Ước
mơ thâm thiết của các bà mẹ Á Đông là mong được hủ
hỉ với con cái suốt đời, dẫu rằng phải nai lưng phục
vụ chúng cho đến mức hơi tàn sức kiệt cũng vẫn hài lòng.
Thế nhưng, ước mơ “tầm thường” của thím Wong có vẻ
đã bị đe dọa trầm trọng, kể từ khi hai cậu con lớn chọn
những trường nổi tiếng thuộc miền Đông Bắc Mỹ xa xôi
để tiếp tục bậc đại học rồi biền biệt không về nhà,
“năm khi mười họa” chúng mới điện thoại về thì để
chỉ nhằm than thở đang cơn túng thiếu cần tiền chi viện,
chớ ngoài ra, chẳng cậu nào thực lòng nhớ tưởng đến
bà mẹ già đang mòn mỏi trông ngóng tin con từng giờ từng
phút. Thím vừa chua xót vừa ngay ngáy lo sợ cô con gái út
sẽ bỏ nhà đi mất nữa, nên thầm dặn lòng sẽ dùng “trăm
phương ngàn kế” để ràng rịt cô gái suốt đời mới được.
Thoạt tiên, thím thuyết phục Lucy chọn đại học Cựu Kim
Sơn, ngôi trường chỉ cách nhà có 20 phút lái xe, nên cô vẫn
tiếp tục sống với gia đình đi học như thời trung học.
Tuy vậy thím vẫn chưa thực sự an tâm, thím nghĩ mình cần
phải chọn rể cùng chủng tộc và cùng sống tại Cựu kim
Sơn, thì con gái mới không bỏ đi đâu được. Thím rao vòng
vòng trong cộng đồng người Hoa, móc nối những gia đình
có con trai xứng đôi, để úp mở tạo điều kiện cho chúng
gặp nhau. Mặt khác, thím cũng thận trọng theo dõi đám bạn
trai của con từng li từng tí, canh chừng từng chàng trai, mà
hể thấy cậu nào khác màu da, thì bằng cách nầy cách khác
thím chê bai và kê khai đủ “tội” để “hất cẳng”
ra, đứa da vàng mắt xếch “tướng tá tạm tạm dễ coi”
thì tán tụng thổi phòng để “lôi kéo” vào. Sau bao năm
miệt mài tranh đấu, xử dụng đủ mọi phương pháp cứng
mềm : nói sùi bọt mép, nhỏ bao giọt nước mắt, làm mặt
giận, mặt hờn…để lung lạc con, kết cuộc rồi, thím cũng
thành công như ý nguyện. Lucy tỏ vẻ khắng khít với anh chàng
sinh viên cùng trường, cũng gốc gác Trung Hoa, nên thím Wong
vui như mở cờ trong bụng, thím khuyến khích hai đứa chánh
thức kết hôn, hi vọng sớm có cháu ngoại ẫm bồng. Một
hôm, nghe loáng thoáng hai đứa bàn đến những địa điểm
du lịch hấp dẫn, thím đoán “cá đã ăn câu” rồi, chắc
mẻm là chúng đang chuẩn bị đám cưới và tuần trăng mật,
nên thím hừng chí “thừa thắng xông lên” gạ gẫm : “Sau
đám cưới, nếu David về đây thì hai con có thể dọn vô
phòng cũ của hai anh cho rộng rãi. Còn phòng của Lucy bây giờ
thì để dành sẵn cho cháu ngoại của má! Hì! Hì! Nè, hãy
ráng sanh con sớm sớm cho vui nhà vui cửa nhé!” Đề nghị
hấp dẫn nầy, đáng lẽ phải được thằng rể hoan hô nhiệt
liệt, nhưng thằng David, tuy mặt mày người Hoa, nhưng lòng
dạ rặt ròng Mỹ, hắn nghĩ sao nói vậy chẳng kể lớn nhỏ
gì hết, và sẵn đang bực bội lối sống đại gia đình cổ
lỗ sĩ mất tự do, nên buột miệng cười hô hố, rồi phang
liền một câu “xanh dờn” : “Giỡn hoài bà già! Tụi nầy
phải thử chung sống vài năm rồi mới tính chuyện cưới
hỏi chứ? Còn cái con Lucy nó đâu còn bú, đâu cần vú em…
mà bà đòi giữ riết trong cái nhà nầy mãi vậy bà?”. Thím
Wong cứng họng chẳng nói thêm lời nào, chửi tiếng Hoa thì
hắn không hiểu, cầm bằng tranh luận bằng tiếng Mỹ thì
chỉ có nước thua thiệt nhục nhã mà thôi. Thím chỉ biết
dùng tình cảm mẹ con để lung lạc Lucy, cấm tuyệt con bé
không được giao du với giống mất dạy đó nữa. Ngờ đâu,
chỉ trong vòng hai tuần thì Lucy bỗng lặng lẽ cuốn gói dọn
đến chung cư của tình nhân, rồi vài tháng sau, chúng đưa
nhau đi lập nghiệp ở một tiểu bang xa lơ xa lắc, không dành
cho thím một cơ hội cỏn con nào để xen vào đời sống riêng
tư của chúng nữa.
