Tại
Bắc Việt Hội Việt Nam Phật giáo đã cung thỉnh Hòa thượng
Pháp chủ Phật giáo Tăng già bắc Việt chủ tọa lễ Thượng
Kỳ Phật giáo tổ chức rất long trọng trang nghiêm vào ngày
Phật đản mồng tám tháng tư năm Tân Mão (3/5/1951) tại chùa
Quán Sứ Hà Nội
Hòa
thượng Tố Liên thế danh là Nguyễn Thanh Lai, sinh năm 1903
(Quí Mão), song thân là cụ ông Nguyễn Văn Định và cụ bà
Nguyễn Thị Đào, quê quán làng Quỳnh Lôi, tổng Kim Liên,
huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (ngày nay thuộc địa phận
Hà Nội) trong một gia đình Nho giáo, tín mộ đạo Phật.
Thủa
nhỏ ngài được cha mẹ cho theo học chữ Nho với cụ Đồ
Đào Xuyên, gặp lúc phong trào văn thân mà cụ Đồ tham gia
bị thất bại khó khăn, lại được Thày dạy học khuyến
khích, năm 13 tuổi ngài được cha mẹ chấp thuận cho xuất
gia tầm sư học Đạo. Được Cố Hòa thượng Thích Thanh Tích,
trú trì Tổ đình Hương Tích nhận làm đệ tử và hết lòng
dạy bảo. Vốn bản chất cần mẫn, bộc trực năng động
trong các Phật sự, tu hành ngày một tinh tấn, nên đã được
Thày Tổ chọn làm Trưởng tử kế vị tương lai tại chùa
Hương Tích; Nhưng ngài tha thiết xin được du phương tham học
nhiều nơi khác tại các đạo tràng Đào Xuyên – Bắc Ninh,
Tế Xuyên, Hà Nam, Vinh Nghiêm - Đức La Bắc Giang, Bằng Sở
Hà Nội, Tam giáo - Hà Đông, Mỹ Cụ - Đông Triều và đã
từng tu tập, trụ trì tại các chùa Thanh mai, Côn Sơn – Chí
Linh Hải Dương. Nhờ vậy ngài đã trau dồi được giới đức
phẩm hạnh thanh tịnh, trang nghiêm và vốn sở học uyên thâm,
trí tuệ minh mẫn, nên khi hội đủ nhân duyên, ngay từ những
năm 40, 50 của thế kỷ trước ngài đã có những đóng góp
to lớn thiết thực trong phong trào chấn hưng, xây dựng Phật
giáo ở Bắc Kỳ và trong cả nước – Có thể nói “Trong
số các nhân vật hoạt động nhất của Phật giáo Bắc Kỳ,
các Thiền sư Tố Liên, Trí Hải, Tuệ Chiếu và Vĩnh Tường
là những khuôn mặt nổi bật nhất” (như tác giả Nguyễn
Lang đã ghi nhận trong “Việt Nam Phật giáo sử luận” chương
34).
Ngoài
các nguồn tư liệu tóm tắt, giản lược về lịch sử Phật
giáo và các danh Tăng Việt Nam, viết về Cố Hòa thượng Tố
Liên; Tôi may mắn là từ gần hai chục năm nay được gần
gũi Hòa thượng Trí Tịnh (quê ở Nam Định, sinh năm 1925,
xuất gia từ 1939 là đệ tử của Cố Hòa thượng Thích Thanh
Khánh, Tổ đình Trung Hởu, Vĩnh Phúc). Sư cụ hiện là Viện
chủ Linh Phong Thiền Uyển một cơ ngơi khang trang thanh tịnh
tọa lạc trên sườn núi nhỏ, gần ngọn Hải Đăng, số 122,
đường Phan Châu Trinh Thành phố Vũng Tàu; Trong những lần
được tham vấn đàm đạo về sự thăng trầm của Phật giáo
miền Bắc, sư cụ thường nhắc nhở đến những cảm niệm
rất sâu sắc đối với Cố Hòa thượng Tố Liên, một bậc
“Vong niên pháp lữ” của sư cụ từ nửa Thế kỷ trước
đây.
