Tiếp
nối dự kiến đã được định sẵn vào năm 2006, khi diễn
ra Hội thảo khoa học về Samôn Trí Hải, bậc đại trưởng
thụ về công cuộc Chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc, năm
nay, chúng ta lại làm tiếp công việc với một cuộc hội
thảo về Hòa thượng Tố Liên, một nhà sư ở miền Bắc,
nhưng đồng thời cũng là nhà hoạt động và kiến tạo của
Phật giáo Việt Nam hiện đại và quốc tế nhân dịp 30 năm
ngày giỗ của ngài.
Thực
sự, do một số lý do khách quan, chúng ta chưa có được sự
tôn vinh đúng mực và kịp thời thân thế và hành trạng đa
diện và đầy công trạng của ngài đối với Phật giáo miền
Bắc, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế giới trong lúc
đất nước ta trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến
năm 1954. Thời gian đã cho thấy, bằng những hoạt động và
trước tác trong một khoảng thời gian khá mật tập (1950-1952),
một thái độ chính trị, một tình cảm dân tộc và tự hào
dân tộc, một tư duy mạch lạc và nhất quán, trung thành với
chân lý của đức Phật, một tài năng và bản lĩnh ngoại
giao có thể được coi là hiếm hoi trong điều kiện lần đầu
tiên ra nước ngoài và chưa có nhiều thông tin về Việt Nam
trên trường quốc tế… đã ánh lên, để ngày nay ta có quyền
nhắc đến sự thật ẩn giấu đã lâu rằng ngài là một
người yêu nước sâu sắc và đã góp phần làm hiển danh
tên tuổi của một nước Việt Nam mới trên trường quốc
tế. Thế nhưng hẳn nhiên có những lý do để cho một thời
chúng ta ngại ngần nói lên điều này. Dường như hai nhân
vật nổi bật của phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền
Bắc là Hòa thượng Trí Hải và Hòa thượng Tố Liên đã
không được hiểu và đánh giá một cách công tâm và bình
tĩnh về những đóng góp của hai ngài trong công cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc, mà tuy không nói ra, song là
bởi hai ngài ở lại Hà Nội sau khi toàn quốc kháng chiến
diễn ra. Đúng như thế, các nhà sư có thể tham gia kháng chiến
bằng nhiều cách thức, phù hợp với tình hình và phù hợp
với bản tính người con Phật nơi các ngài. Xông ra trận
tiền, bị giặc giam cầm tù đày là một cách thức dễ làm
lay động lòng người như Hòa thượng Thiện Chiếu, Hòa thượng
Thanh Tứ và các nhà sư cởi áo casa để đánh giặc đã minh
chứng. Nhưng cách thức như Hòa thượng Trí Hải, Hòa thượng
Tố Liên giữ gìn đạo mạch trong khi chùa và Phật tử đang
trong vòng cương tỏa của thực dân là một biểu hiện khác
mà ta cần ghi nhận. Bài tham luận của chúng tôi xin được
tham góp ở khía cạnh còn ít được đề cập đó.
Tài
liệu dùng để viết bài này, chúng tôi tự biết chưa đủ
như thông tin nắm được, có thể còn có nhiều hơn thế.
Tuy nhiên, những gì có được cũng khiến chúng tôi nghĩ có
thể nói về chủ đề này mà không sợ bị hiểu sai quá nhiều
so với ý nghĩ và ý kiến của ngài. Đó là cuốn Ký sự
phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Ấn Độ và Tích Lan [1]
do chính tay ngài viết sau khi thăm viếng và tham dự Đại hội
Liên hữu Phật giáo tại Colombo, Sri Lanka năm 1950.
Gác
qua bên việc chính quyền ông Bảo Đại đã tạo cơ hội cho
phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Sri Lanka như thế nào và
vì mục đích gì, mà chỉ cần nói đến các hoạt động của
Hòa thượng Tố Liên trong những ngày ở thăm Ấn Độ. Thông
qua cuốn ký sự, ta có thể thấy tình cảm lay động lớn
lao dường nào khi ngài thăm lại các cổ Phật tích xa xưa,
khiến ngài có được niềm tin sâu xa rằng con đường ngài
đi theo lời chỉ dẫn của đức Phật là đúng và hợp thời
không chỉ cho riêng mình mà cho cả nhân loại – chúng sinh
và dân tộc, song không bao giờ lại quên một sứ mệnh cao
cả là đem đến một hình ảnh Việt Nam có thực và đang
đấu tranh vì độc lập Tổ quốc đối với tối thiểu là
các bạn Ấn, rồi sau đó là bạn hữu Đông Tây khác. Để
hiểu rõ hơn, hãy lần lượt đọc một số trích đoạn của
ngài:
“6.
NGÀI
THỦ HIẾN BENGALE HỎI VỀ PHẬT GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
Lễ
chiêm bái xá lợi xong, Ngài Tổng Thư ký lại cho biết rằng:
“Thủ hiến xứ BENGALE (Băng gan) hẹn 4 giờ chiều hôm nay
sẽ tiếp chúng tôi”. Đúng 4 giờ, ông Tổng Thư ký cùng
đi với chúng tôi vào Phủ Thủ hiến. Đến nơi lính gác cửa
vào trình, Ngài Thủ hiến ra cửa đón chào và mời chúng tôi
vào công đường nói chuyện. Ngài Thủ hiến nói: “Tôi tuy
không chính thức quy Phật, nhưng tôi rất tin Phật và rất
mộ giáo lý của Phật, vì Phật dạy: Hạng người nào cũng
theo được”. Ngài hỏi: “Bên Việt Nam cuộc chiến tranh
Việt Pháp đã yên chưa?”.
- Thưa
Ngài, chưa yên!
