PHỔ NGUYỆN
Chuyến
hành trình về phương Nam đã được đại sư Nhất Nguyện
suy tính và chuẩn bị chu đáo, vậy mà khi sắp sửa lên đường
sư cũng cảm thấy bâng khuâng ngần ngại. Sư chỉ lẩn quẩn
tu tập trong khuôn viên Thiếu Lâm tự, quen nếp sống thanh
vắng, quyến luyến núi rừng hùng vĩ, thân thuộc với từng
cành cây, từng hốc đá trên đỉnh Thiếu Thất, núi Tung Sơn,
nên thật ra, nếu không vì lý do chánh đáng, thì đã không
cất bước. Sư sớm có nhân duyên lớn với cửa Phật, đã
được sư bà Diệu Từ, nhận làm dưỡng tử, mang về chùa
Phổ Nguyện, Giang Nam nuôi dưỡng từ lúc mới sơ sinh. Khi
lên năm tuổi, sư bà cho cậu bé thọ giới khu ô sa di, ban
pháp danh là Nhất Nguyện. Ngôi chùa nữ không còn thuận tiện
cho việc tu tập của một cậu con trai sắp đến tuổi dậy
thì, nên đến năm mười ba tuổi, cậu được sư bà mang gởi
gắm làm thị giả cho pháp huynh Không Tuệ, thủ tòa Ðạt
Ma viện, Thiếu Lâm tự. Nhờ vậy, sư đã may mắn tu tập
dưới sự hướng dẫn ngày đêm của những bậc tôn túc đạo
cao đức trọng. Trong ba mươi năm nghiêm túc tu học, sư nghiễm
nhiên trở thành bậc anh tài tinh thông Phật học, nổi tiếng
là một học giả uyên bác, làu thông ba tạng kinh điển có
thể xếp vào hàng thượng thủ trong giới tu sĩ trung niên
tại tu viện. Tuân theo lời khuyên bảo của Vô Sắc thiền
sư, Phương Trượng Thiếu Lâm tự, sư đã lánh mình trong tịnh
thất ba năm, để đem hết tâm trí mình sớ giải bộ Kinh
Lăng Già Tâm Ấn gồm thành hai mươi lăm quyển, để lưu lại
hậu thế. Trong thời gian nầy, phương trượng Vô Sắc đã
được nhà vua cử làm quốc sư, triệu về lưu trú tại Trường
An. Vì vậy, sư buộc lòng xuống núi, mang bộ sớ giải đi
Trường An, dâng cho quốc sư thẩm duyệt, nhân tiện, sư dự
định sẽ về Giang Nam thăm lại ngôi chùa xưa, và vị thầy
quý yêu hằng thương nhớ. Tác phẩm đã được quốc sư tán
thán là một bộ luận giải công phu, văn cú mạnh lạc khúc
chiết, đã chuyên chở trọn vẹn ý nghĩa thâm sâu của đạo
mầu, nên đã quyết định cho khắc bản in, để phổ biến
khắp các tự viện trong nước. Quốc sư cũng yêu cầu tác
giả lưu lại Trường An, để trông nom, sửa chữa bản in
cho đến khi hoàn tất công cuộc ấn loát. Do đó, dù có chán
ngán cảnh bon chen náo nhiệt của chốn kinh thành như thế
nào, sư Nhất Nguyện cũng phải gượng gạo kéo dài thời
gian sống ở chốn đô hội thêm cả năm nữa, rồi mới có
thể nghêu ngao sơn thủy:
"Bình
bát cơm ngàn nhà
Thân
chơi muôn dặm xa.
Mắt
xanh xem người thế.
Mây
trắng hỏi đường qua"(1)
Khác
hẳn với cảnh non cao ngất nghểu, gió lạnh buốt xương của
đỉnh Thiếu Thất, nằm trong dãy núi Ngũ Nhạc trùng trùng
điệp điệp, vùng đất Giang Nam bằng phẳng, mông mênh đồng
ruộng, chằng chịt sông ngòi, khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh
tươi thịnh mậu. Khi sư đến trấn Lăng Hồ, phủ Hồ Châu,
tìm lần về ngôi chùa Phổ Nguyện năm xưa, thì bao kỷ niệm
ấm êm thuở thiếu thời, mà sư tưởng chừng như đã buông
bỏ không còn dấu vết, đột ngột hiện về khiến sư chao
đảo xúc động. Phong thái đĩnh đạc uy nghi của một vị
đại sư bỗng nhường chỗ cho hình ảnh một đứa bé mồ
côi khờ khạo, dù được sư phụ nâng niu như từ mẫu, mà
vẫn ôm ấp mối hoài nghi khôn nguôi về hai đấng sanh thành
vắng bóng. Xóm làng vắng vẻ đìu hiu năm xưa, nay đã san
sát nhà cửa, đường vào chùa được trải đá, sạch và
rộng hẳn ra. Ngôi chùa cũng khang trang, không còn chút dấu
vết hình dáng gầy gò ngày trước, đến nỗi nếu không thấy
chữ "Phổ nguyện tự" màu hoàng kim rực rỡ trên cổng tam
quan, sư nghĩ mình đã lạc đường. Ðặc biệt nhất là cái
đầm sình lầy lội sau chùa đã được cải biến thành một
cái hồ sen xinh xắn bao quanh bởi một vườn cây trái xanh
um. Ðang bâng khuâng trước cảnh đổi thay, chợt nghe ba hồi
chuông trống bát nhã vang rền, sư vội vã rảo bước nhanh
vào chùa. Mọi người đang rộn rịp lo cho một đại lễ,
không ai để ý gì đến sự hiện diện của sư. Sư len vào
chánh điện, đúng lúc đại chúng đang nghiêm trang thỉnh sư
bà ban đạo từ. "Thầy hiển hiện sáng ngời đức từ bi
và niềm an lạc, nhưng thầy đã già lắm lắm rồi", sư thầm
nhủ. Sư xúc động muốn chạy ngay đến trước mặt thầy,
quì lạy rồi để cho giòng nước mắt mặc tình tuôn chảy.
Nghĩ thế, nhưng sư đâu còn là đứa trẻ con chộn rộn nữa,
sư chỉ hơi nhón lên một chút mong sư bà nhìn thấy mặt,
nhưng cố gắng nầy dường như vô hiệu.
Sư
bà chắp tay xá thật sâu chào đại chúng, rồi từ hòa lên
tiếng:
- Ðại
chúng! Theo lệ hằng năm, nhân lễ kỷ niệm ngày khởi công
gầy dựng ngôi chùa Phổ Nguyện, thầy thường nhắc nhở
quý vị về hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền. Hôm nay,
để thay đổi đôi chút, thầy muốn kể cho đại chúng nhân
duyên kỳ diệu năm xưa đã đưa thầy đến quyết định tạo
dựng ngôi già lam nầy!
