Hưng
cầm thơ mẹ trên tay thật lâu, nghe lòng thương yêu tràn ngập,
rồi mới từ từ mở ra nghiền ngẫm từng giòng chữ
ngọt ngào của mẹ. Mẹ là nhà giáo, chữ viết của bà đều
đặn mẫu mực mà vẫn mang nét ẻo lả mềm mại dịu hiền
của người đàn bà Đông phương thuần hậu. Bà thường gói
ghém tình thương của mình vỏn vẹn trong hai trang giấy, nâng
niu gởi đến con những lời thăm hỏi sức khỏe, nhắc nhở
con gìn giữ đạo đức gia phong, khuyên con nhớ đi chùa lễ
Phật, bà tuyệt nhiên chẳng bao giờ kể lể những chuyện
thị phi, chuyện làng trên xóm dưới, cũng không bao giờ đòi
hỏi con cung cấp tiền bạc. Ngay trường hợp lâm bệnh thình
lình, tiền bạc eo hẹp bà vẫn lẵng lặng chịu đựng chớ
chẳng hề thở than khiến con cái phải bận tâm lo lắng. Dầu
biết nội dung thơ cũ rích nhưng chàng vẫn nôn nóng mở thơ,
đọc những giòng chữ thương yêu của mẹ, để đón nhận
tình mẫu tử dạt dào vượt qua bờ đại dương sang ấp ủ
chàng. Ngờ đâu lần nầy thơ bà có vẻ khác thường, chẳng
những dài đến bốn trang, mà cũng không có những cụm từ
thương nhớ dặn dò thường nhật. Thơ viết :
“Con
thương!
Dạo
nầy, bỗng nhiên mẹ hay vớ vẫn nhớ nghĩ mông lung về thời
còn bé bỏng xa xưa, nhớ tha thiết chuỗi ngày ỏng ẹo trong
vòng tay ông bà ngoại, tại ngôi nhà ngói âm dương, vách ván,
tọa lạc cạnh giòng sông Dinh thơ mộng, thuộc huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ở đó, tháng nào vào ngày mười
bốn và ba mươi, mẹ thường được ngoại dẫn đi chùa Giác
Hải, nơi mà mẹ đã được hòa thượng Tâm Thành quy y từ
thuở mới lên năm. Ngoại đã đưa gia đình rời Bố Trạch
vào Saigon sinh sống từ năm 1954, khi mẹ mới vừa tròn bảy
tuổi, nên quê hương mà mẹ thương mẹ nhớ có thể nói chính
là ngõ hẻm chợ Vườn Chuối, là quận ba với các con đường
Phan đình Phùng, Cao Thắng…, mẹ chẳng hiểu biết gì về
nơi chôn nhau cắt rún tại vùng đất Quảng Bình khô cằn
xa xưa ấy. Do đó, khi tham dự chuyến hành hương thập tự
tại các thị xã Huế – Đà Nẳng do nhóm “Phật tử lão
niên” chùa Aán Quang tổ chức, tuy mẹ đã đọc kỹ chương
trình thấy có tiết mục ngoạn cảnh động Phong Nha, một
kỳ quan của đất nước thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng
Bình, màø mẹ vẫn vô tình chẳng mảy may liên tưởng gì
đến nơi chôn nhau cắt rún của mình. Mãi đến khi theo
phái đoàn chiêm bái chùa Thiên Mụ, trầm lặng nhìn giòng
Hương Giang, bỗng nhiên ký ức thuở ấu thời bất thình lình
hiện về khiến mẹ nôn nao nhớ đến ngôi chùa Giác Hải
êm đềm. Chùa ấy cũng soi bóng trên một giòng sông - sông
Dinh -, một giòng sông thơ mộng chẳng kém Hương giang là mấy.
Thật ra, vào ngày xưa đó mẹ ngây thơ khờ khạo nào có hiểu
biết gì về chùa, về đạo, nhưng những trái chuối, chén
chè, nắm xôi… mà quý thầy nâng niu trao cho “con bé mũm
mĩm” là những hình ảnh gợi thương gợi nhớ đã bùng dậy
mãnh liệt khiến mẹ xúc động nghẹn ngào. Từ đó, mẹ thấp
thỏm ăn ngủ không yên, ước mong có cơ hội ngắm nhìn lại
ngôi chùa ngày xưa. Sáng hôm sau, trong khi chuẩn bị theo đoàn
hành hương xuống thuyền máy tiến vào động Phong Nha, mẹ
bỗng đổi ý, bỏ chuyến du ngoạn, âm thầm thuê chiếc xe
ôm, tìm đường về đến chùa Giác Hải. Thật khó tưởng
tượng, cái gọi là ngôi chùa, chỉ là một ngôi nhà lá lụp
xụp nép mình thoi thóp trên mảnh đất hoang phế khô cằn.
Chùa vắng tanh, lạnh lẽo. Tim mẹ quặn thắt xót xa. Mẹ thỉnh
chuông và thắp nhang lễ Phật. Một ngôi tượng cô đơn, hư
hoại loang lổ, bị phế bỏ lảng quên bao tháng năm dài vẫn
khắc khổ chịu đựng và vẫn an nhiên hiện hữu ở chốn
nầy. Chiêm ngưỡng tượng Phật, mẹ chìm đắm trong suy tư
mênh mang quên mất cả thời gian không gian, hốt nhiên mẹ
cảm thấy tượng Phật sống động hẳn lên, Phật trao cho
mẹ nụ cười thanh thoát. Thì ra, trong hoàn cảnh nào, thời
điểm nào Phật vẫn hiện hữu như như tự tại ban phát lòng
từ bi vô lượng cho chúng sanh các loài, cho mẹ. Nước mắt
ràn rụa, niềm xúc động ngập tràn nghẹn ngào, rồi trong
giây phút thiêng liêng đó, mẹ chợt ý thức trách nhiệm của
mình với ngôi chùa năm xưa, nên thành tâm phát nguyện sẽ
xả thân mình để bảo trợ cho việc trùng tu đạo tràng nầy.
Sau
giây phút bốc đồng phát nguyện, mẹ mới giựt mình suy nghĩ
lại và nhận thấy rằng lời nguyện đó viển vông không
phương cách nào thực hiện nỗi. Oâi! Một mình mẹ làm sao
đảm đương nỗi trọng trách nầyï! Mẹ có uy tín gì để
kêu gọi quyên góp, mẹ quen biết bao nhiêu người đâu? Mẹ
lại chẳng quen thuộc chốn nầy? Chẳng biết chùa do cá nhân
hay cơ quan nào quản lý? Vị trụ trì là ai? có đạo tâm không?
Mẹ đang phân vân tự hỏi mình thì có vị sư trẻ hấp tấp
bước vào chùa. Sư ngạc nhiên trước người khách lạ, và
tỏ ra ái ngại về sự lơ là chậm tiếp đón khách phương
xa. Sư cho biết, thật ra, sư có nghe tiếng chuông nhưng
tưởng rằng người Phật tử địa phương đến công quả
lễ bái, và vì đang bận rộn chăm sóc mấy luống khoai sắn
vừa bén rễ ở sau chùa, nên ráng lo cho xong việc mới vào.
Thái độ ân cần lịch thiệp, và uy nghi đĩnh đạc của sư
cũng khiến mẹ ngạc nhiên không kém.
-
Xin lỗi, dường như thầy không phải là dân địa phương?,
mẹ dò hỏi.
-
Kể ra thì tôi chỉ có chút xíu gốc gác Quảng Bình mà thôi.