Ngài
nói: “Tôi đọc các báo có nói nhiều về sự đau khổ của
dân Việt Nam, nên tối nào tôi cũng cầu nguyện cho nền độc
lập của nước Việt Nam sớm thực hiện cho dân tình đỡ
khổ”.
Những
câu nói của Ngài Thủ hiến BENGALE vừa nói xong, khiến cho
tôi thêm để ý xem dung mạo như thế nào, mà nói những câu
thiết tha đối với dân Việt Nam như vậy. Quả nhiên tai to,
trán cao, mắt sáng, tiếng nói dõng dạc, tầm người cao lớn,
cả tướng mạo đáng kính, vận bộ quần áo vải gai phơn
phớt trắng, biểu lộ một tư cách con người có vẻ trầm
tiềm, cương nghị và nhân từ, khiêm tốn. Lúc mới tới,
Ngài tiếp chúng tôi bằng cách vồn vã và thân mật như tình
khế hữu. Tôi nghĩ luôn, Ngài đã kính mộ giáo lý của Phật,
lại thân mật với chư Tăng, cố nhiên có tư tưởng mong cho
thế giới hòa bình bằng cách không bạo động. Như vậy,
những câu mà Ngài tiếp chúng tôi thành thực tự đáy lòng
thốt ra”.
Nếu
chỉ dừng ở đó, hẳn ta chưa thấy được bao nhiêu quan kiến
của ngài về công cuộc đấu tranh giành độc lập của dân
tộc đương thời dưới sự lãnh đạo của chính phủ cụ
Hồ. Song cũng đã hé lộ một điều sâu kín trong lòng ngài.
Và quả nhiên, khi trả lời một vị đại đức người Ấn,
ngài đã nói rõ ra:
“8.
MỘT
VỊ ĐẠI ĐỨC HỎI VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Một
hôm về buổi tối, một vị Đại Đức nguyên là Tiến Sĩ
xuất gia đến phòng của tôi nói là sẽ hướng dẫn phái
đoàn Phật giáo chúng tôi đi chiêm bái các nơi Phật tích.
Theo chương trình thì phải đi tới mười ngày mới về. Tôi
cám ơn và mời Đại Đức ngồi nói chuyện.
(…)
-
Số Tăng, Ni ở VIệt Nam có được bao nhiêu?
- Đích
số thì tôi chưa biết rõ, nhưng ở Việt Nam rất ít làng
không có chùa, có làng lại có đến hai ba chùa. Mỗi chùa
cả thầy lẫn tiểu, ít nhất cũng tới ba người. Nhiều chùa
có tới vài ba chục vị. Xem thế thì biết số Tăng, Ni ở
Việt Nam không phải là ít.
- Thượng
Tọa bao nhiêu tuổi mới xuất gia, tu ở chùa nào, thuộc về
pháp phái nào?
- Tôi
xuất gia giữa năm 1916, tức là năm lên 13 tuổi, thụ nghiệp
Hòa Thượng tôi tại chùa HƯƠNG TÍCH ở tỉnh HÀ ĐÔNG thuộc
về pháp phái Lâm Tế.
- Thượng
Tọa theo công cuộc chấn hưng Phật giáo đã được bao nhiêu
năm?
- Đầu
năm 1935, tôi đang tu niệm ở chùa La Sơn, bỗng bị nghiệp
sư bắt ra giúp hội V.N.P.G vì có một số các yếu nhân của
Hội đó vào tận chùa Hương Tích thỉnh cầu, nên Hòa Thượng
tôi bắt phải ra chùa Quán Sứ để theo đuổi mục đích chấn
hưng Phật giáo, chẳng may tôi bị bệnh phải xin tạm nghỉ
về chùa Côn Sơn thuộc tỉnh Hải Dương điều trị, nhưng
cũng không khỏi, sau lại phải ra bệnh viện Hà nội mổ giữa
năm 1945 chính là năm nước chúng tôi bùng nổ cuộc cách mạng
do Cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo.
(…)
Công
cuộc của Ủy ban Tăng già Bắc Bộ đó đang tiến triển thì
cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, dân chúng và các Phật
tử ở Hà nội chạy loạn hầu hết còn mấy vị chúng tôi,
tử, sinh phó mặc cho định nghiệp, liều chết ở lại chùa
Quán Sứ, lẽ cố nhiên phải đương đầu với đầy thảm
trạng đau thương, cũng đều trông cậy có Phật lực che chở
cho qua cơn sóng gió hết sức nguy nan khủng khiếp mới còn
đến ngày nay, lại hân hạnh được sang nước Phật đây
để được gặp gỡ các Phật tử thế giới…”.
Qua
lời thuật lại với một vị đại đức, chúng ta đã rõ
ngài ủng hộ ai trong cách mạng và kháng chiến của dân tộc
chống thực dân Pháp: đó là chính phủ của cụ Hồ. Và ngài
đã tự thuật về việc ở lại Hà Nội như một sự giữ
gìn đạo mạch trong cơn lửa khói, có thể coi đó là một
sự âm thầm cống hiến cho đạo pháp cũng tức là cho dân
tộc.
Đúng
thế, cần có những thẩm định kỹ hơn các hoạt động của
ngài ở Hà Nội. Và đây là kết quả của những hoạt động
của ngài từ năm 1945 đến 1946 được ông Nguyễn Đại Đồng
tập hợp như sau:
“Năm
1945 Ất Dậu
Cuối
thành 12.1944 - tháng 01.1945, Ban Quản trị Hội Phật giáo Bắc
Kỳ thỉnh Thượng tọa Tố Liên từ chùa Côn Sơn, Hải Dương
về giúp việc Hội tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Sang
tháng 2 (tức tháng Giêng năm Ất Dậu) nạn đói ngày càng
trầm trọng. Thấy việc chỉ giúp quần áo mùa đông thôi
là ch¬ưa đủ mà phải cứu đói nữa, Thượng tọa Trí Hải
(đại diện Hội Phật giáo tại Ban Cứu tế mùa đông) cùng
với Thượng tọa Tố Liên và cư sĩ Thiều Chửu thành lập
Tổng hội Cứu tế. Tổng hội họp ra mắt ở chùa Quán Sứ,
được các thành viên Ban Cứu tế mùa đông cộng tác và sự
ủng hộ của các trí thức và nhà từ thiện khắp Bắc Kỳ.
