Trước
nhất, tôi tán thán Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã
có sáng kiến tổ chức Hội thảo “Phật giáo trong thời
đại mới: Cơ hội và thách thức” trong bối cảnh toàn cầu
hoá, rất có ý nghĩa xã hội đối với Việt Nam trước ngưỡng
cửa WTO và đang trên đường hội nhập với quốc tế. Như
tên gọi của nó, hội thảo quốc tế lần này đã cho thấy
Phật giáo cần nhận thức hai đại lộ quan yếu, một là
nắm lấy cơ duyên tốt để phục vụ nhân sinh và đất nước,
và hai là, để làm được việc đó một cách mỹ mãn, Phật
giáo phải sẵn sàng và tinh tấn vượt qua các thách đố lớn
trong thời đại đa nguyên, đối thoại và tương tác của
xu hướng toàn cầu hoá.
Tôi
nghĩ rằng không phải vô cớ mà chủ đề của Hội thảo
lần này đã tập trung vào bốn lãnh vực lớn: a) Phật giáo
và những vấn đề toàn cầu, b) Tìm kiếm những giải pháp,
c) Phật giáo và dân tộc, d) Phật giáo và kinh tế - chính
trị.
Các
chủ đề chính của Hội thảo quốc tế này, một cách nào
đó, sẽ chỉ ra được các cơ hội lớn của Phật giáo trong
toàn cầu hoá và hội nhập của Việt Nam và thế giới. Bản
thân giáo pháp của Phật tạo ra cơ hội được người trí
thức chấp nhận các giá trị đóng góp của nó cho cuộc đời.
Các lời dạy liên hệ đến khoa học, đạo đức và phục
vụ nhân sinh của Phật giáo đã tạo cho Phật giáo một cơ
hội đặc thù biệt lệ. Đó là sự du nhập của Phật giáo
vào các châu lục, đặc biệt là phương Tây với nhiều nền
văn hoá bản địa khác nhau mà không hề gắn liền với chủ
nghĩa thực dân thôn tính kinh tế và chủ nghĩa Phát-xít diệt
chủng văn hoá như các tôn giáo phương Tây du nhập vào châu
Á và châu Phi trong quá khứ.
Đối
với đất nước Việt Nam, cơ hội lớn nhất của Phật giáo
Việt Nam là trong lịch sử dựng nước, bảo vệ và phát triển
đất nước, Phật giáo không chỉ đồng hành mà còn là “ông
thần hộ quốc an dân” của dân tộc Việt Nam. Lịch sử
đồng hành đó sẽ tạo ra giá trị tham khảo cho các nhà lãnh
đạo hiện tại, trong cách đối tác năng động và đa chiều
với Phật giáo trong các lãnh vực chính trị, văn hoá, xã
hội và giáo dục … để đưa Việt Nam trở thành một quốc
gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và
tự do. Đặc biệt, trong giai đoạn Việt Nam thời hậu WTO,
lời dạy của đức Phật về các vấn đề kinh tế và tiêu
thụ sẽ giúp cho Việt Nam loại trừ văn hoá vật dục phương
Tây trong chủ nghĩa toàn cầu hoá châu Á như hiện nay. Phát
triển các giá trị vật chất mà làm mất đi các giá trị
văn hoá và tinh thần là một sự lỗ lã, mà các nhà lãnh
đạo quốc gia không thể không quan tâm...
Để
Phật giáo mãi mãi là sự lựa chọn của đại đa số nhân
loại trong thiên niên kỷ thứ ba, tôi tha thiết kêu gọi các
giới lãnh đạo Phật giáo, bất kỳ tông phái, giáo hội nào,
trong và ngoài nước, cần nghĩ đến đại cuộc của Phật
giáo với những cơ hội và thách thức, sớm có những giải
pháp cho đường hướng chấn hưng và canh tân phương pháp
tu đạo, hành đạo cũng như cơ cấu tổ chức giáo hội, nhằm
góp phần giải quyết các vấn nạn toàn cầu hoá. Tôi xin
đề nghị một số vấn đề và hy vọng với chất xám tập
thể của các nhà nghiên cứu Phật học người ngoại quốc
và Việt Nam, trong và ngoại nước, sẽ tìm ra giải pháp sau
hai ngày làm việc trong hoà hợp và tinh tấn:
a.
Cần thiết lập một Liên Hiệp Quốc Phật Giáo để nối
vòng tay lớn giữa các giáo hội và tông môn, pháp phái Phật
giáo trên toàn thế giới, trong sứ mệnh phục vụ nhân sinh,
thiết lập hoà bình.
b.
Hiến kế hoằng pháp và hành đạo ở phương Tây, nhằm tăng
dân số Phật tử, song song với việc phát triển Phật giáo
ở châu Á trước hiện tượng toàn cầu hoá về kinh tế và
văn hoá.
c.
Phác thảo kế hoạch toàn diện nhằm chấn hưng Phật giáo,
trên nền tảng văn hoá dân tộc.
d.
Vạch ra đường hướng Phật giáo đồng hành với dân tộc,
một cách thiết thực và khả thi.
e.
Tu chỉnh Hiến chương Phật giáo phù hợp với hiện tình Phật
giáo trước bối cảnh chính cần, luật pháp, kinh tế và văn
hoá, để làm cho đạo Phật phát triển đồng hành với dân
tộc hiệu quả hơn, nhưng lại độc lập với chính trị của
các chính thể.
f.
Nên thống nhất nghi thức tụng niệm Phật giáo trên thế
giới. Nghi thức này phải phản ánh được các lời dạy căn
bản của đức Phật trong hai truyền thống Nam tông và Bắc
tông. Ngôn ngữ của nghi thức phải là quốc ngữ của quốc
gia và ngôn ngữ địa phương đối với các dân tộc thiểu
số.
Tôi
kỳ vọng vào trí tuệ và giá trị đóng góp của chư vị
Tôn đức và nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đã bỏ
qua tất cả dị biệt ý thức hệ và truyền thống, đã về
Việt Nam tham dự hội thảo quốc tế này, trong tinh thần hoà
hợp, đoàn kết, sẽ có thể tìm kiếm được các giải pháp
cho các vấn nạn toàn cầu và vấn nạn Việt Nam. Tôi tin tưởng
rằng kết quả của Hội thảo này sẽ là điểm xuất phát,
tạo tiền đề cho những nỗ lực mở ra phương trời cao rộng
hơn trong tương lai cho các chính sách chấn hưng và cách tân
Phật giáo, nhằm góp phần khẳng định vai trò tâm linh, đạo
đức, văn hoá và giáo dục của Phật giáo trong tiến trình
dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước.
Kính
chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.