Tuy
không phải một thiền sinh chân chính, nhưng chú Sáu rất tôn
quý hòa thượng Thanh Từ. Chú thao thức mong được hội kiến
với hòa thượng, trực tiếp ngắm nhìn, lắng nghe hòa thượng
ban pháp từ, và đôi khi tuy không hiểu thâm sâu lắm, chú
Sáu vẫn cảm thấy đón nhận được sự tươi mát và niềm
an lạc của hòa thượng từ một suối nguồn đạo đức vô
hình nào đó tỏa ra, nâng đỡ chú thêm vững mạnh và tinh
tiến trên con đường tu sửa thân tâm. Chính vì vậy mà khi
hay tin hòa thượng sang Mỹ lần cuối cùng, trước khi vĩnh
viễn nhập thất cho đến ngày từ giã cõi giả tạm nầy,
tuy cư ngụ ở tiểu bang xa xôi, chú cùng bè bạn hâm hở rủ
nhau về thiền viện Ðại Ðăng, thị xã Bonsall, Nam California,
để chiêm ngưỡng thầy.
Tuy
nằm sát vùng biển Oceanside ồn ào, nhưng thị xã Bonsall lại
là một địa điểm tịnh dưỡng nhỏ bé, thanh vắng, với
những sân golf, trường đua ngựa, trang trại huấn luyện ngựa
đua, nhà nghỉ mát... quây quần quanh những ngọn đồi con
lúp xúp, mỗi ngọn đồi tọa lạc một ngội biệt thư nguy
nga, xanh um cây trái. Thiền viện Ðại Ðăng nằm trên triền
đồi xinh xắn, có tầm nhìn rộng rãi quan sát phong cảnh thanh
lịch khắp bốn phương. Chú Sáu tìm về Ðại Ðăng tương
đối trễ, vào khoảng 11 giờ 30 sáng thứ tư 6.11.02, Phật
tử khắp nơi đã quy tụ về đông đảo, bãi đậu xe đầy
ấp, nhưng nhờ khuôn viên rộng rãi, Phật tử dè dặt lời
nói, nên thiền viện vẫn giữ được vẻ thanh tịnh trang
nghiêm. Ðây là ngày mà ban tổ chức dành riêng cho báo giới
người Việt hải ngoại tiếp xúc phỏng vấn thầy. Phật
tử ngồi san sát trong và ngoài chánh điện, xúc động lắng
nghe từng lời giải đáp trong sáng của thầy, Chú Sáu nhận
thấy có nhiều cặp mắt đẫm lệ, và tự hỏi có phải họ
đã mũi lòng trước những lời dặn dò từ biệt thâm thiết
của thầy chăng? Cuộc phỏng vấn sắp chấm dứt, Chú Sáu
chỉ được nghe một ký giả trẻ thỉnh cầu thầy “ban cho
lời dạy ngắn gọn nhứt để tu tập đạo giải thoát”.
Thầy cười hiền hòa đáp “ngắn gọn thì không gì ngắn
hơn câu chuyện an tâm của tổ Ðạt Ma dành cho Ngài Huệ Khả”.
Rồi thầy tươi vui kể lại sự tích xưa. Buổi lễ kết thúc
với sự hài lòng của tất cả mọi người.
Nhờ
được quý thầy cô hướng dẫn, Chú Sáu may mắn được diện
kiến thầy vào buổi trưa. Thầy mĩm cười bảo : “Con lớn
tuổi, trông hơi khác xưa!” Chú Sáu đảnh lễ, lặng lẽ
ngắm nhìn thầy thật kỹ để đón nhận lòng từ bi thánh
thiện của thầy tỏa ra ngoài, rồi xin phép lui ra. Ðối với
chú Sáu, giây phút diện kiến thầy thật tuyệt vời, chú
không muốn lên tiếng để phá tan nguồn xúc cảm dâng tràn,
đang và sẽ nâng đỡ chú tinh tấn hơn trên con đường tu
tập. Chú Sáu lưu lại hai ngày để có dịp tham dự thực
tập thiền và cũng để tham dự buổi lễ xuất gia được
tổ chức trang nghiêm và cảm động cho hơn bốn mươi tân
sa di, sa di ni.