Tổng hội Cứu tế do ông Nguyễn Văn Tố một thành viên sáng
lập Hội Bắc Kỳ Phật giáo làm Hội trưởng, trụ
sở đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Tổng
hội đã tổ chức quyên góp giúp đỡ những người đói khổ,
lập Cô nhi viện tại trường Phổ Quang nuôi hơn 200 trẻ
thất lạc, bơ vơ trong nạn đói. Tổng hội cũng lập một
trại nuôi đồng bào bị đói ở Ngã Tư Vọng - Giáp Bát (Hà
Nội) cứu đói cho hàng nghìn người.
Trong
tháng 11.1945, đại biểu Tăng già các tỉnh thuộc Bắc Bộ
cùng đại biểu 3 hội: Phật giáo Cứu quốc, Phật tử Việt
Nam, Phật giáo Việt Nam đã họp đại hội nghị và đã quyết
nghị lập tại Bắc Bộ, trước khi đi đến chỗ đại hội
nghị toàn quốc, một Ủy ban chấp hành Tăng già Phật giáo
Việt Nam. [2] Ủy ban này có nhiệm vụ liên hiệp hết thảy
các sơn môn, các hội Phật cùng chung một chủ nghĩa “Từ
bi cứu khổ” của đức Phật Thích Ca để thực hiện việc:
1.
Hoằng dương Phật pháp và phụng sự Tổ quốc;
2.
Cứu khổ cứu nạn.
Danh
sách các vị trong ủy ban:
Chánh
Chủ tịch: Thích Mật Ứng, chùa Quảng Bá, Hà Nội;
Phó
chủ tịch: Tố Liên, chùa Quán Sứ, Hà Nội;
Thư
ký: Mật Chiếu, chùa Phổ Giác, Hà Nội;
Tài
chính: Thanh Thước, chùa Dư Hàng, Hải Phòng;
Giám
sát: Thái Hòa, chùa Hương Hải, Hải Dương; Thanh Kinh, chùa
Hương Sơn, Hà Đông;
Trưởng
ban Nội, Ngoại vụ: sư ông Vĩnh Quang, chùa Phổ Giác, Hà Nội;
Phó
ban Nội, Ngoại vụ: sư ông Tâm Chính, chùa Quán Sứ;
Cư
sĩ tham dự: Văn Quang Thùy, Lê Ngọc Tiến.
Trụ
sở ủy ban đặt tại chùa Quán Sứ, 73 phố Quán Sứ, Hà Nội
Ngày
6.11.1945, Ủy ban Tăng già Phật giáo Việt Nam đề nghị các
Phật tử và những người thờ Phật lập bàn thờ ở nhà
hoặc đến chùa lễ Phật để cầu nguyện cho nền độc lập
hoàn toàn của Tổ quốc. Đúng 8 giờ sáng tất cả các chùa
khu vực Hà Nội đều thỉnh chuông trong 15 phút.
Báo
Cứu Quốc số 113 ra ngày 10.12.1945 đăng danh sách 43 vị ứng
cử đại biểu quốc hội khóa 1 ở Hà Nội có ông Nguyễn
Thanh Lai tức Tố Liên chùa Quán Sứ Phật giáo hội, Nguyễn
Hữu Thuyết bác sĩ số nhà 10 phố Hàng bè, phó Hội trưởng
Hội Phật giáo Cứu quốc, Hội trưởng Hội Phật tử Việt
Nam, bác sĩ Trần Duy Hưng ở 73 Thợ Nhuộm, một Phật tử.
Năm
1946 Bính Tuất
Ngày
8.5.1946, Báo Diệu Âm cơ quan truyền bá Phật pháp của Ủy
ban Tăng già Bắc Bộ ra số đầu tiên. Diệu Âm ra đời sau
khi Đuốc Tuệ và Tinh Tiến đình bản, mỗi tháng Diệu Âm
ra một kỳ (nguyệt san). Nội dung gồm 2 phần:
1.
Phần xuất thế gian: chuyên nghiên cứu về Phật pháp, lấy
chỉnh đốn Tăng già, cổ vũ Tăng đoàn, tuyên dương chính
pháp tôn chỉ;
2.
Phần thế gian: chuyên nghiên cứu giáo dục, y tế, v.v... để
lợi tế quần sinh
Mỗi
số đều có Tin tức Phật giáo, đăng tin hoạt động của
Phật giáo tại các tỉnh ở Bắc Bộ.
Trụ
sở tòa báo tại số 73 phố Quán Sứ, Hà Nội.
Chủ
nhiệm: Nguyễn Thanh Chân
Chủ
bút: Nguyễn Thanh Lai hiệu Tố Liên
Quản
lý: Nguyễn Văn Thuận, hiệu Mật Chiếu
Ngày
25.6.1946, Hội Phật giáo Việt Nam ra Thông Bạch về việc muốn
tránh những việc vô đạo đối với chư Tăng Ni, chủ các
chùa:
Muốn
tránh những việc vô đạo đối với các chư Tăng Ni, chủ
các chùa, vậy xin yêu cầu ngài nào có đủ tài liệu chứng
cứ về những việc đó, xin báo cáo cho Trưởng ban giám sát
Hội Phật giáo Việt Nam biết để tìm phương ủng hộ. Nên
đề phòng rất ngặt các thứ cờ bạc ở các chùa vì đã
có lệnh của Chính phủ nghiêm cấm.