Thua
buồn, vợ chồng thím Wong tìm đến cộng đồng người
Hoa trong Hội cao niên để có cơ hội họp mặt với những
người đồng hương cùng lứa tuổi, đang trăn trở bởi nỗi
niềm cô đơn tại xứ người, để hàn huyên tâm sự, hoài
niệm lại mảnh quê hương yêu dấu ở bên kia bờ Thái bình
dương. Nếp sống bận rộn mới mẻ nầy đã giải tỏa phần
nào nỗi chua xót thầm kín chất chứa trong lòng thím, nhất
là những khi thím khám phá được những bà mẹ đồng bệnh
để “xổ bầu tâm sự”, và để cùng “hòa tấu” màn
chửi đổng cái “xã hội cà chớn” và nền “văn hóa mất
dạy” của tụi bọn Mỹ cho bỏ ghét. Quê hương rất
dễ gợi nhớ qua mùi vị, nên nhóm thân hữu cứ tranh nhau
tổ chức tiệc tùng, bà nào cũng trổ tài nấu nướng, toàn
là những món đặc sản, càng khó tìm gia vị càng quý giá.
Mùa lễ Tạ Ơn năm 1959, thím Wong tẩn mẩn bỏ ra mấy ngày
trời rình rang chuẩn bị cơm nước để long trọng mời đám
bè bạn mạc chược : vợ chồng Tchao, Shu và Liu tham dự
tiệc liên hoan. Tuy nhân danh lễ Tạ Ơn theo truyền thống Hoa
Kỳ, nhưng trên bàn tiệc chỉ toàn là món ăn Á Đông, chẳng
có bóng dáng chú gà lôi nào hiện diện cả. Có lẽ chính
nhờ đặc điểm nầy, mà đám thực khách hồ hởi ra mặt.
Thím Tchao, khoái chí nếm muỗng “súp” măng tây vi cá nấu
với cua còn nghi ngút khói phù hợp khẩu vị mình, bèn hét
toáng lên :
- Oái
chà! Món “súp” nầy chị nấu thật tài tình! Tôi có thể
đoan chắc rằng, trong khắp thành phố Cựu Kim Sơn nầy, kể
các nhà hàng sang trọng cũng không đầu bếp nào nấu nướng
tuyệt vời như chị!
- Nhất
hạng là chị Wong mà!, thím Liu cũng hụ hợ tán dương.
Thím
Wong cười hể hả: “Tui cũng vụng lắm! Chỉ ráng sức theo
đuôi mấy chị mà thôi!”. Thím Shu, cũng vội vã góp ý :
- Chị
quá khiêm cung thôi, chớ nghệ thuất nấu nướng của chị
độc đáo không ai chối cãi được. Điểm đặc biệt là
mừng lễ Tạ Ơn mà chị cho ăn toàn món Trung Quốc thuần
túy, mới mà điều đáng hoan hô nhiệt liệt chớ! Tôi không
hiểu nỗi tại sao bọn Mỹ có thể ăn mãi cái món gà lôi
nhạt nhẽo mà có thể chịu được kìa!
