tại đây,
con dế phát tâm thích nghe tụng niệm và phát nguyện mỗi
ngày trước giờ công phu sáng sẽ cố sức gáy thật to đánh
thức tăng chúng. Không may, trong chùa có chú tiểu biếng nhác,
bực mình vì bị tiếng dế làm mất giấc ngủ ngon, nên lén
dùng que đâm chết. Con dế có nhiều công đức nên được
tái sanh làm cô gái đẹp tuyệt trần, rồi trở thành hoàng
hậu được vua đặc biệt sủng ái. Tuy nhiên, hoàng hậu đối
xử với cung nữ tàn nhẫn, và do những ám ảnh bởi kiếp
dế, - yểm trợ tăng sĩ lại bị chính giới tăng sĩ hại
mạng, - nên thù ghét tu sĩ, phá hoại việc hoằng dương Phật
Pháp. Nghiệp quả đó đã đưa bà đến kiếp mãng xã khốn
khổ. (*)
- Dế
thành người. Người thành rắn. Thích nhỉ!
Rồi
bỗng dưng Linda cười tủm tỉm, ra vẻ tinh quái hỏi Ðức:
- Xin
lỗi, Ông có tụng kinh buổi sáng không?
Ðức
hơi ngạc nhiên vì không hiểu cô gái hỏi nhằm mục đích
gì, nhưng vẫn thành thật trả lời:
- Không
cô ạ! Tôi biếng nhác lắm!
- Nếu
Ông tụng kinh thì hay cho tôi quá! Tôi sẽ ráng đến đây bấm
chuông nhắc nhở hàng ngày, rồi biết đâu kiếp sau tôi chẳng
thành một bà Vua đẹp đẽ!
Dứt
lời, Linda cười ngất, đoạn vội vã chào từ giã, rồi chạy
phóng đi mất dạng.
Thế
rồi, nhân những lúc chạy thể dục buổi chiều, thỉnh thoảng
Linda dừng lại líu lo nói chuyện. Cô bé còn trẻ, chuyện
giả trá trong cuộc đời dường như mờ mịt, mà thế giới
thiên n hiên thì cô hiểu biết sâu rộng như một nhà bác
học. Kiến thức về hoa của Linda quả đáng phục. Không một
loài hoa nào, dù là loại tầm thường vô danh nhỏ bé li ti
mà cô không rành rẽ. Tuy nhiên, tương tợ như Ðức, cô đặt
trọng tâm tìm hiểu nhiều về hương vị hơn là màu sắc
lòe loẹt của muôn hoa. Sở thích phù hợp, hàn huyên tương
đắc, khiến cho chàng thanh niên vốn thích cô đơn hiu quạnh
đâm ra thấp thỏm mong đợi bóng hình giai nhân. Thế nhưng
Ðức cù lần quá, đã thân mật trò chuyện với Linda gần
hai tháng trời, mà Ðức vẫn mù tịt về nàng. Chàng lịch
sự nên có những vấn đề Linda tránh né thì không cố tìm
hiểu, vả chăng, Ðức có chủ động được đâu. Chỉ nghe
tiếng nói, giọng cười dòn tan của nàng, thì hồn vía chàng
bay mất, nàng muốn lái sang đề tài nào cũng ríu ríu xuôi
theo. Do đó, Ðức chỉ mang máng hiểu là Linda lai giòng máu
thổ dân, chịu nhiều ràng buộc trách nhiệm của tinh thần
bộ lạc, và chung sống với đại gia đình ở cuối con đường
làng. Ðiểm đặc biệt là tuy vui vẻ với Ðức nhưng Linda
lại không thích liên lạc quen biết với bất cứ ai, nhất
là người da trắng.