- Từ
giữa những năm ba mươi của Thế kỷ trước, Cố Hòa thượng
Tố Liên đã hoan hỉ nhận lời cung thỉnh của các huynh đệ
đồng đạo từ Côn Sơn ra chùa Quán Sứ Hà Nội để cùng
Cố Hòa thượng Trí Hải và các vị danh Tăng cư sỹ khác
chung lo Phận sự – Ngài đã mang hết tâm huyết vào việc
giảng dạy, làm chủ sám và giới sư các đại giới đàn
ở các Phật học đường Quán Sứ, Vân Hồ, Vạn hạnh, Khuông
Việt, các Cô nhi viện. Thông qua Nhà xuất bản Đuốc Tuệ
các Tạp chí, ngài đã cho khắc in nhiều bản và phổ biến
toàn quốc bộ “Việt Nam Phật điển Tùng san” để lưu
truyền hậu thế, tích cực tham gia các hoạt động về văn
hóa giáo dục, cứu tế xã hội của Phật giáo Bắc Việt
cho đến những năm đầu bốn mươi.
- Sau
một thời gian về lại Côn Sơn tu hành, dưỡng bệnh, năm
1945 ngài lại trở ra chùa Quán Sứ cùng Hòa thượng Trí Hải
điều hành Phật sự, tiếp tục xuất bản Tạp chí Tinh Tiến
để truyền bá Phật pháp trong hoàn cảnh nước nhà mới giành
được độc lập, các ngài đã khắc phục được mọi chướng
duyên, tập hợp Tăng già, liên kết các tổ chức Phật giáo,
thành lập Hội Việt Nam Phật giáo, Ủy ban Tăng già Bắc bộ,
do các ngài Thích Mật Ứng làm Chánh chủ tịch; Thích Tố
Liên làm Phó chủ tịch, Thích Mật Chiếu làm Thư ký …
Tháng
5 / 1946 Tạp chí Diệu Âm, cơ quan truyền bá Phật pháp của
Ủy ban Tăng già Bắc Bộ ra số đầu tiên, ra được 6 số
đến tháng 10 / 1946 thì đình bản. Do tình hình đất nước
lúc đó, Ủy ban Tăng già Bắc Bộ, Hội Việt Nam Phật giáo,
Hội Phật tử cứu quốc các Liên đoàn Tăng già các địa
phương chỉ hoạt động trong thời gian ngắn nhưng đã thực
hiện tốt tôn chỉ mục đích của mình là hoằng dương Phật
pháp, phụng sự Tổ quốc; cứu khổ cứu nạn, mở rộng phạm
vi cứu tế xã hội, tham gia bình dân học vụ … Đúng như
Hồ Chỉ Tịch viết trong thư Người gửi cho Hội Phật tử
Việt Nam nhân dịp Lễ Vu lan năm 1947: “Từ ngày nước
ta trở nên Dân chủ cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự
do tín ngưỡng thì Phật giáo mới mở mang”.
Sau
ngày toàn quốc kháng chiến 12 / 1946 các thành viên tổ chức
Phật giáo VN lại đồng hành cùng dân tộc trong cuộc kháng
chiến trường kỳ chống quân xâm lược giành độc lập tự
do cho đất nước.
Với
tinh thần “Tùy duyên bất biến” phụng sự đạo pháp và
dân tộc tùy theo căn cơ hoàn cảnh của từng vùng, từng người.
Ý thức trách nhiệm trước sứ mệnh lịch sử của đạo
pháp và đân tộc trong vùng địch tạm chiến, Ngài và các
vị cùng tâm huyết chí hướng đã khắc phục mọi trở ngại,
đề cao chủ trương đoàn kết Tăng già, thống nhất Phật
giáo nên cuối 1949, tâm nguyện ấy đã đạt được qua việc
thành lập Hội Tăng Ni chỉnh lý Bắc Việt với Tạp chí Phương
Tiện do Ngài làm chủ bút kiêm chủ nhiệm. Hội này là tiền
thân của Hội Phật giáo Tăng già Bắc Việt (1950) vẫn do
Ngài làm chủ tịch, đồng thời giữ chức Phó Hội trưởng
Việt Nam Phật giáo.
-Để
giành nhiều thời gian cho các việc đối nội, đối ngoại
của Phật giáo, chính ngài đã vận động suy tôn Thiền sư
Thích Mật Ứng làm Thiền gia Pháp chủ của Phật giáo Tăng
già Bắc Việt và cung thỉnh Hòa Trí Độ từ miền Trung ra
làm giảng sư và hoạt động Phật sự để sau này làm Hội
trưởng Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam.