Nguyên ông cố nội tôi, là người làng Sơn Trạch, huyện
Bố Trạch, tổ đơn thân rời quê vào Nam lập nghiệp tại
tỉnh Bình Dương từ thời Pháp thuộc, con cháu sau nầy chỉ
nghe nhắc nhở tên ngôi làng tổ tiên, chớ chẳng ai biết
được điều gì khác cả. Tôi sanh trưởng tại Thủ Đức,
xuất gia tại chùa Vạn Đức, và chỉ được thầy gởi đi
tu học các Phật học Viện miền Nam, nên địa phương nầy
cũng xa lạ lắm. Tôi vân du lang thang đây đó, rồi quyết
định dừng chân ở chốn nầy chưa tròn một năm, đạo hữu
ạ!
Tình
cờ gặp một tu sĩ miền Nam tại xứ lạ, lòng mẹ nổi lên
niềm vui như tìm được người bà con thân thuộc, mẹ tíu
tít : “Thảo nào, tôi thấy phong thái của thầy khác hẳn
với những tu sĩ miền nầy! Lạ quá…!” Mẹ thật thà định
hỏi : “ Sao thầy không chọn thị tứ nào phồn thịnh để
dựng chùa, mà lại thua thiệt chui vào chốn khỉ ho cò gáy
đói rách như thế nầy?”, nhưng mẹ ngưng lại kịp, nên
ơ..ơ kéo dài rồi lên tiếng : “ Ơ! miền đất nầy khô
cằn đá sỏi! Thầy lại là người Nam cô đơn, không thầy
bạn, không thân nhân thì làm sao mà có thể sống nỗi ở
chốn nầy?”
Thầy
mĩm cười hỉ xả đáp :
-
Kể ra nếu đặt vấn đề “sanh sống làm ăn” thì quả
thật muốn sống còn ở đây cũng gian nan lắm, nhưng nếu
nghĩ đến chuyện tu tập thì nơi nào cũng tốt, nơi nào chẳng
là đạo tràng phải không đạo hữu?
-
Ơ! Nhưng chắc phải có duyên cớ gì đặc biệt lắm thầy
mới “trụ” ở đây chớ?
Thầy
ngập ngừng, trầm ngâm khá lâu mới chậm rãi lên tiếng :
-
Chuyện dài dòng và cũng có thể nói là lạ lùng hy hữu, nếu
đạo hữu tò mò thì tôi cũng sẵn lòng kể rõ.
-
Dĩ nhiên, là con tò mò lắm rồi!
Thầy
mĩm cười :
-
Đúng như đạo hữu đã biết, nếu không do nghiệp duyên chiêu
cảm, nếu không được long thần hộ pháp dắc dẫn, thì chắc
hẳn tôi đã không đến chốn nầy. Chuyện khởi đầu, là
vào mùa kiết hạ năm trước, bỗng dưng tôi lại nảy ý xin
an cư tại chùa Trúc Lâm, Huế. Khi lễ hòa thượng bổn sư
xin phép lên đường, hòa thượng đang lơ đảng, đong đưa
chiếc võng bỗng cất tiếng bâng quơ : “ Gặp Phật lễ Phật,
gặp tổ lễ tổ!”. Chẳng biết đó là nói vô tình hay một
lời dặn dò cho riêng tôi như một thứ công án nào chăng?
tôi ngờ ngợ câu nói có nét tương tợ như công án “Gặp
Phật giết Phật gặp tổ giết tổ” của thiền tông, nhưng
chưa kịp thỉnh ý thì bổn sư lại vui vẻ chỉ mô hình chùa
Vạn Linh, núi Cấm, Châu Đốc rồi nói tiếp : “Khi cần,
khi gặp thuận duyên thì mình cũng nên phục hưng sự nghiệp
của chư tổ! Con ạ!”. Thầy đưa tay tiển khách, tôi ra đi
với nỗi niềm thắc mắc giăng giăng. Mùa kiết hạ sắp hoàn
mãn, liên tiếp ba đêm cuối cùng tại chùa Trúc Lâm tôi đều
chiêm bao thấy rõ rệt Đức Quán Thế Aâm Bồ Tát hiện đến
khuyên bảo : “Con hãy mau mau về Bố Trạch làm Phật sự
để hoàn thành lời phát nguyện của con từ kiếp trước!”
Tôi vốn không tin mộng mị, nhưng giấc chiêm bao cứ hiển
hiện rõ ràng trong tâm khảm, khiến tôi cũng phân vân. Do đó,
khi khóa hạï chấm dứt, thay vì trở về Thủ Đức như dự
tính, tôi thuê chiếc xe đạp dun rủi về phương Bắc, với
túi lương khô dự phòng. Rời Huế, một thị xã sùng đạo,
đến Quảng Trị, tôi nhận thấy sinh hoạt Phật giáo tương
đối đã suy yếu, rồi khi bước vào địa phận tỉnh Quảng
Bình, tôi mới choáng váng khám phá rằng đạo Phật ở đây
có lẽ đã biến dạng tự bao giờ. Dường như, phần đông
dân địa phương chưa hề thấy bóng dáng chùa chiền, họ
nhìn lữ khách áo lam với ánh mắt xa lạ, vừa nghi ngại,
vừa lạnh lùng. Tôi viếng thăm các huyện Quảng Ninh, Lệ
Thủy, Phong Lộc, Bố Trạch, tỉnh lỵ Đồng Hới, với tâm
trạng hửng hờ chua xót. Một hôm, tôi đang ngồi thọ thực
lương khô dưới bóng cây bên đường quê, ngoại ô thị trấn
Hoàn Lão, bỗng có một gã trung niên sồng sộc bước tới,
hắn chăm chăm nhìn tôi oang oang cất tiếng : “Nầy anh! Anh
làm nghề sư hở!?”. Tưởng gặp phải công an, và bị đặt
vấn đề hành đạo trái phép, tôi dè dặt đáp : “Đúng
vậy, tôi là tu sĩ ở thành phố Hồ chí Minh. Tôi chỉ du lịch
tỉnh Quảng Bình vài ngày mà thôi”. “Ừ! Vậy thì
anh phải đi theo tôi mới được!”. Thấy tôi ngần ngừ,
anh ta nắm áo tôi nói một hơi : “Nội tui! Tuổi già cú đế
rồi! Oång bệnh liệt giường gần ngủm tới nơi mà lại
sanh tật nhứt định đòi phải gặp sư thầy thì mới chịu
chết! Tôi hỏi thăm lung tung chẳng ai biết, may tôi thấy anh
mặc áo kỳ lạ nầy, hỏi nhóng chừng, dè đâu lại đúng!
Vậy anh theo tui đi gặp ổng nghen!”. Nghĩ đến nguyện vọng
tha thiết của người sắp chết, nên dù trong lòng vẫn e ngại
gặp rắc rối bởi luật lệ “tự do tôn giáo”, tôi vẫn
lót tót bước theo anh ta. Cụ Năm, lão già bệnh hoạn tuổi
đã ngoài 90, đang nhắm mắt nằm im lìm dán xuống giường
như một cái xác khô đét, quay quần bởi đám con cháu vài
mươi người, vừa nghe báo cáo tìm được nhà sư, bỗng mở
choàng đôi mắt tinh anh nhấp nháy ra dấu mời tôi tới gần.
