Con Ðường
Vô Tận
Kinh
dâng cụ cố Đinh thị Xuyến và hai con là
cụ
bà Nguyễn thị Quỳnh & Nguyễn thị Sáu
Chiếc
tàu đò Cao Lãnh Sa Đéc Đại Tân hụ mấy đợt còi thúc giục
hành khánh inh ỏi, nhưng vẫn im lìm nằm vạ tại bến tàu,
không có vẻ gì sắp di chuyển cả. Hành khánh đã quen thuộc
với sinh hoạt nầy nên một số đông vẫn tà tà trên bến
thoải mái chuyện trò. Sinh hoạt trên tàu rộn rịp như cảnh
chợ đông. Hàng hóa từng bao chỉ xanh tới tấp khuân lên
tàu, chất tràn cả lối đi. Hành khách lên xuống, tới lui,
ơi ới chỉ điểm nhau chọn một chỗ tốt cho cuộc hành trình.
Mấy em bé bán hàng rong len lỏi khắp nơi tha thiết rao hàng
mời mọc : “Nước mía! Nước chanh đá đây!”, “Thử tô
bánh canh giò heo, chị!”, “Cậu ăn dĩa cơm tấm bì cho chắc
bụng! Còn kịp giờ chán mà!...”
Không
lạ gì cảnh nầy, Đinh hữu Thuật(1) đứng dựa vào
boong tàu lơ đãng nhìn cụm mây trắng xa xôi, cố che dấu
niềm riêng đang ngổn ngang trong dạ. Chàng vô tình đưa mắt
nhìn về hai đứa bé, đang đứng co ro một góc tàu, dáo dác
nhìn lên bờ sục tìm cha mẹ. Chúng đã được cha mẹ dẫn
đến bắt ngồi chờ để “xí phần” trước chỗ ngồi,
rồi họ lại quày quã trở lên bờ giải quyết chuyện gì
khá lâu mà sao vẫn còn biệt dạng. Tàu lại hụ lên ba còi
liên tục, lần nầy tiếng còi có mòi dồn dập quyết liệt;
thế rồi, giây thừng cột tàu được tháo ra, và tàu từ
từ xê dịch. Đám hành khách đang tụm năm tụm ba quyến luyến
níu kéo nhau trên bến mới vội vã trổ tài khinh công ào ào
phóng xuống tàu. Tới giây phút nầy vẫn chưa thấy cha mẹ
xuất hiện, hai đứa bé lo sợ cuống cuồng, đứabé gái mếu
cái miệng “méo xẹo” trông dễ thương vô cùng. Thuật chợt
liên tưởng đến câu hát ru em :
“Tàu
súp lê một, còn trông còn đợi!
“Tàu
súp lê hai! Còn đợi còn chờ!
“Tàu
súp lê ba! Tàu ra biển Bắc!
“Tay
vịn song sắt mà nước mắt chảy hai hàng…”
Chàng
tủm tỉm cười, thầm nghĩ : “Thì cũng có ba tiếng “súp
lê”, tàu ra hướng Bắc và có hai hàng nước mắt, dù là
nước mắt của trẻ con lạc mẹ”. Nước mắt nào chẳng
làm cho người ta mềm lòng, Thuật chen vội đến bên em bé
ngọt ngào dỗ :
- Không
sao đâu cháu! Ba má cháu không bị trễ tàu đâu! Cháu đừng
lo!
Được
an ủi, con bé chẳng những không nín, mà lại còn ngoác mồm
khóc thét lên, khiến Thuật bối rối chẳng biết phải làm
thế nào cho ổn. May mắn là chiếc tàu đang đủng đỉnh xoay
đầu, chưa cách bến bao xa, thì đã nghe tiếng kêu ơi ới,
rồi có chiếc xuồng con chèo thật nhanh đưa ra thêm mấy hành
khách chậm chạp nữa, trong số nầy có cả cha mẹ hai đứa
nhỏ. Con bé đang bù lu bù la khóc, vừa thấy mẹ mừng rú
lên. Em lại được dúi cho chiếc bánh cam, nên tuy nước mắt
chưa khô, mà đã hí hửng cười tươi rồi. Đôi vợ chồng
lúng túng ngỏ lời cám ơn Thuật đã trông nom dùm hai đứa
trẻ. Người đàn ông lịch thiệp tự giới thiệu tên là
Lê văn Cư hành nghề gõ đầu trẻ. Vợ chồng thầy phải
gắp rút lên đường về quê nhà tại Bến Tre, vì thân phụ
thầy đang lâm bệnh trầm trọng. Thuật cũng tự giới thiệu
danh tánh và với giọng nửa đùa nửa thật, chàng cho biết
từ ngày bỏ học về nhà “ăn bám” cha mẹ, suốt ngày chàng
chỉ biết “rông chơi lêu lỏng” với bè bạn mà thôi. Tuy
Thuật dè dặt tránh tiết lộ thân thế và tư tưởng
thầm kín của mình và đẩy đưa câu chuyện xoay quanh toàn
những đề tài vô thưởng vô phạt, vậy mà, chỉ trong khoảng
một thời gian ngắn hai kẻ xa lạ đã đối đáp dòn tan. Bên
cạnh đó, thím giáo vừa quạt vừa dịu dàng cất tiếng ru
con ngủ. Tiếng ru gợi cảm của thím nhỏ, nhưng trong sáng
rõ ràng, từng âm thanh ngọt ngào như rót vào tai mọi người
:
“Mười
giờ Oâng Chánh về Tây!
“Cô
Ba ở lại lấy thầy thông ngôn
“Thông
ngôn, ký lục, bạc chục không màn
“Lấy
chồng thợ bạc, đeo vàng đỏ tay!…”
Vần
thơ trên tuy chỉ mô tả một câu chuyện tình thời sự bình
thường, nhưng chủ ý có lẽ nhằm cười cợt đức hạnh
tồi tệ của đám người Việt chạy theo thực dân Pháp, vì
vậy, chỉ trong một thời gian ngắn sau khi xuất hiện, nó
đã biến thành câu ca dao phổ biến trong dân gian.
Lời
ru vô tình gợi cho hai người đàn ông một đề tài mới để
bàn bạc. Thầy giáo Cư phê bình :
- Bọn
“me Tây, bồi Tây” dễ ghét làm sao á!
Thuật
thở dài đáp :
- Cái
bọn “bồi Tây, me Tây” bại hoại nầy thì đâu còn gì
để phê bình nữa. Chúng hãm hại đất nước, ức hiếp dân
lành còn hơn kẻ ngoại bang nữa kìa!
Chẳng
biết có lưu tâm đến mẩu đối thoại của hai người đàn
ông không, mà bỗng nhiên lời ru của thím giáo lại trở nên
ngậm mgùi u oán :
“
à..ơ..!
Non
nước u sầu hệ bởi đâu?
Dàu
dàu mây bạc cõi Ngao Châu!...”
và
Thà
đui mà giữ đạo nhà…
Hơn
là có mắt ông cha không thờ!...”
Thấy
vẻ ngẩn ngơ của Thuật, thầy giáo giải thích :
Đây
là những câu thơ của cụ đồ Nguyễn đình Chiểu! Dân Bến
Tre chúng tôi, ai mà chẳng thuộc nằm lòng những vần thơ
yêu nước thương nòi của cụ!
Thím
giáo lại tiếp tục ru con :
“
à… ơ…”
“Chừng
nào con xán bung vành!
“Tàu
binh liệt máy, thì anh mới về!”(2)
- Câu
hát trữ tình nầy rất phổ biến tại Cao Lãnh, xuất xứ
như thế nào tôi chưa hiểu ra, nhưng tôi thấy có gì trật
trật hay là lạ sao đó! Anh nghĩ coi chiếc tàu, chiếc xán
là sản phẩm ngoại lai, đâu có gần gũi thơ mộng với dân
quê như chiếc xuồng, chiếc ghe, vậy mà không hiểu tại sao
tác giả lại mượn hình ảnh nầy để gởi gắm tình cảm
của mình?, thầy giáo Cư lại lên tiếng.
Thuật
góp ý :
- Câu
ca dao nầy có lẽ phát khởi từ nhóm nghĩa quân Thiên Hộ
Vương ngày trước. Thuở đó, bọn Pháp xâm lăng miền Tây
đã dựa vào những chiếc tàu tối tân chở binh sĩ đi khắp
nơi tấn công nghĩa quân yêu nước. Địa phương nào không
có đường sông thuận tiện, như vùng Đồng Tháp Mười, chúng
phải đào kinh ngang dọc làm đường vận chuyển quân. Thời
đó, chiếc xán như con quái vật khủng lồ lạnh lùng nuốt
trửng ruộng đồng, nhà cửa dân lành. Nó cũng khủng khiếp
như đoàn quân viễn chinh độc ác giết người cướp của,
cưởng hiếp phụ nữ kể cả người già và trẻ con. Chính
vì vậy mà nghĩa quân năm xưa đã xử dụng hình ảnh phá
hủy tàu binh và xán đào kinh để nói lên chí nguyện đuổi
quân xâm lăng của mình. Chừng nào hết kẻ xâm lăng thì người
nghĩa quân mới có quyền nghĩ đến tình riêng.
- Oâi!
Câu hát mộc mạc vụng về mà chan chứa tình nước tình nhà
cao ngất! Hào khí của người xưa quả đáng cho chúng ta khâm
phục!
Nhờ
mấy câu hát ru con yêu nước, Thuật hiểu rõ lòng dạ của
vợ chồng thầy Cư, chàng tin tưởng ngay người bạn mới
và thố lộ hết những bí mật của đời chàng. Thuật đã
dấn thân đời mình cho sự nghiệp cách mạng dành độc lập,
nhóm chiến hữu của chàng đã lập ra tổ chức “Đông Kinh
Nghĩa Thục miền Nam”, với hoài bảo vận động đưa những
thanh niên nhiệt quyết sang Trung Hoa và Nhật học hỏi, chờ
ngày thành tài về nước thành lập lực lượng võ trang đánh
đuổi bọn xâm lăng. Lúc bấy giờ, một trận thế chiến
đã có nguy cơ bùng nổ bên trời âu, chánh quyền Pháp tăng
cường kiểm soát an ninh, tung mật thám khắp nơi mưu đồ
phá vở các đoàn thể cách mạng, do đó, con đường vượt
biên xuyên qua vùng thượng du Bắc Việt trở nên nguy hiểm,
nhất là đối với người miền Nam không hiểu rõ sinh hoạt
miền Thượng du, và có giọng nói khác biệt. Thuật có vốn
liếng Hán học, lại có thể đàm thoại sơ sài tiếng Quảng
Đông, nên được anh em ủy thác tìm con đường vượt biên
mới qua ngả Miên Lào. Do đó, hôm nay chàng về xã Mỹ Xương
thăm nhà lần cuối cùng trước khi lên đường… Thế rồi,
Thuật bỗng bùi ngùi run giọng : “Ngày mai, nếu “nhà tôi”
hỏi tôi chừng nào trở lại, chẳng biết tôi có đủ can
đảm nhắc lại câu hát của người xưa : “Chừng nào con
xán bung vành. Tàu binh liệt máy thì anh mới về..” hay không?”
Tàu
dừng bến xã nhà, Thuật bận bịu từ giã bạn mới nên vẫn
còn chần chờ trên tàu. Bỗng Thuật nhìn lên bờ, chàng tái
mặt khi thấy cai tổng Ninh, tên tai sai đắc lực của thực
dân Pháp, đang chỉ chỏ ba hoa với mấy tên “phèn”(3) mật
thám Sa Đéc. Bọn họ chăm chú nhìn kỹ từng người xuống
tàu như đang lục tìm ai.
Thầy
giáo Cư tinh ý lên tiếng :
- Có
gì lạ phải không anh?
- Nguy
hiểm quá! Bọn phèn Sa Đéc đang bủa lưới chận bắt người!
Có lẽ hành tung của tôi đã bị lộ, nên bọn chúng mới
rình rập tôi ở chốn nầy!
Sau
mấy giây phút bối rối, thầy giáo Cư bình tĩnh bảo Thuật
nằm cạnh thím giáo, ôm đứa cháu trai trong lòng giả vờ
ngủ, rồi thầy giáo ra đứng bên hông tàu, thơ thẩn nhìn
mây bay như người vô sự. Thím giáo hội ý chồng, lấy nón
lá che mặt cho Thuật, phe phẩy quạt, đu đưa chiếc võng,
rồi liên tục cất tiếng ru con ngọt ngào… Bọn mật thám
lên tàu lục soát, không chú ý đến cảnh gia đình đầm ấm
nầy, nên Thuật thoát nạn.
Thuật
tránh liên lạc với bạn hữu vì sợ bị theo dõi mà gây nguy
hại đến tổ chức. Ngày hôm sau, Thuật đón xe đò đi Châu
Đốc, và nhờ mang sẵn giấy căn cước “thuộc dân”, chàng
vượt biên giới hợp pháp đến Nam Vang, ghé Battambang thông
báo cho đồng chí cơ sở tại đó, đoạn lên Luang Prabang Ai
Lao, tạm ẩn thân tại đồn điền An Phong của vợ chồng
cô em thứ năm nhủ danh Đinh thị Xuyến. Chủ nhân thường
xuyên sinh sống tại quê nhà, giao cơ sở cho người chú họ
tên tư Hanh toàn quyền điều khiển. Viên quản lý đang sống
phong lưu với năm bảy nàng hầu, cảm tưởng bất thần bị
anh bà chủ thanh sát, nên phục vụ Thuật vô cùng chu đáo,
từ việc ăn ở cho đến việc di chuyển khắp nước Lào.