Chú
Liu, ra vẻ nghiêm trang trịnh trọng lên tiếng :
- Có
thể nói nghệ thuật nấu nướng là một kết tinh đặc trưng
của văn hóa. Nước mình có cả mười ngàn năm văn hiến
dĩ nhiên phải cao tột hơn một nước mới lập quốc vài
trăm năm như Hoa Kỳ. Chẳng lạ gì, mà thực đơn của bọn
Mỹ bất quá chỉ là những món hamburger, hot dog ngấy thịt…
chớ tìm đâu ra được món ăn trang nhã, phẩm chất thanh cao
thâm trầm như trong nghệ thuật nấu nướng của nước mình
cho được!
Nghe
Liu chê bai văn hóa Mỹ phù hợp với cõi lòng thầm kín
của mình, thím Wong liền chụp ngay cơ hội bằng vàng, chửi
đùa:
- Còn
nói gì đến cái nền văn hóa mất gốc của nước nầy! Aên
uống thì phàm phu tục tử, nói năng thì ngổ ngáo hỗn hào,
không nhân nghĩa, không lễ giáo… chỉ có tiền, tiền, tiền…
mà thôi!
- Chị
phán đúng phóc hà! Người Mỹ họ tệ lắm! Họ thô lỗ,
chớ đâu có đạo đức lễ nghĩa nhân hậu như người mình,
một dân tộc nghìn đời được nuôi dưỡng và thấm nhuần
bởi nền giáo lý tam cương ngũ thường Khổng Mạnh, a chị!,
chú Tchao góp ý.
Chú
Shu lắc đầu ngầy ngậy ra vẻ phản đối, rồi lên tiếng
:
- Chuyện
gì chớ cho rằng người Trung Hoa mình thấm nhuần đạo đức
lễ nghĩa thì tôi không dám tin a!
Chú
trầm ngâm giây lát, rồi lừng khừng tiếp lời :
- Tự
hào là dân tộc lễ nghĩa làm sao được chớ, khi mà một
vị tu sĩ, có thể nói là bậc đạo đức cao tăng tại lục
địa vừa nằm xuống, thì ở tại đây, có nhóm cả trăm
người Hoa đã hùa nhau xuống đường, giăng biểu ngữ hô
hào lên án, bịa chuyện vu vơ để phỉ báng chửi bới! Đúng
là cộng đồng mình bày trò vô liêm sĩ, chớ đạo đức ở
chỗ nào đâu?
Thím
Wong thoạt nghe giọng “đâm bang” của chú Shu mà nóng mặt,
thím muốn sừng sộ ngay, chừng nghe rõ ra, bỗng “hạ hỏa”,
buồn hiu đáp :
- Anh
Shu than phiền cũng phải! Một kẻ đại gian ác, khi đã nằm
xuống rồi, người đời còn thứ tha không nỡ chê trách nữa,
vậy mà đối với một vị cao tăng, trọn đời hi sinh cho
đạo pháp như Hòa Thượng Hư Vân(*), mà có những kẻ bạo
mồm đặt điều vu khống rồi ồn ào xuống đường la ó
xỉ vả, trong nhóm đó lại có một đại sư mặc áo tràng
hung hăng cầm loa hét vang, đúng là diễn thứ trò hề quái
gở cho người địa phương chê bai đàm tiếu. Thiệt là xấu
hổ quá chừng hà!
Thím
Tchao đang dồn hết tâm lực ngồm ngoàm thưởng thức con chim
bồ câu ra ràng dòn rụm, dường như không để ý với những
lời bàn ngang tán dọc của bè bạn, bỗng lên tiếng :
- Uả
có vụ ồn ào hấp dẫn như vậy, mà sao tôi không hay biết
mảy may gì ráo kià? À, mà đầu đuôi nội vụ như thế nào
vậy? Các anh chị!
Chú
Wong ôn tồn giải thích :
- Hòa
Thượng Hư Vân là vị cao tăng nổi tiếng từ thời Dân Quốc.