Vào
ngày lễ Tạ Ơn, nếp sống trầm lặng bình dị của Ðức
bỗng bị xáo trộn khi gia đình người chủ, nhân dịp về
nhà cha mẹ họp mặt hàng năm, đã tạt sang ngôi nhà cho thuê
thăm chàng. Thằng Gustavo, đứa con trai duy nhất của họ, tuổi
chừng 15, mặt mày bậm trợn, lại vênh váo mặc bộ đồ
tác chiến vằn vện, võ trang như lính thứ thiệt bằng dao
găm và súng săn. Vừa xuống xe thì hắn ta đã hùng hổ phóng
nhanh ra sau rừng, la hét càn quét "địch quân". Khách chỉ lưu
lại có ba giờ mà bãi "chiến trường" sau nhà đã thê lương
thảm hại. Mấy bụi lan đất bị dẫm nát, cây liễu tơ trốc
gốc, cây cối bị chặt phá cành lá rơi rụng khắp nơi. Dưới
chân tường là xác nát nhừ của con chim xanh, và bên gốc
trắc bá, chú sóc cườm đang nằm thoi thóp. Hoàn cảnh của
tổ ong bên cành phong lại càng tàn tệ. Tổ ong bị bắn, bị
đập rơi xuống đất vỡ thành mảnh vụn, mật chảy nhầy
nhụa trộn lẫn với xác ong non, nhộng ong... trong khi đám
ong sống sót quấn quít, lăn xăn trong tuyệt vọng. Ðức dọn
dẹp cây lá, chôn xác chim và sóc, nhưng ngần ngừ chẳng biết
giải quyết tổ ong cách nào. Chàng cũng đau lòng và tuyệt
vọng như chúng, thì đâu nỡ lòng nào quăng cả những con
ong non còn sống sót vào sọt rác.
Gió
thu lạnh buốt, trời sụp tối thật nhanh. Ðức trở vào nhà
mà giăng giăng sầu muộn. Nhưng lúc nầy Ðức mong có Linda
bên cạnh để tâm sự cho vơi nỗi bực dọc trong lòng. Vừa
nhớ đến Linda thì đã nghe tiếng chuông reo vang. Ðức hấp
tấp mở cửa, rồi sửng sờ trước một Linda mặt mày xanh
xao, xây xát, chân tay run rẩy. Ðức cuống quít đỡ nàng rồi
hỏi dồn dập:
- Trời
ơi! em làm sao vậy Linda?
- Em...
trật chân té trầy trụa thôi... Anh ơi! mẹ em bị tai nạn
lìa đời rồi..., nàng khóc sướt mướt thật là thê thảm.
- Linda!
Anh có thể giúp gì em không?
- Linda
lắc đầu:
- Họ
hàng em lo mọi việc. Họ không thích người lạ mặt dự đám
anh à!
Khóc
lóc khá lâu, bỗng Linda ngẩng đầu cất tiếng:
- Lúc
nảy ở ngoài em nghe tiếng ong bay loạn xạ lạ lùng quá!
Linda
đang đau lòng tang mẹ mà vẫn nhớ đến an nguy loài vật khiến
Ðức vô cùng cảm phục, chàng đáp:
- Thằng
quỷ sứ con ông chủ nhà, nó bắn nát tổ ong. Ong bể tổ
trong lúc lạnh lẽo như thế nầy thì chỉ biết quanh quẩn
chờ chết, chớ biết bay về đâu?
- Sao
anh không tìm phương cứu chúng?
- Anh
nghĩ hết cách rồi! đang bối rối thì em đến đó.
- Hay
là mình thử tìm cái thùng không làm cái tổ tạm để gom
mớ tổ vụn nát còn những ong con, nhộng sống sót. Nhưng
con ong lớn thất có tổ sẽ quây quần lại, thì may ra giúp
đỡ chúng phần nào.
- Ý
kiến hay quá vậy mà anh không nghĩ ra!
Thế
rồi Ðức tức tốc ra sau vườn gom mớ tổ ong vụn vặt cho
vào thùng mang vào nhà đặt bên trong lò sưởi. Ðàn ong sống
sót tự động ùa bay theo, bu quanh. Những con chậm chạp cũng
biết tìm cách vào nhà qua ngả ống khói lò sưởi nữa.
Sau
đó, Ðức khuấy nước đường, rồi tự hứa ngày mai sẽ
mua mật về để cạnh đó hầu ong thợ có thể khai thác cấp
thời làm thức ăn cho đám ong con. Sắp xếp cho đàn ong xong,
Ðức mới cảm thấy nhẹ nhàng. Linda cũng nhờ chăm chỉ săn
sóc bầy ong mà mối sầu tang mẹ cũng nguôi ngoai.