Sư
bà trầm ngâm giây lát như lắng lòng về với dĩ vãng, rồi
mới chậm rãi tiếp lời:
- Như
đại chúng đã rõ, thầy vốn là đệ tử của chùa Nga Mi.
Theo truyền thuyết, Nga Mi sơn là chốn ẩn cư của Bồ Tát
Phổ Hiền, và hình bóng Ngài đang tọa thiền vẫn thường
xuất hiện cho khách hành hương chiêm ngưỡng. Vào những buổi
sáng đẹp trời, đứng trên đỉnh núi phía sau chùa, khách
hành hương có thể thấy hiển hiện rõ ràng dưới thung lũng
hình bóng uy nghiêm của Ngài(2). Thầy đã chứng kiến
hiện tượng đó hàng trăm lần, và lần nào thầy cũng xúc
động chân tâm, thành kính quí xuống tụng Phổ Hiền thập
nguyện(3) và phát nguyện noi gương Ngài hành mười hạnh
nguyện nầy để cứu độ chúng sanh. Thầy đặc biệt quan
tâm đến đệ nhất nguyện "lễ kính chư Phật", do đó thầy
đã hằng nhắc nhở chư đệ tử khi lễ Phật phải đem hết
"thân tâm cung kính" để lễ, nghĩa là phải nghiêm chỉnh chắp
tay, đứng thẳng, tưởng nhớ đến đức hạnh cao cả của
Phật, nguyện noi gương Phật tu tập, rồi mới gieo năm vóc
xuống sát đất phủ phục trước Phật. Với thầy, thì nếu
năm vóc không sát đất, hoặc đang ngồi hay quì mà mọp xuống,
thì trong việc lễ Phật đã có phần giãi đãi, thiếu chân
thành. Lễ Phật có chân thành, thì hành giả mới có thể
tiến lên bốn phép lễ về lý như "pháp lý thanh tịnh lễ",
- nghĩa là thấu suốt rằng cả Pháp giới đều do tâm hiện
bày, lạy một vị Phật tức là lạy chư Phật -, "biến nhập
pháp giới lễ", "chánh quán lễ" và "thật tướng bình đẳng
lễ"(4).
Thuở
thầy còn là ni cô trẻ trên Nga Mi, thầy thuộc thành phần
lễ Phật quá khích, ngày ngày thầy đi vòng quanh đỉnh núi,
mỗi một bước lễ một lễ, say mê không nhàm chán. Thế
nhưng thầy đã lễ Phật với tâm sùng bái, chớ chưa hiểu
lễ Phật là pháp môn tu sửa thân tâm. Có lẽ, đó là lý
do khiến sư phụ thầy không hài lòng. Một hôm, sư phụ truyền
lệnh cho thầy phải xuống núi để "lập hạnh", nếu lập
hạnh chưa sáng tỏ thì tuyệt đối không được lễ Phật,
và cũng không được trở về Nga Mi sơn. Thầy bàng hoàng ra
đi với tâm trạng đớn đau cùng cực, vừa tủi thân vừa
điên đầu về lời dạy bảo quái dị của sư phụ. Mình
đã lập hạnh lễ Phật rồi còn bảo lập hạnh gì nữa đây?
Mình có tội tình gì mà bị đuổi xuống núi, bị ngăn cấm
lễ Phật một cách độc đoán như vậy?
Lòng
dạ hoang mang rối bời, thầy đi lang thang vô định từ địa
phương nầy sang chốn khác cả năm trời, để tận lực tìm
cơ duyên lập hạnh mà chẳng thấy có hạnh nào đáng để
lập. Ðã bao lần thầy thối tâm muốn hoàn tục, nhưng có
lẽ nhờ chư thiện thần hộ pháp yểm trở, nên dù thân tâm
đã mỏi mệt chán chường, thầy vẫn gắng gượng lê lết
tiếp nối con đường đã đi. Thế rồi, thầy vô tình đến
trấn Lăng Hồ, đúng vào lúc mà nơi nầy đang lâm vào tình
trạng hạn hán trầm trọng, mùa màng thất bát, đời sống
khó khăn. Hôm đó, thầy ôm bình bát đứng tại chợ Ðông
khất thực lâu hằng giờ mà chưa gặp được thí chủa hảo
tâm nào cúng dường; lão mù ngồi gần đó cất giọng van
xin thảm thiết từng hồi mà cũng chưa có mấy kẻ động
lòng. Trong thời gian nầy, đi xin ăn, dù dưới hình thức nào
cũng lắm khó khăn cay đắng. Con chó què quặt, ghẻ lác trụi
lông, gầy đói trơ xương đang lê lết trước mặt thầy càng
bi đát hơn. Con vật rón rén đến quán ăn, hau háu chực hờ
thực khách quăng cho chút xương thừa. Không may, vừa trông
thấy con vật dơ dáy, người chủ quán vội chụp ngay cay gậy,
đập con vật mấy hèo, khiến nó đau đớn rên la ăn ẳng.
Sự kiện đó, có lẽ đã giúp cho mấy đứa bé trai đang hùng
hục đấu võ với nhau, khám phá ra trò chơi mới. Chúng hùa
nhau đuổi rượt hành hạ con vật khốn khổ. Thầy muốn khuyên
giải đám trẻ, nhưng chưa kịp mở lời thì chúng đã chạy
khá xa rồi. Thầy là tu sĩ, phải giữ bốn uy nghi, đâu có
thể la ơi ới hay phóng chạy theo chúng được. Thầy đành
rảo bước theo sau, mắt vẫn lom lom theo dõi con chó chạy về
hướng cuối chợ. Chợt có tiếng can thiệp nhỏ nhẹ:
- Xin
các cậu tha cho nó đi! Tội nghiệp lắm!
Lạ
thật, lời nói phát xuất từ mụ ăn mày ngồi ở vỉa hè,
vậy mà có hiệu lực khiến đám trẻ ngỗ nghịch tuân lời,
tản lạc bỏ đi. Con chó khôn ngoan mon men đến gần người
vừa che chở, ngúc ngoắt đuôi như để chào mừng. Thầy cũng
hiếu kỳ, bước đến gần để nhìn người tốt bụng. Hốt
nhiên, vừa thấy người đó, thầy kinh khiếp đến mức sửng
sờ, dợm bỏ chạy ngay như lũ trẻ ác độc kia. Ðó là một
người bệnh phong hủi, mặt mày u nần lở lói, mũi tai bẹp
dí biến dạng, ngón tay ngón chân bị khuyết cụt lầy nhầy
máu mủ, bu quanh bởi đám ruồi thèm khát vị thanh hôi... Nhờm
gớm quá! thầy dự định len lén rút lui về hướng khác.