Tôi lên tiếng : “Tôi xin tụng một thời kinh cầu an! Cụ
nhé!”. Cụ không trả lời, mắt đăm đăm nhìn tôi, rồi
bỗng chấp tay kính cẩn : “Con cảm tạ Bồ Tát!”. Tôi hoảng
hốt đính chánh : Tôi chỉ là một tu sĩ tầm thường, xin
cụ gọi tôi là sư chú được rồi!”. Cụ thều thào : “Thầy
là Thanh Phong phải không?”. Tôi ngạc nhiên lặng người,
đáp lí nhí : “Pháp danh tôi là Hoằng Nghiệp, còn Thanh Phong
chỉ là bút hiệu khi còn trẻ! Sao cụ biết?”. Oâng cụ cười,
mà nước mắt cụ ràn rụa - trông ông cụ khỏe và tươi
tỉnh hẳn ra – cụ không màn lý sự với tôi, chấp tay kính
cẩn : “Con cảm tạ Đức Bồ Tát Quan Âm đã đáp ứng nguyện
cầu của con, đã dẫn dắt thầy Hoằng Nghiệp đến gặp
con trong giờ phút tối hậu nầy!…”, rồi hướng mắt
sang tôi, cụ nói tiếp : “Bồ Tát Quán Âm đã báo mộng cho
tôi về thầy. Thầy ạ! Tôi có tâm nguyện cưu mang bao năm
nay không giải bày cùng ai được, nên dầu bệnh hoạn già
yếu khổ sở mà vẫn gắng gượng sống lây lất cho đến
giờ nầy. Nay Bồ Tát đã dẫn dắt thầy hiện diện đúng
lúc cho tôi có thể ủy thác tâm nguyện của mình. Tôi thỉnh
cầu thầy hứa khả việc nầy hầu tôi có thể yên tâm nhắm
mắt lìa đời!”. Tôi ngần ngừ : “Miễn là việc cụ nhờ
không trái đạo lý và không vượt quá khả năng của tôi,
thì tôi sẽ cố sức mình hoàn thành tâm nguyện cho cụ!”.
Cụ trầm ngâm giây phút rồi kể lể : “Bốn mươi năm về
trước, hoàn cảnh tu tập vô cùng khó khăn. Chùa chiền bị
theo dõi, Phật tử tránh né chẳng ai dám lai vãng. Rồi sư
ông Giác Hải bị gán tội phản động, gởi đi học tập,
ngôi chùa bị xâm chiếm biến thành trụ sở ủy ban nhân dân,
tượng Phật, tượng Tổ bị vất ra ngoài hè chờ ngày họp
dân lại đập phá. Thương thầy, thương chùa, mến đạo…
tôi đớn đau tột cùng nhưng bề ngoài vẫn giữ thái độ
vô tâm, ngay đối với vợ con cũng dè dặt chẳng hé môi than
thở. Một hôm, có người bạn nối khố, cùng đi chùa lễ
Phật với tôi từ xưa, đang phục vụ trong quân đội nhân
dân, mang quân hàm đại úy thuộc sư đoàn 19 đóng tại Thanh
Hóa nghe tin sư ông lâm nạn trở về làng tìm hiểu sự tình.
Anh gặp tôi dọ hỏi, lúc đầu tôi lửng lơ “không thấy,
không nghe, không biết”, nhưng anh cứ vặn hỏi mãi nên sau
cùng đành tiết lộ hết sự thật. Dựa vào quân hàm, anh
ta mạo hiểm tìm đến trại cải tạo thăm nuôi sư ông. Trở
về, anh cho biết, sư ông già yếu khó sống sót, sư ông trăn
trối ủy thác chúng tôi bảo vệ tôn tượng chờ ngày trùng
tu chùa, hưng long đạo pháp, ngoài ra, sư ông cũng tha thiết
dặn dò chúng tôi rằng trong hoàn cảnh Phật Pháp bị cấm
đoán hủy hoại như thế nào, chúng tôi cũng phải gắng sức
thầm giữ lục tự Di Đà trong lòng. Mấy ngày sau đó, trời
đổ giông, mưa cuồn cuộn như thác đổ, cơ nguy lũ lụt sắp
diễn ra. Lợi dụng tình trạng cán bộ các ngành nhốn nháo
lo bảo vệ nhà cửa vợ con họ, trụ sở ủy ban nhân dân
bỏ ngõ, chúng tôi lẻn vào mang tượng Phật, tượng tổ xuống
xuồng chở đi. Bơi lang thang khá lâu mà chẳng tìm được
địa điểm nào an toàn để cất dấu, cuối cùng tôi đành
bặm gan mang về nhà, khoét một ngách sâu dưới ao, bọc tượng
bằng vải áo mưa, vùi vào đó. Vài tháng sau sư ôngï qua đời,
anh Thanh Phong bạn tôi bị chính ủy trung đoàn kiểm thảo
về vụ thăm nuôi sư ôngï, đoạn bị đưa vào Nam công tác
rồi tử trận vài năm sau đó. Trong mấy chục năm nay, lời
dặn dò của sư ông Giác Hải tôi vẫn canh cánh bên lòng,
nhưng tôi chỉ có thể chuyên cần niệm Phật ngày đêm, còn
chuyện trùng tu lại ngôi chùa xưa thì hoàn toàn vô vọng :
Tôi chẳng biết tiến hành cách nào? Bàn bạc với ai đây?
Khi đất nước vừa thống nhất, lợi dụng lúc đi thăm đứa
con đang công tác tại thành phố Hồ chí Minh, tôi có viếng
vài ngôi chùa, tiếp xúc vài tu sĩ, hi vọng tìm được người
có thể đảm trách công việc trùng tu, nhưng họ tỏ vẻ sợ
sệt nghi ngại, nên tôi đành im lặng. Thế rồi, tôi chỉ
biết ngày đêm niệm Phật A Di Đà và chí thành khẩn cầu
Bồ Tát Quan Aâm gia bị cho công cuộc trùng tu chùa Giác Hải,
và nhiều lần, trong chiêm bao tôi đã được Bồ Tát an ủi
và khuyên bảo hãy bình tỉnh đợi chờ Thanh Phong trở lại
gánh vác trọng trách nầy…” Ngay khi ông cụ kể đến
giai đoạn dầm mưa bão mang tượng đem đi dấu, tôi bỗng
nhiên thấy hiển hiện trước mắt tôi diễn biến của
tiền kiếp với từng chi tiết nhỏ, và hiểu rõ Thanh Phong
ngày đó chính là tôi chớ chẳng là ai khác. Thảo nào, thuở
nhỏ, tôi có niềm thích thú đặc biệt với hai tự Thanh Phong
nên mớiù đắc ý chọn làm bút hiệu của mình. Chẳng chút
ngần ngại tôi đáp : “Thanh Phong đã trở lại, dĩ nhiên
là Thanh Phong sẽ nhận lãnh trách nhiệm. Thanh Phong sẽ xả
thân nầy để trùng tu lại chùa Giác Hải, xin người bạn
năm xưa hãy vững tâm”. “Đa tạ Thanh Phong! Có thể nào
Thanh Phong cho tôi nhìn lại pho tượng Phật ngày xưa, trước
khi lìa đời chăng?”. Không cần ai chỉ dẫn, tôi vội vã
đưa đám thanh niên con cháu chủ nhà ra bờ ao, dưới gốc
sung, nhờ họ đào sâu chừng hai thước đã khám phá ngay bảo
vật trong lớp vải bọc mục nát, nhưng hai pho tượng bằng
gỗ mít, chỉ bị phai màu, và lốm đốm loang lổ mà thôi.