Sau
biến cố thương đau, cô gái ngây thơ nhí nhảnh ngày nào
bỗng trở nên đâm chiêu xa vắng. Nét u buồn khiến nàng tăng
thêm phần duyên dáng và sự trưởng thành. Linda cũng thường
đến nhà Ðức, và cũng ở lại khuya hơn. Hai người hàn huyên
tâm sự đủ mọi đề tài, rồi cũng kề cận bên nhau săn
sóc bầy ong khốn khổ. Ðức vốn là con người đúng đắn,
nhưng gần gũi thân mật lâu ngày với người con gái đang
xuân, thì "lửa gần rơm lâu ngày cũng bén", nên tình ái bắt
đầu nhen nhúm. Ðôi khi Ðức cũng ráng đè nén cơn thèm muốn,
nhưng càng cố đè nén thì lại dễ vướng vít trong lòng,
rồi thì thân hình nồng nàng khêu gợi của Linda cứ như chập
chờn trước mặt. Nghĩ ngợi vẩn vơ, bỗng Ðức nhớ ra là
con gái xứ nầy quá ư phóng khoáng chuyện tình dục, vậy
nếu chàng không mạnh dạn chiếm đoạt thân thể nàng, biết
đâu lại bị chê là cù lần chậm tiến. Thế rồi Ðức âm
thầm chờ đợi cơ hội tiến hành ước mơ của mình. Một
hôm, mê mẫn nhìn làn da trắng ngần của Linda lồ lộ trong
chiếc áo hở cổ, cơn sốt dục tình bừng dậy thúc giục
Ðức cúi xuống hôn ót nàng. Linda rùng mình. Ðức thoáng nghĩ
đúng là nàng thuận tình rồi, nên không còn úy kỵ gì nữa,
chàng ôm choàng Linda mưu chuyện gối chăn. Bất ngờ, Linda
xô nhẹ chàng ra và hổn hển nói:
- Ðừng
anh! Chúng mình dị chủng không thể là vợ chồng được đâu
anh!
Ðức
bàng hoàng hồi tỉnh cơn mê. Chàng biết vợ chồng khác biệt
văn hóa khó có hạnh phúc nên chưa bao giờ nghĩ đến việc
kết hôn Linda. Chàng chỉ thèm muốn tình dục thấp hèn, mà
lại nài ép nàng trong khi nàng đang đau buồn tang mẹ, kể
ra thì quá tệ. Ðức vốn tự trọng nên cảm thấy cực kỳ
xấu hổ về hành vi của mình, chàng tự hứa không để những
ý nghĩ xấu xa lảng vảng nữa.
Từ
đó, Ðức ngày càng lưu ý đến tư cách của Linda. Chàng nhận
thấy nàng nhu mì đằm thắm như cô gái phương Ðông, rất
hợp với tính tình chàng, nên tình yêu chân thật bắt đầu
nẩy nở.
Mùa
xuân vừa trở lại thì vạn vật liền tưng bừng sống dậy.
Cây lá nảy mầm xanh tươi. Chim kêu ríu rít và bầy ong cũng
rộn rịp đi đi về về. Linda dắt tay Ðức tung tăng trong
rừng, hai người dừng chân dưới cây phong già, bồi hồi
nhớ lại thảm cảnh mùa thu qua. Thấy thời cơ thuận lợi
cho việc ngỏ lời cầu hôn, Ðức ngọt ngào:
- Em
cưng ơi!
Linda
ngả đầu nhìn Ðức, rơm rớm nước mắt, rồi bỗng nhiên
ôm chầm lấy chàng, đặt nụ hôn trên môi. Nụ hôn thật
ngon, ngọt lịm như mật... khiến Ðức ngất ngây như lạc
vào cơn mê phiêu lãng. Rồi Ðức lơ mơ nghe tiếng nàng thổn
thức:
- Anh
Ðức ơi! em chỉ muốn ở bên anh hoài hà! Khổ nỗi em còn
trách nhiệm với giống nòi của em anh à! Em phải ra đi!
Ðức
cố gắng ú ớ lên tiếng mà không tỉnh được. Chàng chỉ
mang máng nghe âm thanh rần rộ như tiếng quân đi, rồi có
kẻ lạ lên tiếng:
- Khải
bẩm nữ vương! Ðã đến giờ hoàng đạo, xin nữ vương lên
đường.
- Mặc
ta! Ngươi lui ra!,
Linda
nghiêm nghị trả lời người lạ, đoạn hôn mái tóc chàng,
thỏ thẻ:
- Cám
ơn anh cứu dân em và cho tá túc mùa đông! Xin vĩnh biệt! Vĩnh
biệt nhe anh!...
Ðức
hốt hoảng choàng mắt dậy, bóng Linda chập chờn trước mắt
bỗng mờ dần, tan biến dần..., rồi chỉ còn hiện rõ hình
dáng của con ong, con ong đầu đàn mà chàng đã có duyên hội
ngội tại đầm sen sông Neches ngày trước. Con ong lượn một
vòng như từ giã, rồi bay vút đi, kéo theo cả bầy ong như
một đoàn xe lửa dài ngoằn ngoèo đen nghịt. Ðức vội vã
phóng chạy theo, gọi tên nàng ơi ới, nhưng đàn ong vẫn tiếp
tục bay xa, bay thật xa, rồi lần lần mất dạng.