Chợt thấy thầy người ấy vuốt ve con vật, ngọt ngào an
ủi:
- Tội
nghiệp con quá! chúng làm con đau lắm phải không?
Trái
với những kẻ sống đầu đường xó chợ nói năng thô lỗ,
người đàn bà nầy đối với loài vật lại thốt lời êm
ái dịu dàng như người mẹ hiền trao cho đứa con yêu, quả
là điều lạ lùng! Thầy phỏng đoán có lẽ người đàn bà
nầy điên loạn, lầm tưởng con chó là đứa con đã chết,
nên lời nói mới tràn ngập yêu thương như vậy! Do đó, thầy
nán lại để lẳng lặng quan sát thêm chút nữa.
- Chắc
con đói lắm phải không? Ta mới vừa xin được một bát cơm,
chia cho con phân nửa nhé!
Mụ
ăn xin sớt cơm ra chăm sóc cho con chó ăn với "ánh mắt từ
bi" diệu hiền khôn tả. Có lẽ, thấy con vật quá đói, "dùng
thiệt tình, không khách sáo", mụ cầm bát cơm còn lại, ngần
ngừ một chút, rồi trút hết cho nó. Con chó ăn xong lấy lại
hơi sức để bò đi nơi khác. Người ăn xin nhìn theo sung sướng
mĩm cười, rồi bỗng nhiên mắt mụ sáng lên, mụ vét mấy
hạt cơm còn sót lại trong bát, nhai ngấu nghiến.
Thầy
tình cờ chứng kiến rõ ràng diễn tiến xảy trước mặt,
không bỏ sót một chi tiết nhỏ. Càng nhìn, càng lắng nghe,
thầy càng cảm phục mụ ăn xin, và cũng cảm thấy hổ thẹn
vương vấn trong lòng. Ôi! Thầy đã lấy cái bụng nhỏ nhen
của mình để phán đoán người có tâm địa bồ tát, đã
thầm khinh thường mụ là thứ hạ tiện khùng điên, ngờ
đâu, ẩn bên trong hình hài xấu xa đó là nguồn suối từ
bi vô lượng sẵn sàng trao cho mọi loài chúng sanh. Người
đã khuyên mấy đứa trẻ tránh điều ác, ban cho con vật thức
ăn và sự che chở, an ủi, nói khác, người đã bố thí pháp,
tài vật và phép vô úy theo tinh thần ba la mật(5): cho
tất cả với tâm bình đẳng không phân biệt, không mong cầu,
không tiếc nuối, không còn thấy kẻ cho người nhận. Thầy
vốn phát nguyện hành hạnh tùy hỉ, lẽ ra thầy nên thân
cận lên tiếng tán thán công đức người lạ, nhưng lúc đó
thầy cứ ngần ngừ không mở lời. Thật ra, dù đã học thuộc
làu làu giáo lý "sắc bất dị không", nhận thức rằng hình
hài bên ngoài là "huyễn", là giả dối tạm bợ, nhưng khi
đối diện với hoàn cảnh thực, thầy mới biết rõ là từ
chỗ nói đến hành động là một khoảng cách nghìn trùng.
Người có tâm Phật, tâm Bồ Tát nếu mang hình hài phong hủi,
thúi tha, ghê tởm...., thì mấy kẻ dám thân mật gần gũi,
huống chi là lễ kính, xưng tán, cúng dường. Thầy còn ngẩn
ngơ, thì mụ ăn mày bỗng nhìn thấy thầy, vội đứng lên
trang trọng chấp tay vái chào, khiến thầy cũng bối rối xá
đáp lễ.
- Kính
chào sư thái! Có lẽ sư thái từ phương xa mới đến địa
phương nầy?
Thầy
hãnh diện đáp:
- Ðúng
vậy! bần ni là đệ tử chùa Phổ Hiền, núi Nga Mi!
Người
ăn mày bỗng quỳ xuống lâm râm khẩn: "Cảm tạ chư Phật,
chư Bồ Tát linh thiêng, đã dun rủi cho con gặp được vị
sư thái hiền đức nầy!", đoạn hướng về thầy, mụ tiếp
lời:
- Kính
thưa sư thái! Con có một nguyện vọng tha thiết đã ôm ấp
hơn ba năm qua, là mong gặp vị tu sĩ hành hạnh Phổ Hiền,
để dâng cúng chút tài vật hèn mọn. Bồ Tát đáp ứng lòng
thành cho con hạnh ngộ với sư thái, kính xin sư thái đại
từ đại bi hoan hỉ chấp nhận cho con được hoàn thành tâm
nguyện!
Tài
vật của mụ ăn mày dĩ nhiên nhỏ nhoi không đáng kể, nhưng
nhà Phật chủ trương của cúng dường quý là ở lòng thành,
huống chi mụ đã tán thán thầy hiền đức và van xin lòng
đại từ đại bi của thầy, thầy nỡ lòng nào từ chối.
Thầy vui vẻ đáp:
- Lành
thay! Lành thay! Lòng thành của cư sĩ sẽ được chư Phật
mười phương chứng giám!
- Cảm
tạ sư thái! Xin sư thái hoan hỉ đi theo con đến chỗ con dấu
tài vật! Dạ không xa đâu sư thái!
Tưởng
nhận cúng dường là có thể chia tay ngay, ngờ đâu thầy còn
phải dây dưa mãi với chuyện phiền hà khó giải bày nầy.