Xét
thấy có nhiều kẻ giả mạo Tăng Ni đi giao dóng đường tức
là họ bán rẻ Phật pháp, bêu xấu Trung ương. Vậy xin vị
nào chẳng may ở phải chùa nghèo cũng nên nhớ lời Phật
dậy: “An bần, lạc đạo” cho trọn đời thanh tu chứ không
nên đi giao dóng, ngõ hầu mới khỏi đồng tội với kẻ giả
mạo trừ khi được Chính phủ cho phép lạc quyên về tu bổ
kiến trúc.
Trưởng
ban Kiểm soát Hội Việt Nam Phật giáo
Tố
Liên
Trong
bài Tăng già muốn nâng cao trình độ thời phải nhiệt
liệt tham gia vào việc Bình dân học vụ đăng trên nguyệt
san Diệu Âm - cơ quan hoằng pháp của Ủy ban Tăng già Bắc
Bộ, Thượng tọa Tố Liên viết: Các chiến sĩ quyết hy
sinh tính mệnh ra nơi chiến địa, chiến đấu với quân thù
để giữ vững non sông đất nước, thì đằng này các giáo
viên hy sinh hết tâm lực thì giờ để tiễu trừ giặc dốt
cho quốc dân, hai đường đều có công ân cứu quốc cả.
Riêng tôi, thì tôi nhận thấy việc BDHV còn mật thiết hơn....
toàn cõi Việt Nam mỗi chùa đều lập 1 trường BDHV, trường
học đó lại là trụ sở tuyên truyền báo chí, đó là một
phương pháp cải tổ nhân tâm rất giản dị mà có rất nhiều
hiệu quả. Hầu khắp nước Việt Nam, làng nào cũng có chùa,
vị sư chủ chùa nào cũng gắng gỏi cũng nhiệt liệt với
công cuộc BDHV như vậy thì chẳng cần phải bỏ bút mặc
chiến bào mà vẫn thành công tiễu trừ giặc dốt xóa cái
nạn dân ngu như vậy chả là một biện pháp cứu quốc có
hiệu lực ư.
Trên
báo Diệu Âm số 6 ra ngày 25.7, trong bài Công cuộc cứu tế
là bổn phận của đoàn thể Phật tử, Thượng tọa Tố Liên
kêu gọi: cách tổ chức Hội cứu tế như sau:
1.
Lập ở mỗi huyện 1 hội do toàn thể tăng ni chủ sự. Ở
các chùa và các nhà từ thiện trong huyện tổ chức và đoàn
kết. Nếu phủ huyện nào cũng có hội thì tức là toàn tỉnh
toàn bộ, toàn quốc đều có để kiểm soát lẫn nhau;
2.
Mỗi hội sẽ có mở nhiều viện cứu tế cho nhi đồng, người
già yếu tàn tật. Song buổi đầu chỉ tổ chức 2 viện: 1
viện đồng ấu nam, 1 viện đồng ấu nữ.
Về
nền tài chính của Hội: đối với 1 người thì đó là việc
to, nhưng đối với toàn thể đồng bào hằng tâm hằng sản
thì đó là chỉ là một việc dễ dàng. Các hình thức tạo
nền tài chính như sau: 1. Tiền vào Hội. 2. Thóc quyên. 3. Tiền
lạc quyên. 4. Tiền trợ cấp và thu được bằng các cuộc
vui” [3].
Như
thế, sự tham gia vào các công tác xã hội theo lời hiệu triệu
của chính phủ, triển khai phật sự cho ngay thẳng, chỉnh
đốn tổ chức… trong tư cách của một nhà sư và đúng với
tính chất nhà Phật, chắc hẳn chiếm trọn thì giờ, trí
óc và tình cảm của ngài. Chúng ta không thể đòi hỏi gì
hơn thế. Cho nên, sau ngày toàn quốc kháng chiến, việc ngài
ở lại Hà Nội là có những câu thúc về đạo mạch, về
Phật tử và tài sản của nhà chùa với một mong muốn là
giữ lại những thứ đó cho qua khỏi cuộc chiến tranh. Lời
thuật lại của ngài ở trên rất đáng trân trọng vì nó
được viết ra trong khi ngài còn chịu phụ thuộc vào danh
nghĩa của chính phủ Bảo Đại thân Pháp để đi Ấn Độ
và Sri Lanka.
Ở
lại Hà Nội và tận dụng mọi cơ hội để giữ và phát
huy thế hợp pháp hoạt động cho Phật sự có thể là một
cuộc đấu tranh nội tâm ở trong ngài, mà bây giờ chúng ta
không có dịp được nghe ngài nói trực tiếp.
Sự
thể hiện lòng yêu quý và tự hào dân tộc của ngài còn
ở chỗ ngài có một sự trình bày rất khúc triết về lịch
sử Phật giáo Việt Nam. Ta hãy đọc đoạn trích sau:
“15.
DIỄN
GIẢNG TẠI CHÙA HỘI PHẬT GIÁO ĐẠI BỒ ĐỀ
Sáng
ngày 20 tháng 5 năm 1950, Ông Tổng thư ký Hội Đại Bồ Đề
cho mời lên phòng khách đàm đạo hồi lâu, ông cho biết rằng:
“Vì các Ngài không báo tin trước, nên hôm Quý Phái đoàn
đến, bản Hội chưa có dịp hội họp đông đủ để được
tỏ tình thân mật với Quý Phái đoàn. Nay bản Hội đã đưa
thiếp mời chư Tăng và quan khách cùng thiện tín hội viên
tới chùa Hội quán đây vào hồi 6 giờ chiều hôm 22 này.
