Sau
ngày thành lập Giáo hội Tăng già Toàn quốc (14.9.1952) Thượng
tọa Tố Liên với tư cách là Tổng Thư ký GHTG Việt Nam đã
đề xuất với Hội Phật giáo Thế giới và các nước hội
viên chấp nhận các nhà sư trẻ Phúc Tuệ (Quảng Độ), Chân
Từ (Thanh Kiểm), Quảng Minh, Tâm Giác, Trí Không, Minh Châu...
sang Ấn Độ, Nhật Bản và Xri Lanca tu học Phật pháp. Sau
ngày tốt nghiệp về nước họ trở thành cầu nối Phật
giáo Việt Nam với Phật giáo quốc tế.
Cách
đây 80 năm trước sự suy thoái của Phật giáo nước ta thể
hiện chủ yếu trên 2 phương diện là sự dốt nát và hư
đốn của Tăng đồ, và sự chia rẽ các tông phái, Giáo thụ
Thiện Chiếu - trụ trì chùa Linh Sơn, Sài Gòn và Tỷ khiêu
tự Lai - trụ trì chùa Hang (Tiên Lữ động tự) Thái Nguyên
đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà
mà một trong những nội dung chấn hưng là phải “Lập Phật
gia công học hội để đào tạo những bậc có tư cách đúng
đắn để truyền giáo”1, “Nên đặt ra 3 bậc học ở trong
ba nơi Phật gia công học hội Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ví dụ:
Sơ cấp thời để ở Hà Nội, Trung cấp thì để ở Huế,
Cao cấp thì để ở Sài Gòn”2 Nghĩa là, để chấn hưng Phật
giáo, một trong những công việc cần kíp là Tăng sĩ phải
được đào tạo có bài bản theo một chương trình mới, mới
truyền bá được giáo pháp của đạo Phật trong nhân dân.
Nhận
thức được sự quan trọng và cấp thiết này Hội Phật giáo
Bắc Kỳ đã coi công tác giáo dục Tăng Ni là một trong những
nhiệm vụ hàng đầu (nhất là đối với Tăng Ni thanh niên).
Ban Giáo sư là một trong 10 ban chuyên môn được lập ngay khi
Hội Phật giáo Bắc Kỳ ra đời cuối năm 19343. Công tác giáo
dục Tăng Ni luôn là một trong những nội dung chính của các
cuộc họp đầu tiên của Hội4.
Hội
trưởng Hội Phật giáo Bắc Kỳ Nguyễn Năng Quốc ngay khi
bắt đầu tổ chức nên Hội đã xác định “cái công cuộc
chấn hưng thứ nhất là tôi đã để ý muốn săn sóc ngay
đến việc học ở chốn Thuyền môn. Sự săn sóc đến việc
học đó, tức là trau dồi về đường tinh thần của nền
Phật giáo, nghĩa là muốn chấn hưng Phật giáo nước nhà,
thì tất phải chú trọng về mặt tinh thần, cũng như là về
đường vật chất”5. Đồng thời với tổ chức khóa Hạ
và mở lớp sơ học Phật học tại chùa Quán Sứ trong năm
1935, Hội đã có những bước chuẩn bị tích cực cho việc
mở trường Phật học:
Tháng
3 năm 1936, trong chuyến vào dự lễ Nam Giao do Nam Triều tổ
chức, Hội trưởng Nguyễn Năng Quốc đã đưa các Hòa thượng
(HT): Bằng Sở, Trung Hậu, Phúc Chỉnh, cụ Bộc và sư ông
Trí Hải đi Huế để khảo sát việc thuyền học và thăm
các trường học do Hội Phật học Trung Kỳ mới mở.