Dù sao, lỡ hứa khả rồi, thầy buộc lòng lẻo đẻo đi theo
mụ, giữ khoảng cách chừng ba bước, không quá gần, cũng
không quá xa, để tránh cho mụ khỏi tủi thân. Ðiểm khó
chịu là mụ tật nguyền, bụng lại bị cổ trướng như bụng
bầu, đi ngả nghiêng xiêu vẹo, mà thầy "tảng lờ" không
dìu đỡ, kể ra cũng hơi kém từ bi một chút. Không bao lâu,
người ấy đưa thầy đến cái miễu hoang tại một vùng sình
lầy vắng vẻ, lau sậy rậm rạp, nơi tạm trú của mụ. Tưởng
lần nầy vụ dâng hiến sẽ êm xuôi, ngờ đâu vừa tới nơi
thì mụ đã ngồi vật xuống, ôm bụng rên rỉ. Thầy lăng
xăng chạy tới chạy lui, muốn cứu giúp mà không dám đụng
chạm vào thân thể mụ, nên cũng chẳng giúp gì được. Ôm
bụng lăn lộn một hồi, mụ mới khai "toạt" ra là mụ đau
bụng đẻ. Ôi! Thân thể bệnh hoạn mà phải sinh nở cô đơn
ngoài bờ ngoài bụi, không mụ bà, không thuốc thang củi lửa,
quả là chuyện hiểm nghèo! Thầy tội nghiệp cho người mà
nghĩ cũng tội nghiệp cho chính mình, bỗng dưng mình phải
lâm vào hoàn cảnh trớ trêu khó nghĩ nầy. Thầy phân vân
chẳng biết nên hành động như thế nào đây? Thầy tự đề
ra bao giải pháp để vặn hỏi chính mình: lẳng lặng bỏ
đi chăng? Lương tâm xốn xan bức rức!, xả thân cho người
chăng? ghê tởm quá không dám!, vào xóm tìm người tốt bụng
giúp đỡ chăng? Không ổn tí nào, mình hành đạo từ bi mà
né tránh thì còn xúi giục ai lăn vào địa ngục nầy! Hai
chữ địa ngục lóe lên trong tâm thức nhắc nhở thầy liên
tưởng đến tuyên ngôn dấn thân của Bồ Tát Ðịa Tạng:
"Ta không vào địa ngục thì ai mà vào". Thông điệp nầy xuất
hiện đúng lúc, giúp thầy nắm vững niềm tin và sức mạnh
để sẵn sàng xả thân cho người. Thầy bình tĩnh kề cận
chăm lo cho người đàn bà đau khổ, không còn phân biệt dơ
sạch, thơm hôi gì nữa. Thình lình, cơn đau của người đàn
bà trở nên dồn dập và quyết liệt hơn. Cuối cùng, sau những
đợt vặn mình tập trung hơi sức vận chuyển thai nhi, người
mẹ đưa được con ra đời. Thầy dơ hai tay đón nhận đứa
bé. Vừa khỏi lòng mẹ, thì nó đã "oe oe", cất tiếng khóc
chào đời. Thầy nâng cháu lên, nhìn vẻ kháu khỉnh của nó,
rồi hân hoan lên tiếng: "Con trai chị ơi! thằng bé dễ thương
quá!". Thế nhưng, bà mẹ sau khi đã vận dụng hết hơi sức
cho con ra đời, dường như đã bất tỉnh, nên vẫn lặng yên.
Thầy vội đặt tạm đứa bé lên cái y hậu, rồi xoay qua
lo lắng người mẹ. May là thầy có mang theo chai dầu, thầy
xoa dầu thoa bóp cho cơ thể bà ấm lại, nhờ vậy bà tỉnh
dần, sau đó thầy mới dìu đưa bà vào trong miễu tránh gió.
Phần người mẹ vừa tạm yên, thầy quýnh quýu đập bể
cái tô mẻ, dùng miểng sành cắt rún cho thằng bé, xé vải
y quấn chặt, rồi định bồng vào xóm hy vọng tìm chút nước
ấm tắm rửa nó. Khi thầy đi chừng mười bước bầu trời
đang trong xanh quang đãng, bỗng dưng xuất hiện những giọt
mưa lất phất, mịn và tươi mát. Nước mưa vô tình gột
rửa sạch sẽ thân thể thằng bé, trông nó kháu khỉnh dễ
thương vô cùng. Thằng bé hớn hở chu miệng nếm hương vị
cam lồ, và quơ hai tay nhỏ xíu như để đón nhận những giọt
nước thanh lương mầu nhiệm. Thầy trang trọng chiêm ngưỡng
cảnh tượng trước mắt và bỗng dưng thầy so sánh mưa là
những cánh hoa ưu đàm mà chư Thiên từ các tầng trời rải
xuống cúng dường vị Phật chào đời. Thầy đột ngột cười
vang: "Ðúng vậy! đứa bé nầy quả là một vị Phật, một
vị Phật tương lai, và mình đang thật sự đích thân hành
lễ mộc dục, tắm Phật sơ sinh đây!". Mối nghi nặng trĩu
đeo đẳng thầy ngày đêm từ ngày xuống núi Nga Mi nhẹ hổng
rồi biến mất, nhường chỗ cho niềm vui vô tận tràn ngập
khiến thầy ràn rụa nước mắt. Thì ra, hạnh nguyện Phổ
Hiền không nhất thiết chỉ có thể hành trì hạn hẹp qua
hình thức lễ kính hình tượng gỗ đá vô tri hay chờ đợi
đến khi Ðức Phật Di Lặc hạ sanh thì mới thực hiện được.
Nếu biết trải tâm rộng lớn, hành giả có thể nhận thức
được rằng ở bất cứ nơi nào, lúc nào cũng có Phật thị
hiện, để mình lễ kính, xưng tán, cúng dường... Thầy hân
hoan bồng đứa bé trở vào miễu, trang trọng hướng về vị
"Phật mẫu" đang nằm thiêm thiếp lên tiếng:
- Thí
chủ ạ! Bần ni xin đặt vị Phật sơ sinh nầy bên cạnh thí
chủ nhé!
- Xin
sư thái để cháu bé tránh xa con kẻo lây bệnh thì khổ! Thưa
sư thái, sức của con đã mỏi mòn, con sắp lìa đời rồi.
Kính xin sư thái mở lượng hải hà nhận nó làm dưỡng tử,
cho con được yên tâm nhắm mắt!
- Ðứa
bé nầy sanh ra đã được quấn y, hẳn là đã có nhân duyên
lớn với cửa Phật. Thí chủ đã có lòng ủy thác, thì ta
cũng sẵn sàng đón nhận!
- Và
đây là tâm nguyện cuối cùng của con. Con xin sư thái cho con
được cúng dường sư thái bảo vật nầy.
Người
đàn bà, nại hai viên gạch sát vách lôi ra một cái bọc nhỏ,
trong đó có một quyển sách và tám viên minh châu chiếu lấp
lánh, trao cho thầy. Thầy ngần ngại chưa cầm vội vì chẳng
biết xuất xứ của bảo vật như thế nào? Một người ăn
mày làm sao có thể là sở hữu chủ những thứ nầy! Có lẽ
đoán được thâm tâm thầy, chị lên tiếng giải thích:
- Tuy
con là kẻ ăn mày, nhưng tài sản quý giá đó chính thực là
của con. Xin sư thái yên tâm! Con họ Lý, vốn thuộc một giòng
họ giàu sang ở Hồ Bắc, chuyện thân con phải lưu lạc thảm
chốn nầy dài dòng lắm!...