Hòa thượng nhất quyết ở lại đại lục để tiếp tục
hoằng pháp tại đạo tràng Chân Như, núi Vân Cư, tỉnh Giang
Tây và từ trần tại đây vào đầu thu năm nay. Đại Sư
Tuyên Hóa chùa Vạn Phật, vốn là đệ tử của Ngài đã tổ
chức đại lễ tưởng niệm, thì bị một số người phá
rối bằng cách xách động đồng bào biểu tình lên án hòa
thượng Hư Vân là kẻ phản quốc vì đã chạy theo nhà nước
cộng sản…
Liu
ra giọng mỉa mai cắt ngang :
- Hừ!
“Không có lửa sao có khói. Trống treo ai dám đánh thùng.
Nị không ai dám dở mùng chung vô!”. Tôi nghe nói lão Hư Vân
được Bắc Kinh trọng vọng lắm mà!
Thím
Liu cũng hùa theo chồng :
- Nghe
nói ổng xây dựng ngôi chùa vĩ đại, nuôi chúng cả ngàn
người, nếu không dính líu với nhà nước, không làm thầy
tu “quốc danh” thì làm sao sống được với những kẻ vô
thần?
Shu
nóng mặt nhưng gắng giữ vẻ bình tĩnh đáp :
- Người
ta cố tình chụp mũ Ngài, chớ Ngài ở lại là chấp nhận
gian khổ, đói rách để hoằng dương đạo pháp mà thôi. Thật
vậy, vào năm 1952, lực lượng công an huyện Khổng Nguyên
đã tràn vào chùa Vân Môn bắt giữ, đánh đập vu cáo tăng
sĩ chứa chấp vũ khí phản động, riêng Ngài đã bị chúng
tra tấn tàn nhẫn ngất xỉu nhiều lần nằm liệt như xác
chết trong 2 tháng trời, mãi cho đến khi cả thế giới lên
án mới được chánh quyền trung ương can thiệp ra lịnh giải
tỏa. Năm sau, nhà nước cưỡng bách Ngài lên Bắc Kinh hi vọng
xử dụng Ngài làm bù nhìn cho tổ chức Phật Giáo mệnh danh
“Liên Hội Phật Giáo Trung Quốc” nhưng bị Ngài vạch rõ
âm mưu nên bọn chúng bèn đày Ngài lên Lô Sơn “dưỡng bệnh”.
Ở Lô Sơn Ngài nghe tin tổ đình Chân Như, núi Vân Cư bị
tàn phá hoang vắng, nên xin được đến đó tu tập. Đẩy
được Ngài trụ vào chỗ khỉ ho cò gáy, chúng yên tâm Ngài
sẽ lâm cảnh “thân tàn ma dại”, đói rách rục xương ở
đó. Ngờ đâu, Phật tử khắp thế giới gởi tịnh tài nườm
nượp về cúng dường, tăng chúng trong nước len lỏi tìm
về đạo tràng của Ngài hợp sức công quả khai khẩn đất
hoang đểø tự túc mà tu tập, do đó, chẳng bao lâu Ngài đã
kiến tạo được một đạo tràng vĩ đại tại núi Vân Cư.
Thấy đạo tràng sung túc, đất đai khai phá mầu mỡ, chánh
quyền địa phương lại chụp mũ rồi giam giữ Ngài nhằm
chiếm đoạt tài sản Vân Cư. Một lần nữa, nhờ thế giới
tự do cực lực phản đối, cuối cùng trung ương đảng buộc
lòng hạ lệnh phóng thích Ngài. Tóm lại, hành hoạt của Ngài
quang minh chánh đại, có như bọn người lớn họng vu cáo
đâu?
- Anh
ở Hoa Kỳ mà lại rành chuyện lục địa quá ha! Anh nói ổng
không dính líu gì với nhà nước, vậy ai cử ổng đứng ra
tiếp đóùn phái đoàn Phật Giáo Tích Lan vậy anh?, Liu ra giọng
mỉa mai.