Khi
Chú Sáu vừa về đến nhà, chưa kịp nghỉ ngơi thì có anh
bạn pháp danh Tâm Không liên lạc viếng thăm. Vốn là đệ
tử trung thành của hòa thượng, anh thiết tha chờ đợi thầy,
nhưng nay gặp trường hợp bất khả kháng không di chuyển
xa được, đành háo hức chờ bạn về để hỏi han tin tức
nóng hổi tại Ðại Ðăng. Anh bị tai nạn lưu thông tháng
trước, không thể tự lái xe, nên nhờ Hải, người con lớn
đưa đến. Hải ké né ngồi một góc. Chú Sáu bảo anh ta tự
nhiên xem truyền hình, để đỡ nghe câu chuyện của hai ông
già, mà chú tin chắc rằng anh ta rất chán ngán. Tâm Không
rối rít hỏi han lung tung từ chuyện sức khỏe của hòa thượng,
đoàn tăng ni tháp tùng, lịch trình hoằng pháp, tương lai thiền
phái sau khi thầy nhập thất vĩnh viễn...anh lại chuyển câu
hỏi sang Ðại Ðăng, Ngọc Chiếu...vân vân và vân vân, khiến
Chú Sáu chới với trả lời hụt cả hơi, mà dường như Tâm
Không vẫn chưa thỏa mãn. Câu chuyện tưởng chừng sắp kết
thúc, bỗng anh ta lại lên tiếng :
- Còn
vụ họp báo như thế nào? Sao chẳng nghe anh kể chi tiết nào
cả?
-
Ơ! Tôi đến trễ, nên chỉ nghe kể lại là diễn tiến buổi
phỏng vấn rất tốt đẹp. Ngoài ra, đích thân tôi chỉ nghe
một cậu ký giả yêu cầu thầy ban một lời pháp “ngắn,
gọn nhứt để tu tập đạo giải thoát!”.
-
Trời! Tu giải thoát mà đòi ngắn gọn! Hóc búa thật! Rồi
thầy đáp như thế nào?
-
Tôi chỉ nhớ đại khái là thầy ôn tồn đáp : “Ngắn gọn
nhứt thì có lẽ phải kể đến câu chuyện ngộ đạo của
Ngài Huệ Khả. Nguyên sau khi theo tổ Ðạt Ma tu tập một thời
gian, một hôm Ngài Huệ Khả(1) thỉnh tổ : “Tâm con chưa
an! Xin thầy dạy con pháp an tâm”; Tổ đáp : “Ngươi đem
tâm ra đây ta an cho”; Huệ Khả thầm lặng hồi lâu rồi
cất tiếng: “Con tìm tâm không thể được”. Tổ phán :
“Thế là ta đã an tâm cho ngươi rồi!”
-
Khâm phục! Khâm phục! Chỉ cần mấy lời vắn tắt mà thầy
đã đưa ra được pháp tu cao vút tuyệt vời!
Hải
đang vớ vẩn xem truyền hình, bỗng buột miệng chen vào :
- Con
thì chẳng biết tuyệt vời ở chỗ nào cả! Con chỉ thấy
tối mò! Chẳng đầu đuôi gì hết! Kẻ không tìm ra tâm thì
được tổ tuyên bố là an tâm rồi, là ngộ đạo! Sao mà
dễ dàng quá, mà cũng kỳ dị khó hiểu quá!