Hôm đó, trước khi khai giảng xin mời Thượng tọa lấy tư
cách Trưởng Phái Đoàn Phật giáo Việt Nam sẽ chủ lễ khai
xá lợi hai vị Thánh tăng mà Ngài đã dự lễ hôm vừa rồi,
để cho mấy Phái đoàn Phật giáo các nước mới tới và
các quan khách đều được chiêm bái”. Sau khi nghe ông
Tổng Thư ký nói, Phái đoàn chúng tôi ai nấy rất mực cảm
động, đều đứng dậy cảm ơn.
Dưới
đây là thiếp mời bằng Anh văn của Hội Đại Bồ Đề:
The
Maha Bodhi Society of India request your presence at the Sri Dharmarajika
Vihara, 4A, Bankim Chalterjee Street (College Square), Calculla on Monday,
the 22nd May, 1950, at 6 p.m.., at a reception to be given in honour of
the Buddist Mission consisting of Venble Abbot To Lien (the leader), Ven
ble Bhikkhu Thach Lich and Mr. Pham Chu, the Secrectary of the Mission,
sent by His Majesty Bao Dai.
Head
of the Government of Viet Nam.
Dr.
Kalidas Nag, M.A., D. Litt will preide.
Devapriva
Valisinha.
General
Secretary |
Đúng
thời giờ kể trên, lễ khai xá lợi cử hành, tuy đơn giản
nhưng rất mực trang nghiêm. Sau 10 phút lễ xong, Ông Tổng thư
ký Hội Đại Bồ Đề giới thiệu Phái đoàn Phật giáo Việt
Nam với cử tọa. Xong, tôi nhân danh Trưởng Phái đoàn tỏ
lời cảm ơn và giới thiệu ông PHẠM CHỮ thay tôi lên diễn
đàn dịch bài giảng của tôi nói về “LƯỢC SỬ PHẬT
GIÁO VIỆT NAM” ra tiếng Anh.
Dưới
đây là nguyên văn bài diễn văn:
| Thưa
các Ngài,
Hiện
nay Phật giáo đã là thế giới hóa, các nhà học Phật Đông,
Tây đều suy tôn Ấn Độ là đệ nhất Tổ quốc Phật giáo,
thế là lấy Ấn Độ làm Trung tâm điểm của Phật giáo thế
giới. Đến Việt Nam chúng tôi cũng được thấm nhuần với
nguồn dòng giáo lý từ bi bình đẳng ấy gần 2.000 năm nay
(189-1950) cố nhiên Phật giáo Việt Nam phải có một lịch
sử sự thật.
Trước
khi bàn đến lịch sử Phật giáo Việt Nam, chúng tôi cảm
thấy tận đáy lòng thành thật xin bộc bạch với Quý Ngài
rằng: Chúng tôi bao giờ cũng tu trì theo chân lý tuyệt đối
của chư Phật, không hề manh tâm tranh giành lấy một thiên
lịch sử cho Phật giáo Việt Nam, cũng không dám mong phô trương
nền tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Chẳng qua vì giữa
nhân loại đương xô đẩy nhau đi tìm lịch sử của hiện
tượng để nghiên cứu, để học hỏi. Phật giáo cũng đã
là pháp môn hiện tượng thích hợp với lòng mong cầu của
nhân loại, có đủ phép này phép khác để trị sạch hết
hiện tượng thảm họa đương diễn giữa nhân loại. Nói
tóm lại Phật giáo đã là pháp môn hiện tượng bao la giữa
đại đồng thế giới, đem thu hẹp lại thì Phật giáo cũng
đã là một tôn giáo truyền bá vào nước Việt Nam. Chúng
tôi là người được thấm nhuần, ngày nay may mắn lại được
gặp các Ngài ở đây đều là Phật tử, đều là Phật lữ
hay ít nhất cũng đều là người có Phật tính, lẽ nào lại
không mạnh bạo đem những chỗ đã nghe, đã học về lịch
sử Phật giáo Việt Nam, hầu mong cống hiến Quý Ngài, để
đền bù những tấm thịnh tình vô biên của Quý Ngài đối
với Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chúng tôi, tức là đối
với cả dân tộc Việt Nam và tín đồ Phật giáo Việt Nam.
Xét
về lịch sử truyền giáo suốt cổ kim, chúng tôi thấy rằng,
một khi có tôn giáo nước này truyền vào nước khác, trước
nhất phải do hai nguyên nhân:
1)
Nước có tôn giáo, sau khi đã thành công chiến thắng và đã
đặt được nền thống trị.
2)
Trước nhất phải do dân tộc nước có tôn giáo này với
dân tộc chưa có tôn giáo kia, đã mở cuộc giao thông buôn
bán với nhau qua một thời gian, để am hiểu nhau về ngôn
ngữ và kết chặt dây liên lạc thân ái.
Nguyên
nhân Phật giáo của Đại Ấn truyền vào Việt Nam không ở
điểm chiến thắng, thống trị mà chính ở điểm hai dân
tộc Ấn-Việt sớm liên lạc thông thương với nhau, huống
hồ Phật giáo lại rất thích hợp với tính tình dân tộc
cũng như phong hóa cổ truyền của quốc gia Việt Nam. Điều
đó chứng minh ở điểm này:
Xem
trong bản đồ Ấn-Độ Chi-Na tức là bán đảo Đông Dương,
sẽ thấy nước Việt Nam có tới 7/10 đất đai ở lọt vào
khoảng giữa Ấn Độ và Trung Hoa, mà đường giao thông từ
Ấn sang Việt Nam còn thuận tiện hơn từ Trung sang Việt, vì
thế nên Phật giáo của Đại Ấn đã sớm thấm nhuần hầu
hết dân tộc Việt Nam ngay từ thế kỷ thứ nhất, thứ nhì.