Người
đi không hẹn ngày trở lại, nhưng Ðức vẫn tưởng ngóng
đợi chờ. Không tin cả mắt mình, Ðức vẫn hy vọng hội
ngộ với Linda bằng xương bằng thịt, chàng truy tầm thăm
hỏi tung tích của nàng khắp vùng Jamestown, nhưng không một
ai nghe nói gì đến giòng họ Queen Bee, cũng như vết tích của
bộ lạc thổ dân nào. Chàng lại sục sạo khắp nơi tìm cho
ra đàn ong cây phong cũng chẳng thấy tăm hơi.
Tháng
ngày nhung nhớ vô vọng khiến Ðức sanh chứng mượn rượu
giải sầu, rồi lái xe lang thang đây đó, chớ chẳng thiết
về nhà để phải thấy lại dấu vết của những kỷ niệm
khó quên. Một đêm, sau khi nhậu mềm môi tại Beaumont, và
mặc dầu bạn bè ngăn cản, Ðức vẫn khăng khăng lên xe lái
đi. Bước ra xe, chân cảm thấy run, nhưng Ðức tin tưởng
mình vẫn tỉnh táo. Hơn một năm nay, chàng đã bao lần nhậu
say mềm, mà có điều gì đáng tiếc xảy ra đâu. Ðêm khuya
vắng vẻ, đường sá trống trơi. Ðức lên xa lộ 10E thênh
thang một mình, đáp lút ga xăng, xe vọt như bay. Ðức mơ hồ
như có tiếng ai gọi tên mình, rồi bỗng nghe tiếng "bụp"
ở kiếng trước. Phản ứng tự nhiên khiến Ðức giảm tốc
lực, rồi nhìn kỹ thấy một con ong đang oằn oại dưới
cây cần quạt nước. Tình thương ong cố hữu thúc giục chàng
chạy chậm sát lề, đậu xe chỗ dành cho trường hợp khẩn
cấp. Chàng tắt đèn, tắt máy xe, chực mở cửa thì ngưng
lại. Chàng cảm thấy mình lẩm cẩm ngu muội quá! Con ong bề
gì cũng chết rồi, chàng dừng xe, hay làm cách nào cũng chẳng
cứu nó được. Ðang ngần ngừ, chợt Ðức thấy ánh đèn
chói chang trước mắt. Năm bảy chiếc xe từ hướng ngược
chiều phóng sát bên xe chàng. Lạ lùng quá! Ðức nhìn qua bên
kia đường, rồi bất giác run lên, sợ điếng người, tóc
tai dựng đứng. Không biết say rượu như thế nào, chàng đã
lên xa lộ bằng lối ra, rồi cứ phóng xe phom phom trên đường
ngược chiều. Nếu không nhờ vô tình thương con ong dừng
xe lại, thì chàng đã đụng xe trực diện tan xát rồi. Ðức
lặng lẽ bước ra ngoài gỡ con ong khỏi quạt nước mang vào
xe, vặn đèn nhìn kỹ mặt ân nhân. Ðức bỗng rú lên: "Trời
ơi!", rồi khóc nức nở như một đứa trẻ con. Ðó là xác
con ong đầu đàn, tức Linda Queen Bee, đó là nàng. Bằng linh
cảm nào, nàng biết Ðức đang lâm nguy để xả thân nhắc
nhở chàng dừng xe lại.
Ðức
mai táng Linda bên bờ Nam sông Neches, cạnh rừng sen, rồi rời
bỏ Jamestown như chạy trốn. Chàng về Houston tích cực tham
gia các sinh hoạt của cộng đồng người Việt để tìm quên.
Tình cờ, trong công tác giúp đỡ hướng dẫn đồng bào mới
định cư, Ðức gặp gỡ Mai, rồi hai người đi đến hôn
nhân sau một thời gian ngắn tìm hiểu. Năm kế, thì đứa
con gái đầu lòng ra đời.