Thế
rồi, chị ta trầm ngâm giây lâu, mơ màng nhớ lại những
ngày xưa xa xôi, rồi lẩm bẩm kể tiếp:
*
*
*
"Tôi
tên là Tường Vi, con duy nhất của một gia đình giàu sang
tại phủ Hồ Bắc. Mẹ tôi qua đời khi tôi mới lên năm,
khiến cho cha tôi, một nho sĩ vốn theo đòi nghiệp bút nghiên,
trở nên yếm thế. Người sống lủi thủi một mình, bậu
bạn với trăng hoa, và dành phần lớn thời giờ để vui đùa
chăm sóc "tiểu Vi", mà thôi. Tôi may mắn được người dạy
dỗ chữ thánh hiền, nên đã sớm thích thi thơ xướng họa.
Vào lứa tuổi trăng tròn, tôi đã nổi tiếng là cô tiểu
thơ tài hoa, xinh đẹp, đặc biệt với làn da trắng mịn và
đôi gò má đỏ hây hây tự nhiên không cần trang điểm. Nhiều
gia đình trâm anh đã nhờ mối mai dò la dạm hỏi, nhưng tôi
tha thiết muốn được kề cận với cha thêm vài năm nữa,
nên một mực chối từ. Vào năm mười tám tuổi, một hôm
soi gương tôi thấy có mấy mụt đỏ sần sùi nổi trên hai
gò má. Lúc đầu, tôi thoạt tưởng đó chỉ là mụn thường
nên không mấy lưu tâm, nhưng những mụt nầy cứ tăng trưởng
dần và lầy lội ra. Cha tôi lo lắng đưa tôi đi khắp nơi
tìm thầy chạy thuốc, nhưng bệnh tình ngày càng trầm trọng,
và cuối cùng, tôi mới được một y sĩ có lương tâm cho
biết tôi bị phong hủi. Vi trùng bệnh nan y nầy đã tiềm
ẩn lâu ngày trong làn da trắng mỏng, thảo nào đôi gò má
của tôi luôn hồng hào xinh đẹp.
Chỉ
trong vòng có bốn năm mà hình dung tôi tàn tạ một cách kinh
khủng. Mặt tôi biến dạng, tay chân lở lói tanh hôi, suốt
ngày tôi phải che mặt, băng bó tay chân, và sống cô đơn
không tiếp xúc với ai ngoài thân phụ và người thị nữ
Nguyệt Hà thân tín. Sống trong nhung lụa mà tôi đau khổ cùng
cực. Cha tôi, có lẽ còn đau khổ hơn tôi bội phần, người
chỉ ước mơ lo cho tôi yên bề gia thất, để có thể an tâm
lên non cao tu tiên mà tiêu dao ngày tháng.
Một
hôm, bỗng có người nhờ mai mối dạm hỏi tôi về làm dâu
tại phủ Hồ Nam. Cha tôi biệt phái viên quản lý tâm phúc,
cậu của thị nữ Nguyệt Hà, xuôi về Nam dò la gia thế nhà
trai. Theo báo cáo, thì đàn trai tuy nhà cửa chỉ ở mức trung
bình nhưng rất có tư cách, họ lại đặc biệt quá trọng
đạo đức nhân nghĩa của cha tôi. Chính vì vậy, nên mặc
dù đã được cha tôi thành thật khai rõ bệnh tình của con
gái, mà đàn trai vẫn không đổi ý; họ giải thích rằng
họ chỉ quan tâm đến đạo đức và gia giáo, chớ không màn
cân nhắc hình dung. Dù đàn trai giải thích thế nào, tôi vẫn
cảm thấy chút nghi ngại trong lòng, tôi không tin có người
thật tâm chịu gần gũi kẻ bệnh hoạn như tôi. Trái lại,
cha tôi lại tuyệt đối tin tưởng nên tỏ ra hân hoan vui sướng
tột độ, khiến cho tôi, tuy bất đồng ý kiến, mà không
nỡ làm người thất vọng. Lo lắng cho hạnh phúc con gái,
cha tôi viện cớ sắp đi tu chẳng cần tiền bạc gì nữa,
nên đã hứa tặng hết gia sản mình cho rể làm của hồi
môn; người tin tưởng rằng khi đã nhận lãnh tài sản nầy,
thì con rể sẽ phải bao bọc cho vợ nó suốt đời. Chỉ mấy
tháng sau, một hôn lễ đơn giản đã được cử hành. Ðến
phút chót trước lễ rước dâu, cha tôi trao cho một cái túi
nhỏ xíu, đựng tám viên minh châu vô giá căn dặn giữ kỹ
để phòng thân. Con đường rước dâu về phương Nam xa xôi,
để tránh cảnh chia ly não nề, cha tôi chỉ đưa đi một quãng
ngắn rồi quay về, ủy thác mọi việc cho viên quản lý tùy
nghi thu xếp. Những ngày đi đường, tôi ngồi kiệu riêng,
mặt trùm kín, và chỉ tiếp xúc với thị nữ thân tín Nguyệt
Hà, vì theo sự sắp xếp trước, thì khi về đến nhà chồng
mới làm lễ động phòng hoa chúc. Khi đoàn rước dâu sang
đến địa phận phủ Hồ Nam, viên quản lý vừa quay về,
thì đám họ hàng nhà trai bỗng nhiên chia tay mỗi người mỗi
ngả, phu khiêng kiệu cũng biến dạng. Tối đêm đó, tôi đang
ở trong phòng tại một quán trọ vắng vẻ với Nguyệt Hà,
thì chồng tôi gõ cửa bước vào. Mặt hắn đỏ gay, nực
nồng mùi rượu. Hắn nhìn tôi trợn trừng, rồi hung dữ chụp
cái khăn che mặt của tôi liệng đi:
- Hừ!
cái thứ cùi hủi thúi tha mà dám đòi làm vợ tao hả!
Hắn
lại định tát tay tôi, nhưng có lẽ sợ dính máu mủ, nên
đổi ý đưa nắm tay ra dọa, rồi ngoắt Nguyệt Hà dặn dò:
- Em
lột sạch nó nhan đi em!
- Anh
đừng lo! Em đã tính toán đâu vào đó cả rồi!, Nguyệt Hà
âu yếm trả lời.
Nguyệt
Hà nhanh nhẹn lột bộ quần áo cô dâu của tôi ra, lột luôn
cả cây kiềng vàng, xâu chuỗi hạt trai, đôi bông..., rồi
quăng cho tôi bộ đồ rách rưới, hạ lệnh:
- Mặc
nhanh lên! Con cùi!
Thế
rồi, hai đứa đẩy tôi ra khỏi cửa, khoái trá cười vang.