“Gặp Phật lễ Phật, gặp tổ lễ tổ”, tôi quì xuống
đảnh lễ rồi cung thỉnh tượng vào nhà cho cụ già gia chủ
chiêm ngưỡng. Cụ Năm được đỡ ngồi tựa vào gối, rạng
rỡ ngắm tượng. Cụ yêu cầu tôi tụng thời kinh Di Đà,
sau đó tôi hộ niệm cụ Niệm Phật. Tiếng niệm Phật của
cụ nhỏ dần, nhỏ dần, rồi lặng yên. Cụ ra đi thanh thản,
mặt mày tươi tỉnh, và cho đến khi tẩn liệm, đỉnh đầu
vẫn ấm áp, thân thể vẫn mềm dịu. Tôi tin chắc rằng cụ
đã vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc. Nhờ đám con cháu
cụ, có người đang giữ chức vụ quan trọng trên tỉnh, và
huyện vận động, và cũng nhờ chánh sách chiêu dụ du khách
về thăm động Phong Nha, nên khuông viên chùa xưa được hoàn
trả lại, và mươi tháng sau thì ngôi chùa lá đơn sơ đã
được dựng nên…
-
Phật tử ở đây có lẽ chẳng mấy người mộ đạo phải
không thầy? Chắc họ cúng dường tệ lắm, nên cả năm mà
thầy chỉ dựng được mái lá sập xệ như vầy?
-
Thật ra, phần lớn tài chánh dựng ngôi chùa tạm nầy là
do con cháu cụ Năm yểm trợ, còn dân chúng quanh đây nghèo
kiết xác, mình đâu mong họ cúng dường, chỉ mong họ thỉnh
thoảng lai vãng tới chùa để tụng kinh, nghe pháp… nuôi dưỡng
đạo tâm mà thôi. Đạo hữu biết không? Đã quá nhiều năm
xa vắng đạo pháp nên họ đã mất niềm tin, họ nghi ngờ
bâng quơ, lo ngại tốn kém nên mời họ đến chùa gian nan
lắm! Họ viện dẫn đủ mọi lý do để từ chối. Tôi phải
thực hành tứ nhiếp pháp, thăm nom săn sóc họ khi ốm đau,
tặng họ viên thuốc cảm, một cục xà bông… tôi cũng theo
họ ra đồng chuyện trò vừa tiện tay giúp họ nhổ cỏ, cấy
lúa… nên dần dần tạo được mối tình thân rồi mới hướng
dẫn Phập Pháp cho họ được. Hiện giờ, vào ngày lễ sám
hối nào cũng có hơn hai mươi người tham dự, trong đó có
một thanh niên vừa ngỏ ý xin xuất gia vào mùa Phật đản
sắp tới.
-
Thầy có dự định xây chùa lại cho khang trang không thầy?
-
Chuyện trùng tu là sở nguyện của thầy, nhưng hiện giờ
thầy chưa dám nghĩ tới. Có hai chuyện thiết thực mà thầy
muốn hoàn thành trước. Trước nhất là cần có một đại
hồng chung. Tiếng chuông ngân bàng bạc khắp thôn làng, sẽ
đi sâu vào lòng người và khơi dậy hạt giống Phật trong
tàng thức họ. Điểm thứ hai là thầy mong hội đủ tịnh
tài hàng tháng tổ chức cơm chay vào hai ngày lễ sám hối,
mời Phật tử tham dự miễn phí tạo cho họ cơ hội gần
gũi với chùa, với Phật…
Thầy
trò thân mật bàn bạc dông dài cho đến xế trưa, người
tài xế xe ôm đúng giờ hẹn rước mẹ về tỉnh lỵ đã
lấp ló ngoài cổng, mà mẹ vẫn quyến luyến chưa muốn rời
chùa. Thầy biết ý mẹ nên mời mẹ và cả người tài xế
ở lại dùng cơm. Thầy lúi húi nhúm lửa, vo gạo nấu cơm,
rồi ra sau sau chùa, hái đọt bí, đọt lang vào luộc. Mẹ
vừa ái ngại vừa xót xa, tội nghiệp hoàn cảnh đơn chiết
cực nhọc của thầy, muốn đỡ đần thầy một tay, nhưng
cái bếp “hẹp té”, chẳng có chỗ chen vào thành thử chẳng
có cách nào tiếp giúp cả. Có lẽ, hiểu bụng dạ của mẹ,
thầy cười hề hà trấn an :
-
Nấu cơm là chuyện bình thường của thầy mà, đừng ngại.
Thầy vẫn thường nấu cơm mời người dân quê ăn cơm chùa
với thầy cho vui! Ở nước Chúng Hương Đức Phật và chư
Bồ Tát cũng mời Phật tử ăn cơm, quí Ngài thuyết pháp bằng
thức ăn rất hiệu quả, đạo hữu ạ!
-
Thưa thầy! Con hiểu ý thầy rồi! con sẽ ăn bữa cơm tỉnh
thức, lợi lạc như nghe pháp vậy!
Bữa
cơm thanh đạm, nhưng có lẽ đây là buổi cơm chay ngon nhất
đời của mẹ, vì tất cả các món ăn : cơm, đọt bí, đọt
lang, tương hột, cà pháo muối dưa đều đượm nhuần một
hương vị đậm đà đặc biệt mà ít khi mẹ có phúc duyên
cảm nhận : đó là đạo vị.
Khi
chia tay ra về, mẹ quyến luyến chào thầy, và chân thành nói
:
-
Thưa thầy! Con cũng có liên hệ đến ngôi chùa Giác Hải ngày
xưa, con nguyện tích cực góp phần trùng tu chùa. Khi về thành
phố con sẽ vận động thân hữu yểm trợ việc đúc chuông
và tịnh tài cho phần cơm chay hàng tháng tại chùa. Con hi vọng
sẽ sớm liên lạc với thầy báo cáo kết quả.
Mẹ
vét hết tiền mang theo, sau khi giữ lại vừa đủ phần tiền
trả chuyến xe ôm, được năm trăm ngàn đồng, trao hết cho
thầy :
-
Còn tạm thời con xin cúng dường thầy số tiền mọn nầy!
Thầy
lắc đầu :
-
Thầy rất tán thán công đức của đạo hữu! Tuy nhiên, vì
số tiền tương đối lớn thầy khuyên đạo hữu nên suy kỹ
lại, đừng do xúc động nhất thời trước cảnh chùa nghèo
xác xơ mà cúng quá sức. Nếu vì cúng dường mà tạo ra những
khó khăn tiền bạc cho gia đình thì nên bớt lại, cúng dường
vừa phải thôi!
Mẹ
hơi ngạc nhiên, và hơi bất mãn vì chưa bao giờ gặp trường
hợp “quá dè dặt” như thế nầy, có lẽ thầy nghi tiền
nầy lai lịch bất chính chăng? Mẹ đáp nhanh :
-
Con không bốc đồng đâu thầy! Con đã suy nghĩõ rất kỹ
và cúng dường theo khả năng của gia đình con! Nếu thầy
nghi ngại lai lịch tiền thì con xin thưa rõ đây là tiền rất
sạch do nghề nghiệp chân chánh làm ra! Con xin thầy yên tâm
nhận cho!
-
Xin đạo hữu đừng hiểu lầm! Chẳng qua vì Đức Phật dạy
tu sĩ chỉ nhận cúng dường vừa phải như loài ong hút nhụy
mà không làm phương hại đến hoa. Do đó, dẫu chùa nghèo
và cần tiền, thầy cũng không nỡ gây phiền toái cho những
Phật tử hảo tâm có thể lâm vào cảnh khó khăn chật vật
vì cúng dường mà thôi!