Nhờ vậy, chỉ mấy tháng sau, Thuật đã tìm đuợc người
địa phương thông thạo dẫn đường vượt biên giới đến
Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Rủi ro bất ngờ, là chiến
hữu Triệu thúc Ba, phụ trách cơ sở cho tổ chức tại địa
phương nầy bị bạo bệnh qua đời ba ngày trước khi Thuật
có cơ hội gặp mặt. Mất đường giây liên lạc, Thuật bơ
vơ xứ lạ quê người chẳng biết xoay xở ra sao. Tình cảnh
của những người Việt làm cách mạng tạm trú tại miền
Nam Trung Hoa lúc bấy giờ rất khó khăn. Tướng Đường kế
Nghiêu, đô đốc Vân Nam, chủ trương hợp tác với chánh quyền
Pháp tại Đông Dương, vừa ra lệnh lực lượng an ninh lùng
bắt tất cả Việt kiều lưu vong sống bất hợp pháp để
giao nạp cho Hà Nội. Tiếp tục chuyến đi trong thời điểm
nầy rất nguy hiểm, mà trở về Ai Lao bằng con đường cũ
cũng là chuyện nan giải, vì các trục giao thông chính yếu
đều bị nút chặn an ninh kiểm soát chặt chẽ. Do đó, Thuật
băng rừng lội suối hoặc chọn những con lộ hoang vắng kiểm
soát lỏng lẻo mà đi. Vì không có lộ trình nhất định,
vô tình Thuật lạc sang địa phận huyện Tân Châu, phủ Đại
Lý. Thuật lại nảy ý vượt biên giới theo ngả Tân Châu
sang Miến Điện, rồi từ đó trở về Lào. Lộ trình nầy
tuy quanh co khúc khuỷu nhưng rất an toàn. Chỉ mấy ngày xông
bờ lướt bụi, ăn uống thất thường, chàng bệ rạc thất
thểu như một kẻ ăn mày. “Lộng giả thành chân”, Thuật
cũng mon men theo những tên hành khất chánh hiệu, lỳ mặt
kiếm chút cơm thừa, tuy bị xô đuổi vẫn đỡ nguy hiểm
hơn vào tiệm ăn uống, nói năng không thành thuộc dễ bị
lộ chân tướng. Trên con đường đất đá Ngõa thôn thuộc
địa phận huyện Tân Châu, Thuật lõm bõm nghe một khách thương
kể hành trạng của một vị sư già khổ hạnh, câm và điếc,
không danh tính nhưng được dân địa phương tôn kính gọi
là “Lung Á đầu đà”(4). Vị sư già nầy từ phương xa
lưu lạc đến đây lâu lắm rồi, ngày ngày cứ vác cuốc,
vác búa… đi đập đá, sửa đường, đắp lộ. Con đường
nầy thuở trước gập ghềnh, đi lại cực kỳ khó khăn, nhờ
sư khổ công bồi đắp mà việc đi lại mới dễ dàng. Tuy
nhiên, đoạn đường thì dài mà chỉ một mình sư âm thầm
sửa chữa, nên chi, chỗ nầy vừa bằng phẳng thì chỗ khác
lồi lõm hư hoại; sư phải dời chỗ tạm trú liên tục, từ
khúc lộ nầy đến khúc lộ kia, bền bĩ làm việc không ngừng
năm nầy sang năm khác, mà con đường dường như dài vô tận,
chẳng có triển vọng chấm dứt công tác. Làm lụng cực khổ
tối ngày, vậy mà nhà sư câm điếc luôn luôn tươi mát, gặp
bất cứ người nào, dù đứa trẻ con, sư đều chấp tay trang
trọng vái chào kèm theo một nụ cười hiền hậu. Cảm ân
đức của sư, khách bộ hành có người xin cúng dường sư
trọng hậu, nhưng sư chỉ nhận chút ít thực phẩm hộ thân
mà thôi. Ai kính mến sư, phát tâm theo sư đắp lộ sửa đường
đôi ngày, sư cũng hoan hỷ. Động tính hiếu kỳ Thuật ước
mong gặp được nhân vật lạ lùng nầy. Thật ra, ngoài chuyện
hiếu kỳ, Thuật còn có hậu ý riêng. Chàng nghĩ khi gặp lão
tu sĩ nầy, nếu nhận xét ông ta không nguy hiểm, thì chàng
có thể “giả dạng” làm một Phật tử thuần thành phát
tâm theo sư làm công quả cũng được. Đâu ai để ý gì đến
thằng sửa đường đắp lộ, chàng cứ nương náu với sư
một thời gian, chờ tình hình lắng dịu rồi tính. Giải pháp
nầy chắc chắn sẽ đỡ nguy hiểm và khổ cực hơn cảnh
chàng phải trốn chui trốn nhủi, đói rách và đi lang thang
vô định như mấy ngày qua. Vã chăng, gần gũi với người
câm điếc là chuyện lý tưởng, Thuật sẽ không bị tra hỏi
gốc tích, và khỏi phải ấm ớ nói năng ngọng ngịu mà lộ
chân tướng người Việt của mình. Điểm rắc rối là Thuật
chẳng biết nhà sư câm điếc đang “hành nghề” ở khúc
lộ nào để đi tìm, chàng muốn dọ hỏi nhưng làm sao dám
lên tiếng, còn kẻ bàng quan kháo chuyện với nhau cho vui, chớ
đâu chỉ bày cặn kẽ ngọn ngành. Thuật đành phó thác cho
số mạng, cứ âm thầm lầm lủi đi tới trước. Mãi đến
khi trời đã về chiều, chàng mới thấy xa xa dáng một người
đang lui cui đắp đất vá một lỗ hỏng giữa lộ. Đó là
một lão già chừng sáu mươi tuổi, mặc chiếc áo bạc màu
rách nát, bê bết đất, nếu không nhờ cái đầu cạo trọc
thì khó biết đó là một tu sĩ. Đoan chắc đã tìm đúng người,
Thuật tới gần, giở nón chào. Vị sư già khoan thai từ tốn
chấp tay xá đáp lễ và trao cho chàng nụ cười hoan hỷ cảm
thông. Thuật lặng người rung động ràn rụa nước mắt.
Chàng lâm vào một hoàn cảnh bi đát, thấy ai cũng hốt hoảng
nghi ngại, lòng dạ rối như tơ vò vì chẳng biết nên làm
gì, đi đâu, thăm hỏi ai? Vậy mà, vừa đón nhận nụ cười
của sư, chàng liền cảm thấy an lành thư thái, giống như
tâm trạng của một chú gà con bị diều hâu săn đuổi, bỗng
tìm thấy được mẹ hiền đang dang rộng đôi cánh thương
yêu che chở. Sư vỗ nhẹ vai chàng ngầm bảo chàng yên tâm,
đoạn sư tiếp tục công việc dang dở. Nhờ biết rõ sư bị
bệnh câm và điếc nên Thuật không thắc mắc hỏi han câu
nào, chàng trầm ngâm quan sát lối làm việc của sư, và chờ
đợi khi sư hoàn tất việc đắp vá con lộ, quảy cuốc, xách
giỏ đi, thì Thuật cũng lẵng lặng theo sau chẳng chút ngần
ngại. Mãi đến khi trời sụp tối, lặn lội cả hai dậm
đường dài, ông lão mới đưa chàng đến nơi tạm trú, một
cái chòi nhỏ xíu nằm ven lộ. Sư lúi húi thổi lửa, luộc
khoai, rồi giơ tay ra hiệu mời Thuật ăn. Thuật đang đói
bụng, ăn liên tục hai củ mới chợt nhớ đến sư. Chàng
lúng túng chắp tay mời sư. Sư lắc đầu, chỉ hướng mặt
trời lặn. Suy nghĩ một lúc lâu, Thuật mới hiểu ý sư. Tuy
làm việc nặng nhọc, nhưng sư vẫn giữ giới không ăn sau
giờ ngọ. Thuật chẳng màu mè, khoan khoái vét sạch phần
còn lại. Sư ngắm nhìn chàng ăn, hỷ hả như bà mẹ hiền
đang chăm sóc đứa con “cưng”, vui với niềm vui của con.
Aên xong, Thuật cũng muốn dọn dẹp nhưng đang đứng xớ rớ
thì sư bảo chàng vào ổ rơm nằm ngủ. Thuật đã mệt đứ
đừ, mắt ríu lại mở không lên, nên cứ lăn càn ra đó,
ngáy vang như sấm. Sáng sớm hôm sau, vừa thức dậy chàng
đã thấy sư lo lắng đâu vào đó sẵn cả rồi. Thế rồi,
hai người ăn cơm, xới phần còn lại cho bữa trưa, rồi quảy
gánh lên đường. Sau đó, cả hai cùng ra tay xúc đất đá
đắp đường, trọn ngày không ai nói với ai một lời, nhưng
mối liên hệ ngày càng mật thiết. Điểm lạ lùng là tuy
tuổi đã cao, phải lao động nặng nề, mà thái độ sư lúc
nào cũng ung dung thong thả… trong khi Thuật phải vất vả,
vận dụng toàn lực, mệt thở hổn hển mà vẫn chưa theo
kịp. Do đó, buổi chiều khi Thuật lê lết về tới lều,
thì sức đã kiệt, đầu óc lờ đờ, chỉ đủ sức “nhét”
tí thức ăn vào bao tử, là lăn ra nằm ngủ, chẳng quan tâm
bất cứ chuyện gì, kể cả nỗi gian truân cơ cực hiện thời.
Mấy tuần sau, khi thể xác đỡ bầm dập, đầu óc minh mẫn
thì Thuật dần dần khám phá được niềm thú vị trong nếp
sống “phu lục lộ” lao khổ nầy, nên cũng đỡ lo lắng
cho thân phận hẩm hiu của mình.
Thuở
nhỏ, Thuật đã được mẹ đưa đến chùa Bữu Lâm, Cái Bèo,
quy y với hòa thượng Hải Huệ. Thỉnh thoảng chàng vẫn đến
chùa, nhưng tánh chàng hiếu động nên chỉ lễ Phật, chào
thầy rồi “chuồn” mất, chàng rất ngại khi phải tiếp
xúc với giới tu sĩ trầm lặng. Lần nầy, Thuật bị đặt
vào cái thế phải chung sống toàn thời gian với một tu sĩ
vừa già, lại vừa câm và điếc nữa…, nên ngoài nỗi khổ
vì lao động cực nhọc, chàng còn cảm thấy tù túng và chán
nãn tột cùng.Thế nhưng, sau thời gian đầu bực bội khó
chịu, Thuật lần lần lắng lòng, trầm ngâm, lặng lẽ quan
sát và cuối cùng khám phá được rằng sau khi loại bỏ được
mớ âm thanh ồn ào, lột bỏ được cái lễ nghi hình thức
giả dối bên ngoài thì người ta mới sống thực với chính
mình, mới cảm thông được với vạn vật mọi loài một
cách thiêng liêng và sâu sắc. Nhận thức trên là một chuỗi
dài chuyển biến nội tâm, nhưng thật ra có lẽ đã bắt nguồn
từ những hành động “lẩm cẩm vô tích sự” của sư.
Đang đi, bỗng nhiên sư dừng lại, cẩn thận dùng chiếc lá
nâng con sâu, con bọ… hay bứng một bụi cỏ dại ra khỏi
mặt đường. Sư làm việc đó chân thành như một lễ nghi
tôn giáo nên mất rất nhiều thời giờ, khiến cho kẻ chờ
đợi bực bội không ít. Sư cũng từng bỏ cả ngày để săn
sóc cho một con mèo hoang bị trọng thương đang thoi thóp chờ
chết, rồi hì hục đào mộ chôn nó, chu đáo như lo lắng
cho một thân nhân. Sư cũng có thể sớt phần cơm cho con chó
đói hay bớt phần nước uống, rưới cho bụi cỏ dại khô
cằn. Điểm đặc biệt là bụi cỏ dại may mắn đó hôm sau
trổ được một đóa hoa tí hon xinh xắn, khoe khoan màu sắc,
mũm mĩm đón chào sư. Sư ân cần cuối xuống vuốt ve,
trang trọng chiêm ngưỡng rồi gật gù tán thưởng. Đóa hoa
chợt rung động, đong đưa theo gió nhảy nhót vui mừng. Chuyện
khó tin, nhưng đối với Thuật, đó là sự thật : Họ - sư
và bụi cỏ – đang trầm lặng đối thoại hào hứng với
nhau. Thuật khám phá rằng trong con người chân chất của sư
tiềm tàng một khả năng siêu việt có thể cảm ứng với
muôn loài, tình thương bao la của sư chan hòa cả cỏ cây cát
đá, nên bụi cỏ cũng quyến luyến thân thuộc với sư. Cảm
nhận được điều đó, Thuật không còn xem nhẹ những chuyện
“lẩm cẩm” của sư nữa. Chàng yên lặng quan sát thật
kỹ, tìm hiểu thật sâu, để rút tỉa những bài thuyết pháp
không lời tỏa ra từ hành vi của sư. Làm việc hay nghỉ ngơi,
cuốc đất hay ngắm trăng, lúc nào sư cũng an lạc, sư tận
hưởng sự sống trong từng giây phút hiện tiền không để
rơi rớt phí phạm. Sư thong thả đi đứng, thở, cuốc đất,
đập đá, rải đất đá đắp đường... rất bình thường,
nhưng trong mỗi cử chỉ đều biểu lộ cho một hành động
tràn đầy ý thức, và vì vậy, nên rất sống động và tự
tại.