Tâm
Không nghe con chen vào câu chuyện của người lớn “phát ngôn
bừa bãi” đụng chạm đến bậc cao tăng đạo hạnh, vừa
tức, vừa thẹn, mặt đỏ bừng, nghiến răng kẹt kẹt mà
không thốt được tiếng nào. Có lẽ Hải không ngờ lời
phát biểu của mình khiến ông già giận dữ chừng ấy. Anh
ta thộn mặt chẳng biết phải đối đáp thế nào cho ổn.
Cuộc đàm luận bỗng trở nên ngột ngạt khó thở. Thật
ra, Hải không phải là một thanh niên hỗn láo, anh lớn lên
và được dạy dỗ theo lề lối Hoa Kỳ, là ai cũng có quyền
tự do phát biểu ý kiến, nên anh nghĩ sao thì nói vậy mà
thôi. Chú Sáu hiểu tâm lý bọn trẻ, là phải giải thích
suy luận hợp lý thì may ra chúng mới tuân phục, chớ không
thể dở trò đàn áp theo lối “cả vú lấp miệng em” như
ở Việt Nam được, nên cười giả lả lên tiếng :
- Cháu
Hải ạ! Cùng một sách lược chánh trị y hệt nhau, nhưng
nếu lời nói do một người dân quèn đề xướng thì chẳng
ai quan tâm, ngược lại nếu do một vị nguyên thủ quốc gia
tuyên bố thì sẽ phát ra một huy lực mạnh mẽ. Ðiều đó
đúng không cháu?
- Ðúng
lắm!
- Cũng
vậy đó cháu ạ! Nếu cháu đích thân chiêm ngưỡng phong thái
tự tại an nhiên của bậc cao tăng giác ngộ, nghe âm hưởng
thoát tục thâm nhập lỗ tai mình, thì chắc chắn cháu sẽ
cảm nhận ý nghĩa thâm sâu mầu nhiệm của câu chuyện hơn.
Chớ giờ đây cháu chỉ nghe ông già lù khù đạo đức kém
cỏi như chú kể lại, thì dĩ nhiên cháu thấy tối mù là
phải rồi.
Hải
nhún vai, cười khẽ ra vẻ không đồng ý, rồi lên tiếng
:
- Bác
nói vậy thì cháu nghe vậy, chớ... cháu khó nói quá!...
- Cháu
cứ thẳng thắn trình bày, chú không phiền hà gì đâu?
- Thằng
bạn cháu ở San Diego, có tham dự buổi họp báo trên đã điện
thoại kể cho cháu câu chuyện nầy và than thở rằng “đã
thử tìm tâm mà cũng chẳng thấy tâm đâu như Ngài Huệ Khả?
Như vậy, liệu nó thưa với hòa thượng điều nầy thì nó
được tuyên bố là đã an tâm, đãø giác ngộ không?”
- Thật
ra, “người nói kẻ nghe” phải có một trình độ gần gũi
nhau, thì mới thực sự có cuộc đối thoại. Cháu mà nói
chuyện điện tử với bạn bè cùng bậc Cao Học điện tử
như nhau dĩ nhiên hai người sẽ hiểu nhau ngay. Ngược lại,
cùng đề tài đó cháu đem bàn bạc với chú trọn ngày thì
chú cũng “bù trất”, chẳng thu thập được điều gì
đâu.
- Ý
của chú là phải có trình độ gần bằng hòa thượng thì
mới hiểu được chăng? Như vậy ngoài các bậc thượng căn
thượng trí, xem ra rất hiếm hoi, có mấy người lảnh hội
được câu chuyện nầy?
- Thật
ra, như cháu biết đó, người ta đòi hỏi “một lời dạy
ngắn gọn nhứt để thâm nhập đạo mầu”, thì Ngài đành
chọn mẩu chuyện ngắn gọn nhứt có diệu dụng “chỉ thẳng
chỗ rốt ráo” để trao truyền vậy thôi! Dĩ nhiên, muốn
đón nhận lời dạy nầy của Ngài thì ít nhứt cũng phải
là một “hành giả tu thiền chân chính dấn thân cho sự nghiệp
giác ngộ” thì mới mong thấu hiểu phần nào, cháu ạ!