-Từ
những năm 1949 đến 1954 Ngài đã tích cực vận động các
vị Tôn túc lãnh đạo Phật giáo của ba miền Bắc – Trung
– Nam để thành lập giáo Hội Tăng già toàn quốc (1952) do
Hòa thượng Thích Tuệ Tạng làm Thượng chủ bao gồm đại
diện 3 miền là các Hòa thượng: Thích Mật Ứng, Thích Tịnh
Khiết và Thích Huệ Quang và Hòa thượng Tố Liên nhận nhiệm
vụ Tổng trị sự của Hội – Cũng trong thời gian này Ngài
hướng dẫn thành lập các tổ chức gia đình Phật tử, đưa
sinh hoạt vào nề nếp để hoằng dương Phật pháp và phụng
sự Đạo pháp và dân tộc.
-Cùng
với các hoạt động Phật sự ở trong nước một sự kiện
quan trọng cần được ghi nhận và cảm niệm sâu sắc đối
với công đức của Cố Hòa thượng Tố Liên là việc nêu
cao vị thế của Phật giáo Việt Nam trên trường Quốc tế.
Đó là sự kiện tháng 5 / 1950, Ngài đại diện cho Phật giáo
Việt Nam đi dự Hội nghị thành lập Hội Thế giới Phật
giáo Liên hữu tại Colombo thủ đô Tích Lan, gồm đại diện
của Phật giáo 26 nước với 129 đại biểu. Trong đó Phật
giáo Việt Nam là một sáng lập viên. Tại Hội nghị này lá
cờ 5 sắc được công nhận là Phật kỳ và Hòa thượng Tố
Liên đại diện của Phật giáo Việt Nam được suy cử làm
Đệ nhất Phó Hội trưởng – Ngài là đại diện Ban chấp
hành Thế giới Phật giáo Liên hữu tại Việt nam, trụ sở
đặt tại chùa Quán Sứ Hà Nội.
Ngày
24 / 2 / 1951, Cố Hòa thượng Tố Liên lại được mời sang
Tích Lan lần thứ 2 để dự Hội nghị hành chính Phật giáo
Thế giới tại Colombo khi trở về Việt nam, Ngài đã mang theo
một bảo vật là lá cờ Phật giáo Thế giới.
Tại
Bắc Việt Hội Việt Nam Phật giáo đã cung thỉnh Hòa thượng
Pháp chủ Phật giáo Tăng già bắc Việt chủ tọa lễ Thượng
Kỳ Phật giáo tổ chức rất long trọng trang nghiêm vào ngày
Phật đản mồng tám tháng tư năm Tân Mão (3/5/1951) tại chùa
Quán Sứ Hà Nội.
- Năm
1952 Ngài tham dự Đại hội Phật giáo Thế giới tại Nhật
Bản nhằm tăng cường hội nhập với Phật sự của Phật
giáo thế giới như: phổ biến giáo lý Phật Đà trong các
tổ chức giáo dục ở mỗi quốc gia, thực hiện các hoạt
động nhân đạo từ thiện xã hội; Thành lập đoàn thanh
niên Phật tử ở mỗi nước. Kết hợp những chuyến du hóa
nước ngoài, Ngài đặc biệt lưu tâm đến sự hỗ trợ của
Phật giáo nước bạn để đào tạo tăng tài bằng cách thức
gửi các tăng sỹ Việt Nam du học nước ngoài nhằm nâng cao
kiến thức, trau dồi văn hóa, tăng cường tình hữu nghị
và đào tạo Như Lai sứ giả giữa các quốc gia Phật giáo
trên qui mô quốc tế, mở đầu cho phong trào các Tăng Ni Phật
tử Việt nam đi du học Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan, Trung
Quốc phát triển từ đó đến nay.
- Sau
hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước tạm bị chia cắt,
Ngài ở lại miền bắc cùng các Hòa thượng cùng chí hướng
như Tuệ Tặng, Trí Hải, Vĩnh Tường … Tiếp tuch tu hành,
duy trì mạng mạch, làm trụ cột vững chãi trong việc truyền
thừa Phật sự đã có nề nếp tạo dựng từ những năm bốn
mươi.