Gần
gũi với bậc thanh thoát, Thuật cũng hưởng lây được niềm
hạnh phúc. Càng nếm được hương vị đó, Thuật càng tha
thiết mong tham học Phật Pháp với sư, nhưng ước mơ nầy
khó thực hiện đối với vị thầy câm điếc. Thuật đành
quan sát sư, tự tìm hiểu và tự vạch cho mình một phương
pháp tu và sống lành mạnh. Bước đầu, Thuật tập theo dõi
từng hành động, từng suy tư của mình. Chàng chiêm nghiệm
được rằng khi dần dần tự kiểm soát được thân tâm,
mình mới có thể “tự làm chủ” lấy mình, không còn bị
giặc tham sân si hoành hành khuấy phá nữa, vì vậy bản thân
sẽ thư thái nhẹ nhàng hơn. Từ đó, dầu phải làm việc
nặng nhọc, Thuật vẫn cảm thấy an vui như khi ngắm nhìn
trời mây hay thưởng thức cỏ nội hoa ngàn. Giờ đây, chàng
ý thức rất rõ, là thời gian làm việc chính là thời gian
thụ hưởng giây phút hiện tại nhiệm mầu, nhờ vậy, chàng
không nóng nảy mong làm cho chóng xong, để rồi rơi vào trạng
thái bồn chồn, sầu lo, thương ghét, giận hờn…
Lụi
hụi mà Thuật đã nương náu với nhà sư câm điếc tròn mười
tháng. Thuật vui vẻ theo sư di chuyển dài dài trên con đường
đất đá gần trăm dặm để sửa chữa, chẳng chút bận tâm
đến thân phận trốn tránh bi đát của mình. Một hôm có
đoàn khách thương dừng bước ngay chỗ chàng sửa đường,
họ cúng dường cho sư chút thực phẩm, rồi có lẽ thấy
không cần dè dặt với thầy trò kẻ mang bệnh câm điếc,
họ bô bô bàn bạc những tin tức chánh trị nóng hổi đương
thời. Các vị tướng lãnh quân đội tỉnh Vân Nam chia thành
hai phe kình chống nhau để tranh đoạt chức đô đốc. Hai
bên đã dàn quân đối đầu nhau, giao tranh lớn chắc chắn
sẽ xảy ra. Phe của tướng Cổ phẩm Trân có phần hùng hậu
hơn phe của tướng Đường kế Nghiêu, vị đô đốc đương
thời. Giới lãnh đạo kình chống nhau không ai bận tâm điều
hành guồng máy hành chánh kinh tế trong tỉnh. Các viên chức
nhỏ bất động không dám giải quyết điều gì vì sợ trách
nhiệm, thành thử luật lệ nội an lỏng lẻo, giới kinh doanh
mặc sức làm ăn phi pháp để làm giàu nhanh chóng.
“Trong
tình trạng nầy, có lẽ, lệnh ruồng bắt những người Việt
lưu vong không còn hiệu lực nữa. Mình có thể tái hoạt động
rồi đây!”, Thuật thầm nghĩ rồi bồn chồn chẳng yên.
Bấy lâu, sống êm đềm với nhà sư câm điếc, Thuật tưởng
mình đã quên lãng “trần gian khổ lụy”, nào ngờ vừa
nghe tin nầy, thì hào khí người trai trổi dậy, chàng hăm
hở mong sớm lên đường để tiếp tục sự nghiệp cách mạng
của mình. Thế nhưng nghĩ đến việc xa rời vị thầy tôn
kính, Thuật cảm thấy bùi ngùi chẳng yên.
Sau
một đêm trằn trọc, chờ đến sáng khi đến lúc sắp lên
đường, Thuật lạy thầy từ tạ, rồi cảm động rưng rưng
nước mắt lên tiếng :
- Con
phải lên đường thầy ạ! Con muốn sống mãi nơi nầy với
thầy, nhưng con không thể bỏ rơi quê hương và phụ lòng
tin tưởng của bè bạn con được! – chàng nói tiếng Việt,
vì nghĩ thầy điếc thì nói tiếng nào cũng vậy thôi, thầy
đoán mò được điều gì cũng tốt –
- Ơ,
đương nhiên thì con phải ra đi! Nhưng nếu con nán lại thêm
một thời gian ngắn nữa thì tốt lắm!
Thuật
sửng sốt, nhớn nhác nhìn sư. Chàng lắc đầu không tin tưởng
lỗ tai mình. Chàng thầm nghĩ : “Lạ quá!sư? sư câm mà sao
bỗng nhiên sư nói được, mà nói tiếng Việt mới dị kỳ
chớ?, sư là người cõi trần hay từ cõi nào mà có thể hiển
lộ thần thông như vậy???”
- Con
à! Thầy không câm và điếc, và thầy cũng là người Việt
như con vậy đó!
Thuật
mừng rỡ hỏi lung tung :
- Thầy
sang đây từ bao giờ? Cuộc đời tu tập của thầy như thế
nào? Mà sao thầy lại chọn làm công việc nầy ở đây?
- Ơ!
Thầy vốn là tu sĩ chùa Phước Hưng, Sa Đéc(6). Thầy rời
nước năm hai mươi lăm tuổi, tính đến nay đã tròn bốn
mươi năm rồi! Cuộc đời tu tập, hạnh nguyện và nguyên
nhân “câm điếc” của thầy dài dòng, nhưng thầy có ghi
chép lại. Thầy sẽ trao cho con để tìm hiểu sau nầy!
- Đúng
là Trời Phật dun rủi cho con trên bước đường cùng, may
mắn gặp được thầy!
- Dĩ
nhiên là như vậy rồi! Nếu không có nhân duyên ngày trước
thì làm gì có chuyện hội ngộ về sau! Lần hội ngộ nầy
tương đối sắp hoàn mãn rồi. Do đó, thầy chỉ mong con lưu
lại chốn nầy chừng hai tháng nữa thì mọi việc sẽ diễn
tiến trơn tru tốt đẹp. Thật ra, thì thầy cũng có chút việc
dự định phú thác cho con!
- Thầy
dạy điều chi con cũng xin tuân theo cả! Ơ! hai tháng thì ngắn
ngủi quá! Con nghĩ con nên lưu lại lâu hơn để có thời giờ
học đạo với thầy!
Thế
rồi Thuật ở lại tiếp tục theo thầy hành nghề phu lục
lộ và học đạo. Chàng đã từng quy y với hòa thượng Hải
Huệ, nhưng lúc đó nhỏ dại chẳng hiểu biết gì, pháp danh
chàng cũng mù tịt nên thỉnh cầu được quy y lại. Thầy
quở : “Nếu con chưa nắm vững nghĩa lý thì thầy sẽ giải
thích con hiểu Tam Quy và Ngũ Giới, con quên pháp danh thì thầy
đặt cho con pháp hiệu là Thiện Hữu để nhân đó mà tinh
tiến tu tập, nhưng thầy không thể chấp nhận cho con quy y
lại. Quy y lại là hành động vô tình khinh thường vị thầy
đầu tiên, một điều mà người con Phật ân nghĩa tình thâm
không thể làm được, huống chi “một chữ là thầy,
nửa chữ cũng là thầy”, khi lễ quy y đã tiến hành, dù
con chưa tin hiểu đầy đủ, nhưng nhân lành đã được gieo,
quả lành theo đó mà trùng trùng duyên khởi, phước báu mênh
mang, thâm ân thầy xưa sao quên cho được?”
Thuật
thỉnh cầu sư trao truyền một pháp môn để tu tập thì sư
đáp :
Phật
Pháp mênh mông chẳng bến bờ, mà thời giờ còn lại ngắn
ngủi, vì vậy thầy đành bắt chước người xưa nhắc nhở
con bằng bài kệ :
-
Chớ
tạo các điều ác
Vâng
làm mọi việc lành
Giữ
tâm ý trong sạch
Đây
lời dạy chư Phật.
Tích
xưa kể rằng vào thời nhà Đường có vị cao tăng nổi tiếng
là đạo cao đức trọng thường ngồi tu trên một nhánh cây
nên được bá tánh tôn xưng là Điểu Sào hòa thượng. Vị
thái thú đương thời là là Bạch lạc Thiên, nghe danh tìm
đến, thỉnh cầu sư giảng dạy về đại ý Phật Pháp. Sư
trả lời bằng bốn câu kệ ngắn gọn nầy. Bạch thái thú
phản đối : “Tưởng sư dạy điều gì đặc biệt, chớ
những lời nầy thì đứa con nít lên ba tuổi cũng biết”.
Sư thản nhiên đáp : “Con nít ba tuổi tuy nói được, nhưng
lão già tám mươi chưa chắc làm được!” Phật Pháp giản
dị như vậy đó con. Chỉ cần tránh điều ác, làm việc lành
là đủ, nhưng vấn đề là phải tâm tâm niệm niệm hết
lòng hết sức thực hành điều đó, thì tâm ý mới giữ được
thanh tịnh. Giới đã thanh tịnh thì định huệ sẽ phát sanh,
con đường giải thoát chẳng còn bao xa nữa.
Nếp
sống phu lục lộ vẫn tiến triển như thường lệ cho đến
ngày thứ mười kể từ khi sư “khai khẩu”. Sáng hôm đó,
khi Thuật lui cui gom đồ nghề chuẩn bị lên đường, sư bỗng
ôn tồn ngăn lại :
- Con
mang theo chiếc rựa đủ rồi. Từ bây giờ mình sẽ không
còn gánh vác chuyện sửa đường lộ nữa, bởi vì, hôm nay
là ngày cuối cùng của thầy ở chốn nầy, thầy sắp đi
xa rồi con ạ!
- Uả!
Thầy đổi ý không bảo trì con lộ nầy nữa sao? Mà thầy
định đi đâu vậy thầy?
- Chúng
sanh vô tận thì hạnh nguyện bồ tát cũng vô tận… Nhưng
giờ đây đã đến lúc thầy sẽ vãng sanh về cõi Tây Phương
Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, thầy sẽ tu tập ở cõi
nầy cho đến khi đạt đến trình độ bất thối chuyển,
rồi mới trở lại cõi Ta Bà tiếp tục con đường vô tận
của mình.
Nghe
tin thầy từ giã cõi trần đột ngột, Thuật choáng váng tối
tăm mặt mũi. Chàng ước mong gần gũi với thầy thêm một
thời gian nữa, nhưng làm sao có thể mở lời ngăn cản thầy
vãng sanh cho được. Nước mắt tuôn tràn, Thuật lặng lẽ
theo thầy như một người máy. Sư đi vào rừng sâu, qua khỏi
hồ sen nhỏ, đến khoảnh đất cây cối thưa thớt thì dừng
lại bên một tảng đá bằng phẳng, rồi lên tiếng :
- Chỗ
nầy yên tịnh hợp ý thầy lắm! Con hãy ngồi kế bên đây,
thầy có lời cuối cùng dặn dò con! Ơ hay! Tử biệt sanh ly
là chuyện thường tình, đâu ai tránh được điều đó! Sao
con ơ hờ quên làm chủ lấy mình, để cho tâm ý bấn loạn
theo nỗi buồn vui giả dối như vậy?
Nghe
thầy nhắc nhở, Thuật vội thở mấy hơi thật sâu, theo dõi
tâm niệm mình và dần dần khôi phục lại thái độ điềm
tĩnh thường nhật. Sư lại lên tiếng :
- Thuở
sơ tâm xuất gia, có lần ta theo sư phụ làm lễ cầu an cho
một gia đình ở xóm chài, mũi Nai, Hà Tiên. Ta xúc động chứng
kiến cảnh vô số loài thủy tộc : cá, tôm tép ruốc… bị
bắt làm khô làm mắm, nên nảy lòng phát nguyện tu hành để
cứu độ loài thủy tộc nầy. Vì vậy, ta nhờ con thiêu xác
thân ta, mang mớ tro tàn về nước để rải ở biển đó.
Ta muốn kết thêm duyên và giữ lời ước nguyện năm xưa
thêm bền chặt…
Sư
trao cho chàng mấy tờ giấy chi chít chữ, rồi ôn tồn tiếp
lời :
- Đây
là tự truyện của ta! Con tùy nghi mà tìm hiểu, may ra giúp
ích chút nào cho con trên bước đường tu tập. Ta cũng nhân
cơ hội nầy nhắc con một điều là pháp môn nào của đạo
Phật cũng quy vào việc tu dưỡng tâm, tức là chỉ nhằm chuyển
sửa tâm tham sân si thành tâm thanh tịnh. Căn bản của phép
tu tâm là giới mà hơn một lần thầy tóm gọn lại là “làm
lành lánh dữ”. Hành giả càng tu, tâm càng thanh tịnh, cái
ngã tan biến dần, nên tự tại mà hòa hợp. Trái lại, dẫu
đạt đến trình độ giác ngộ như thế nào mà thiếu hòa
hợp, thì có lẽ tâm đã bị cái ngã che lấp, đường lối
tu âm thầm rẽ sang hướng khác mà hành giả không hay biết.
Để tránh lầm lạc đó, hành giả nên luôn luôn thận trọng
và thành thật quán sát từng động niệm của tâm, càng nhận
thấy lỗi mình thì đạo hạnh càng có cơ phát triển.
- Khái
quát thì như vậy, nhưng phải có pháp môn cao pháp môn thấp
chớ thầy?
- Tâm
bệnh của chúng sanh muôn vàn sai khác nên Đức Phật cũng
“tùy bệnh cho thuốc” mà đưa ra những pháp môn khác biệt.