Tưởng
nhớ người xưa, Ðức đặt tên con là Ong Thùy Linh. Bé Linh
là nguồn hạnh phúc ngọt ngào của cặp vợ chồng son. Hai
vợ chồng tranh nhau lo lắng, săn sóc con. Con bé bám riết theo
cha, nhõng nhẽo, vòi vĩnh đủ thứ. Và Ðức cũng cưng con
tột bực, đến nỗi Mai phải cằn nhằn là chàng cứ chiều
chuộng thói hư tật xấu của con. Cái gọi là "thói hư tật
xấu" đó, chính là cái nết không thích chơi búp bê, mặc
quần áo đẹp, lẩn quẩn trong phòng ốc ấm cúng sạch sẽ,
mà chỉ thích ra ngoài trời, lê lết trên bãi cỏ, trững giỡn
với ong bướm, ngắm cây lá, hay say đắm ngửi hương hoa.
Ðiểm
kỳ lạ là bé Linh có khả năng đặc biệt thu hút loài ong,
bé ở nơi nào thì dường như những con ong cũng mon men tìm
đến. Càng lớn, tính thích thiên nhiên của bé Linh càng tăng,
nên hàng tuần Ðức đều đưa con đi đến công viên chơi
giỡn. Ðể mừng sinh nhựt bé Linh 5 tuổi. Ðức tổ chức
chuyến du ngoạn xa tại công viên sông Neches, để vợ con có
dịp thưởng thức được hương sen xứ người. Chưa đến
công viên mà bé Linh đã mừng reo như trở về nơi quen biết,
em lăn xăn nói cười chỉ chỏ huyên thuyên ra chiều thích
thú. Ðức tìm chỗ đậu xe, bé Linh không chịu ở đó, mà
nằng nặc chỉ về hướng bờ sông bên kia. Thế là Ðức
thuê thuyền máy phóng thẳng đến rừng sen. Cảnh xưa không
mấy đổi thay. Sen bành trướng rộng hơn, chen chút hơn, nhưng
lại đượm vẻ tàn tạ tiêu điều bởi thời tiết thất
thường. Bé Linh mừng rỡ reo vang. Em vốc nước thả trên
chiếc lá xanh trơn trợt, mân mê đài sen, tâng tiu từng bóp
cỏn con. Hết ngắm đóa hoa nầy, em lại đòi cha bồng đi
ngắm hoa khác, không biết chán. Mai vốn không thích hợp với
thú sinh hoạt ngoài trời, nhưng cảnh đầm sen có cái gì gợi
đến đất nước thân yêu, khiến nàng vừa náo nức, vừa
bồi hồi nhung nhớ. Nàng thỏ thẻ: "Mình chịu khó hái gương
thật nhiều đem về chia cho bạn bè món quà quê hương lấy
thảo! anh nhé!".
Thình
lình có tiếng hét to: "Ê! tụi da vàng! lên đây!".
Ðức
giựt mình, nhìn lên bờ thấy một tên cao lớn, mặt trét
sơn màu vằn vện, ăn mặc theo lối lính tác chiến rừng rậm,
võ trang bằng dao găm và súng ngắn. Hắn chỉa súng ra lệnh
vợ chồng Ðức lên bờ, và họ đành ríu ríu tuân theo. Tên
côn đồ có nét quen quen, nghĩ mãi, Ðức mới giựt mình nhận
diện hắn chính là thằng Gustavo ngổ ngáo con người chủ
nhà ngày trước. Nhớ đến tính tình hung hản, ác độc của
y mà Ðức rùng mình. Hắn bắt Ðức nằm xấp xuống đất,
hai tay úp lên gáy. Hắn trói Mai vào thân cây, đoạn trói thúc
ké chân và tay chàng siết lại với nhau thật đau đớn, đá
cho nằm nghiêng một bên. Sau đó, hắn mới thung dung lục lọi
lấy hết tiền bạc, nữ trang và cả thẻ tín dụng nữa.
Bấy giờ, tên côn đồ trừng mắt đảo một vòng nhìn các
nạn nhân, như sắp ăn tươi nuốt sống họ. Vờn mồi xong,
hắn mới lạnh lùng lấy dao găm chậm rãi rạch lưng Ðức
từng nhát một. Lưỡi dao bén ngót, rờn rợn, đau rát thấu
xương, mà trong thế bị trói thúc ké không nhúc nhích được,
Ðức chỉ còn có cách kêu gào thảm thiết. Hắn cười hăng
hắc khoái chí, lấy cát tấp vào vết thương cho Ðức oằn
oại đau đớn hơn nữa. Sau đó, hắn từ từ xây qua Mai, xé
toạt áo nàng, liếc dao dọa nạt. Hắn cười hô hố thưởng
thức nỗi khiếp đảm của nạn nhân, rồi mới thong thả
rạch vài lằn dao trên ngực nàng. Mai dãy dục, rên rĩ, kêu
la... thì y càng hả hê khoái trá. Hắn lại chụp bé Linh. Ðức
năn nỉ xin hắn hành hạ mình và tha con, nhưng lời van nài
dường như chỉ khiến thú tính hắn thêm sôi sục mà thôi.