Về
thành phố, khi nghe mẹ kể lại hành hoạt của vị tu sĩ trẻ
giàu lòng từ bi, chấp nhận nếp sống cô đơn, đói rách
tại một ngôi chùa lá tồi tệ để hoằng dương Phật Pháp,
các thân hữu ai cũng xúc động, và ai cũng sẵn sàng đóng
góp ít nhiều cho chùa Giác Hải. Tuy nhiên, giới thân hữu
của mẹ toàn là các nhà giáo hưu trí, phần lớn sống cảnh
chật vật gói ghém ăn tiêu, nên dù họ có mở rộng cõi lòng,
chung sức gom lại cũng không đáng kể. Mới hôm qua đây, thầy
Hoằng Nghiệp có thông báo mẹ rằng pháp huynh của thầy,
trụ trì một ngôi chùa tại Tiền Giang, vừa ủng hộ chùa
Giác Hải đại hồng chung cũ, vì chùa nầy vừa đúc một
đại hồng chung mới lớn hơn. Như vậy, số tiền quyên góp
của mẹ tuy ít ỏi nhưng đã dư thừa cho thầy Hoằng Nghiệp
tổ chức cơm chay cả năm rồi.
Mối
ưu tư lớn của mẹ, là yểm trợ thầy Hoằng Nghiệp xây
dựng lại ngôi chùa nếu không khang trang, thì tệ nhất
cũng lợp mái ngói, lót gạch, có kệ thờ, chuông mõ, kinh
sách… như thuở xưa. Mà muốn được như thế, thì tiện
tặn lắm cũng phải có một ngân khoản từ mười đến hai
mươi ngàn dollars. Số tiền nầy dân quê Quảng Bình đào bới
đâu cho ra, còn mẹ dẫu có đi ăn xin trọn kiếp cũng chẳng
thấm tháp gì! Khi mẹ bạo gan phát nguyện với Phật tổ,
thì mẹ đã nghĩ đến con rồi. Hưng ơi! Con ráng giúp mẹ
nghen con!
…
Hưng
xúc động bồi hồi, thương mẹ thật là thương! Mẹ chưa
bao giờ ø đòi hỏi con cái điều gì, nay bà đã lâm vào hoàn
bất đắc dĩ phải lên tiếng cầu cứu như thế nầy, có
lẽ cũng khổ tâm lắm. Hưng hiểu rằng mẹ rất thiết tha
và mong đợi từng giờ từng phút tin mình, do đó, tuy chẳng
mấy hứng thú với việc xây dựng chùa chiền, hoằng pháp,
quyên góp cúng dường…, Hưng vẫn tức tốc gởi điện thư
về cho mẹ, chàng bảo đảm sẽ có đủ ngân khoản cho việc
trùng tu chùa trong vòng vài tháng nữa.
Sau
khi hăng hái hứa hẹn mạnh dạn cho mẹ yên tâm, đến lúc
bắt đầu suy nghĩ hoạch định chương trình hành động, Hưng
mới chới với chẳng biết phải làm cách nào cho ổn. Thỉnh
thoảng, khi không tránh né được, Hưng buộc lòng đóng góp
linh tinh cho chùa chiền, nhưng đích thân lập danh sách lạc
quyên thì chàng hoàn toàn chưa kinh nghiệm. Chàng đành tìm
đến cụ Sáu, bác gia trưởng Gia Đình Phật tử ngôi chùa
địa phương ấp úng xin vấn kế. Sau khi nghe Hưng kể chuyện
về vị tu sĩ trẻ miền Nam theo tiếng gọi của tiền kiếp
đến vùng quê Quảng Bình dựng mái chùa lá hoằng pháp, bác
Sáu cảm động cất tiếng tán thán :
- Hi
hữu! Hi hữu! Đúng là chùa đất Phật vàng, chùa nghèo tỳ
kheo đức hạnh! Thực tế là như vậy đó chú em ạ!
Tuy
nhiên, khi Hưng “gạ” bác chủ trì việc lập danh sách bảo
trợ thì bác từ chối quyết liệt, mời làm cố vấn bác
cũng quầy quậy lắc đầu : “Khó lắm! Khó lắm!”,
rồi trầm ngâm khá lâu, bác mới ôn tồn giải thích :
- Mấy
năm nay tại Aâu Mỹ, chùa chiền mọc nhiều như nấm, mà chùa
nào cũng xây dựng vĩ đại trị giá cả triệu triệu dollars
và đã thường xuyên thống thiết kêu gọi Phật tử đóng
góp, nên họ đã mỏi mòn lắm rồi. Do đó, tuy số tiền hai
mươi ngàn dollars đối với bên nầy chỉ là một khoảng tiền
bé nhỏ, nó chưa đủ chi phí để tráng xi măng cho bãi đậu
xe của một ngôi chùa bình thường, huống hồ gì là một
ngôi chùa nguy nga đồ sộ, nhưng muốn lạc quyên được số
tiền nhỏ nầy đâu có dễ dàng. Thời buổi nầy muốn vơ
vét tiền thiên hạ, nẻo chánh là phải do các bậc đại tôn
sư, danh tiếng vang rền, trong buổi họp mặt đông đủ những
nhân vật tiếng tăm, đích thân kêu gọi thì mới hiệu nghiệm,
còn lấp lửng đường tà thì phải có hơi hướm thần bí
linh thiêng, có bùa chú vẽ rồng vẽ rắn để chữa bịnh,
cầu tài, mua may, bán đắt thì mới ăn khách. Xem ra, lục đục
thường tài như chú em dẫu có đi mòn mấy đôi giày, nói
sùi bọt mép thì giỏi lắm góp nhóp được vài ngàn đô là
tận cùng rồi!
Thấy
Hưng lộ vẻ chán nãn, bác Sáu an ủi :
- Tôi
phân tách cho chú em nghe chơi nhằm nhắc nhở chú em hiểu đó
là chuyện khó khăn vậy thôi. Phần chú em, chú em phải can
đảm đứng ra gánh vác việc lạc quyên nầy chớ! Mình lo
cho chùa mà, miễn là vận dụng hết sức mình là đủ, kết
quả không thành vấn đề, được bao nhiêu cũng quí giá cả!
Phần tôi, tôi sẵn sàng cúng dường một trăm đô đây, xin
chú cầm lấy!
Thực
trạng còn tệ hơn bác Sáu đã dự đoán. Hưng viết thư ngỏ
trên mạng lưới, gởi điện thư vi vút, điện thoại lia lịa,
rồi bền chí đi gõ cửa khắp nơi bất chấp quen lạhơn hai
tháng trời, mà chỉ gom góp được một ngàn năm trăm đồng.
Bí lối, chàng phải “quyền biến” xử dụng vài tấm ảnh
chụp hình trại cùi, trại tế bần, trại cô nhi… rồi mở
“chiến dịch tình thương” lạc quyên tiền cứu trợ. Phương
pháp nầy “ăn khách” với người Việt lẫn dân địa phương
nên có mòi khấm khá. Trong vòng một tháng chàng đã kiểm
kê được gần bốn ngàn đồng, nhưng “nguồn tài nguyên”
khai thác cũng sắp cạn rồi. Trong thâm tâm, Hưng muốn xuất
tiền túi, bù thêm cho đủ mười ngàn gởi về Việt Nam cho
tròn lời hứa với mẹ, nhưng bà xã chàng vừa nghe chồng
“nói bóng gió xa gần” đã dẫy “đong đỏng” như đĩa
chạm phải vôi, rồi hét toáng lên :
- Oái
giời! Bộ anh điên hả! Tiền bạc không dám ăn xài, lại
đòi đem đi vất ngoài cửa sổ! Lan nói cho anh liệu đấy
nhé! Một trăm đồng Lan cũng không đồng ý nữa, anh đừng
mơ mộng bạc ngàn! Anh mà đụng tới tiền tiết kiệm hả!
thì mạnh đường ai nấy đi đó!