Pháp môn nào cũng phát xuất từ Đức Phật và đều có hương
vị giải thoát, nên không thể phán quyết pháp môn nào cao
hơn pháp môn nào. Do đó, nếu quá khích tôn xưng pháp môn
nầy, phỉ báng pháp môn khác là đã vô tình phỉ báng Phật
Pháp. Vấn đề chính yếu của người hành giả là một khi
đã chọn pháp môn phù hợp với căn cơ mình, thì cứ dứt
khoát nhất trí tu tập, không để bất cứ ai lung lạc thay
đổi đường lối, thì mới mong đạt được kết quả như
ý.
- Tiếc
quá! Giờ nầy con hiểu chút đạo lý thì mọi sự đã muộn
màng! Con đã nguyện dâng hiến đời mình cho dân tộc thì
đâu còn cơ hội tu tập gì nữa!
- Con
ạ! Hi sinh đời mình cho dân tộc cũng là hạnh nguyện của
bậc Bồ Tát. Con có thể làm cách mạng và tu tập được,
nếu như hằng quán sát thân tâm không để cho niệm tham sân
si sinh khởi là đủ.
Dứt
lời, sư ngồi kiết già chấp tay về hướng tây liên tục
niệm : “Nam mô A Di Đà Phật”. Thuật ngần ngừ, rồi cũng
cất tiếng niệm theo thầy, quên cả giờ giấc. Vừa đúng
ngọ, ánh nắng gay gắt bỗng đổi thành dịu dàng, lung linh
ngũ sắc, hương thơm hoa sen thoang thoảng. Thế rồi, trong không
gian, bỗng có tiếng nhạc kỳ diệu trổi vang lừng, tràng
phang bảo cái ẩn hiện trong mây. Từ đỉnh đầu của sư
bỗng có làn hào quang xẹt thẳng lên trời. Sửng sốt ngắm
nhìn hiện tượng nhiệm mầu hiển hiện trước mắt mình,
Thuật nảy lòng thành kính hướng lên hư không đảnh lễ
liên tục. Mãi đến khi nghe tiếng âm nhạc nhỏ dần rồi
im bặt, chàng mới sờ tay vào mũi sư để biết chắc rằng
người đã thị tịch. Tuy vậy, Thuật cẩn thận chờ thêm
hai ngày nữa mới gom cây lá, lễ lạy từ biệt rồi mới
châm lửa thiêu xác. Lửa tàn, chàng góp nhặt tro trắng và
những viên xá lợi đựng đỡ trong chiếc bình bát, đặt
trên tảng đá. Chàng lại tìm được vài bụi lan rừng trang
trí chung quanh, như vậy, tạm coi như có chỗ thờ kính trang
nghiêm trong thời gian bốn mươi chín ngày mà chàng đã quyết
định lưu lại. Hàng ngày, đến giờ ngọ chàng kính cẩn
quì và niệm Phật, thời giờ còn lại, chàng nghiền ngẫm
tự truyện của ân sư để học hỏi đạo pháp và hành trạng
của người…
****
Nội
dung di cảo thảo bằng chữ nôm như sau :
Tổ
phụ ta vốn người Minh Hương, sinh cơ lập nghiệp tại Hà
Tiên từ thời Tông Đức Hầu Mạc thiên Tứ. Cha ta tên Hồ
thới Thuận, mẹ là Nhan mỹ Lan, kết hôn đã bảy năm vẫn
hiếm muộn nên thường đến chùa Phù Dung lễ bái Quán Thế
Aâm Bồ Tát để cầu sanh con trai. Một hôm mẹ ta chiêm bao
thấy Phật Bà trao cho một con công trống, người vừa đưa
tay đón nhận thì con công lại hóa ra đứa bé trai kháu khỉnh.
Sau đó, người thọ thai rồi hạ sanh ra ta nhằm ngày rằm
tháng chạp năm Đinh Mùi, tức năm Thiệu Trị thứ bảy (1847).
Do linh ứng nầy, người đặt tên ta là Từ Aân để tạ ơn
Bồ Tát. Hà Tiên nổi tiếng là xứ Phật, nhà nhà chăm chỉ
tu niệm, ta lại thường theo mẹ đến chùa lễ Phật nên rất
sùng mộ đạo. Tuy vậy, ta vẫn ham vui sống như bao kẻ thế
tục và tuyệt nhiên chẳng bao giờ thoáng nghĩ đến con đường
xuất gia tu tập. Biến cố làm đảo lộn đời ta đã xảy
ra vào năm ta được mười ba tuổi và nhân cái chết của
chị Mai, con gái út của thầy ta, cụ đồ Nguyễn trọng Sĩ.
Chị Mai vừa mười tám xuân xanh, đẹp đẽ, tài hoa và thùy
mị, khiến bao nho sinh tơ tưởng mê mệt. Chị chỉ trúng gió
buổi chiều, thì ngay ngày hôm sau đã lìa đời. Chị phụ
giúp thầy dạy dỗ đám học trò nhỏ, lứa tuổi của ta,
nên tình chị em khá gần gũi. Ta đến nhà thầy phụ giúp
tang ma, cứ lấm lét nhìn thân xác xám xịt ghê rợn nằm bất
động, rồi mang ra so sánh với hình ảnh nàng con gái rạng
rỡ, tươi cười ngày hôm qua, mà bỗng run rẩy kinh hoàng.
Ta tự hỏi : “bao giờ sẽ tới lượt mình?” Từ đó, ta
không ăn uống ngủ nghỉ gì được. Ta cứ thao láo nhìn thấy
thây ma của chính mình nằm chình ình trước mặt, cái thây
đó tím bầm, sình chương lên, nứt nẻ, rục rã, lầy thúi…
thật là gớm ghiếc. Chỉ mới hai tháng mà sức khỏe của
ta đã trở nên tồi tệ, ta nằm thoi thóp chờ chết, vì ăn
uống thuốc thang gì cũng nôn mửa tháo ra ngoài. Mẹ ta gặp
ai cũng kêu van nhờ xin cứu chữa cho con, nhưng tất cả thầy
bà đều bó tay, chốn linh thiêng nào đi cầu cạnh cũng vô
hiệu. Một hôm vừa gặp một du tăng lạ mặt, bà đã khóc
lóc kể lể chuyện con, rồi nài ép xin cứu giúp. Nhà sư ân
cần hỏi han tự sự, an ủi bà, rồi hoan hỉ đi theo về nhà
chẩn bệnh cho ta. Sư từ bi nhìn ta thật lâu, trìu mến nắm
tay ta, rồi mới từ hòa lên tiếng :
- Cái
chết thật dễ sợ! phải không con?
Câu
hỏi đúng y tâm bệnh của ta, ta cảm xúc hai hàng nước mắt
chảy dài, nhưng không đủ sức đáp lời. Nhà sư lại chậm
rãi :
- Thế
nhưng đối với kẻ biết chọn con đường tu đạo giải thoát,
thì vấn đề sống chết chỉ là chuyện trò đùa con ạ!
Lâu
nay ta bị nỗi kinh hoàng về cái chết bám lấy tợ như bị
một khối đá to dằn trên ngực không phương vùng vẫy, bất
ngờ vừa nghe được rằng kẻ tu hành coi sống chết tợ trò
đùa, thì khối u uất nặng nề kia bỗng tan biến, ta cảm
thấy nhẹ nhõm mừng rỡ ngồi dậy thì thào :
- Thưa
thầy! Liệu con có thể đi ..đi.. tu…tu… được không thầy!
Cơ
thể ta rất yếu ớt, ta gắng sức lập bập chưa hết câu
đã mệt nhoài, thở chẳng ra hơi. Sư đỡ cho ta nằm xuống,
rồi thương yêu dỗ dành :
- Con
sẽ tu giỏi lắm! Thầy hứa dạy con tu! Nhưng bây giờ sức
con còn yếu, con nên ăn uống tịnh dưỡng cho khỏe thì mới
bắt đầu học đạo được!
Sức
khỏe chưa hoàn toàn bình phục, ta đã khẩn thiết van nài
cha mẹ cho đi tu. Cha mẹ ta tuy không muốn xa con, nhưng cảm
thấy giữ con ở nhà thì mạng sống nó khó an toàn, nên đành
bấm bụng đổi buồn thành vui cho con xuất gia học đạo.
Thầy ta là du tăng không trụ trì tự viện nào, nên tạm mượn
chánh điện chùa Bạch Vân, để làm lễ thí phát cho ta. Thầy
ta pháp danh Hải Minh Bảo Chơn(5), vốn là đệ tử chùa Bát
Nhã, núi Long Sơn, miền Trung, thuộc thế hệ thứ 40 thiền
Lâm Tế, chi phái Liễu Quán, chiếu theo kệ truyền phái “Thiệt
Tế Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng…” Đến lượt ta,
thế hệ thứ 41 mang chữ Thanh, nên thầy ban cho ta pháp danh
Thanh Trì, pháp tự Tâm Địa. Nếp sống của thầy là du phương
tùy duyên hoằng hóa, nơi nào hợp thầy lưu lại dạy đạo,
thấy vừa đủ thì lại ra đi. Thầy đưa ta đi khắp vùng
Hà Tiên, đoạn sang vùng Bảy Núi, chung sống với đồng bào
Chàm và Miên một thời gian, rồi đổ xuống đồng bằng sông
Hậu. Nếp sống du phương vất vả – đôi khi được cúng
dường tươm tất, tạm trú có mái che mưa nắng, có lúc cũng
đói rét, ăn bờ ngủ bụi – tuy vậy, nếp sống nầy rất
thích hợp với ta. Ta được ngắm cảnh thiên nhiên thay đổi,
tiếp xúc đủ hạng người trong mọi từng lớp xã hội, sắc
tộc. Những bài thuyết pháp của thầy do đó cũng tùy trình
độ cơ duyên kẻ đối thoại mà biến hóa chập chùng : thường
thì giản dị, gần gũi với nếp sống dân quê, nhưng đôi
khi gặp bậc cao nhân thì lại cao siêu diệu vợi khiến ta
ngờ nghệch tối tăm. Ta may mắn thân cận với thầy, vừa
nghe pháp, vừa chiêm ngưỡng đạo phong của thầy qua nụ cười
hoan hỷ, lối cư xử nhân hậu tế nhị…, thầy đi, đứng,
nằm, ngồi, uy nghi nào cũng phảng phất đạo vị giải
thoát để ta học hỏi. Thế nhưng thầy ta lại chủ trương
tu sĩ trẻ cần nhập chúng tu tập đúng theo qui củ thiền
môn, “hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn”, tu sĩ
trẻ xa chúng dễ sanh bại hoại làm gián đoạn đường tu.
Ngoài ra, tu một mình ở chốn thanh vắng nếu chưa đủ công
phu thâm hậu, rất dễ lạc theo lối tu tiên : sống trong quên
lãng mà tự hào là biết buông bỏ, tiêu dao hưởng lạc mà
ngỡ rằng đã ngộ đạo giải thoát.
Vì
vậy, khi đến chợ Sa Đéc, bổn sư gởi gắm ta cho pháp hữu
của người là thầy Như Diệu, thủ tọa chùa Phước Hưng(6),
dạy dỗ. Ta lễ lạy thủ tọa làm vị y chỉ sư, và người
chính thức cho ta thọ giới sa di, sự nghiệp tu hành của ta
khởi sự từ đó. Sa di ở ngôi chùa phố chợ không phải
làm ruộng cực nhọc, cơm nước đã có mấy dì cư sĩ công
quả, nên chỉ chấp tác vài công việc nhẹ như lau dọn chánh
điện, gánh nước, chẻ củi mà thôi. Phần lớn thời giờ,
nhóm sa di chúng ta gồm tám chú, được khuyến khích đặt
nặng việc tu học, mà căn bản là học thuộc lòng hai thời
công phu và thông hiểu các bộ Sa Di Luật Nghi, Tì Ni Nhật
Dụng Thiết Yếu… Ta vốn có lòng nhiệt tâm cầu đạo, đã
từng tập tành bút nghiên chữ nghĩa, lại được y chỉ sư
tài đức tận tụy dạy dỗ nên trình độ am hiểu Phật Pháp
thâm sâu hơn mức đòi hỏi của một sa di. Đạo tràng nào
khai mở khóa giảng kinh đại thừa, ta đều được y chỉ
sư gởi đi tham dự chung với chư tỳ kheo. Nhờ vậy, ta càng
tiến bộ vượt bực, khiến cho chư tôn ba tỉnh miền Tây
nức lòng khen ngợi. Thắng duyên nầy vô tình tạo mầm mống
cho bệnh kiêu mạn khinh người nhen nhúm rồi bành trướng
mãnh liệt trong tâm mà ta ơ hờ chẳng biết. Ta chạy theo lời
khen và rất tự hào về khả năng , về sở học và về đức
hạnh của mình. Ta nghĩ mình tài đức ghê gớm lắm, nên ngoại
trừ hai vị ân sư, và hòa thượng Minh Phước, trụ trì chùa
Phước Hưng, không ai đáng để ta kính nể cả. Từ đó, ta
thích so đo đánh giá từng người, và vì vậy, ta phải “dòm
hành” tìm lỗi kẻ khác. Nghe ai tu giải đãi ta chẳng ưa,
nghe ai bừa bãi giới luật ta càng ghét cay ghét đắng.
Ta
nương náo tại chùa Phước Hưng tròn bốn năm. Năm nào bổn
sư cũng ghé chùa thăm ta, thông báo vài tin tức gia đình và
sách tấn ta tu học. Lần nào ta cũng mừng rối rít, hãnh diện
trình bày thành quả tu học, và luôn luôn được thầy khen
ngợi. Lần nầy, sau khi huênh hoang về sở học của mình,
ta lại hứng chí lên tiếng than phiền đạo hạnh tồi tệ
của vài tu sĩ, kể lể không sót một chi tiết nhỏ. Bổn
sư lộ vẻ không hài lòng. Người quở : “Kẻ quyết tâm
cầu đạo luôn ý thức rằng cái chết sẽ xảy ra bất cứ
lúc nào, khẩn trương tu tập quán sát tìm lỗi mình để sửa
chữa còn sợ không có thời giờ. Sao con lại có thể rảnh
rang tìm tòi soi bói lỗi của kẻ khác mà làm gì?”