- Tóm
lại, vẫn là phải dày công tu tập thì mới lảnh hội nỗi
mẩu chuyện đạo cao siêu của Ngài phải không bác?
- Cũng
không hẳn là như thế cháu ạ! Thật ra, một thiền sinh dù
sơ cơ nhưng đã có vài kinh nghiệm trong sự nghiệp “chăn
trâu” của mình, thì cũng có thể hiểu được đôi chút
cháu ạ!
- Kỳ
lạ thật, kinh nghiệm chăn trâu, mà phát triển được cái
khả năng nầy sao?
- Chăn
trâu là một thuật ngữ thiền, trâu tượng trưng cho tâm,
chăn giữ trâu có nghĩa là tu sửa tâm vậy thôi! Sự nghiệp
tu thiền là sự nghiệp tu tâm, vậy nếu người ta ví von gọi
là sự nghiệp chăn trâu thì cũng không phải là lạ!
- À!
Cháu có nghe nói đến 12 bức tranh chăn trâu của nhà thiền,
thì ra 12 bức tranh đó chính 12 bức địa đồ để tu sửa
tâm phải không bác?
- Cháu
hiểu đúng lắm! Cháu thử quan sát phóng ảnh của 12 bức
tranh chăn trâu treo trên tường, để có chút ý niệm về quá
trình tu tâm của nhà thiền.
Chú
Sáu chỉ Hải bức tranh thứ nhứt, rồi tiếp lời :
- Ðây
là bức tranh có nhan đề là “Tìm trâu”. Ở đây, người
hành giả sơ cơ tuy đã ý thức rằng tu là điều phục tâm,
nhưng tâm vô hình tướng, hắn ngẩn ngơ nhìn quanh mà chẳng
thấy dấu vết . Tranh thứ nhì nhan đề “Thấy dấu chân
trâu” không vẽ cảnh bên ngoài mà chỉ có một mình hành
giả hăng hái săn tìm ra mấy dấu chân trâu. Ở đây, anh ta
đã hiểu là phải tìm kiếm tâm ở bên trong. Nhờ biết nhận
xét, tuy anh chưa khám phá ngay tâm tham, sân, si... đang xuất
hiện, nhưng khi nó biến dạng thì những dấu vết tai hại,
những đổ vở chua xót của nó vẫn còn lưu lại, thế rồi
anh bắt đầu thấy vết chân trâu. Sang tranh thứ ba thì mới
“thấy trâu” được phần đuôi, sang tranh thứ tư, thứ
năm thì hành giả “được trâu” và đích thực “chăn trâu”.
Hải
ngắm tranh thứ tư rồi cười nắt nẻ lên tiếng :
- Con
trâu nầy coi bộ hung dữ quá mức a!
- Ðúng
vậy, khi vọng tâm tức con trâu mới hiện nguyên hình thì
nó hoang đàng hung hản lắm, vì vậy hành giả phải dùng “vàm
thiền” cột trâu tâm lại một chỗ không cho loạn động,
lại cũng dùng “roi giới” canh giữ, thì lần lần con trâu
tâm mới thuần thục... Khi vọng tâm đã điều phục rồi,
thì roi, vàm, công phu hay giới luật không còn cần thiết nữa,
người mục đồng thong dong cỡi trâu về nhà... đây là cảnh
giới mô tả bởi bức tranh thứ sáu.
- Uả!
Sao trong tranh thứ bảy không có trâu? Nó trốn đâu mất vậy
bác?