- Đến
năm 1958, Hội Phật giáo thống nhất ra đời, với Bộ máy
nhân sự nội dung hoạt động mới của thời kỳ đầu chuyên
chính vô sản, cải cách ruộng đất, thắt lưng buộc bụng
phục vụ công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế văn
hóa – xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước
nhà chống Mỹ cứu nước.
Với
Ngài cũng đã đến thời kỳ tuổi tác ngày một thêm cao,
bệnh tình sức khỏe giảm sút nhanh, Ngài cùng một số lão
tăng khác nghỉ hoạt động Phật sự, phân tán tu tập –
Từ đó Cố Hòa thượng tĩnh tu dưỡng bệnh tại chùa Quán
Sứ và một số nơi như chùa Quỳnh Lâm, Đông Triều, Hà Nam,
Vĩnh Phú … Khi sức khỏe và điều kiện phương tiện cho
phép Ngài ghé thăm các bạn đồng đạo ở các nơi – Với
tinh thần “Tùy duyên bất biến” Ngài đã là tấm gương
cho các thế hệ đồng đạo đương thời về tinh thần nhẫn
nại, tu hành nghiêm mật. Sư cụ Thích Trí Tịnh bồi hồi
nhớ lại trong thời gian đang ở Am Ninh ẩn xã Lộc Vượng,
ngoại thành Nam Định, Cố Hòa thượng có ghé thăm. Hai vị
tay nắm tay nhìn nhau tĩnh lặng hồi lâu rồi Ngài đọc tặng
bài thơ trước lúc chia tay mà cho đến nay Sư cụ Thích Trí
Tịnh vẫn còn thuộc lòng. Nội dung bài cảm tác như sau:
Mậu
thân niên Thu Nguyệt
(Tháng
thu năm Mậu Thân 1968)
Hà
tất sơn lâm tác địa tiên
Tam
gian trúc diệp dã tằng yên
Sài
môn phong nguyệt lai bằng hữu
Tuyết
án kinh văn hội thánh hiền
Thân
thế không hoa quân tảo giác
Can
tràng giới thạch ngã hà quyên
Túng
nhiên tang hải kinh nhân cục
Bất
biến tùy duyên nhậm thái nhiên.
- Và
sự tu tập, cuộc sống của Ngài bình lặng như thế suốt
những năm 60, 70 của Thế kỷ trước. Cho đến một ngày đầu
xuân năm Đinh Tỵ – 1977, người ta thấy Cố Hòa thượng
Thích Tố Liên, bình thản chống Thiền trượng đi thăm, đàm
đạo cùng chư Tăng ở chùa Quán Sứ, như để tạ từ trước
lúc Ngài an nhiên viên tịch tại chùa Quán Sứ vào buổi chiều
ngày 13 tháng 02 năm Đinh Tỵ (tức 1/4/1977) sau hơn 60 năm học
hành, tu tập liên tục làm Phật sự, Hoằng pháp độ sinh
và trụ thế 75 năm.
- Về
trước tác Cố Hòa thượng còn để lại những tác phẩm:
-
Tấm gương quy y.
-
Sự lý lễ tụng.
-
Ký sự phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi Tích Lan và Ấn Độ.
-
Sau khi đi Nhật bản về Ngài đã dịch cuốn: “Duyên mệnh
địa tạng” …
Cố
Đại lão Hòa thượng THích Tố Liên (1903 – 1977) đã để
lại cho Đạo pháp – Dân tộc chô đồng đạo và cho người
đời một tấm gương ngời sáng về tinh thần kiên trì nhẫn
nại với tinh thần “Tùy duyên bất biến” cùng đồng đạo,
tận tụy phục vụ sự nghiệp chấn hưng đạo pháp – Dân
tộc và sớm đưa Phật giáo Việt nam hội nhập với phong
trào Phật giáo Thế giới.
Theo
tác giả “Tiểu sử danh Tăng Việt Nam thế kỷ xx”, Bảo
Tháp của Ngài được tôn xây tại chùa Sùng Phúc, thôn Huỳnh
Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì tỉnh Hà Tây nay thuộc Thành
phố Hà Nội – Bảo hiệu là Chân Không Tháp.