Diễn
tiến phũ phàng xảy ra đột ngột đến nỗi tôi điếng cả
người, ngẩn ngơ chẳng biết nói gì, nghĩ gì. Mãi đến khi
bị tống ra ngoài đường, bò lê trong đêm tăm tối, tôi mới
hiểu rõ là hai cậu cháu người thị nữ lâu năm mà cha con
tôi thương yêu như cật ruột, đã toa rập với nhóm lưu manh
âm mưu dàn cảnh cưới gả, để cướp đoạt tài sản của
cha con tôi. Nhớ tới cha, bao nhiêu nỗi hờn căm, khổ đau
mà tôi đè nén khô cứng trong lòng bỗng biến thành tiếng
khóc nức nở. Thương cha quá! người cha đã hy sinh tất cả
để mưu cầu hạnh phúc cho con, đâu có thể ngờ rằng đứa
con yêu đã phải lâm vào trạng huống đớn đau cùng cực
như thế nầy. Tôi lang thang lê lết đêm ngày, mong được
chết cho xong đời mà chẳng biết phương cách để chết,
đói khát điên cuồng mà chỉ biết ngậm câm chịu đựng
chớ không biết cách gì xoay sở. Tôi đã quen được chăm
sóc, chưa từng tiếp xúc với người lạ, nay ra đường ăn
mặc rách rưới, thân thể nhơ nhuốc gớm ghiết, không tiền
không bạc, thì làm sao dám mở lời. Cuối cùng, mệt lả người
tôi ngã quị tại vỉa hè một căn nhà phố chợ, tưởng rằng
sẽ chết tại đó. Không ngờ người nhà lăng xăng cho tôi
thức ăn, nước uống, rồi "xua" tôi đi nơi khác. Tôi bèn
khám phá ra một sự thật, là mang bệnh phong hủi nầy, thân
cận với người thật khó nhưng xin xỏ thực phẩm thì quá
dễ, người ta thà "thí" chút cơm cá thừa thãi hầu tôi "xéo
nhanh" nơi khác, hơn là để tôi lê lết gần họ. Từ đó,
tôi đành ăn xin đây đó qua ngày. Có những lúc tôi định
hỏi đường về quê, nhưng cha tôi chắc hẳn đã đi tu biệt
dạng rồi, tôi mang thân tàn ma dại nầy về thì chỉ nhục
nhã với bà con lối xóm mà thôi. Tôi cũng có ý định bán
vài viên minh châu để có tiền xoay sở, nhưng mấy ai chịu
tin một kẻ ăn mày có của. Nghĩ cho kỹ, nếu có người tin
tôi có bảo vật, thì mạng sống tôi chưa chắc đã vẹn toàn.
Một
hôm, vô tình tôi gặp một nhà sư khả kính khoan thai đi tới.
Tôi hằng mong được giới tu sĩ giảng dạy giáo lý nhà Phật
để vơi khổ, nên tiến đến vái chào. Nhà sư vừa nhìn thấy
tôi, đã luống cuống quay mặt bước nhanh như trốn chạy,
vô tình làm rơi một quyển sách dưới đường. Tôi vốn quý
trọng chữ nghĩa thánh hiền, nên ngồi sụp xuống cầm lấy,
lên tiếng dâng trả cho nhà sư. Không ngờ, nhà sư thấy bàn
tay cùi hủi của tôi cầm sách lại càng sợ hãi, khoác tay
không nhận lại sách, rồi bỏ đi một nước.
Tôi
lật từng trang sách đọc kỹ, thì mới biết đó là phẩm
"Phổ Hiền Hạnh Nguyện", trích trong kinh Ðại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm. Lời kinh vừa vĩ đại, vừa thâm ảo nhiệm
mầu, càng đọc tụng tôi càng ngưỡng mộ hạnh nguyện bao
la của Bồ Tát Phổ Hiền, và ước mong được noi gương Ngài
mà tu tập. Tôi thích nhất là lời nguyện thứ tư: sám hối
nghiệp chướng. Tôi ý thức được rằng cái quả khổ đau
ngày nay tôi nhận lãnh, là do cái nghiệp ác đời trước mà
ra, do đó, tôi chí thành nguyện xin sám hối, thề không bao
giờ tái phạm điều ác, luôn giữ tịnh giới và làm việc
lành. Nhờ nhân duyên được kinh, mà trong khổ đau kiếp người
lòng tôi vẫn thanh thản nhận lãnh, không chút hờn than oán
trách.
Bệnh
tình của tôi ngày càng trầm trọng. Ðêm giá lạnh, đầu
lóng tay chân đau buốt thấu tận xương tủy, khiến tôi có
cảm tưởng rằng dẫu có đốt cháy lóng tay lóng chân đó,
chắc hẳn mình sẽ sung sướng hơn nhiều. Một lần đang oằn
oại rên siết, bỗng dưng tôi nghĩ, trên đời nầy còn biết
bao kẻ bị phong cùi như tôi, cũng đang bị đớn đau như tôi.
Tội nghiệp họ quá! Tôi nghĩ đến Ðức Phổ Hiền và hạnh
nguyện đại từ đại bi bao la của Ngài, rồi tôi quì xuống
cương quyết phát nguyện: "Trên thế gian nầy có bao người
bị bệnh cùi hành hạ nhức nhối, con đều xin chư Phật,
chư Bồ Tát chứng giám con nhận lãnh hết những nghiệp chướng
của họ và cơn đau của họ". Ðiều khó hiểu là khi lòng
tôi tràn ngập từ bi, nghĩ đến kẻ khác và quên mình, thì
tôi lại quên cả những cơn đau nhức đang diễn ra trong cơ
thể của chính tôi.
Chân
thành ngưỡng mộ Bồ Tát Phổ Hiền, tôi tha thiết dự định
sẽ hành hương núi Nga Mi, để cúng dường những viên minh
châu gia bảo, cho mục đích hoằng dương giáo pháp "Phổ Hiền
hạnh nguyện". Ðêm đó, nằm ngủ tại miễu hoang nầy, tôi
nằm mộng thấy Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện, cỡi voi sáu
ngà xoa đầu tôi khuyên tôi yên tâm chờ đợi một thời gian
sẽ gặp người hữu duyên nhận lãnh trách nhiệm phát huy
và xây dựng đạo tràng tại đây.
Chín
tháng trước đây, một hôm vào giờ ngọ, bỗng nhiên có một
vị tu sĩ đắp y màu hồng sậm, mũ đỏ theo lối Lạt Ma Tây
Tạng(6), ôm bình bát đứng trước miễu khất thực.
Bao năm trời, tôi mong mỏi thân cận giới tu sĩ nhưng luôn
luôn lâm cảnh bẽ bàng, lần nầy, vị tu sĩ đã không tránh
né mà lại dành cho tôi phúc duyên cúng dường, quả là một
dịp may hiếm có. Tôi vừa xin được mấy trái chuối, bèn
cung kính dâng hết cho người. Vị lạt ma ngồi bên hông miễu,
ung dung thọ thực. Tôi thành khẩn chờ đợi cơ hội đảnh
lễ, hầu thỉnh cầu người chấp nhận cho tôi cúng dường
mấy hạt minh châu.