Hắn hùng hổ dở hỏng bé Linh, cầm dao như định xiên ngang
họng, khiến con bé kinh hoàng hoát miệng la, mà như bị nghẹn
ngào chẳng chút âm vang. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó, bỗng
nhiên, một bầy ong độc đen nghịt từ đâu bay đến. Bầy
ong bất ngờ bu kín gã hung đồ, hắn kêu thét như heo bị
thọc huyết, nổ súng vang trời, chạy thục mạng, rồi phóng
nhào xuống nước chìm lĩm.
Trong
khoảnh khắc đàn ong quay lại, Ðức lo ngại chúng sẽ tấn
công gia đình mình, ngờ đâu bầy ong vần vũ quanh bé Linh,
bay theo một đường lối nhịp nhàng như vụ điệu chào mừng.
Bé Linh cũng vậy, em như trong trạng thái xuất thần, xoay quanh
múa may nhún nhẫy với chúng.
Sau
khi đàn ong kéo nhau đí, bé Linh trở lại tình trạng bình
thường. Ðức liền chỉ dẫn con lượm dao găm của tên côn
đồ rớt lại, cắt dây trói, rồi tức tốc đưa gia đình
trở về công viên, báo cho cảnh sát nội vụ. Cả nhà được
chuyển khẩn cấp đến bệnh viện để săn sóc những vết
thương tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng cũng đau
đớn vô ngần.
Ba
ngày sau cảnh sát đến báo tin đã tìm thấy tử thi dày đặc
vết ong đốt của tên côn đồ nổi lềnh bềnh trên sông.
Họ tỏ vẻ vô cùng ngạc nhiên vì không hiểu nỗi nguyên
nhân nào đã khiến loài ong lại chọn đúng gã côn đồ để
chỉ tấn công tên nầy mà thôi.
Có
lẽ họ sẽ ngạc nhiên hơn nữa, nếu họ chứng kiến được
điệu múa loài ong cũng như tiếng hét tắt nghẹn của bé
Linh. Tiếng hét ấy, Ðức tin tưởng như là một thứ siêu
âm tương ưng với loài ong, mà bé Linh, trong cơn khủng khiếp
tiềm thức đã tự động tìm về với tiền nhân ong chúa,
để đột ngột phát ra hầu kêu gọi đồng loại đến cứu
nguy kịp thời!!!
Tháng
12. 1990
Ghi
chú:
*
Theo Thượng Tọa Trí Quang trong phần tiểu dẫn bộ Lương
Hoàng Sám thì Lương Võ Ðế khi hạ chiếu thỉnh cầu soạn
sám đã ghi rõ mục đích là vì dân vì nước, chớ không có
khoảng nào nhắc đến bà Hy Thị cả. Do đó, truyền thuyết
rằng hoàng hậu là nguyên nhân của việc soạn sám, cũng như
những chuyện huyền hoặc về tiền nhân, hậu kiếp của bà
có lẽ chỉ là chuyện tưởng tượng của người đời sau
mà thôi.
*
* Truyện ngắn "Ðiệu múa loài ong" hiển nhiên là
chuyện liêu trai huyền hoặc, tuy nhiên chuyện hoang đường
đó đã được gợi ý từ một chuyện có vẻ thật đăng
trên báo Weekly News, tóm lược như sau:
Gia
đình của anh Jose Villareal, gồm vợ Maria và 2 con: bốn và
tám tuổi đang vui hưởng picnic cạnh bờ sông Menaro, gần Portobelo,
Panama thì có tên côn đồ tên Gustavo Trelles, võ trang súng lục
và dao găm, uy hiếp họ. Tên côn đồ cột đàn bà và trẻ
con vào thân cây, trói thúc ké người chồng, vơ vét tiền
bạc, nữ trang, rồi hành hạ hai vợ chồng bằng cách dùng
dao rạch nát thân thể họ. Khi y vừa định hành hạ đến
2 đứa trẻ con, thì bỗng có bầy ong độc bay đến đốt
y cho đến chết. Bầy ong vẫn tiếp tục vần vũ ở đó hằng
nửa giờ mới bay đi, nhưng không hề đụng chạm chi đến
gia đình nạn nhân.