Thực
trạng Bảo Tháp Chân Không của Ngài hiện nay ra sao, chúng
tôi ở xa chưa có dịp đến đảnh lễ – Với tấm lòng thành
kính biết ơn sâu sắc một vị Cao Tăng, chúng tôi đề nghị
Ban tổ chức Hội thảo nên cử người về tiền trạm, thắp
hương sửa sang lại trước, và tổ chức cho các đại biểu
tham dự cuộc Hội thảo được về chiêm bái đảnh lễ trước
bảo tháp giác linh Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tố Liên
trước lúc khai mạc – Trường hợp cần thiết phải huy động
kinh phí để sửa sang tôn tạo, xin ban tổ chức thông báo,
tôi tin là các đại biểu sẵn sàng phụng cúng – Xin trân
trọng đề nghị và cảm ơn Ban Tổ chức Hội thảo.
Kính
thưa Ban tổ chức Hội thảo và quý vị đại biểu!
Sau
khi được quý vị lãnh đạo Viện nghiên cứu Phật học Việt
Nam phân công nhận lời mời Tham gia cuộc Hội thảo khoa học
quan trọng này, tôi đã có duyên lành là được một Phật
tử cao niên trao tặng tập sách mỏng “Ý nghĩa Cờ Phật
giáo và cuộc du hành của Bác sĩ G.P MALASEKERA Hội trưởng
Hội Phật giáo Thế giới qua thăm Việt Nam 5/1951” mà cụ
đã lưu giữ trân trọng từ trên 50 năm nay.
Qua
tập sách quý báu này, đặc biệt là đọc lại bài “Diễn
văn khai mạc lễ thượng kỳ Phật giáo Thế giới” của
Thượng tọa Tố Liên đại diện Ban chấp hành Hội Phật
giáo Thế giới tại Việt Nam. Khi viết đến phần cuối bài
tham luận này, bên tai tôi như còn vang vọng những lời tha
thiết tâm huyết của Người. Tôi xin phéo trích ra đây để
thay lời kết thúc
…”Lịch
sử nhân loại vẫn chứng tỏ rõ ràng Phật giáo đã lưu hành
từ Đông sang Tây trong khoảng 25 thế kỷ – Có thể nói Phật
giáo vẫn ẩn hiện trên phương diện đạo đức thuần túy
để trùên bá khắp thế gian … Tuy vậy, thời đại có suy
tất có thịnh. Tôn giáo cũng theo đó để định đoạt tiến
hóa – Chư Phật đã dạy: “Nhân duyên đến thì vạn sự
thành, thiếu nhân duyên thì mọi sự hỏng”.
…
Trong lúc các dân tộc trên mọi thế giới đã từng đau khổ
hãi hùng vì cuộc đại chiến vừa qua và còn định dẫn nhau
vào sự tàn sát của chiến tranh một lần nữa; May mắn thay,
chính làg lúc chân tâm được phát hiện – Cũng như các nước
khác, dân tộc Việt Nam cũng không thoát khỏi vòng chinh chiến
và phải chịu bao cảnh núi xương sông máu … Mặc dù gặp
bao nhiêu những sự biến thiên liên tiếp và những hoàn cảnh
khó khăn, dân tộc Việt nam vẫn có những bậc đạo đức
sáng suốt, tìm phương bồi bổ cho nhân tâm thế đạo.
Nhân
loại cần phải trở lại đời sống ôn hòa thuần hậu –
Phật giáo Việt Nam được chấn hưng từ ngày liên lạc mật
thiết với các nước Phật giáo trên Thế giới.
…Ngày
nay Phật giáo Việt Nam đã hân hạnh đứng ngang hàng với
các nước Phật giáo trên toàn Thế giới sẽ dâng lên trước
mặt mọi người …
…
Để xứng đáng là những người con Phật đang nhất thiết
tuân hành những lời vàng ngọc của đấng Từ Phụ, Phật
tử chúng ta hãy kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, thống nhất
ý chí hành động phục hưng Phật giáo Việt Nam để đem lại
hòa bình hạnh phúc cho toàn dân và hết thảy nhân loại …”
-Những
lời tâm huyết thiết tha của Cố Đại lão Hòa thượng Thích
Tố Liên từ 56 năm trước đây vẫn còn nguyên giá trị trong
những ngày đầu xuân Đinh Hợi – 2007 này, thật sự là những
lời Pháp nhũ nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của mình
với Đạo Pháp, dân tộc trong xu thế hội nhập toàn cầu
hiện nay.
Tuệ
Khương
Phật
Tử Việt Nam
04-04-2007
05:06:09