Tiếp
đó, ngày 17.8.1936, Hội cử Thượng tọa Tố Liên vào Huế
tham cứu các chương trình Phật học. Thượng tọa đã đàm
đạo với ông Lê Đình Thám Phó Hội trưởng Hội Phật học
Trung Kỳ, rồi đến chùa Tây Thiên Di Đà tức trường Đại
học, Trung học của Hội. Từ hôm sau cứ 2 buổi tham học
ở chùa Tây Thiên, 1 buổi nghe sách ở chùa Trúc Lâm trường
Tiểu học, một buổi nghe sách ở trường Ni chùa Từ Đàm
và thêm 1 buổi theo học khoá lễ đại chúng. Trường Trung
học Trúc Lâm có 50 người, trường Ni có 40 người chương
trình học cũng như trường Tăng, chỉ có dạy thêm những
công việc nữ công, phụ hạnh.
Ngày
20.9.1936, Thượng toạ Tố Liên đi Huế về, đề xuất với
Ban Giáo sư Hội Phật giáo Bắc Kỳ: tôi nghe nói trường Phật
học ở Huế có dạy cả triết học Đông Tây, nếu ngoài
Bắc ta có mở trường Phật học cũng nên theo chương trình
Phật học ở Huế, rồi tuỳ cơ châm chước mà giáo huấn
thì Phật học hiện hữu mới được tiến đạt. Chuyến đi
tham cứu trường Phật học ở Huế chi “hết 20$00 của Hội
mà chỉ được mấy tờ chương trình Phật học và ít câu
chuyện góp không biết có phải là hư phí của thập phương
tam bảo không? Nhưng sách có nói: “thực lòng làm việc Phật
pháp thì một ngày ăn đến lạng vàng cũng có thể tiêu
được”1. Có thể nói Thượng tọa Tố Liên là người có
công đầu trong việc thành lập trường Phật học ở xứ
Bắc. Từ “bột” là mấy tờ chương trình Phật học và
ít câu chuyện góp đó. Ngài đã cùng Ban Thuyền học Hội
Phật giáo Bắc Kỳ dựng được chương trình Phật học cho
cả ba cấp: Sơ học, Trung Học và Đại học và “gột nên
hồ”: sau một thời gian chuẩn bị, ngày 14.12.1936 trường
Phật học Hội Phật giáo Bắc Kỳ làm lễ khai giảng tại
chùa Quán Sứ. Trường có 70 tăng sinh, chia 3 lớp: lớp Đại
học (20 người), lớp Trung học (30 người) và 20 Tăng sinh
lớp Tiểu học. Do chuẩn bị trùng tu chùa Quán Sứ nên hai
lớp Đại học và Trung học đặt tạm tại chùa Sở (tức
chùa Phúc Khánh, Ngã Tư Sở, Hà Nội); lớp Tiểu học đặt
tại chùa Quán Sứ. Chánh Đốc giáo là Tổ Bằng Sở (HT Phan
Trung Thứ), Phó Đốc giáo là HT Dương Văn Hiển (Tổ Tế Cát),
các giảng sư là HT trụ trì chùa Phù Lãng Trung (Bắc Ninh),
Tú Tài Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, ông Nguyễn Quang Oánh
...
Chương
trình học nội điển, ngoại điển của các trường này khác
hẳn với hai cách tu học truyền thống của Phật giáo xứ
Bắc là Tăng Ni tu học tại mỗi ngôi chùa vào các kỳ an cư
kiết hạ. Có thể nói việc Hội Phật giáo Bắc Kỳ mở các
trường Phật học ở 3 cấp đào tạo theo lối mới là một
bước ngoặt trong công tác giáo dục tăng tài của Phật giáo
xứ Bắc.