Trong
khi tôi còn ngần ngại chờ đợi cơ hội thuận tiện mở
lời, thì vị lạt ma đã từ hòa lên tiếng:
- Thí
chủ lòng dạ chí thành, ta rất cảm mến. Thí chủ có ước
mơ thâm thiết gì cứ thành thật cho ta biết, ta sẵn sàng
hoàn thành tâm nguyện cho thí chủ!
Từ
thuở lang thang bụi đời đến nay, tôi luôn luôn gặp cảnh
xô đuổi và chửi mắng khinh thị, nên khi được vị tu sĩ
ban cho những lời dịu dàng thân mật, tôi cảm động nghẹn
ngào:
- Có
những đêm đen cô đơn buồn thảm, tủi thân mình lâm trọng
bệnh bị người đời hất hủi khinh khi, con bỗng ước ao
có kẻ thực dạ thương con, dù chỉ ga nghĩa với con một
ngày, thì con cũng sẽ sung sướng trọn cả cuộc đời.
Không
hiểu tại sao lúc đó tôi quên mất nguyện vọng cúng dường
minh châu, mà lại khùng điên nói lên cái ước mơ xằng bậy
nhất thời thuở trước. Ước mơ đó có thể là một thứ
ẩn ức hình thành bởi nỗi đau thương trong vụ cưới hỏi
lường đảo, mà tôi cố đè nén cho chìm sâu trong tiềm thức,
nay gặp cơ duyên có người ân cần thăm hỏi đã đột ngột
tuôn trào. Lỡ lời, thẹn đỏ mặt, tôi luống cuống:
- Lạy
sư! Con xin lỗi đã nói chuyện nhảm nhí...
- Không
có chi đâu! Thí chủ yên tâm! Ta và thí chủ đã có đoạn
nhân duyên từ trước! Ta đã hứa hoàn thành tâm nguyện cho
thí chủ mà thí chủ chỉ ước mơ được làm vợ trong một
ngày, nguyện vọng đó không có gì là quá đáng, ta có thể
giữ lời. Vậy, kể từ giờ phút nầy, cho đến cuối giờ
ngọ ngày mai thì chúng ta là vợ chồng.
- Chao
ôi! Con ăn nói vụng dại lỡ mạo phạm đến sư, xin sư thứ
tha và xin đừng nói giỡn như vậy! tội nghiệp cho con. Thật
ra, thân con cùi hủi đê tiện, với kẻ bình thường con còn
chẳng dám nghĩ chuyện đèo bồng thì làm sao lại dám tơ tưởng
đến các vị tu hành...
- "Tiểu
Vi"! em mang nặng mặc cảm tự ti quá! Trong sự sống miên viễn
không bao giờ cùng tận nầy, thân xác bất quá chỉ một chiếc
áo mà mỗi chúng sinh khoác vào cho một kiếp. Do tham, sân,
si che khuất, từ kiếp nầy sang kiếp khác chúng sinh theo nghiệp
lực mà thay đổi lớp áo thân mạng của mình. Có lớp áo
đẹp đẽ, sang trọng cũng có lớp áo sần sùi, loang lổ,
xấu xa..., nhưng có lớp nào bền đâu? hơn thua gì thứ đó!
Không
hiểu tại sao vị Lạt Ma lại biết cái tên "Tiểu Vi" nầy.
Cái tên thân mật đó, chỉ dành cha mẹ tôi gọi đứa con
gái cưng bé bỏng ngày xưa. Tiếng gọi nầy đưa tôi trôi
về với chuỗi ngày thơ dại ấm êm, trong tình thương vô
bờ chở che đùm bọc của mẹ cha. Tôi run rẩy cảm động,
không còn nghe thấy suy nghĩ gì nữa..., tôi ngã quị vào lòng
người như đứa con chui vào lòng mẹ...
- Khoan
đã! Mình phải làm lễ tơ hồng chớ!
...
Ðến
cuối giờ ngọ hôm sau, người lại ăn vận như một vị lạt
ma như cũ, và khăn gói lên đường. Hạnh phúc đã đến với
tôi thật tuyệt vời, tôi đã được cưng yêu chiều muộng
như một người vợ chân chính, tất cả hiện ra như một
giấc mơ thần tiên, thành tựu bằng phép lạ, không thể tượng
tượng nỗi. Tôi biết đủ nên lòng rất mãn nguyện khi đưa
tiễn người đi. Ðến lúc nầy, tôi mới nhớ đến mấy hạt
minh châu nên quì xuống dâng cho người để làm Phật sự,
nhưng người cương quyết từ chối:
- Ta
là kẻ lang thang như mây nổi, vốn không thích hợp với chuyện
xây chùa lập hội, vả chăng ta chỉ hứa một điều và đã
hoàn thành, sao thí chủ còn kèo nài ta chi chuyện khác. Theo
ta dự đoán, thì không bao lâu thí chủ sẽ gặp được vị
hữu duyên đảm nhận trách vụ nầy! Xín thí chủ yên tâm!
Nhờ
lối đối xử nhân ái của vị lạt ma, tôi bắt đầu học
nhìn mọi loài chúng sanh với tâm bình đẳng, tôi hiểu rằng
ẩn hiện bên trong cái thân xác giả tạm mang lớp con trùng,
con kiến, con trâu, con chó..., là Phật tánh sáng ngời, bình
đẳng như nhau không khác. Tất cả đều có khả năng thành
Phật, đều đáng tôn kính, và là đối tượng sinh động
để hành thập nguyện Phổ Hiền...
Nay
nhờ duyên lành, tôi may mắn hội ngộ với sư thái nên tâm
nguyện đã có cơ hoàn mãn, tôi rất an lòng khi nhắm mắt.
*
*
*
- Bà
thí chủ họ Lý kể chuyện đến đây thì hơi thở yếu dần.
Thầy chợt nhớ đến đứa bé, vội bồng đến cho bà nhìn
và xin đặt tên nhưng bà lắc đầu lộ ý để thầy tùy nghi.
Không kịp suy nghĩ, thầy lên tiếng: "Nhất Nguyện! Chị nhé!".
Lý thí chủ gật đầu, mĩm cười mãn nguyện rồi tắt thở.
Ðiều lạ lùng là gương mặt lở lói trước kia của bà bỗng
biến thành tươi nhuận an lạc, và từ trong búi tóc rối,
một mùi trầm hương thoang thoảng tỏa ra. Sáng hôm sau, thầy
nhờ bà con lối xóm giúp đỡ làm lễ thiêu xác Lý thí chủ,
và bắt đầu khởi công xây dựng ngôi già lam nầy. Chuyện
xảy ra đã tròn bốn mươi bốn năm, vậy mà thầy vẫn tưởng
như mới ràng ràng ngày hôm qua! Thời gian trôi thật nhanh!