Ta
thoáng ngỡ ngàng về thái độ của thầy, nhưng chỉ băn khoăn
giây lát rồi quên mất, không lưu tâm nữa. Ngờ đâu, hai
ngày sau ta được nhị vị ân sư vời vào phòng riêng dạy
việc.
Bổn
sư mở lời huấn vụ :
- Con
ạ! Theo nguyên tắc thì pháp thế gian chính là pháp Phật,
chốn trần tục và đạo tràng thanh tịnh chẳng phải là hai.
Tuy nhiên, trên thực tế đạo tràng là đạo tràng, trần tục
là trần tục; người hành giả sơ cơ phải nương theo bậc
thiẹân tri thức chọn đúng đạo tràng thanh tịnh để tu
tập mới tránh lầm lạc, uổng phí cả đời. Bốn năm qua
con được tu tập tại một đạo tràng tôn nghiêm do thầy
tọa chủ đích thân dạy dỗ quả là một phước duyên hy
hữu, con hãy lễ thầy để tạ ơn.
Ta
bối rối chẳng hiểu ý bổn sư như thế nào, nhưng vẫn vâng
lời lạy thầy tọa chủ. Bổn sư ôn tồn tiếp lời :
- Con
hiểu khá nhiều sinh hoạt chùa chiền nơi phố chợ, ta nghĩ
con cần có thêm kinh nghiệm tu tập tại miền thôn dã, nên
đã xin thầy tọa chủ cho con rời chùa Phước Hưng, đến
nơi khác tiếp tục tu tập.
Ta
chẳng muốn xa chốn nầy, nhưng chẳng dám lên tiếng, đành
đưa mắt tha thiết nhìn thầy tọa chủ cầu khẩn người
cứu giúp. Thầy tọa chủ ôn tồn khuyên nhủ :
- Tu
hành thì phải biết buông bỏ, không để tâm quyến luyến
một điều gì, kể cả những thuận duyên tu tập như cảnh
chùa, thầy bạn… vì lẽ, còn dính mắc thì còn bị phiền
não làm chướng ngại sự nghiệp tu hành. Con phải dõng mãnh
và dứt khoát, khi cần đi thì phải đi, không quyến luyến
bịnh rịn như kẻ thế tục. Ta tán đồng ý kiến của bổn
sư con, là nên để con có cơ hội tu ở môi trướng khác,
hầu con có thể nhận thức được những điều mới mẻ,
bổ ích cho sự nghiệp tu hành. Con ạ! Dù con ở chốn nào,
nếu như con hằng tưởng nhớ đến những lời giáo huấn
của ta, thì coi như đã có ta bên cạnh con.
Bổn
sư đưa ta đến Châu Viên sơn tự, trên đỉnh núi Châu Viên
vùng Đất Đỏ, tỉnh Đồng Nai, ký thác cho sư đệ của người
là Hải Bình Bảo Tạng(7) dạy dỗ. Ta đinh ninh phen nầy sẽ
được sư thúc trao truyền hạt giống thiền của giòng phái
nên vui mừng khôn xiết. Không ngờ sư thúc lạnh nhạt
giao ta cho thầy tri sự, thầy chỉ định ta theo các sa di khác
làm rẫy suốt một năm, mà chẳng đá động gì đến việc
tu tập. Ta đang ở tuổi mười tám, thân thể cường tráng
nên dù chưa từng lao động vất vả, nhưng đã quyết tâm
chịu đựng thì cũng quen dần. Điểm làm ta chán nãn là nhiệt
tâm cầu pháp đã mỏi mòn, chờ hoài, chờ mãi mà thiền ngữ
chẳng ai thèm đề cập, kinh luận chẳng ai thèm diễn giảng.
Bi đát hơn nữa, là bất thình lình sư thúc lại cắt cử
ta sang phụ giúp cho sư Thanh Lực, khởi công khai phá đỉnh
núi Kỳ Vân, để phát triển ngôi chùa Ngọc Tuyền tại đây.
Tiếng là chùa, nhưng đúng ra cơ sở thờ phượng nầy chỉ
có một căn nhà sàn nhỏ lợp tranh trống trải, vừa thờ
Phật, vừa xử dụng như nhà kho, cũng vừa là nơi ngủ nghỉ.
Nhóm sa di Châu Viên không mấy cảm tình với sư Thanh Lực,
họ gán cho sư hổn danh là “thầy chùa lửa” bởi tánh nóng
như lửa của sư. Sư chửi mắng đánh đập sa di không nương
tay. Do đó, ngoại trừ chú Trừng Quang, nguyên là một đứa
bé chăn trâu quen sống kham khổ và giỏi chịu đựng, không
sa di nào muốn sang núi Kỳ Vân. Sư Thanh Lực tiếp đón ta
bằng thái độ của bậc trưởng thượng, hống hách buộc
ta phải tuân theo một mớ điều lệ rắc rối, rồi ra lịnh
cho ta chấp tác tức khắc. Ta lẵng lặng làm việc mà nỗi
căm hận cứ chực trào ra ngoài. Nhị vị ân sư là bậc đạo
cao đức trọng mà đối xử với ta lúc nào cũng nhã nhặn
từ ái, trong khi một nhà sư tầm thường tại chốn “khỉ
ho cò gáy” lên giọng hoạnh họe thì làm sao ta không sinh
tâm bất bình cho được. Thật ra, suy cho cùng đứng về phương
diện vai vế thì sư và ta ngang hàng. Sư có đặc điểm nào
đáng cho ta khâm phục đâu? Sư lớn tuổi hơn ta nên được
thọ giới tỳ kheo trước ta vậy thôi, ngoài ra, về trình
độ học Phật thì “xin lỗi Ngài, tôi không dám khinh Ngài…
nhưng nếu Ngài muốn được như tôi, thì chắc còn lâu lắm!”
Ta thầm nghĩ, rồi thấm ý cười vang, mặc kệ sư Thanh Lực
lên tiếng trách mắng ta là thiếu uy nghi tế hạnh chi cũng
được.
Tuy
mối bất hòa manh nha ngay từ buổi ban đầu, nhưng ta vẫn
cố gắng chấp tác cần mẫn và tuân hành kỹ cương chặt
chẽ, nên dù ghét ta, sư Thanh Lực cũng chẳng có cơ hội nào
để nặng lời. Sáng ngày nọ, ta vô tình bắt gặp chú Trừng
Quang đang bối rối ráp mấy mảnh bình trà đã vỡ. Biết
chú đã làm bể bình trà của sư Thanh Lực, ta giả vờ ngu
ngơ chẳng thấy, tránh sang hướng khác và thầm nghĩ “sắp
có chuyện lớn rồi đây!” Đúng như dự đoán, chỉ mấy
khắc sau, ta đã nghe tiếng sư gầm thét gọi hai đứa sa di
đến trình diện. Sư cật vấn từng đứa. Cả hai im lặng,
ngơ ngác như chẳng biết gì. Sư giận dữ gay gắt : “Hừ!
Bây đúng là một lũ tồi bại! Thà chịu chửi mắng chớ
chẳng ai đủ can đảm nhận lỗi mình!” Ta vốn khinh chú
Trừng Quang là hạng thất học, nay nhìn vẻ mặt lầm lì trân
tráo của chú lại càng thấy khó ưa. Ta cũng chịu hết nổi
những lời nặng nhẹ của sư Thanh Lực, nên lên tiếng khai
rõ cho xong :
- Chú
Trừng Quang chớ ai!
Rồi
nhỏ giọng nhưng cũng vừa đủ cho kẻ khác nghe, ta lẩm bẩm
:
- Xí!
Chỉ có cái bình trà bể mà làm như cháy nhà vậy!
Dứt
lời ta dợm bỏ đi. Thình lình, sư Thanh Lực hùng hổ như
con thú dữ, chụp lấy ta, xán ta hai tát tay thật mạnh khiến
ta té lăn xuống đất. Ta điên tiết chụp lấy cái cuốc định
đánh trả, may mà ta dằn được, ta hầm hầm bỏ đi vào chùa
chụp mớ hành trang bước nhanh xuống núi, nhứt quyết sẽ
không quay lại nữa.
Ta
lầm lũi đi một mạch hai phần ba đường mới dừng lại
thở hổn hển. Cơn giận theo từng bước chân giảm dần,
đầu óc tươi tỉnh phần nào, ta bắt đầu lo lắng nghĩ đến
những khó khăn trước mắt. Ta biết đi đâu tu bây giờ? Và
sẽ ăn nói thế nào với nhị vị ân sư đây? Ta chợt cảm
thấy lời lẽ và cử chỉ của mình đối với sư Thanh Lực
hơi hỗn hào, nhưng ta vội tự bàu chữa rằng tội lỗi xuất
từ sư chớ không phải ta. Sư thô lỗ nên ta mới có phản
ứng như vậy. Nhớ đến sư, cơn giận của ta bùng nổ trở
lại. Sẵn thấy có viên sỏi to nằm vừa tầm chân, ta đá
mạnh một cái cho hả. Nghe tiếng sỏi rơi lẻng kẻng trên
sườn núi ta bỗng bàng hoàng nhớ một việc, mà càng suy nghĩ
ta càng ái nái khôn nguôi. Sáng nay, khi trời còn lờ mờ, ta
đau bụng cần giải quyết gắp, nên phóng ra khỏi chùa thật
nhanh, và vô tình đá một vật gì đó lăn lông lốc. Lúc đó,
ta bực bội càm ràm : “Ai để đồ đạc bừa bãi quá!”,
rồi ta vội bước đi không kịp tìm hiểu đó là vật gì.
Thế rồi ta quên bẵng đi mất. Giờ nầy nhớ lại thật kỹ,
ta nghi ngại vật đó dám là cái bình trà lắm! Ơ…ơ! rõ
ràng là cái bình trà rồi! Ơ… ơ! ta mới đúng là thủ phạm,
mà ta lại hồ đồ lên án chú Trừng Quang. Oâi bậy quá! tội
lỗi quá! Ta vốn tự hào mình là một tu sĩ biết giữ gìn
giới hạnh, chừng khám phá ra mình phạm khẩu nghiệp nặng
nề, ta hỗ thẹn vô cùng. Hối hận quá, ta bắt đầu tự
quán sát mình, càng quán sát ta càng thấy rõ lỗi mình. Oâi!
Ta cống cao ngã mạn quá : ta đã khiếm nhã với chư tỳ kheo,
ta khinh thường người thấp kém, ta nổi sân cuồn cuộn, ta
vọng ngữ, nói lời trả treo nặng nề… ta lại thờ ơ không
giữ chút uy nghi giới hạnh. Thật vậy, dẫu đau bụng gấp
gáp như thế nào, nếu ta nhớ quán các bài kệ :
“Tùng
triêu Dần đán trực chí mộ
Nhất
thiết chúng sanh tự hồi hộ
Nhược
ư túc hạ táng kỳ hình
Nhược
nhữ nhứt thời sinh tịnh độ”
hoặc
là :
“Đại
tiểu tiện thời,
Đương
nguyện chúng sanh
Khí
tham sân si
Quyên
trừ tội pháp”
thì
bước chân ta khoan thai chừng mực, đâu hấp tấp vấp váp
để gây tai họa như vậy!
Ta
bối rối cố suy tìm một giải pháp cứu vãn tình thế, cuối
cùng ta nghĩ chuyện gì thì có thể bỏ qua được, nhưng hành
động vu oan chú Trừng Quang, thì ta phải gặp chú để sám
hối thì mới yên tâm.
Ta
bẽn lẽn quay lại chùa Ngọc Tuyền, lễ phép chấp ta thưa
với sư Thanh Lực :
Thưa
thầy! nghĩ kỹ con thấy con có nhiều điểm không phải! Con
chỉ thấy chú Trừng Quang cầm mảnh bình bể đã hồ đồ
lên án chú. Sáng nay con hấp tấp đá một vật, lúc đó không
rõ vật gì, nay suy ra thì có thể là cái bình, như vậy kẻ
làm bể chính là con rồi. Con phạm lỗi mà còn ương ngạnh
vô lễ quả thật đáng trách! Con xin sám hối với thầy và
chú Trừng Quang!
- Hay!
Thấy lỗi mình và can đảm nhận lỗi, đó chính là hành động
của bậc trượng phu! A! Ha! Chú đã thấy lỗi của chú lẽ
nào ta không biết lỗi của ta! Ta nói năng thô lỗ nên cũng
có lời xin lỗi hai chú!
Ta
định xin lỗi xong sẽ ra đi ngay, nhưng nhận thấy sư bày
tỏ thái độ hòa hoãn, nên đổi ý và ở lại tiếp tục
tu hành.
Biến
cố nầy đánh dấu một chuyển hướng quan trọng trong nếp
sống tu tập của ta. Ta tự biết tâm mình là nguồn tội lỗi,
nên lúc nào cũng đề phòng, theo dõi quán sát từng hành động,
từng suy tư của mình. Càng lúc ta càng nhận diện rõ rệt
được những lỗi nhỏ nhặt vi tế, càng thấy lỗi, ta càng
khẩn thiết sám hối, nguyện sửa đổi để không còn tái
phạm. Cảm thấy được tiến bộ, ta đem phương pháp theo
dõi tâm niệm trong từng nhịp thở thực hành ngay trong nếp
sống thường nhựt : đang chấp tác hay đang ở uy nghi nào…
mà một vọng niệm dấy lên ta phải nhận ngay ra chân tướng,
khiến cho vọng niệm tự biến mất. Ta lần lần giữ được
chánh niệm, những chuyện thị phi, chuyện lỗi phải của
người biến mất tự bao giờ, lòng ta thanh thản nhẹ nhàng.