Việc
mở trường Phật học của Hội đã được các nơi nhiệt
liệt hưởng ứng. CHPG tỉnh Hưng Yên đã mở tùng lâm Văn
Miếu Hưng Yên tự lo giảng sư và tư lương cho tăng sinh theo
học. Ngày 28.11.1940, cụ Hoàng Thị Uyển (cụ Cả Mọc) Hội
trưởng Hội Tế Sinh Hà Nội đã cúng vào Trường Thuyền
học Hội Phật giáo Bắc Kỳ một ngôi chùa mới tân tạo
cùng 31 mẫu ruộng và 43 mấu thổ thuộc địa phận làng Đông
Bài, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên (nay là sân bay quốc tế
Nội Bài). Để đáp tấm lòng chân thành của cụ, Ban Thuyền
học đã cho rời trường Tiểu học từ chùa Quán Sứ lên
Kim Anh, thành lập trường Tiểu học Cao Phong. Ngày 2.12.1940,
Thượng tọa Trịnh Mạnh Đinh, giám viện chùa Côn Sơn đã
cúng cho Hội Phật giáo Bắc Kỳ, Hội đã cử Thượng tọa
Tố Liên về Chí Linh, Hải Dương trụ trì chùa này và mở
trường Tiểu học Côn Sơn (Tùng lâm Côn Sơn). Ngài vừa tổ
chức khai khẩn và cach tác 50 mẫu ruộng tại đây vừa tham
gia giảng dạy Tăng sinh.
Như
vậy tới năm 1941, Hội đã lập được 4 trường Phật học:
Đại học ở chùa Sở, trường Trung học tại chùa Quán Sứ,
trường Tiểu học Cao Phong (Phúc Yên) và Côn Sơn (Hải Dương)
với 69 học Tăng.
Năm
1941, ông chủ hiệu Nhật Chương ở phố Hàng Thiếc, Hà Nội
là bạn thân của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha cúng cho Hội
một mẫu ruộng và toàn bộ số tiền xây dựng trường.nằm
ở Quán Bún, làng Mọc Thượng Đình (Km số 7 đường tàu
điện Hà Nội - Hà Đông). Hội giao cho ông Kha trông coi việc
này. Khởi công từ giữa năm 1941 đến cuối năm 1944 Hội
làm lễ khánh thành trường (được đặt tên là Phổ Quang)
và tổ chức chiêu sinh. Ông Nguyễn Quang Oánh thanh tra nha Học
chính Bắc Kỳ đã hưu trí được cử làm Giám đốc và sư
ông Vô Vi làm Trưởng giáo. Trường có ban Sơ đẳng (gồm
các lớp Sơ đẳng, Dự bị, Đồng ấu) khai giảng ngày 3.1.1945;
Ban Trung đẳng (năm thứ 2 và năm thứ nhất); Ban Cao đẳng
(đủ 6 lớp). Mỗi học sinh xin học phải có giấy khai sinh,
xin vào những lớp Trung đẳng và Cao đẳng phải có học bạ
và giấy chứng nhận của trường cũ. Học qui của trường
theo như trường công. Với học phí thấp hơn trường ngoài,
lại dạy cả nghề tiểu thủ công (vừa học vừa làm), trường
Phổ Quang đã cuốn hút được nhiều học sinh gia cảnh khó
khăn nhưng có chí tiến thủ nhập học. Trường Phổ Quang
là trường vừa học vừa làm đầu tiên ở xứ Bắc - một
mô hình giáo dục sáng tạo của Hội, được nhiều người
ủng hộ.
Để
có người đi làm giám thụ các trường Tăng học địa phương
(tức định cách chọn học sinh và đặt chương trình giáo
dục cho lớp học), ngày 16.10.1937, Theo đề nghị của HT Trung
Hậu, Hội trưởng Nguyễn Năng Quốc đã triệu tập chư Tăng
họp phiên bất thường tại chùa Quán Sứ Hà Nội bầu Ban
Tốc thành Sư phạm chư tăng tức mở lớp Sư phạm tốc thành.
Đây là một ý tưởng mới và táo bạo. Rất tiếc cho đến
cuối năm 1938, do Tăng sinh nhập học qúa ít, Hội lại phải
tập trung kinh phí và nhân lực để làm chùa Quán Sứ nên
phải hoãn lớp tốc thành sư phạm([1]).