Dĩ
nhiên là Hưng không đủù can đảm chọn “con đường tự
do”, chàng thua buồn ủ rủ, cố gắng tìm một giải pháp
nào khác để khỏi thất hứa với mẹ, nhưng càng suy nghĩ
càng thấy vô vọng. Tối hôm đó, Hưng vô tình nghe một chuyên
viên tài chánh, bạn của bà xã, điện thoại gạ gẫm nàng
đầu tư vào thị trường chứng khóan. Vụ gạ gẫm nầy chẳng
đi đến đâu, bởi lẽ, dù cô chuyên viên tài chánh tài ba
kia chiêu dụ cách nào, vẽ vời viễn ảnh giàu sang như chớp
ra sao, cũng không thể khiến cho vợ chàng, một chuyên viên
thượng thặng chuyên bảo vệ két sắt, động lòng nhả ra
xu nào đầu tư cả. Thế nhưng, cuộc đối thoại đó lại
ảnh hưởng đến chàng. Hưng nghe ngóng nhóm công ty liên hệ
đến mạng lưới đang lên nên liều lĩnh mang tất cả số
tiền lạc quyên được, âm thầm mua chứng khoán XYZ một hảng
hoạt động về mạng lưới. May mắn làm sao là chỉ trong
vòng hai tháng, chứng khoán đó lên vù vù, vốn lời đến
hai mươi tám ngàn, khiến chàng thích chí quá chẳng muốn bán
ra tí nào, nếu không có thơ mẹ thúc hối. Hú hồn hú vía,
chỉ mấy ngày sau đó thị trường chứng khoán nói chung bỗng
tuột dốc thê thảm, riêng XYZ thì tợ như chiếc dù đứt
giây rơi vùn vụt, từ hai trăm nhảy xuống một trăm, rồi
rớt mãi tới mức hai mươi đồng mới tạm đu đưa ở đó.
Oâi! nếu chàng chậm chạp thì giờ đây chắc có mức độn
thổ trốn biệt tăm biệt tích, chớ tiền bạc của thiên
hạ đóng góp lỡ thua lỗ hết thì biết làm sao giải thích
ổn thỏa cho mẹ, cho bạn bè hiểu thấu. Kết toán vụ đầu
tư chứng khoán đầy lợi lạc, Hưng giữ lại phần tiền
dự trù trả thuế, cộng với hai ngàn lộ phí, vẫn còn lại
trên hai mươi ngàn cho việc trùng tu chùa. Hưng gởi điện
thơ thông báo cho mẹ thành quả lạc quyên, hẹn sẽ mang tiền
về nước vào một ngày rất gần. Sau khi chuẩn bị tinh thần
thật kỹ, Hưng ung dung về nhà, khui lon bia, nhắm nháp lai rai,
ngồi rung đùi cười khà khà khoe vợ :
- Hên
quá xá là hên! em ơi! Sáng nay thằng Bob giới thiệu cho anh
một lão cựu chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt
Nam tánh khí rất lạ đời. Lão vừa nghe anh tả oán cảnh
chùa chiền bị bom đạn tàn phá hư hoại liền động lòng
ủng hộ ngay mười lăm ngàn. Chuyện dị kỳ là hắn nhứt
định ẩn danh, căn dặn anh thật kỹ là không để tên hắn,
cứ ghi bừa một tên Việt nào đó, Tí, Ngọ, Mẹo, Dậu gì
cũng được, miễn là anh phải đích thân về nước quây phim
phát quà, sửa chùa cho lão thấy là tốt rồi! Anh ngần ngừ
đòi giới thiệu người khác thay mặt nhưng lão nằng nặc
nói chẳng tin ai, mới là chuyện rắc rối chớ!
- Về
thì về! Cứ trích ra một ít trong sổ lạc quyên làm chi phí,
chớ có hại gì đâu?
- Aäy!
Anh thấy lão xài sang nên giả vờ bàn ra : “Tao tính không
đi vì muốn tiện tặn tiền lạc quyên đến mức tối đa.
Mình chuyển tiền về cho người trong nước lo thì có lợi
hơn nhiều”. Lão nghe anh nói như vậy, ký ngay cái chi phiếu
hai ngàn đồng nữa ra lệnh : “Mầy cầm tiền nầy làm sở
phí, đừng nói dài dòng nữa!”
- Trời
ơi! ngon lành như vậy mà anh chưa chịu đồng ý tức khắc
sao?, bà vợ hỏi dồn.
- Dĩ
nhiên là anh chớp ngay cơ hội bằng vàng nầy chớ! nhưng anh
nghĩ hai ngàn thì nhiều quá. Anh định về nước xài tiện
tặn, khi trở qua sẽ mang trả lại ông ta phân nửa!
- Cái
gì mà nhiều! Dư tiền thì lấy vé máy bay cho em đi theo, em
cũng thích làm phước lắm chớ bộ! À! còn vụ đứng tên
cúng dường thì sao? Anh định chọn tên nào vậy anh?, nàng
trổi giọng nhõng nhẽo.
Hưng
ra dáng lừng khừng, đáp :
- Lúc
đầu anh có ý đề tên anh, nhưng tên anh thì lão ta biết,
thằng Bob biết, nên không ổn. Thôi thì anh mượn đỡ tên
em vậy!
Hưng
cầm bảng danh sách ân nhân bảo trợ chìa ra :
- Nè!
Em xem kỹ hàng cuối cùng kìa! Dường như ai mang tên Diệu
Soie Thái Lan gì đó phải không? Ý quên! Hì… hì…! Xin lỗi!
Hì… hì! Rõ ràng là tên bà Diệu Gấm Thái cẩm Lan chỉ ủng
hộ “xỉu xỉu” mười lăm ngàn đô thôi! kinh thật!
Thấy
vợ thộn mặt khoái trá xem tới xem lui bảng danh sách, Hưng
mĩm cười lầm thầm : “Điệu nầy rồi đây bảng công đức
và hình ảnh tác oai tác phúc của nàng có lẽ sẽ được
lộng khung treo đầy nhà quá!”
Vợ
chồng Hưng hí hửng mang tiền về đến phi trường Tân sơn
Nhứt. Gia đình bên vợ ở nước ngoài, bên chàng chỉ còn
cha mẹ, và gia đình cô chú. Chuyến đi của vợ chồng Hưng
cũng đột xuất nên chàng đinh ninh sẽ chẳng có mấy người
đón rước. Chẳng ngờ, ngay khi còn đang làm thủ tục tại
quầy hải quan, Hưng đã thấy lố nhố đông đảo bà con xa
gần xôn xao vẫy tay chào đón. Bước ra cửa, bà con xúm xích,
mạnh ai nấy reo vui chúc mừng khiến Hưng xúc động, lính
quính chẳng biết ai hỏi câu gì, và nên trả lời ai trước
nữa. Cô dâu thơi thới lướt nhanh tới trước, thân thiết
ôm chằm bà già chồng. Bà già xúc động : “Nhờ hai con mà
ước mơ của má thành tựu khiến cho má vui sướng quá chừng
hà! Niềm vui của má trở nên vô tận khi má biết rằng chính
hai con đã phát tâm đóng góp phần lớn cho công cuộc trùng
tu chùa, công đức vô lượng nầy hiếm có người làm được,
a con!”. Hưng thì thầm : “Đó là ý kiến của Lan! Đó là
tiền mà Lan đã cực khổ làm giờ phụ trội cất ca cất
củm để dành đó má!” Bà già tròn xoe đôi mắt trân trối
nhìn cô dâu, nét cảm phục lộ hẳn ra ngoài. Lan ứng đối
thật nhanh, nàng thỏ thẻ : “Chuyện nhỏ mà má! Miễn má
vui thì anh Hưng vui, và như thế thì con mãn nguyện rồi! Má
biết hong! Anh Hưng đi làm về là xách sổ đi đến tối mịt
mấy tháng trời, không ăn uống ngủ nghỉ gì được, khiến
con xót xa quá chừng hà!… Bởi vậy, vừa nghĩ đến nguyện
vọng của má khó thành, vừa thương chồng cực khổ, con mới
xúi ảnh lấy đại tiền tiết kiệm bù vào cho xong, má ạ!”