Ta sống trên chùa núi, suốt ngày chấp tác, chưa chính thức
tọa thiền, mà chẳng lúc nào không phải thiền. Thì ra, khi
đã biết tu, thì lúc nào, nơi nào cũng tu được. Điều nầy
có lẽ phản ảnh đúng theo lời dạy của cư sĩ Bàng Uẩn
ngày xưa : “Gánh nước, bửa củi cũng là thần thông diệu
dụng!” Khoảng một năm sau, khi gặp lại bổn sư ta thưa
thỉnh về hai tát tay nẩy lửa giúp ta thay đổi thân tâm toàn
diện. Bổn sư cũng tán thán : “Cái tát tay hay thật! Thầy
Thanh Lực phải là bậc Bồ Tát nên tát tay mới hiệu nghiệm
thâm sâu như vậy!”
Mùa
Vu Lan năm Đinh Mão, lúc ta đã được 21 tuổi, bổn sư giới
thiệu ta về chùa Giác Lâm, Gia Định, thọ giới tỳ kheo,
đại giới đàn do hòa thượng Hải Tịnh(8), làm đầu đàn
truyền giới. Ta lớn lên trong thời kỳ mà quân viễn chinh
Pháp xua quân xâm chiếm các tỉnh miền Nam. Thời gian sống
trên núi, thỉnh thoảng ta có nghe sơ lược về hiện tình
đất nước. Khi nghe thì lòng ta cũng dao động, nhưng sau đó,
không ai nhắc nhở nữa, ta lại bận bịu tu tập nên quên
lãng dần. Nay về đến Gia Định, mắt thấy đạo quân xâm
lược súng ống hung hăng, tai nghe bao chuyện tàn ác của chúng,
ta mới thấm thía được nỗi đau thương nhục nhã của ngưới
dân Việt. Ta không thể thanh thản tu tập như xưa được.
Ta không thể nhắm mắt làm ngơ cho đành. Người Pháp đã
xâm chiếm ba tỉnh miền Đông từ năm Nhâm Tuất (1862), nay
chúng lại dồn quân về Mỹ Tho, đe dọa chiếm nốt ba tỉnh
miền Tây. Ngày thọ giới, đáng lẽ là ngày vui trọng đại
của ta, lại là ngày buồn khổ trước thảm họa nước mất
nhà tan : kinh lược sứ Phan thanh Giản tuẩn tiết, trọn miền
Nam rơi vào tay quân xâm lược. Hưởng ứng hịch Cần Vương,
nhân dân khắp sáu tỉnh miền Nam đồng loạt đứng lên trương
cờ khởi nghĩa chống kẻ xâm lăng, và bị kẻ xâm lăng cùng
đám tay sai đàn áp dã man. Trong thời gian nầy ta tiếp tục
lưu trú tại chùa Giác Lâm tham dự khóa giảng về luật nghi,
nhưng tinh thần ta cực kỳ dao động, nhiệt tâm cầu pháp
giảm dần, việc tu tập ngày càng giải đãi. Một số tăng
ni hoàn tục đáp lời kêu gọi của Phong Trào Cần Vương.
Gắng gượng ở lại tu tập chỉ còn vài người, trong đó
có tỳ kheo Thiện Hữu, đệ tử chùa Khải Tường(9), một
ngôi chùa lớn tại Gia Định vừa bị chánh quyền thực dân
triệt hạ. Thầy Thiện Hữu lại móc nối ta cùng tham gia hoạt
động cho nhóm Thiên hộ Võ duy Dương đang kháng chiến tại
Đồng Tháp. Ta còn đang phân vân thì đã nghe tin trên con đường
chuyên chở gạo tiếp tế cho nghĩa quân, thầy đã bị sát
hại tại Gò Bắc Chiêng. Ta đau đớn đến tận nơi xin lãnh
xác thầy về an táng, rồi ta bỏ chùa thất thểu ra đi mà
chẳng biết đi về đâu và làm việc gì. Cầm vũ khí giết
người ta không làm được. Còn tu mà lòng lại phẫn uất
cùng cực thì còn tu chi nữa!
Do
phước duyên dun rủi như thế nào mà thầy Như Diệu, trong
chuyến đi hoằng pháp hiếm hoi đã vô tình bắt gặp ta đang
lang thang vất vưởng như kẻ không hồn tại xã Mỹ Thuận.
Không thắc mắc han hỏi nguyên do, thầy đưa ta về chùa Phước
Hưng tịnh dưỡng. Một tháng sau bổn sư ta cũng lại tìm đến.
Sau khi hội bàn, hai vị ân sư nhất quyết tin tưởng rằng
ta sẽ gặp kỳ duyên tại nước Trung Hoa, nên khuyên ta xuất
dương cầu pháp. Ta nghĩ đây có lẽ là phương chước mà
quý thầy bày ra để tránh cho ta khỏi bị tình trạng an nguy
của đất nước ảnh hưởng mà chểnh mảng tu tập. Thời
gian qua, sống với vị thầy đạo đức, tâm ta thanh thản
phần nào, lòng thiết tha cầu pháp hưng khởi trở lại, nên
ta hoan hỉ vâng lời. Theo bổn sư sắp xếp thì ta sẽ quá
giang tàu buôn người Phước Kiến, hàng năm theo gió nồm xuôi
về vùng Hà Tiên buôn bán đổi chác, rồi chờ đến mùa gió
bấc sẽ trương buồm về nước. Về Hà Tiên thì ta lại có
dịp viếng mộ cha và thăm mẹ già đã xuất gia hơn ba năm
tại Phù Dung tự. Từ lâu ta vẫn ước mơ về nhà thăm mẹ,
nhưng sợ tình thương của bà làm nhụt chí khí xuất gia,
nên còn ngần ngại. Chừng gặp được bà, ta mới ngạc nhiên
nhận thấy người người mẹ yếu đuối ủy mị ngày xưa,
đã trở thành một tu sĩ tinh tấn điềm đạm. Bà chẳng những
không gây bận bịu, mà còn sách tấn ta tu tập, tạo cho ta
thêm hứng khởi trên bước đường dấn thân cầu pháp.
Thời
giờ còn lại ngắn ngủi, ta rộn ràng đây đó viếng thăm
Hà Tiên thập cảnh, nơi nào cũng đẹp đẽ đáng yêu, ngắm
nhìn mãi không chán. Ta cũng tận hưởng những giờ phút thanh
thản đạo vị bên cạnh hai vị ân sư, mặc dầu thầy trò
chỉ sống bên nhau bình thưòng, không hề đề cập những
vấn đề liên quan đến việc tu tập. Thật ra, trong thời
gian nầy ta có điểm chưa thông suốt là giòng thiền Lâm Tế
của ta vốn nổi tiếng về việc xử dụng công án, mà tại
sao thầy chẳng hề trao cho ta công án nào để tham cứu cả.
Ta muốn đạo đạt lên thầy chút băn khoăn nầy nhưng lần
lựa mãi mà chẳng thấy cơ duyên thuận tiện. Không ngờ,
bổn sư biết rõ từng động niệm của ta, nên khi tiển ta
đến bến tàu, người nghiêm trọng giảng dạy :
- Thiền
phái Liểu Quán của chúng ta tuy phát xuất từ giòng Lâm Tế,
nhưng chư tổ Việt Nam nhận thấy lối dạy đạo bạo động
như đánh hét hay căng thẳng như công án chỉ thích hợp với
người Trung Hoa mà thôi. Bản chất người Việt là trầm lặng,
hài hòa, hồn nhiên… mà đến với đạo, nên chư tổ chỉ
khuyến cáo hành già hành “pháp buông bỏ”, theo tinh thần
bài kệ của Đạt Ma tổ sư :
Ngoài
dứt các duyên
Trong
bặt nghĩ tưởng
Tâm
như tường đá
Mới
vào được đạo(10)
Thầy
trầm ngâm một chút, rồi ôn tồn tiếp lời :
- Và
đây là việc mà ta muốn nhờ con. Nguyên hai ta đều có chung
nguyện vọng là mong đến núi Kê Túc tại Vân Nam để chiêm
ngưỡng và đảnh lễ thánh tăng Ma Ca Ha Diếp. Nay chúng ta
tuổi đã cao, tự mình không thực hiện được, nên nhân khi
con xuất dương, chúng ta ủy thác con đến đó đảnh lễ một
lần cho chúng ta mãn nguyện.
- Con
nhứt quyết sẽ hoàn thành tâm nguyện của hai thầy. Xin hai
thầy yên tâm!
Ta
lại bịn rịn :
- Từ
nào đến giờ thầy hướng dẫn cho con mọi việc, mai sau,
tấm thân đơn chiếc xứ người làm sao con biết đi đâu và
về đâu?
- Nếu
con hằng quán chiếu thân tâm thì mọi việc đều tỏ rõ,
đâu phải thắc mắc chuyện ở chuyện đi. Chỉ khi nào việc
lớn đã xong, thì nên nương theo pháp danh Thanh Trì Tâm Địa
mà chiêm nghiệm con đường lui tới.
Thầy
Như Diệu trao cho ta tập kinh mỏng và ân cần dặn dò :
- Con
giữ phẩm “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” làm hành trang nơi xứ
người. Bốn mươi năm nay, ta nương theo thập nguyện mà tu,
hằng ngày lễ lạy và càng lễ lạy càng cảm thấy lợi lạc,
nên ta muốn trao kinh nghiệm đó cho con.
****
Để
có thể tương trợ nhau trong cơn hiểm nguy, ba thương thuyền
Trung Hoa ước hẹn cùng lên đường vào đêm trăng tròn tháng
tám. Ta được thuyền trưởng Triệu thái Bảo hoan hỉ đưa
đi, hứa sẽ cặp bến Phổ Đà sơn cho ta khởi đầu hoằng
nguyện hành hương. Trời trong, gió bấc thổi mạnh, ba chiếc
thuyền buồm thuận gió lướt sóng phăng phăng thật là ngoạn
mục. Thuyền ghé Hội An đôi ngày thu mua tổ yến và một
ít thực phẩm tươi, rồi tiếp tục cuộc hành trình một
cách suôn sẻ. Sau khi thuyền vượt khỏi vịnh Hạ Long tiến
sang vùng biển Trung Hoa, đoàn thủy thủ đang rộn ràng mừng
vui sắp về đến nhà thì một trận bảo dữ dội bất ngờ
kéo đến. Thủy thủ đoàn hợp sức hạ buồm và cố gắng
giữ tay lái, rồi cứ phó mặc cho những đợt sóng to dập
vùi. Thế rồi một đợt sóng to như trái núi phủ chụp chiếc
thuyền nhận chìm sâu dưới nước, rồi hất tung thuyền trườn
lên nằm trên một hòn đảo nhỏ bằng phẳng nhô cao hơn mặt
biển chừng một thước. Chiếc thuyền nằm kẹt cứng trên
đó, mặc cho sóng to gió lớn cũng chẳng hề xê dịch. Do sự
kiện hy hữu nầy chiếc thuyền chúng ta mới an toàn, trong
khi hai chiếc thuyền kia bị nghiền nát tan tành trong biển
cả. Hôm sau, khi sóng gió lặng yên, hòn đảo bỗng từ từ
chìm xuống nước, thì ra, hòn đảo chính thực là lưng một
con cá ông cực lớn. Điều lạ lùng là sau vụ thoát hiểm
kỳ bí nầy, thủy thủ đoàn lại đối xử với ta bằng một
thái độ cực kỳ cung kính. Ta ngạc nhiên, dò hỏi mãi, thì
Triệu thuyền trưởng mới cho biết trong cơn hoạn nạn nửa
tỉnh nửa mê, bỗng bọn họ thấy “Thiên Hậu Phật mẫu”(11)
hiện thân khuyên đừng sợ hải vì trên tàu có vị tu sĩ
từng tạo phước duyên lớn với loài thủy tộc nên sẽ có
loài thủy tộc cứu giúp. Cơn hoạn nạn đã diễn biến đúng
như vậy, nên mọi người sanh tâm sùng kính ta. Ta bỗng nhớ
lại, thuở sơ tâm xuất gia, xúc động trước cảnh tôm cá
bị tàn sát tập thể, ta đã chân thành phát nguyện tinh tấn
tu tập mong sớm thành Phật để cứu độ thủy tộc các loài.
Chẳng biết có phải do phước duyên phát tâm bồ đề ngày
trước mà gặp may hay không? Ta không thố lộ cho ai chuyện
nầy, mà chỉ khiêm cung đáp :
- Tôi
chỉ là một tu sĩ trẻ, đạo đức tầm thường thì làm sao
có đủ phước duyên đùm bọc người khác. Tôi nghĩ, chúng
ta thoát nạn một cách kỳ diệu là do cộng nghiệp của chúng
ta, phước đức chung của chúng ta đóng góp lại, chớ không
do cá nhân nào cả.