Đứng
về phương diện lịch sử, chúng tôi thấy trong truyện Đàm
Thiên Pháp Sư có chép rằng: Một buổi kia vua Cao Tổ nhà
Tùy có sắc dụ cho Đàm Thiên Pháp sư rằng: “Trẫm nhớ
đến đạo đức từ bi của Đức Thích Ca Giáo chủ, không
biết báo ơn Đức Ngài thế nào cho xiết, nên chỉ ước mong
truyền bá đạo Ngài thế nào cho đi khắp thiên hạ. Trẫm
đã cho đi rước xá lợi của Phật về kính thờ trong 49 ngọn
tháp, lại mới xây xong 150 ngôi chùa để làm tiêu biểu tín
ngưỡng đạo đức cho dân nước ta (Tàu). Bây giờ Trẫm lại
muốn xây tháp làm chùa ở Việt Nam, hơn nữa là cử các Pháp
sư sang đó truyền bá Phật giáo, hầu mong một ngày gần đây
đạo Phật sẽ lan tràn khắp thế giới. Nay Pháp sư lựa chọn
mấy vị Tăng có đạo hạnh sang Việt Nam hoằng hóa cho dân
tộc xứ đó để họ sớm hiểu biết đạo Bồ đề”.
Đàm
Thiên Pháp sư tâu: “Nước Việt Nam vốn có đường giao
thông sang Ấn Độ hơn sang nước Tàu ta, nên Ấn Độ đã
có nhiều các bậc đại Pháp sư, như Khang Tăng Hội, Chi Khương
Lương v.v… sang Việt Nam truyền bá Phật giáo rất sớm (Pháp
sư Khang Tăng Hội sang Việt Nam vào năm 225, Pháp sư Chi Khương
Lương sang vào năm 226 và Pháp sư Ma Ha Kỳ Vực sang vào năm
294). Hiện ở Việt Nam các vị Pháp sư đó đã dịch được
nhiều kinh Phật, đã giáo hóa được nhiều tăng sĩ và ở
Việt Nam cũng đã có nhiều chùa tháp rồi, nay ta không phải
phái Pháp sư sang Việt Nam nữa”.
Trở
lại mà xét vào lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ thấy các
bộ sách Thuyền uyển tập anh, Thống yếu kế đăng và Đạo
giáo nguyên lưu v.v… các bộ sách đó đều nói nhiều về
công nghiệp truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ qua Việt Nam
lúc đầu. Mặc dầu năm 189, Mâu Bác cư sĩ là người Tàu
vì lánh nạn mà truyền Phật giáo qua Việt Nam trước Ngài
Khang Tăng Hội, nhưng bàn về hệ thống kế đăng vẫn phải
tôn Ngài Khang Tăng Hội làm Giáo tổ thứ nhất của Phật
giáo Việt Nam, mà chính thân phụ Ngài Khang Tăng Hội sang buôn
bán doanh nghiệp ở Việt Nam đã lâu năm. Đại Ấn đã có
ba vị cao tăng rộng lòng phổ thông Phật giáo, chẳng từ
gian lao sang xây nền đắp móng cho Phật giáo Việt Nam, không
những thế mà thôi, lại đến thời kỳ khuếch trương cho
Phật giáo Việt Nam thành lâu đài trang nghiêm sáng lạn cũng
lại nhờ ở bậc Thánh tăng của Đại Ấn là Tổ sư Tỳ
Ni Đa Lưu Chi Ngài sang Việt Nam vào năm 580, ở chùa Pháp Vân,
quận Thường Tín thuộc tỉnh Hà Đông bây giờ[4] . Tăng đạo
Việt Nam có quy mô tổ chức, có hệ thống nối truyền, để
xương minh mệnh mạch Phật tổ, để bồi bổ nhân tâm thế
đạo, là nhờ ở công đức của Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi; vì
Ngài đã ròng rã 14 năm trụ trì chùa Pháp Vân, chỉ một niềm
chuyên chú dịch kinh giảng đạo, trong thì đào tạo chư Tăng,
ngoài thì tiếp hóa thiện tín, rốt ráo lại sáng lập nên
một phái Thuyền tôn trước nhất, lớn nhất ở Việt Nam,
gọi là Tôn Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Tôn phái của Ngài truyền nối
đến 19 đời: không những ngọn đuốc tuệ chói lọi khắp
non sông Việt Nam mà ảnh hưởng còn chấn động đến cả
Trung Quốc, sự thực còn ghi chép ở Việt Nam Phật giáo sử.
Sau khi Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi tịch, giữa khoảng năm 603-604,
vua Cao Tổ nhà Tùy được nghe tiếng liền khởi lòng tôn kính,
có hạ chiếu cho sang Việt Nam xây tháp để kính thờ Tổ
Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở chùa Pháp Vân, chùa Tràng Khánh v.v… lại
gửi sang 5 hòm lễ vật tặng ban cho Pháp Hiền Thuyền sư là
vị Thánh tăng thứ nhất của Việt Nam vì được Ngài truyền
tâm pháp cho nên kế pháp vị thống xuất tăng chúng.
Từ
Ngài Khang Tăng Hội truyền Phật giáo sang Việt Nam đến Ngài
Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền Thuyền tôn sang Việt Nam trước sau
trải qua 345 năm (225-580). Trong thời gian ấy ở Việt Nam cũng
có nhiều các Tăng sĩ am hiểu Phạm tự, thông thạo tiếng
Ấn, nên cũng được sang cầu đạo, tham thuyền ở Phật địa
và cũng dịch được nhiều kinh Phật như Vận Kỳ Thuyền
sư. Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Xứng Thuyền sư, Huệ Diệu Pháp
sư, Trí Hành Thuyền sư và Đại Thắng Đăng Pháp sư.