Nói đến đây coi bộ Lan cảm động thật tình, nước mắt
rưng rưng, khiến bà già chồng cảm khích cũng khóc ồ ồ…
Nhóm đông bu quanh, ai cũng tranh nhau buông lời tán tụng, đưa
Lan đến tận mây xanh, khiến Hưng lùng bùng lỗ tai, hoa cả
mắt, chẳng biết người con gái đó có phải đúng là vợ
của chàng không nữa? Bỏ mặc cho đám đàn bà tỉ tê tâm
sự với nhau, ông già đưa Hưng đi chào cám ơn đám thân hữu
hiện diện, đặc biệt có người hoàn toàn lạ mặt :
những cụ ông cụ bà thuộc Hội Tương Tế Quảng Bình, mà
mẹ mới truy tầm ra trong thời gian gần đây. Hưng hỏi nhỏ
: “Uả! Ba nói mình không mời ai kia mà?”. “Ừ! Thì tuy
mình nhứt quyết như vậy, nhưng mẹ con dò kỹ danh sách cúng
dường thấy vợ con dám chi một số tiền lớn lao, bả hãnh
diện quá bèn cầm tờ giấy đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong
thành phố khoe khoang con dâu với bà con cô bác, thành thử
mới xảy ra tình trạng tề tựu đông đảo như thế nầy”.
Khởi
đầu chỉ là chuyện “Của người mà phước ta”, Lan được
mọi người khâm phục tán thán nên phải ráng hành động
chứng tỏ mình hiếu thảo, rộng rãi, giàu tình thương, khiêm
cung, tóm lại nàng đúng là phản ảnh của mẩu người đạo
đức thứ thiệt đã nhẹ nhàng cúng dường một số tiền
to mà chẳng chút bận tâm. Do đó, Lan bỗng trở nên có những
quyết định rất ngoạn mục. Nàng mở rộng hồ bao, mua nguyên
gói du lịch mời cha mẹ chồng cùng đi Vịnh Hạ Long, Phong
Nha, Huế, đoạn dừng chân tại Quảng Bình, tham dự các chương
trình do thầy Hoằng Nghiệp đã tổ chức theo yêu cầu của
Hưng : phát quà tại trại cùi, trại dưỡng lão, trại
khuyết tật, trại cô nhi, và cuối cùng là buổi lễ then chốt
: “Lễ đặt viên đá đầu tiên trùng tu chùa Giác Hải”.
Cũng chính Lan bao hai chiếc xe 55 chỗ ngồi cho thân hữu được
miễn phí đi tham dự các buổi lễ chánh thức tại Quảng
Bình, chương trình còn ưu ái kèm theo mục hành hương thập
tự tại Đà Nẳng và Huế cho ai ai cũng thỏa mãn tối đa.
Trong các chương trình phước thiện, Lan chẳng những không
hề “tác oai tác phúc” như Hưng dự tưởng, mà lại dịu
hiền thương yêu thăm hỏi, thân mật chăm sóc mọi người,
nàng xử sự tự nhiên ngọt ngào như giòng nước êm ả tắm
mát lòng người. Trong các chương trình phước thiện và nhất
là trong buổi buổi lễ khởi công trùng tu chùa, nàng luôn
luôn được mọi người niềm nở và tán tụng là bậc đại
thí chủ, nhưng nàng luôn luôn khiêm cung không dám nhận vinh
hạnh đó. Trong khuông viên chùa Giác Hải, khi bị mời lên
phát biểu ý kiến với tư cách vị đại thí chủ, Lan ngượng
ngập ấp úng : “ Kính thưa quí thầy. Kính thưa quí Oâng
bà cô bác. Con không dám nhận là đại thí chủ vìø thật
ra thì con không có lòng, cũng không có đạo tâm… hành hạnh
bố thí như quí vị thương đã ban cho con. Trước đây con
không biết gì là cúng dường, là bố thí cả. Nhờ theo chồng
về nước con mới mở mắt ra và hiểu biết phần nào. Con
học rất nhiều từ mẹ chồng con và của tất cả quí vị
về tấm lòng thiết tha đối với đạo pháp, về tấm lòng
thương yêu đùm bọc những kẻ bất hạnh. Con mới chính là
người đang thọ ơn và vì lẽ đó con xin có lời chân thành
cảm tạ. Con cảm tạ tất cả mọi người và đặc biệt
là mẹ chồng con đã tạo cho con cơ hội để nhìn thấy và
lắng nghe bao điều khổ đau bất hạnh trên đời, nhờ vậy
lòng con mới mở rộng ra…” Lời phát biểu mộc mạc, chẳng
có xử dụng ngôn từ nhà Phật nào to tát, nhưng lại gây
xúc động sâu xa trong lòng người. Tiếng vỗ tay kéo dài,
có kẻ quá cảm khích còn cất tiếng hoan hô, lại có người
buột miệng tán thán : “Con người dịu hiền, khiêm cung làm
sao! Nhỏ tuổi mà biết bố thí không phân biệt, biết hành
hạnh Bồ Tát, thật là việc hiếm có!”
Sau
phần nghi lễ là phần cơm chay tự chiêu đãi do Phật tử
chùa Giác Hải tổ chức. Vợ chồng Hưng cầm dĩa thức ăn
hòa nhập với nhóm Phật tử địa phương nghe họ kể chuyện
bước đầu dựng chùa. Thầy Hoàng Nghiệp vô tình đi ngang
bỗng dừng lại, hỏi một cư sĩ trọng tuổi, gầy yếu, nước
da tái mét : “ Bác Đạo khỏe chưa? Nghe bác bị lụt cuốn
suýt chết phải không?”
- Thưa
thầy! Con khỏe ạ! Thưa thầy, con đi băng rừng mấy mươi
năm nay, gặp lũ lụt là chuyện thường nên không đến nỗi
nguy hiểm thầy ạ!
Lan
tò mò :
- Xin
lỗi bác làm nghề chi ạ?
- Tui
là bưu tá đưa thơ, cô ạ!
- Nghề
phát thơ sao phải lội rừng vậy? Bác đi rừng bằng bằng
xe jeep hay SUV?
Thấy
ông ta ra vẻ lúng túng chẳng biết giải thích cách nào cho
cô Việt kiều hiểu rõ lề lối hành nghề phát thơ trong rừng
núi, thầy Hoằng Nghiệp vội đỡ lời :
- Bác
Đạo đây là người phát thơ thuộc huyện Bố Trạch, nhưng
bác thuộc tuyến đường đặc biệt là các thôn xã cực kỳ
hẻo lánh của người thiểu số nằm rải rác trên những
đỉnh cao của dãy Trường sơn, không có đường giao thông
thuận tiện, chỉ có thể lội bộ : băng rừng, trèo đèo,
lội suối… hàng mấy ngày trời mới có thể giao được
một phong thơ mong manh cho người nhận!
- Ồ!
Nguy hiểm quá! Muỗi cắn chết luôn á!
- Muỗi
mòng đen nghịt thì làm sao mà tránh cho khỏi! Cô coi da tui
vàng khè như vầy nè! Đã sốt rét kinh niên như thế nầy,
đâu còn sợ muỗi nữa, miễn là dự trữ đủ ký ninh
để uống khi lên cơn sốt là được rồi. Tui chỉ phải cẩn
thận tránh hùm beo rắn rết, còn lũ lụt thì nó ập
đến bất ngờ, thoát phen nào hay phen nấy cô ạ!