Dẫu
ta thoái thoát cách nào, viên thuyền trưởng một mực vẫn
tin kính ta, nên khẩn khoản thỉnh ta về quê nhà tại Oân
Lăng, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, để xin ta cho cả
nhà thọ giới quy y. Ta dự định chỉ lưu lại chốn nầy
đôi ngày, rồi sẽ vân du cầu pháp. Điểm không ngờ, là
chuyện thoát hiểm trên biển khơi, phát xuất từ các thủy
thủ truyền bá nhanh chóng khắp địa hạt Oân Lăng. Câu chuyện
lại được thổi phồng lên, thêm thắt nhiều chi tiết ly
kỳ, rồi bỗng nhiên họ biến ta thành một nhân vật huyền
thoại hành tung kỳ bí, đạo đức cao thâm. Từ đó, thiên
hạ đổ xô đến quy ngưỡng ta, cúng dường trọng hậu và
khẩn cầu ta xúc tiến thành lập đạo tràng để phổ độ
chúng sanh. Ta hiểu khi cái danh hư ảo vượt quá cao so với
đức độ thực của mình thì dễ sa đọa, huống chi tu sĩ
xa rời tăng chúng sống lẫn lộn tại tư gia thật khó chống
đỡ trước bẫy rập của cuộc đời, do đó, ta ngỏ ý sẽ
sớm cất bước vân du cầu pháp. Trong đám đệ tử thân cận
ta có Triệu tố Diệp, con gái gia chủ. Triệu cô nương kề
cận chăm sóc ta như một thị giả, tình cảm nhen nhúm tự
lúc nào ta chẳng hay. Khi nghe tin ta dự tính ra đi, cô nương
khóc lóc thảm thiết, năn nỉ mãi khiến ta quyến luyến chẳng
nỡ lên đường. Một hôm, thừa lúc nhà cửa vắng vẻ cô
nương vào phòng bày tỏ tấm chân tình thắm thiết yêu ta,
mong được ta đáp lại. Thật ra, ta chỉ cảm thấy tội nghiệp
nàng, nhưng trước những giọt nước mắt vắn dài, ta chẳng
nỡ lòng thẳng thắn chống đối. Đến khi cô nàng dọa tự
tử nếu như kiếp nầy không gá nghĩa được cùng ta, chẳng
biết sao lòng ta mềm nhũn ra, nhiệt tâm cầu đạo biến mất,
ta quên tuốt luốt giới luật, giơ hai tay chực ôm nàng để
an ủi vuốt ve. Trong giây phút nóng bỏng đó, tập kinh mỏng
trên bàn vô tình bị cánh tay áo rộng của ta vướng làm rơi
xuống đất. Đó là phẩm kinh “Phổ Hiền Hạnh Nguyện”,
mà ngày lên đường ân sư đã trân trọng trao cho ta làm hành
trang nơi xứ người. Ta sửng sờ nhìn quyển kinh, hình ảnh
buổi chia tay cùng với lời dặn dò của của hai vị ân sư
hiện rõ ràng trong tâm khảm, khiến cho cơn sốt dục tình
đang hừng hực sôi nổi bỗng nhiên nguội lạnh lại. Ta điềm
tĩnh chấp tay xá nàng, rồi nhắm mắt tọa thiền chẳng đếm
xỉa gì tới sự hiện diện của nàng nữa. Lúc đó, lòng
ta quyết liệt nguyện thà cắn lưỡi chết chớ không để
tâm vọng động nữa. Ta quán thân bất tịnh, quán người
đẹp khả ái kia thật ra chỉ là một thây ma biết đi, thây
ma đó sẽ có lúc hư hoại, nằm bất động, lầy thúi gớm
ghiếc. Có lẽ, nhận thấy thái độ cứng rắn của ta, nàng
lặng lẽ bỏ ra ngoài. Ta thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc,
càng ngẫm nghĩ ta càng xấu hổ, và hiểu rõ là nếu không
có đức độ của hai vị ân sư yểm trợ thì sự nghiệp
tu tập của ta đã tan thành mây khói rồi. Hôm sau, ta giã từ
gia chủ rồi lên đường tức khắc. Ta lầm lủi đi suốt
ngày, không cần biết con đường trước mặt sẽ dẫn đến
đâu, miễn là rời khỏi Oân Lăng càng xa càng tốt. Đến
khi định thần trở lại, ta nghĩ đến duyên phước của mình
với Đức Phổ Hiền, nên quyết định hỏi thăm đường đến
núi Nga Mi, tỉnh Tứ Xuyên, để hàng ngày đảnh lễ Bồ Tát,
cầu xin sám hối tội lỗi sâu dầy của mình. Nga Mi được
tôn xưng là linh địa, nơi Bồ Tát Phổ Hiền từng thị hiện,
nên ngoài ngôi đại cổ tự chính nằm trên đỉnh, còn đến
năm ngôi chùa lớn khác nằm rải rác quanh núi. Ta bắt đầu
hành hương từ chùa Phục Hổ dưới chân núi, đi lần lên
chùa Vạn Niên, rồi đến Bảo Quang trên sơn đỉnh. Ta
đến điện Tích Ngõa lễ hòa thượng Chân Ứng, thỉnh cầu
Ngài cho nhập chúng tại chùa Bảo Quang, và được hòa thượng
hoan hỉ dành cho một nơi cư trú để tùy nghi tu tập. Núi
Nga Mi, cùng với Ngũ Đài và Phổ Đà, nổi danh là ba vùng
linh địa tại Trung Quốc, thường xuất hiện những hiện
tượng huyền bí, giúp cho tín tâm người hành giả thêm kiên
cố. Vào những buổi bình minh nắng đẹp, trên kim đỉnh ta
hân hạnh chiêm ngưỡng những vòng hào quang linh động tỏa
ra từ hình dáng to lớn mà tương truyền là của Bồ Tát Phổ
Hiền đang hiển linh ngồi dưới thung lũng. Đêm đến thỉnh
thoảng ta cũng được ngắm hàng trăm quả cầu sáng rực bay
lượn quanh đỉnh núi, mà người ta cho rằng đó là những
ngọn đèn từ bi phát xuất từ công hạnh của Bồ Tát Phổ
Hiền. Thuở sơ tâm xuất gia, tại vùng Bảy Núi, Châu Đốc,
ta cũng đã từng chứng kiến những chùm ánh sáng di động
nầy. Có lẽ, vùng Thất sơn huyền bí cũng là một linh địa,
chốn ẩn cư của chư Bồ Tát chăng? Thời gian tu tập tại
Nga Mi, ta có phước duyên được hòa thượng Chân Ứng giảng
dạy giáo lý ảo diệu của kinh Hoa Nghiêm cùng các bộ luận
giải của tông Hiền Thủ, nhờ vậy, tâm lượng ta được
nở rộng ra và tự ngã cũng tan biến dần. Ngoài ra, trừ những
lúc phải chấp tác hay dự các thời pháp, ta chuyên tâm lễ
bái “Phổ Hiền Bồ Tát thập nguyện vương” từ lúc canh
ba cho đến khi chiều tối. Càng lễ lạy ta càng cảm nhận
công năng mầu nhiệm của Phổ Hiền Hạnh Nguyện Vương trong
việc đối trị bệnh ngã chấp sây dầy của ta. Thuở mới
xuất gia, tuy ta cũng theo thời công phu lễ thập nguyện vương,
nhưng lúc đó ta mang nặng bệnh ngã mạn, nên chỉ thấy được
ba nguyện đầu : lễ kính Phật, xưng tán Phật, cúng dường
Phật bằng lối nhìn thiển cận. Ta chỉ thấy Đức Phật
quá khứ qua hình tượng, chớ đâu thể nhập vào lý sự vô
ngại để thấy ba đời chư Phật thể hiện dưới dạng muôn
loài chúng sanh trong khắp pháp giới để mà lễ kính, xưng
tán, cúng dường. Sau đó, trên đỉnh Kỳ Vân, nhờ sư Thanh
Lực điểm hóa, ta bắt đầu không còn thấy lỗi người,
mà hằng quan sát lỗi mình. Từ đó, ta mới hành lễ sám hối
nghiệp chướng thâm thiết, đồng thời cũng phát triển được
tâm tùy hỉ công đức qua lễ nguyện thứ năm. Ba nguyện đầu,
nhờ vậy được triển khai, thế nhưng ta dừng lại ở điểm
đó, chẳng tiến bộ xa hơn. Thông thường người hành giả,
sau một thời gian dài khổ công tu tập, tưởng chừng tâm
đã thanh tịnh, lại ngộ đạt vài kiến giải khá cao... thì
bệnh ngã chấp lại mon men tái phát dưới dạng khác. Thật
vậy, có một dạo ta chỉ thấy “ngã kiến đạo pháp” của
mình cao siêu, giòng phái của mình chánh thống, pháp môn của
mình thù thắng…, và dĩ nhiên ta không mấy quí trọng môn
phái nào khác. Do bệnh hẹp hòi phân biệt, xưng tụng môn
phái mình, chê bai môn phái khác, người hành giả không thể
nào bước vào ngưỡng cửa của hạnh nguyện thứ sáu và
bảy : “thỉnh chuyển pháp luân và thỉnh Phật trụ thế”,
thì làm sao có thể đón nhận đạo pháp xuất phát từ kẻ
ngoại đạo, từ chúng sanh muôn loài… để “thường tùy
Phật học”, làm sao dung chứa muôn vàn sai khác để “hằng
thuận chúng sanh”, và thực sự quên mình để “phổ giai
hồi hướng”.
Sau
sáu năm tu tập tại Nga Mi, ta cảm thấy tư lương đã chuẩn
bị đầy đủ, nên quyết định xuống núi hành cước
khắp nơi tham cầu Phật Pháp. Tiên khởi ta hướng về biển
Đông, hành hương núi Phổ Đà, tỉnh Triết Giang, một thánh
địa mà Bồ Tát Quán Thế Aâm đã thị hiện nhiều lần trong
hình dáng người nữ như hình tượng thờ kính hiện thời.
Tuy Phổ Đà nằm trên một hòn đảo, nhưng do lòng sùng bái
vị Bồ Tát “cứu khổ cứu nạn” khách hành hương luôn
tấp nập, do đó, mặc dù diện tích đất đai nhỏ hẹp, nhưng
ngoài hai ngôi chùa chính Phổ Tế và Pháp Vũõ, còn có hơn
hai trăm cơ sở thờ kính Bồ Tát được xây dựng rải rác
khắp đảo. Cha mẹ ta, cũng như phần đông thiện tín tại
miền Nam nước Việt, đặt niềm tin sâu xa vào vị “Phật
bà”. Đó là nguyên nhân đã hướng dẫn ta đến chốn nầy,
để hằng ngày đảnh lễ Bồ Tát, nguyện cầu cho cha mẹ
được an lành. Ta tạm trú tại am Phổ Môn, mỗi ngày đảnh
lễ một ngàn lạy, đến khi đủ ước nguyện ba trăm sáu
mươi ngàn, thì mới hoàn mãn.
Rời
Phổ Đà, trên đường đi Ngũ Đài sơn, ta viếng trấn Đại
Đồng chiêm bái hàng ngàn công trình điêu khắc tượng Phật
vĩ đại tuyệt vời của nhiều thế hệ nghệ sĩ, kéo dài
hàng ngàn năm, trang trí trong hơn hai trăm động đá tại núi
Ngũ Châu, đặc biệt nhất là động Vân Cương với tượng
Phật Tỳ Lô Giá Na khổng lồ, đến nỗi người ta có thể
đứng gọn gàng trên bàn tay Phật. Ta tiếp tục lên tỉnh
Sơn Tây, đến Ngũ Đài sơn, nơi tương truyền là linh địa
mà Bồ Tát Văn Thù thường thị hiện. Ngũ Đài là một dãy
núi to lớn với năm đỉnh cao nhất nhô lên như năm cái đài
hùng vĩ. Phong cảnh ở đây vừa đẹp tuyệt vời, vừa đượm
nét huyền bí linh thiêng, nên đã quy tụ hơn ba trăm ngôi tự
viện lớn nhỏ đủ mọi tông phái, kể cả Mật Tông Tây
Tạng và Mông Cổ. Ta lưu trú tại chùa Hiển Thông trọn mùa
hạ để đi chiêm bái khắp nơi, và cũng tìm đường thăm
viếng Long Môn động, chốn ẩn cư tu thiền của tổ Hám Sơn
thuở xưa, nay dấu vết hầu như đã bị xóa nhòa. Sau Ngũ
Đài sơn, ta tiếp tục du hành khắp nước Trung Hoa trong ba
năm, chiêm bái hàng mươi ngàn thắng tích và tự viện khác
nhau, như các chùa Tây Thành, Giới Đài và Đại Chung tại
Bắc Kinh, chùa Chân Như, núi Vân Cư tỉnh Giang Tây, chùa Thiếu
Lâm núi Tung Sơn tỉnh Hà Nam, chùa Cổ Sơn tỉnh Phước Kiến,
chùa Cao Mân tỉnh Dương Châu, chùa Tam Phật, Vô Xương tỉnh
Hà Bắc, các chùa A Dục Vương huyện Ninh Ba, chùa Nam Hoa, Tào
Khê và chùa Vân Môn, phủ Triều Dương tại tỉnh Quảng Đông…
Trong thời gian nầy ta đã hân hạnh chiêm bái chư đại đức
cao tăng, đủ mọi tông phái, kể cả các vị lạc ma Tây Tạng
và Mông Cổ, mà truyền thống về giới hạnh tu tập hoàn
toàn khác biệt với truyền thống của chúng ta. Ta cũng không
ngần ngại tiếp xúc với những vị chủ chùa tuy tự nhận
là tăng ni, nhưng có nếp sống phóng túng, rượu thịt bừa
bãi, thê thiếp đùm đề… hành nghề cúng kiến cầu tài
lộc, lên đồng nhập cốt, cúng sao giải hạn… Nhờ thời
gian qua, tu tập “Phổ Hiền Hạnh Nguyện” tâm phân biệt
hẹp hòi của ta đã chuyển hóa khá nhiều, vì vậy, dù ở
môi trường tôn giáo nào, ta cũng có thể hội nhập hài hòa
để tìm thấy bất cứ vị nào cũng có ưu điểm để ta “tùy
hỉ công đức”, “thỉnh chuyển pháp luân” và “thường
tùy Phật học” được cả. Ngay như đạo Gia Tô, một tôn
giáo đã liên hệ mật thiết với thực dân Pháp trong mưu
đồ xâm lăng nước ta, nên trước kia ta không mấy cảm tình,
nay thì ta có thể hoan hỉ chấp nhận rồi. Thời gian lưu trú
tại chùa Ngọc Phật, thành phố Thượng Hải, ta có dịp kết
giao với sư huynh Felix thuộc giòng La Salle. Sư huynh đưa ta
đi thăm các trại cùi, trại dưỡng lão và cô nhi viện do
những bà sơ giàu lòng từ bi chăm sóc những kẻ thiệt thòi
như một bà từ mẫu. Dù xuất hiện dưới hình thức tôn
giáo nào, những vị chân chánh hành hạnh Bồ Tát cứu khổ
cứu nạn chúng sanh cũng đáng để chúng ta tán thán và tâm
thành học hỏi hạnh nguyện của họ.