- Do
tâm khởi vọng nên mới thấy được bóng dáng vọng tâm,
nếu không còn khởi vọng thì con trâu tâm lặng lẽ biến
dạng, bức tranh thứ bảy vì vậy có tên là “Quên trâu còn
người”. Tranh nầy có thể phản ảnh phần nào tâm trạng
của Ngài Huệ Khả mà hòa thượng đã kể ra đó. Sau bao năm
tu hành, Ngài không còn khởi vọng nữa, nhưng vì Ngài chưa
buông bỏ hoàn toàn vọng tâm, bóng dáng nó vẫn lảng vảng
nên sanh tâm bất an. Ðến khi Tổ Ðạt Ma bảo Ngài đưa tâm
để Ngài an, thì Huệ Khả mới sực tỉnh, hiểu tâm bất
an cũng là vọng, nên buông bỏ, và vọng tâm không còn lảng
vảng nữa, nên mới thưa rằng “Con kiếm mãi không thấy
tâm đâu”, đến đây tổ Ðạt Ma bèn tuyên bố : “Thế
là ta đã an tâm cho ngươi rồi”.
- Ngộ
thiệt! Khi mình chưa biết tu thì không thấy, không biết tâm,
khi tu đến mực độ không còn khởi vọng, thì lại cũng không
thấy tâm ở đâu cả! Hai tâm trạng nầy xem ra giống nhau
quá! A ha! Tuy giống nhau mà thật ra lại khác hẳn một trời
một vực phải không bác?
- Ðúng
vậy cháu! Người chưa tu và người đắc đạo cũng có điểm
giống nhau, thế nên thiền sư Thanh Nguyên Duy Tín mới tuyên
bố : “Khi chưa học thiền thấy núi là núi, thấy nước
là nước. Sau khi được thiện tri thức chỉ cho chỗ vào thì
thấy núi chẳng là núi, nước chẳng là nước, nay khi nhập
vào chỗ tịch tĩnh rồi thì thấy núi chỉ là núi, nước
chỉ là nước mà thôi!”.
- Thế
còn ba bức tranh còn lại ý nghĩa như thế nào vậy bác?
- Khi
vọng tâm biến dạng thì chân tâm hiển bày, đây là chỗ
chư tổ kiến tánh, chứng ngộ bản lai diện mục vô thủy
vô chung, là lảnh vực vô ngôn không thể nghĩ bàn nên chỉ
tượng trưng bằng một vòng tròn, đó là ý nghĩa của bức
tranh thứ 8, tức “trâu người đều quên”. Sau khi đã kiến
tánh rồi, thì tiếp đến giai đoạn sống thực với cái mình
đã ngộ. Hành giả, theo tranh thứ 9 là “về nguồn” tức
là hội nhập với thiên nhiên trời đất, và theo tranh số
10 là “thỏng tay vào chợ” nghĩa là hội nhập với thế
tục để độ đời. Nếu qui chiếu vào hành trạng của Ngài
Huệ Khả, thì khi Ngài trình sở đắc của mình cho tổ Ðạt
Ma bằng thái độ lặng lẽ lễ tổ rồi lui ra, là đã phản
ánh đúng theo tranh thứ 8. Về sau, Ngài ẩn hình trong giới
hạ lưu làm bạn với bọn đầu đường xó chợ, rồi đến
cuối cuộc đời thì bị vu cáo, bị tù tội và chết trong
ngục tù; đầu đường xó chợ hay ngục tù, trong hoàn cảnh
nào tổ cũng ung dung hội nhập với đời, để sống thực
với chân tâm mà cũng để tùy duyên cứu độ người. Hành
hoạt của Ngài trong giai đoạn nầy có thể nói đã phản
ảnh trọn vẹn các bức tranh số 9 và số 10 vậy!
- Nhờ
bác giải thích, nay cháu mới hiểu đôi chút. Cháu xin hỏi
thực bác nhé! Khi bác nghe hòa thượng ban thời pháp, bác có
đạt được sự an tâm chưa, bác ngộ được điều gì kỳ
diệu không?, Hải tinh nghịch hỏi tiếp.
- Ôi!