Shu
cũng hậm hực giải thích :
- Theo
tôi hiểu thì vào năm 1953 khi phái đoàn Phật Giáo Tích Lan
mang ba bảo vật là : xá lợi Phật, bối diệp tạng kinh, cây
bồ đề tặng cho Phât Giáo Trung Quốc, thì lúc đó, với tư
cách là cố vấn danh dự Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc,
Ngài đã được cử ra tiếp đón. Năm sau, khi Hiệp Hội Phật
Giáo nầy bị nhà nước giải tán để thành lập tổ chức
khác mang tên Liên Hội Phật Giáo Trung Quốc, thì chính Ngài
đã chỉ trích và từ chối gia nhập tổ chức nầy, nên liền
sau đó, Ngài bị cưỡng bách đi Lô Sơn, rồi đến Vân Cư…
Nhận
thấy không khí có phần căng thẳng, chú Wong vội hoà nhã
cất tiếng :
- Anh
Liu à! những người sinh sống trong một chế độ độc tài
đảng trị tại lục địa, thường xuyên bị rình rập kiểm
soát, bị giam cầm, tra tấn, thủ tiêu, bất cứ lúc nào, thì
khó mà công khai “chống cộng” ồn ào kiểu như bọn chúng
mình được. Giới tu sĩ trong nước, vì đại nguyện hoằng
pháp có khi phải chấp nhận hòa hoãn, nép mình, khổ nhục
đắng cay để mà sinh hoạt, có lẽ mình cũng thông cảm được
phải không anh?
Rồi
mĩm cười nhìn chú Shu, Wong tiếp lời :
- Những
vị cao tăng như Ngài Hư Vân, bao lần bị chụp mũ phỉ báng
tồi tệ, bị giam cầm tra tấn đến bất tỉnh, đạo tràng
bị đập phá, cưỡng đoạt… vậy mà, lúc nào Ngài cũng
vẫn an nhiên tự tại, đại hùng đại lực hoằng dương đạo
pháp… đạo đức của Ngài lúc nào sáng ngời, có chế độ
nào, có đoàn thể nào làm lu mờ nỗi đâu? Vậy thì vụ hoan
hô đả đảo nhỏ nhít tại Cựu kim Sơn có nghĩa lý gì mà
mình phải lưu tâm, phải không anh Shu? Thôi! Anh em mình nên
bỏ qua vụ nầy đi, để có thể dành trọn thời giờ lưu
tâm thưởng thức những món ăn độc đáo của bà xã tôi
chớ!
Thím
Tchao cười hô hố :
- Ừ
nhỉ! Đồ ăn ê hề, món nào cũng hấp dẫn đặc biệt, mà
các ông anh bà chị cứ nhởn nhơ bàn chuyện tào lao, rủi
ro tôi lỡ dại vét sạch, thì ráng mà chịu nghen, đừng than
trách nhé!
Chú
Tchao đang ngoạm cái đùi vịt nấu tiêu béo nguậy, cũng đành
ngưng lại nhắc nhở :
- Ê!
Chúng mình phải “đánh mau, quét dọn mạnh”, rồi vào sòng
mạc chược nữa chớ!
X
X
X
Chủ
khách bắt đầu tưng bừng thù tạc, thân mật chuyện trò
toàn những đề tài thuộc loại “xe cán chó” vô thưởng
vô phạt, tranh nhau kể chuyện tiếu lâm vui vui, và dường
như đã quên hẳn vụ hoan hô đả đảo gay cấn lúc ban đầu.
Tiệc vừa tàn thì vợ chồng chú Liu liền vội vã kiếu từ,
viện lẽ thình lình có bạn phương xa viếng thăm. Sòng mạc
chược thiếu tay, nên vợ chồng chú Tchao cũng xin lui gót sớm,
dĩ nhiên, là sau khi họ đã gạ gẫm gia chủ để “thu vét”
vài món ăn hạp khẩu về nhà.
Khi
chỉ còn lại hai gia đình, thím Wong mới thân mật lên tiếng
:
- Hai
anh chị có biết anh Liu thuộc thành phần quá khích không?
Tánh ảnh lại đa nghi lắm, ai lơ mơ là ảnh “chụp mũ”
liền hà!
- Dĩ
nhiên là tôi biết rất rõ. Aûnh có sẵn trong tay tờ báo,
và chính ảnh đã giựt giây vụ vu khống phỉ báng Ngài Hư
Vân, chớ còn ai nữa!