Sư
bà ngậm ngùi và đại chúng cũng lặng lẽ bâng khuâng. Ngừng
một lúc lâu sư bà bỗng nhìn xuống hàng người chen chúc
ở dãy núi cuối cùng bên trái chánh điện, lên tiếng:
- Nhất
Nguyện! Con đã về thì hãy lên đây với thầy!
Sư
Nhất Nguyện len lỏi tiến lên, kính cẩn lễ lạy sư bà ba
lần, nước mắt tràn ngập, cảm động không thốt ra lời.
Sư bà, hướng về đại chúng lên tiếng:
- Ðây
là Nhất Nguyện, con của Lý thí chủ và cũng là dưỡng tử
của thầy. Sư Nhất Nguyện đã dày công tu học trên chùa
Thiếu Lâm, và vừa hoàn thành bộ sớ giải về Kinh Lăng Già
Tâm Ấn rất công phu.
Quay
sang Nhất Nguyện, sư bà tán thán:
- Thầy
rất hãnh diện về con! Tác phẩm giá trị của con là một
đóng góp lớn cho sự nghiệp hoằng pháp! Công đức vô lượng
vô biên!
- Thưa
thầy! trước đây con nghĩ con cũng có công đức, nhưng nhờ
thầy chỉ điểm, con mới khám phá rằng con chẳng có công
đức nào đáng để tán thán cả! Tất cả những điều con
đã viết, chẳng qua là những thâu nhận từ lời dạy của
chư Phật, chư Bồ Tát, chư tổ sư, của thầy của bạn...,
không có cái gì thực sự là của con cả, thì làm sao con dám
tự cho mình có công đức. Huống chi, suy cho cùng, làm sao con
có thể tự làm được việc gì, nếu không có sự yểm trợ
của xã hội, mà xã hội làm sao tồn tại nếu không có sự
đóng góp của mọi loài chúng sinh. Như vậy, trải tâm càng
rộng lớn, con càng thấy cả pháp giới chúng sinh trùng trùng
lớp lớp chằng chịt tương ưng nhau nâng đỡ con và yểm
trợ con làm Phật sự, vậy thì, tất cả công đức đương
nhiên là công đức của cả pháp giới chúng sanh! Con chẳng
hề thấy thứ công đức nào là công đức của riêng con cả!
- Lành
thay! Lành thay! Biết công đức là công đức của cả pháp
giới chúng sanh, thì hạnh nguyện hồi hướng mới thênh thang
vô chướng ngại!
Sư
bà trang trọng chắp tay lại. Ðại chúng, không ai bảo ai,
cũng đồng chắp tay và đồng tụng theo sư bà:
"Nguyện
đem công đức nầy
Hồi
hướng về tất cả
Khắp
pháp giới chúng sanh
Ðều
trọn thành Phật đạo".
Tháng
07.1995
Ghi
chú:
1.
Kệ của Bố Ðại hòa thượng.
2.
Nga Mi sơn là một đỉnh núi thiêng liêng, mà theo sự tin tưởng
của Phật giáo Trung Hoa thì đó là nơi cư ngụ của Bồ Tát
Phổ Hiền. Vào những buổi bình minh, đứng ở phía sau ngôi
chùa trên đỉnh núi, khách hành hương sẽ thấy hình ảnh
to lớn của một người đang ngồi thiền dưới thung lũng,
mà người ta tin tưởng là bóng của đức Bồ Tát Phổ Hiền.
Có người cho rằng hiện tượng đó chỉ cái bóng phản chiếu
của rặng núi lúc rạng đông. Không ai chối cãi điều đó,
nhưng theo những người hành hương thì tốt hơn mỗi người
nên tự đến đó, tự quan sát, tự đón nhận suối nguồn
an lạc, và sẽ tự có kết luận cho riêng mình.
3.
Phổ Hiền thập nguyện:
Một
là Lễ kính chư Phật
Hai
là Xưng tán Như Lai
Ba
là Quảng tu cúng dường
Bốn
là Sám hối nghiệp chướng
Năm
là Tùy hỷ công đức
Sáu
là Thỉnh chuyển pháp luân
Bảy
là Thỉnh Phật trụ thế
Tám
là Thường tùy Phật học
Chín
là Hằng thuận chúng sanh
Mười
là Phổ giai hồi hướng
4.
Bốn phép lạy thuộc về lý:
-
Pháp trí thanh tịnh lễ: người hành lễ thấu suốt rằng
cảnh giới của chư Phật, đều tùy tâm hiện bày, nên lạy
một đức Phật tức là lạy tất cả chư Phật...
-
Biến nhập pháp giới lễ: người hành lễ tự quán thân tâm
cùng các pháp, từ thuở giờ vẫn không rời pháp giới.
-
Chánh quán lễ: người hành lễ lạy đức Phật ngay nơi tự
tâm, chớ không duyên vào đức Phật nào khác.
-
Thật tướng bình đẳng lễ: người hành lễ không thấy có
tự có tha; người và mình là một, phàm và thánh nhứt như;
thể và dụng không hai.
(theo
Phật Học Phổ Thông quyển 1, Thượng Tọa Thiên Hoa)
5.
Bố thí ba la mật: nghĩa là một pháp môn tu có công năng đưa
qua bờ bên kia, thực hành bằng cách cho cùng khắp, cho tất
cả mọi người, mọi vật, mọi nơi. Có ba loại bố thí ba
la mật:
-
tài thí
-
pháp thí, và
-
vô úy thí (bố thí sự không sợ hãi)
6.
Lạt Ma giáo: là một tông phái thuộc Phật Giáo Ðại Thừa,
phát xuất từ Tây Tạng từ thế kỷ thứ 7, và lan truyền
đến Mông Cổ, Mãn Châu, Lạt Ma giáo có hai phái:
-
Hồng mạo phái: tức thầy tu đội mũ đỏ, là phái cố cựu,
dung hòa với tư tưởng bình dân, chuyên luyện các phép thuật
thần bí, giới hạnh lỏng lẻo..., và có chủ trương rất
rộng rãi về tình dục, việc giao hợp nam nữ đôi khi lại
được ca ngợi là một phương tiện hữu hiệu cho việc tu
tập...
-
Hoàng mạo phái: tức thầy tu đội mũ vàng, là phái cải cách
do đức Tsong-khapa lãnh đạo từ thế kỷ XIV. Phái nầy nổi
tiếng về giới hạnh thanh tịnh và là phái chánh thức lãnh
đạo quốc gia.
(ghi
chú về Lạt Ma ghi trên rất sơ sài, xin đọc với tất cả
sự dè dặt)