Con trâu tâm của chú là thứ “Ngưu ma vương”(2) hung hăng
thiên biến vạn hóa, chặt đầu nầy thì nó lại mọc đầu
khác ngay, sơ sẩy là tung hoành lục tặc, nên dẫu chú chằng
chằng chăn giữ bao năm nay mà có ăn thua gì đâu! Chăn trâu
chưa ra trò trống gì mà bày đặt nói chuyện an tâm chuyện
ngộ đạo, thì hoang đường quá phải không cháu?
Tháng
12.2002
Hư
Thân Huỳnh trung Chánh
Ghi
chú :
1.
Nhị tổ Huệ Khả : Khi biết tổ Ðạt Ma đang diện bích tọa
thiền tại chùa Thiếu Lâm, Ngài Thần Quang (tức Huệ Khả)
tìm đến tha thiết cầu pháp nhưng bị tổ lạnh nhạt. Ngài
đứng kiên trì dầm mình trong tuyết chờ đợi cho đến khi
tuyết ngập gối mới được tổ thương tình lên tiếng :
- Ngươi
muốn cầu gì?
- Ngưỡng
mong hòa thượng từ bi mở cửa cam lộ rộng độ chúng sanh.
- Diệu
đạo vô thượng của chư Phật phải nhiều kiếp tinh cần,
khó làm làm được, khó nhịn nhịn được, hàng đức nhỏ
trí cùn, lòng đầy khinh mạn, há có thể chịu nỗi nhọc
nhằn lao khổ cầu pháp chân thừa sao?
Thần
Quang nghe quở liền rút dao bén, chặt cánh tay trái dâng lên
tổ. Tổ bèn hỏi :
- Chư
Phật lúc phát tâm cầu đạo vì pháp bỏ mình, nay ông chặt
tay để cầu gì?
- Pháp
ấn của chư Phật con có thể nghe được chăng?
- Pháp
ấn chư Phật không thể nhờ người khác!
- Nhưng
tâm con không an, thỉnh sư an tâm cho con.
- Ðưa
tâm đây ta an cho!
- Con
kiếm mãi mà chẳng thấy tâm đâu cả?
- Thế
là ta đã an tâm cho ngươi rồi đó!
Chín
năm sau, trước khi tổ Ðạt Ma về Tây Trúc, tổ bảo chư
đệ tử trình bày chỗ sở đắc. Ðao Phó thưa : “Theo chỗ
thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đó
là chỗ sở dụng của đạo”. Tổ phán : “ Ngươi được
phần da của ta”. Ni Tổng Trì bạch : “Chỗ thấy của con,
nay như Ngài A Nan xưa kia thấy nước Phật A Súc một lần,
chẳng còn thấy lại được”. Tổ phán : “ Ngươi được
phần thịt của ta”. Ðạo Dục thưa : “Bốn đại vốn không,
năm ấm chẳng thật, chỗ thấy của tôi không có gì sở đắc
hết”. Tổ dạy : “Ngươi được phần xương của ta”.
Sau cùng, đến phiên Ngài Huệ Khả, sư đảnh lễ tổ, rồi
lặng lẽ lui ra. Tổ tuyên bố : “Ngươi được phần tủy
của ta”, rồi tổ trao truyền y bát cho Ngài Huệ Khả. Về
sau, Ngài Huệ Khả ẩn hình dưới hạng hạ lưu cùng khổ,
giao du với bọn đầu đường xó chợ để tùy duyên độ
người. Có người thắc mắc hỏi : “Ông là đạo nhân sao
làm như thế được”. Tổ đáp : “Ta tự điều tâm ta, có
gì dính dấp đến ông mà hỏi?”
2.
Ngưu ma Vương : là nhân vật tưởng tượng trong truyên Tây
Du, vốn là con trâu trắng có tài thiên biến vạn hóa, khi
bị chặt đầu thì liền mọc ngay đầu trâu khác.