Thím
Shu tái mặt, cằn nhằn :
- Mèn
đét ơi! Oâng đã biết rõ như vậy, mà sao ông còn bày đặt
đôi co tranh luận với hắn làm gì?
Chú
Shu, chắt lưỡi rồi đủng đỉnh trả lời :
-Tôi
nào thích cãi cọ với ai mà chi. Chỉ vì mình nghe người ta
lên án sai lầm một bậc chân tu, mình cảm thấy có bổn phận
phải trình bày sự thật vậy thôi. Chớ đúng ra đối với
bậc chân tu đạo hạnh sáng ngời như Ngài Hư Vân, thì dù
có kẻ tâng bốc thổi phòng hay có người chà đạp xỉ vả,
thì cái đạo đức của Ngài cũng như như không tăng không
giảm, không nhơ không sạch gì cả! Biếtø vậy, nhưng tánh
tôi chuộng sự thật, cứ trình bày sự thật, còn thiên hạ
tin hay không tin tùy họ!
- Đối
với bậc tổ sư thì dĩ nhiên chẳng ai hoạnh họe gì được
rồi! Lo là lo cho phận tép riêu của mình kìa! Anh ngang bướng
bày tỏù ý kiến khác hắn, hắn chụp mũ, phun nọc đọc,
xỉa xói suốt đời, thì mình chịu đời sao cho thấu?
- Mình
hả! Mình là thứ vô danh tiểu tốt ở xứ nầy, nên dẫu
ai thương mình cố nâng cái danh mạt hạng của mình lên thì
nó cũng không lên được tí nào, còn cầm bằng họ chà đạp
đè xuống, nó vốn đã sát mặt đặt đất rồi, cũng không
xuống thêm được nữa! Hì! Hì! Không thêm bớt, không dơ
sạch, không thơm thúi gì cả mà bà!
Qua
lời giải đáp “trớt quớt” của đức lang quân, bỗng
nhiên thím Shu trực nhận được rằng “cái danh” vốn không
có tự tánh, danh đã không thì mũ chụp cũng là không, khen
chê, thương ghét… cũng đều như vậy cả. Thấy được điều
đó, thím cảm tưởng như đã vượt thoát khỏi sợ hãi, xa
lìa được mọi mộïng tưởng điên đảo… Thím mĩm cười.
Thầm lặng trong lòng thím bỗng nghe rộn rả câu chú đà la
ni nổi lên lảnh lót như một bài ca nhiệm mầu : “Gate.
Gate. Paragate. Parasamgate. Bodhi Svaha.”
Tháng
12.2003
Ghi
chú :
* Hòa
Thượng Hư Vân (1840-1959) là vị thiền sư lỗi lạc nhất
trong lịch sử Phật Giáo Trung Hoa cận đại. Ngài xuất gia
năm 19 tuổi, thọ cụ túc giới với hòa thượng Diệu Liên,
chùa Cổ Sơn, Quảng Châu. Ngài trải qua một thời gian dài
tu khổ hạnh trong chốn thâm sơn, kế đó, do sự hướng dẫn
của bậc thiện tri thức, Ngài đến núi Thiên Thai, am Long
Tuyền thọ pháp với đại sư Dung Cảnh trong vòng bảy năm.
Ngài hạ sơn vào năm 36 tuổi, hành cước chiêm bái khắp các
đại tùng lâm và thánh tích từ Trung Quốc đến Tây Tạng,
Bhutan, Tích Lan, Miến Điện. Đặc biệt trong thời gian nầy
Ngài đã dành hơn 3 năm tam bộ nhất bái từ Phổ Đà sơn
đến Ngũ Đài sơn và đã đảnh lễ xá lợi Phật tại chùa
A Dục Vương, mỗi ngày ba ngàn lạy trong 2 năm trời, tất
cả để báo trọng ân sanh thành dưỡng dục. Ngài đã trùng
tu hàng trăm ngôi cổ tự, đáng kể nhất là chùa Chúc Thánh,
Kê Túc sơn, tổ đình Tào Khê (chùa Nam Hoa), tổ đình Vân
Môn (chùa Quang Thái), tổ đình Vân Cư (chùa Chân Như).