Lại
đến thời kỳ Việt Nam chúng tôi nội thuộc nhà Đường,
Phật giáo ở Việt Nam vẫn thịnh hành lắm, cũng có những
bậc cao tăng VỊêt Nam có ảnh hưởng lớn với Phật giáo
Trung Hoa. Sự thực còn thấy trong bộ sách “Loại hàm anh
ngữ” của Tàu và ở sách Kiến văn của ông Lê Quý Đôn
là nhà Nho học trứ danh ở Việt Nam, đều chép rằng: “Phụng
Định Pháp sư và Duy Giám Pháp sư đều được vua nhà Đường
mời sang Tàu để vào Vương cung giảng kinh bàn đạo. Đường
cư Nguyên thi hào của Tàu hồi đó có thơ tiễn biệt Ngài
Phụng Định khi về Việt Nam sau này:
Quê
nhà trông cõi Việt,
Mây
bạc tít mù xa.
Cửa
trời vắng kinh kệ,
Mặt
bể nổi hương hoa,
Sóng
gợn có in bóng,
Thành
xây hến mấy tòa,
Trường
An lòng quấn quít,
Giao
Châu chuông đêm tà.
Lại
có thi hào Cổ Đảo tặng thơ tiễn biệt Ngài Duy Giám Pháp
sư khi rời Vương cung nhà Đường về Việt Nam rằng:
Điện
xuân giảng kinh lụận,
Giường
ngự vướng mùi hoa,
Bể
Nam quen lối cũ,
Non
Việt viếng tuần già,
Ăn
mòn khi gió táp,
Áo
lấm lút mưa sa.
Kìa
kìa, trời lẫn nước,
Tin
tức biết bao qua.
Ôi!
Việt Nam chúng tôi, gần 1000 năm 3 lần thuộc quyền đô hộ
của các triều Hán, Tần, Tùy, Đường, mà giữa thời gian
ấy các triều đại của Đại Ấn cũng có các vua anh hùng
như vua Sảng Đức, (299 trước kỷ nguyên và vua A Dục 222
cũng trước kỷ nguyên) đều gây dựng lên Vương triều Khổng
tước, hùng cường thịnh trị, mãi về sau hơn 300 năm, nối
đến triều đại vua Ca Tỳ Sắc Ca mở vận nước cũng không
kém hùng cường, thế mà lịch sử Việt Nam chỉ thấy chép
những trang hai dân tộc Ấn Việt giao thông buôn bán với truyền
bá văn hóa Phật giáo chứ không có qua một trang lịch sử
đẵm xương máu xảy ra đáng tiếc. Các nhà học giả Đông,
Tây ngày nay đều công nhận văn minh Ấn Độ là văn minh tinh
thần chứ không phải văn minh vật chất, những lời tán dương
đó đủ thấy hầu hết nhân vật yêu chuộng văn minh cao siêu,
hòa bình tuyệt đối đều tỏ lòng kính trọng văn hóa Ấn
Độ chớ không những dân tộc Việt Nam quý mến.
Huống
hồ còn có những bậc Thánh tăng truyền bá sang nước tôi
một nền tôn giáo Từ bi Bình đẳng, một nền văn hóa triết
học cao siêu mà vẫn không kém tinh thần đại từ bi, đại
hùng lực. Chính nền văn hóa đó không những đã sản xuất
ra cho Việt Nam những vị Cao tăng ở gần 1.000 năm nước tôi
thuộc quyền đô hộ của người Tàu mà chỉ đem đạo đức,
học thức để cảm hóa lòng người, có uy quyền mạnh khiến
họ đỡ sự khinh miệt người Việt Nam, lại dự một phần
lớn xây đắp nền độc lập, mãi về sau cho các triều đại
Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Phật giáo đã được công nhận là
quốc giáo khắp các triều đại kể trên, cũng như Ấn Độ
đã tôn Phật giáo làm Quốc giáo, ở các triều đại Sảng
Đức, A Dục, Ca Tỳ Sắc Ca v.v…
Nền
Phật giáo lại còn đào tạo nên những bậc Pháp sư kiêm
Thái sư giúp vua trị nước, ơn thắm muôn dân ở hai triều
Đinh Lê như Khuông Việt Thái sư, giúp vua Lê Đại Hành giữ
ngoại giao; như Ngài Đỗ Thuận Quốc sư dự bộ Tham mưu,
bàn tính quốc quân đại sự; như Vạn Hạnh Quốc sư giáo
dục cho ông Lý Công Uẩn trở nên bậc hiền quân; như Khánh
Vân Pháp sư. Ở Việt Nam mà nói đến Phật giáo hết thảy
đều tán dương Phật giáo về đời Lý, đời Trần. Vì các
đời đó có các vị vua thâm ngộ thuyền tâm như Thánh tôn
Anh Tôn và Cao tôn nhà Lý đến nhà vua xuất gia thành Phật
như Nhân tôn nhà Trần, Trạng Nguyên xuất gia chứng ngộ chánh
pháp nhãn tạng như Huyền Quang Pháp sư. Còn đến những bậc
Tuệ Nghiệp Pháp sư, văn nhân cư sĩ thật không sao kể xiết.
Nước
Việt Nam có thể gọi là một nước Phật giáo, vì hầu hết
mỗi làng đều có chùa chiền thờ Phật, Tăng Ni tu hành, mặc
dầu hơn 300 năm nay, Phật giáo ở Việt Nam đã bị suy kém
vì hoàn cảnh nội loạn và ngoại xâm xui nên. Nhưng chỉ suy
kém về phần tinh thần giáo lý, còn đến lòng tín ngưỡng
của dân chúng nay cũng như xưa. Dân Việt Nam đã có những
câu truyền tụng về nỗi trẩy chùa Yên tử cực điểm khó
khăn rằng: “Đi như cáy, về như cua - vất gậy mà quơ lấy
cành”, vậy mà mỗi năm về tháng hai, hằng ngày ít nhất
cũng có tới vài ngàn người trèo non vượt suối lên chiêm
bái. Lại đến động Hương Tích ở làng Yên Vĩ, thuộc tỉnh
Hà Đông đông gấp mười phần thế nữa. Trong cuốn Nhật
trình chùa Hương Tích đã có những câu rằng:
Làng
Yên Vĩ có non Hương Tích,
Bao
khí thiêng đất Việt đúc nên,
Phật
Quan Âm ngự tòa sen,
Mười
phương quý tiện đua chen khấn nguyền.