Trong
thời gian hành cước, ta hi vọng tìm được một đạo tràng
tổ chức đúng theo quy củ thiền môn để chuyên tu thiền
định. Thế nhưng Phật giáo Trung Hoa bấy giờ đang gặp thời
suy thoái, những đại tùng lâm quy mô mà chư tổ thiền tông
hưng long đạo pháp, nay đã suy tàn, nên ta chưa tìm được
nơi thích hợp. Thật ra, khi gặp thuận duyên, ta cũng tham dự
những khóa thiền thất tổ chức từ một đến mười hai
tuần tại vài ngôi chùa chốn thị thành. Trong hoàn cảnh bận
rộn phục vụ nhu cầu tín ngưỡng bình dân, quý thầy vẫn
nghiêm túc hướng dẫn những khóa thiền thanh tịnh, công đức
vô lượng vô biên. Lần đó, ta dự khóa thiền thất bảy
tuần tại chùa Hưng Thạnh, Nam Kinh. Vào giờ Tuất, ngày thứ
hai, tuần thứ năm, trong khi chạy bảo hương(12) đến vòng
thứ ba, vừa nghe tiếng bảng ra hiệu dừng lại thì ta bỗng
thấy và nghe xuyên qua tường vách khắp cơ sở tự viện.
Ta hiểu cái đạt nầy chỉ tạo chút tín tâm chớ không lợi
ích gì cho con đường đạo nên chẳng quan tâm. Không ngờ
“hiện tượng thần thông” nầy lại tái diễn nhiều lần,
và đôi khi khiến tâm ta bị dao động mà lảng xao chánh niệm.
Đó là lần ta vô tình nghe thấy thầy tri khách trong khi hàn
huyên với thiện tín đã nhiệt liệt ca ngợi thiền rồi chê
bai pháp môn khác. Ta nghiệm thấy đạo đức mình còn non kém
nên tâm dễ động, vì vậy, ta phải tự cảnh giác để tu
sửa và phải mất một thời gian khá lâu “hiện tượng thần
thông” mới không gây phiền toái cho ta nữa. Sau biến cố
nầy, ta nghĩ nên tìm chốn thanh vắng ẩn tu để tránh bị
ngoại cảnh chi phối. Ta có kết giao với ba người bạn đạo
đồng nhiệt tâm tu thiền là Từ Thạnh, Quảng Thọ, Thiện
Pháp. Thoạt đầu, chúng ta dự định đi Ngũ Đài sơn, nhưng
ngại mùa đông giá buốt của miền Bắc, chúng ta đồng ý
cùng về núi Vân Môn, phủ Triều Dương, tỉnh Quảng Đông
tu tập. Tổ đình Vân Môn (chùa Quang Thái, núi Vân Môn) do
sơ tổ Văn Yển khai sáng, là một đạo tràng to lớn nổi
tiếng cả ngàn năm, nhưng nay đã mai một. Tăng sĩ thừa tự
không còn ai, ngôi chùa Quang Thái bị bỏ hoang phế và hư hại
nặng nề. Chúng ta được Aâu thí chủ ngụ dưới chân núi
cúng dường gạo và muối trong vài tháng đầu, sau đó, chúng
ta trồng khoai sắn để tự túc. Chúng ta kết am cỏ mỗi người
một nơi và giao ước không giao tiếp quấy rầy nhau, hầu
mọi người có thể tập trung nổ lực thiền tọa. Tuy vậy,
hằng tháng vào ngày rằm, chúng ta đồng quy tụ về ngôi cổ
tự hoang phế quét dọn rồi lễ Phật. Đó cũng là ngày chúng
ta gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm thiền tập và sắp đặt
đề cử một hoặc hai người mang hoa màu xuống núi nhờ Aâu
thí chủ trao đổi vài vật dụng cần thiết. Nếp sống đơn
độc ẩn tu rất thoải mái, ta có thể thực tập thiền trong
khi đi đứng và làm rẫy, nên thân tâm ngày càng cảm thấy
thanh tịnh. Vào đêm rằm trung thu năm thứ hai trên đỉnh Vân
Môn, ta vừa lễ Phật xong trở về am, ngắm trăng một lúc
thì tọa thiền cho đến khi nghe tiếng khánh rung bên tai. Ta
mở mắt ra thấy ba thầy lăng xăng đứng chung qunh. Ta rất
đổi ngạc nhiên về sự phá lệ nầy, chưa kịp han hỏi thì
sư Thiện Pháp đã vội giải thích :
- Chúng
tôi nhận thấy thầy bỏ thời lễ Phật hàng tháng, nghĩ rằng
thầy bệnh nặng, nên bàn nhau đến thăm. Đến nơi thấy thầy
mải miết tọa thiền nên mới rung khánh thức thầy.
- Uả!
Tôi từ chùa trở về, tọa thiền chưa được bao lâu mà!
Thầy
Quảng Thọ, lui cui dở nắp nồi cơm ra xem, bỗng chìa nồi
cơm mốc meo ra, rồi lên tiếng :
- Ơ!
bữa nay là tháng mấy vậy thầy!
Nghe
câu hỏi hơi lạ, ta lại thấy ba người bạn đạo trố mắt
nhìn ta chầm chập nên ta ngần ngừ :
- Không
lẽ, hôm nay không phải là đêm rằm trung thu sao?
- Chúc
mừng! Chúc mừng! Thầy đã đạt đến công phu nhập định
hiếm có – ba vị đồng reo lên –
Thì
ra, hôm nay là ngày rằm tháng chín, ta đã nhập định đúng
một tháng mà dường như chỉ trong khoảnh khắc. Kể từ hôm
đó, ba thầy thường phá lệ đến thăm ta, để nhân cơ hội
đó thi đua ca ngợi thiền và tán tụng nhau. Theo khẩu vị
thì dường như ba vị đã bắt đầu tự xem mình ngang hàng
với chư Phật, chư tổ. Ta nhận thấy chốn nầy không còn
thuận duyên tu tập nữa nên một mình đến chùa Quang Thái
lễ lạy tạ ân tổ Văn Yển, rồi âm thầm xuống núi.
Nhớ
đến lời hứa với hai vị ân sư, ta đi Vân Nam hành hương
núi Kê Túc. Ta quen với nếp sống cô độc trên Vân Môn, nên
ngày đi, đêm thường nghỉ ở dưới những cội cây bên đường.
Ta đến địa phận huyện Tân Châu vào tiết lập đông, khí
trời lạnh buốt nên phải ngồi thiền suốt đêm để chống
lạnh. Một hôm, ta nghe tiếng khánh rung, mở mắt thì thấy
nhiều người nông dân đang xúm xít vây quanh. Chợt có người
lên tiếng :
- Uả!
Lão hành khất mù, mới rung chuông xin ăn, sao bỗng biến mất
kìa?
Qua
câu chuyện của họ, ta biết mình đã nhập định một thời
gian dài. Họ thấy ta ngồi trơ trơ nhiều ngày, sờ mũi còn
hơi thở, nên nghĩ ta đã trúng gió cứng đờ nên phát lòng
từ mang về nhà cứu chữa. Họ thoa dầu, xoa bóp chân tay ta
và kêu gọi mà ta vẫn bất động. Sau cùng, đến khi người
hành khất (hay một vị Bồ Tát hóa hiện) rung chuông ta mới
thức tỉnh. Lần xuất định nầy, mặc dầu tâm ta vẫn thư
thái an lạc, nhưng không hiểu tại sao toàn thân bị tê cứng,
nhếch môi cũng không làm được. Ta đoán rằng có lẽ trong
cơn nhập định, những người tốt bụng đã đụng chạm
thân thể ta, khiến máu huyết bị đảo lộn mà ra nông nổi
nầy. Gia chủ thấy mắt ta chớp chớp tíu tít hỏi han nhưng
ta không thều thào chi được. Phải lâu lắm một ngón tay
ta được thư giản đôi chút, ta ngo ngoe chỉ cái hàm bị cứng
thì họ đoán ta bị câm và điếc không nói được phải ra
dấu để xin nước. Họ bắt đầu đổ nước cháo chăm sóc
ta chừng ba ngày thì tay chân ta cử động bình thường. Ta
đã có thể nói được từ ngày thứ nhì nhưng ngay ngày đầu,
vợ chồng gia chủ tưởng ta câm và điếc nên đã đối đáp
cợt nhã những chuyện riêng tư chẳng chút dè dặt, nên nếu
bấy giờ ta lên tiếng thì lại gây bối rối cho họ. Do đó,
ta đành “tùy thuận chúng sanh” đóng vai câm điếc cho đến
ngày từ giã họ tiếp tục hành trình.
Ta
hành hương núi Kê Túc lần đầu mà có cảm tưởng như đã
từng sống tại đây một thời gian dài. Chân thành xúc động
như kẻ tha phương trên đường về nhà, ta hân hoan tìm đến
cửa Hoa Thủ, nơi vách đá bằng phẳng có đường lằn ngang
và dọc tựa như hai cánh cửa đá khổng lồ khép kín lại,
với cái kẽ nằm giữa hai cánh cửa. Theo truyền thuyết, khi
tôn giả Ma Ca Ha Diếp vào động nầy tham thiền nhập định
chờ đợi Đức Phật Di Lạc hạ sanh, thì cửa đá đã đóng
lại, cửa chỉ mở một lần khi tôn giả A Nan đến lễ bái.
Ta ngồi tĩnh tọa cả giờ hồi tưởng nhị vị ân sư, rồi
bắt đầu dâng hương lễ bái cùng một lần với nhóm Phật
tử do thầy Quý Châu, trụ trì chùa La Thuyên, huyện Hạ
Dương, phủ Đại Lý hướng dẫn. Vừa phủ phục xuống nền
đá, hoát nhiên ta thấy cả một chuỗi đời sống động của
tiền kiếp hiển hiện rõ ràng trước mắt. Khi đó ta mang
thân xác một thanh niên trẻ tuổi, đang cùng hai người bạn
thiết, mà trong kiếp nầy là nhị vị ân sư, hành nghề chài
lưới tại hồ Nhỉ Hải. Một hôm, trong khi chúng ta đang ăn
nhậu vui đùa, bỗng có vị tăng sĩ ôm bình bát đến tận
bến cá khất thực. Chúng ta ngây ngất chiêm ngưỡng phong
thái siêu thoát của tôn giả, chân thành cúng dường , và
được Ngài điểm hóa mà phát tâm bồ đề. Chúng ta quyến
luyến theo chân Ngài đến chốn nầy. Sau khi Ngài vào núi nhập
định, chúng ta vẫn bền lòng dựng lều bên vách đá, tiếp
tục tu hành cho đến lúc lìa đời. Ba lần đảnh lễ liên
tiếp thì ba lần hiện tượng huyền diệu đó lại xuất hiện.
Điều lạ lùng, là qua kinh nghiệm của hai lần nhập định
cả tháng mà ta đã trải qua, khi xả định thì dường
như thời gian trôi qua chỉ chừng một khắc, ngược lại,
trong ba lần đê đầu phủ phục lễ bái không kéo dài hơn
âm thanh tiếng chuông, thì ta lại cảm thấy như trở về sống
với thời quá khứ bao năm trời. Ta phân vân thầm nghĩ : “Thời
gian là cái gì kỳ dị, kéo dài thì dường như mù mịt vô
tận, mà thu lại thì chỉ chừng một niệm”. Vào thời điểm
đó, người thị giả của thầy Quý Châu bỗng mang chung trà
đến dâng mời ta. Ta bận suy tư, hơ hỏng đánh rơi chung trà
xuống nền đá bể nát. Aâm thanh chung trà bể hốt nhiên thức
tỉnh ta toàn diện, căn nghi dứt tuyệt, bao nhiêu vọng niệm
về thời gian, không gian, chủng tộc, chúng sinh… tức thời
tan biến. Thân tâm ta trạm nhiên rỗng lặng như hư không,
ảnh hiện vạn pháp dung thông lai khứ. Ta vắn tắt ghi lại
kinh nghiệm đó bằng bài kệ :
Hốt
nhiên căn nghi bặt dứt
Vọng
niệm phân biệt tiêu tan
Thân
tâm trạm nhiên rỗng lặng
Pháp
giới hiển hiện rõ ràng…
Ta
dự định dừng chân tại núi K