Sau
khi Hoa lục đã nhuộm đỏ, Ngài vẫn đại hùng đại lực
tiếp tục hoằng dương Phật Pháp. Đao tràng Vân Môn bị kềm
kẹp và cô lập, nhưng nhờ tăng chúng tận lực canh tác nên
vẫn duy trì nếp sống thịnh vượng khiến cho chánh quyền
huyện Khổng Nguyên khó chịu ra lịnh đàn áp. Lực lượng
công an tràn vào chùa, chụp mũ phản động tăng chúng rồi
bắt giam tra tấn tu sĩ, tịch thu tài sản, ngăn cấm đi lại
và hành lễ. Riêng Ngài, dù đã ngoài 111 tuổi mà vẫn bị
chúng tra khảo tàn nhẫn, chết đi sống lại bao lần. Cả
tháng sau, biến cố nầy mới lọt ra ngoài, đến tai chư tăng
chùa Đại Giác, tỉnh Triết Giang, rồi chuyển ra nước ngoài.
Nhờ thế giới tự do lên tiếng, sau ba tháng khủng bố tàn
khốc, chánh quyền Bắc Kinh mới ra lịnh lực lượng công
an địa phương rút lui. (Trong biến cố nầy, Sư trụ trì Diệu
Vân bị đánh chết, cả chục tăng sĩ bị mất tích, chưa
kể số bị thọng thương, gảy tay chân không ít. Chùa lại
bị cướp sạch lương thực, tăng sĩ phải vào rừng đốn
củi, gánh qua chợ huyện bán để sống còn.)
Hai
năm sau, chánh quyền trung ương lại cưỡng bách Ngài ra Bắc
Kinh tham dự Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc. Ngài nhất quyết
không nhận chức Hội Trưởng, nhưng họ cũng đề cử Ngài
cùng đức Đạt Lai Lạt Ma, đức Ban Thiền Lạc Ma làm Hội
Trưởng danh dự. Vài tháng sau, Ngài được mời đứng ra hành
lễ, thọ nhận 3 bảo vật : xá lợi Phật, bối diệp tạng
kinh và cây bồ đề con do Phái đoàn Phật Giáo Tích Lan trao
tặng. Năm sau, chánh quyền lại giải tán Hiệp Hội Phật
Giáo, rồi cho thành lập một tổ chức khác hoàn toàn do đảng
viên lãnh đạo lấy tên là Liên Hội Phật Giáo Trung Quốc.
Vì Ngài công khai viết bài nhận định nhan đề “Biểu tướng
tăng đồ trong thời mạt pháp” để chỉ trích âm mưu phá
đạo của họ, nên bị cưỡng bách đưa đến Lô Sơn.
Thời
gian ngắn sau đó, khi nghe tin đạo tràng Vân Cư bị chiến
tranh tàn phá hoang vắng, Ngài đau lòng xin chánh quyền đến
đó tu tập nhằm phục hưng chốn nầy. Ngài chốn gậy, cùng
ba đệ tử lần mò leo núi, dựng am tranh, phát hoang trồng
trọt tu tập. Không bao lâu, tăng chúng hàng ngàn người ở
khắp nơi len lỏi tìm về tu học, cùng lao động sản xuất
và phát triển Vân Cư thành một đạo tràng vĩ đại như xưa.
Đến năm 1958, chánh quyền trung ương phát động phong trào
học tập cải tạo, Ngài bị địa phương mang ra đấu tố,
với một danh sách 10 tội trạng như : tham ô, phản động,
giả đạo đức… Các đệ tử thân tín của Ngài bị phân
tán, Ngài bị biệt giam, và đạo tràng Vân Cư bị lục soát
và chiếm đoạt. Lần nữa, nhờ thế giới tự do lên tiếng
phản đối, Ngài lại được phóng thích.
Ngài
đã an nhiên thị tịch tại Vân Cư vào ngày 13 tháng 8 năm
năm 1959, thọ 120 tuổi.