Khách
trẩy chùa Hương này mỗi năm từ cuối tháng giêng đến cuối
tháng ba âm lịch, mỗi ngày ít bù nhiều có tới vài vạn
người, còn sự đi chiêm bái các danh lam cổ tích khắp trong
nước không thể kể xiết đặng.
Gần
đây lại nhờ có ảnh hưởng Hội Đại Bồ Đề và Hội
Nghiên cứu Phật học ở Đại Ấn đây lan tràn đến, khiến
cho từ 20 năm đến nay cơ duyên chấn hưng Phật học ở Việt
Nam cũng rất bồng bột, từ các thủ đô lớn đến hầu hết
các tỉnh, phủ, huyện, đều có hội chấn hưng Phật giáo.
Số hội viên đông đúc không xiết kể. Cuộc Việt Pháp chiến
tranh xảy ra gần 5 năm rồi, chùa chiền, bia tháp khắp các
nơi cũng mang đầy dấu vết tang thương; nhưng cục diện ở
Việt Nam cũng đã hé tia sáng thống nhất độc lập, mặc
dầu đang ở vào thời kỳ tinh thần khủng hoảng, cũng như
kinh tế quẫn bách. Vậy mà lòng công đức của dân chúng
cũng đã gom góp để kiến thiết, tu bổ chùa tháp.
Các
giáo hội Tăng già cũng như các Hội Phật giáo đương thành
lập và đương phục hưng, các trường Tăng Ni học ở các
thủ đô lớn cũng đã tổ chức được hơn 10 trường Phật
học, số Tăng Ni học sinh trong các trường đó tổng cộng
có tới gần 300. Còn về quan niệm tín ngưỡng Phật giáo
của dân chúng quả thật là bồng bột, hầu như họ đã qua
một cuộc bom đạn, khói lửa khiến cho phần lớn bị cốt
nhục ly tán, tài sản tan không, cái thảm họa đó đã khiến
họ càng hiểu chân lý vô thượng của Phật dạy, hóa nên
không ai bảo ai mà đi lễ bái nghe kinh, cầu đạo lại bắt
đầu bồng bột.
Hiện
nay dân tộc Việt Nam từ trí thức đến bình dân phần nhiều
tin tưởng: Phật giáo Việt Nam có cơ chấn hưng để bồi
dưỡng lại tinh thần dân tộc đã có mấy ngàn năm nay.
Ngày
nay Phái đoàn Phật giáo Việt Nam chúng tôi sang Quý quốc đây,
mục đích trước là để tỏ lòng chiêm bái Phật địa và
ca tụng Quý quốc đã sớm thu hồi chính quyền độc lập;
sau là ước mong nối lại dây tinh thần văn hóa của Phật
giáo đã bồi dưỡng cho hai dân tộc bao nhiêu thế kỷ chung
sống trong bầu không khí trong sạch sáng suốt vậy. |
Sau
nửa giờ ông Phạm Chữ dứt tiếng, kế đến Tổng Lãnh sự
Pháp và Trưởng Phái Đoàn Phật giáo Việt Nam và Hội Đại
Bồ Đề. Các vị còn nêu cả vấn đề quan hệ về Hội nghị
Phật giáo Quốc tế, thành ra cuộc nói chuyện kéo dài ra đến
hai tiếng đồng hồ mới giải tán, ai nấy đều đem về một
cảm tưởng hy vọng ở Hội Phật giáo thế giới sắp được
thành lập cho Phật tử hoàn cầu đều có một lực lượng
đoàn kết đại hùng, đại lực để cùng thực hiện tinh
thần phụng sự nhân loại”.
Một
đoạn trích dài để chúng ta thấy được sự uyên bác về
kiến thức, chủ kiến về chính trị, tiềm năng ngoại giao
ở nhà tu hành và đằng sau là một niềm tự hào dân tộc,
một viễn kiến tiền đồ nước nhà đã được bộc lộ.
Đọc
lại những đoạn này, ta có cảm tưởng đang đứng trước
một nhà hùng biện để nghe sự tuyên dương dân tộc và đạo
pháp ở người ấy. Phải có một sự am hiểu, một sự vững
vàng về lập trường dân tộc và ủng hộ kháng chiến đến
thế nào mới hiên ngang nói về dân tộc mình như thế.
Những
đoạn trích trên đây và vài suy nghĩ cá nhân đã trình bày
khép lại một phần nào sự nghiệp ưu tú của ngài Tố Liên.
Chúng ta không còn gì hơn để có một nhận định chắc chắn
rằng Hòa thượng Tố Liên đã tham gia vào công cuộc kháng
chiến chống Pháp giành độc lập dân tộc bằng chính vai
trò và khả năng tuyệt vời của một tu sĩ Phật giáo xuất
chúng, mà nay đã đi vào lịch sử.
Hà
Nội, cuối Xuân, Đinh Hợi, 2007
[1]
Dẫn theo: http://www.phatviet.com
[2]
Báo Cứu Quốc số 106 ra ngày 1.12.1945
[3]
Tư liệu chuẩn bị cho hội thảo khoa học Hòa thượng Tố
Liên (1903-1977) trong sự nghiệp xây dựng Phật giáo Việt Nam
và Phật giáo thế giới.
[4]
Chi tiết này Hòa thượng Tố Liên bị nhầm, không phải chùa
Pháp Vân ở Hà Tây mà chính là chùa Pháp Vân, Diên Ứng Tự,
tức là chùa Dâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh hiện tại.
04-29-2007
04:56:02