- Ghê
quá! Bác thoát nạn mấy lần rồi? Làm sao mà thoát được
vậy bác?
- Lớn
nhỏ chừng mươi lần, nhưng chỉ có một lần suýt chết.
Lần đó, mưa dầm cả tuần, nước ngập mông mênh, tui mắc
võng trên cành cao, cột cứng thân mình trên đó cho khỏi té.
Tui treo tòn ten như vậy, chịu đựng mưa gió, đói rã ruột
đến năm ngày đêm, nước mới rút dần. Tui ráng lê lết
leo xuống, lõm bõm mò tìm vài cành lá rừng không độc để
nhai cầm sức, rồi cố gắng tiếp tục lên đường.
- Tội
quá! Bác làm việc khổ cực như vậy, màhọ trả lương mỗi
tháng bao nhiêu hả bác?
- Năm
1994 tui lãnh 15,000 một tháng. Bây giờ lương khá hơn, được
440,000 đồng, tính ra cũng gần được 30 đô cô ạ!
- Trời
đất hơn! Với 30 đô thì bác làm gì để sống?
Bác
Đạo nhe hàm răng cái còn cái mất nở nụ cười dễ dãi
đáp :
- Cũng
vừa đủ tiền mua rượu cho tui uống ấm bụng trong khi đi
đường, và nếu có dư chút đỉnh thì tui mua kim chỉ,
lưỡi câu, thuốc cảm, thuốc rét… làm quà cho những kẻ
trên non cao.
Thấy
Lan vươn đôi mắt tròn xoe nhìn mình, bác Đạo xề xòa tiếp
lời :
- À!
Tui may mắn có được bà xã đảm đương bán buôn đủ sống
rồi, nên đâu cần tiền bạc gì thêm nữa a cô!
- Lạ
quá! Bác phải làm việc quá ư khổ cực, tiền bạc lại không
ra gì! Sao bác không nghỉ quách đi cho rồi?
- Vợ
con tui đều nói y như cô vậy đó. Tui thấy họ nóng lòng
thúc hối mãi nên chiều ý đệ đơn xin nghỉ hàng mươi lần,
nhưng lần nào cũng tình nguyện đi làm lại, bởi vì Bưu Điện
huyện không tìm được ai chịu thay thế tui đi tuyến đường
nầy cả! cô ạ!
- Tìm
không ra người thì họ ráng chịu chứ! Bác hơi sức đâu
mà lo?
- Lo
lắm chớ cô! Không ai mang thơ lên cho dân tộc thiểu số trên
non thì tội nghiệp họ quá đi! Cô biết không thơ nào đối
với họ cũng có tầm mức quan trọng cả. Như mới đây, có
điện tín báo tin người con trai ở bản Kờ Ru đang làm việc
tại Thanh Hóa lâm nạn. Tui phải tức tốc mang điện tín đi
suốt ngày đêm không nghỉ lên cho họ. Tới nơi chưa kịp
lấy sức thì lại phải dẫn đường cho họ đi Tuyên Hóa
để họ kịp thời thấy mặt con lần cuối. Những tin tức
cần thiết như vậy, không mang lên cho họ thì sao đành bụng,
cô ạ!
Bác
Đạo bỗng ngưng lại, ngẩng nhìn về những nọn núi xa xa,
rồi mới chậm rãi nối lời :
- Thời
chiến tranh, tui đã từng sống ở vùng rừng núi đó, xóm
nào, bản nào tui cũng thân thiết. Ai tui cũng thương như cha
mẹ anh em, đi phát thơ cho họ tui cứ coi như đây dịp tốt
để tôi thăm bà con, tạo cho họ niềm vui vậy thôi! Tui nào
cảm thấy khổ sở gì đâu? Mai đây, dẫu có ngày nào trên
đường phát thơ bị gục ngã chết bờ chết bụi, tui cũng
cam lòng.
Thầy
Hoằng Nghiệp tuy bận tiếp tân hàng quan khách, nhưng có lẽ
vẫn lắng nghe cuộc đối thoại, thầy bỗng tới gần chấp
tay long trọng xá bác Đạo, rồi ôn tồn cất tiếng :
- Bác
Đạo ạ! Bác là người mang tâm lượng của bậc bồ tát!
Tôi rất khâm phục, nên xin có lời tán thán bác!
- Tội
con quá thầy ơi! Con chỉ làm việc phát thơ bình thường thôi!
Con đâu có xây chùa, phát chẩn bố thí, cúng dường trai tăng
mà được thầy quá khen như vậy!
- Bác
Đạo ạ! Thật ra mình chẳng có thể đánh giá nghề nào là
tầm thường cả! Đắp đất xây cầu tầm thường không?
Nhưng đó cũng là hạnh nguyện của Ngài Trì Địa Bồ Tát.
Còn phát thơ như bác, xả thân mang tin tức cho người mà không
vì danh vì lợi, cũng là hạnh nguyện của Bồ Tát chớ sao!
Lan
bỗng nêu thắc mắc :
- Theo
thầy thì những đạo nghiệp như xây chùa, phát chẩn, cúng
dường trai tăng có thể đương nhiên coi là hành vi Bồ Tát
không?
- Có
thể có cũng có thể là không! Mình không thể hời hợt nhìn
bề ngoài để phán đoán được. Một đạo nghiệp lớn nếu
phát xuất do lòng thành, không làm vì danh vì lợi thì đó
là Phật sự, làhành Bồ Tát đạo, ngược lại, nếu thúc
đẩy bởi danh lợi mà hành động là đã bỏ Phật để hội
nhập với ma, hành ma đạo rồi.
- Eo
ơi! Phật với Ma chỉ khác nhau tí xíu hả thầy!
- Đúng
vậy đó, đạo hữu. Ma với Phật chỉ khác nhau một niệm
mà thôi! Bởi vậy sư phụ thầy thường nhắc nhở chúng đệ
tử là phải luôn luôn cẩn mật quán sát mình, kẻo suốt
đời ra vẻ hùng hục làm Phật sự mà thật ra đã mọc nanh
Ma Vương tự lúc nào!
Tháng
8.2004
Lời
cuối truyện :
Truyện
nầy được viết với lòng thành kính tán thán một nhân
vật có thực : Ông Nguyễn duy Đạo, nhân viên hợp đồng
của Bưu điện huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Theo ghi
nhận của báo Lao Động (được Việt Báo, xuất bản tại
Nam Cali ngày 25.8.2002 đăng lại), trong hơn 10 năm ròng rã, bằng
đôi chân trần, trèo đèo, lội suối, chịu đựng nhiều lần
lạc đường, lũ lụt, cọp beo tấn công…, trong cơn đói
lả, sốt rét hành hạ, Ông vẫn trì chí bươn bả một thân
một mình lầm lũi giữa những con đường không mấy ai dám
đi để mang thơ đến các thôn bản xa tít tắp trên rẻo cao,
vách núi tai mèo ở vùng biên…cho các sắc dân : Ma Coong, Krai,
Mày, Vân Kiều, Khùa… Oâng Đạo chỉ được trả đồng lương
vừa đủ tiền uống rượu ấm bụng trong khi đi đường (chưa
đầy 30 dollars vào thời điểm năm 2002), nhưng ông vẫn vui
vẻ hoàn thành sứ mạng của mình. Ông không thể nghỉ được
bởi vì : “Bà con thương tui như rứa, làm răng tui nghỉ việc
được. Mà nếu tui nghỉ việc e không có ai thay tui. Thiệt
e không có ai ….”