Ít
lâu sau, ngày 28.11.1937, Hội trưởng Nguyễn Năng Quốc, ông
Nguyễn Trọng Thuật, sư cụ Bằng Sở - Trưởng ban Tài chính
kiêm Chánh trụ trì chùa Sở, sư cụ Tế Cát, sư cụ thủ
quỹ trụ trì chùa Hương Tích, sư cụ Cồn Đương gia chùa
Quán Sứ, cụ Ngũ Xã kế toán, cư sĩ Nguyễn Hữu Kha, giám
sát cụ Bát Mẫu, đã họp tại chùa Quán Sứ, để bầu
thêm Ban Trị sự Phật học Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Hội
đồng bầu Ban Chuyên trách đi khuyến hoá cả thập phương
chùa cùng các thiện tín ở địa phương lo việc tài chính
cho các trường của Hội, gồm: cụ Chánh giám trường, các
sư ông: Phù Tải (Kim Thành, Hải Dương), Thanh Yên (Nam Sang,
Hà Nam), Hà Mặc (Bình Lục, Hà Nam), Vô Phóng tự Thanh Mai đệ
tử sư tổ chùa Muống, Hải Dương. Thượng tọa Tố Liên
được bầu làm Thư ký.
Tuy
nhiên, những khóa học, lớp học đầu tiên của các trường
Phật học ở Bắc Kỳ chỉ dành cho tăng sinh. Chính vì vậy,
Ni sư Tâm Nguyện trên báo Đuốc Tuệ, số 60 ra ngày 1 tháng
5 năm 1937 đã đăng bài “Lời than phiền của ni cô Tâm Nguyện”.
bày tỏ sự bức xúc trước tình hình các trường Phật học
do Hội đã mở trong thời gian qua chỉ dành cho tăng giới và
cho rằng, điều này là một sự thiên vị và "khinh thường
ni giới chúng tôi". Từ đó, một mặt, Ni sư mong Hội mau chóng
lập trường Phật học dành cho Ni giới "để chị em nữ ni
niên thiếu có nơi học hành, có thầy dậy bảo, mong một
ngày kia cũng xin đương vai gánh vác Phật pháp tuyên dương
giáo hóa cho nhân dân, cho khỏi phụ chí hướng xuất gia đầu
Phật". Mặt khác, để thể hiện sự nhiệt huyết của mình,
Ni sư Tâm Nguyện còn đề nghị phía Ni giới phải chủ động
"hợp sức cùng nhau mở trường Phật học để chị em ta có
nơi ăn học, chứ không nên bắc nước chờ gạo người".
Việc này, theo Ni sư Tâm Nguyện là có tính khả thi cao, bởi
vì: "Nếu bây giờ các vị Thượng tọa bên Ni hiệp sức cùng
nhau, nhờ bên tăng giúp đỡ phương pháp, thì trường học
của chúng ta dựng thành dễ như trở bàn tay". Đáp ứng yêu
cầu trên của Ni giới, Hội đã lập trường Ni học (có 1
lớp Tiểu học và 1 lớp Trung học) do tổ Bằng Sở làm Chánh
Đốc giáo. ở chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội (ban đầu đặt
tại chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh) do các vị Thượng toạ Ni
và mời các Ni sư ở Huế ra giúp về việc giảng dạy với
trên 30 ni sinh. Tổng số Tăng Ni sinh ở 5 trường thiền học
của Hội đã lên tới hơn 100 vị2.
Sau
ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Thượng tọa
Tố Liên là người nhiệt liệt ủng hộ lời kêu gọi “diệt
giặc dốt” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bài Tăng
già muốn nâng cao trình độ thời phải nhiệt liệt tham
gia vào việc Bình dân học vụ" đăng trên nguyệt san Diệu
Âm số ra tháng 6 năm 1946 - cơ quan hoằng pháp của ủy ban
Tăng già Bắc Bộ, Thượng tọa viết: “Các chiến sĩ quyết
hy sinh tính mệnh ra nơi chiến địa, chiến đấu với quân
thù để giữ vững non sông đất nước, thì đằng này các
giáo viên hy sinh hết tâm lực thì giờ để tiễu trừ giặc
dốt cho quốc dân, hai đường đều có công ân cứu quốc
cả. Riêng tôi, thì tôi nhận thấy việc Bình dân học vụ
(BDHV) còn mật thiết hơn" và Ngài, với tư cách Phó chủ tịch
ủy ban Tăng già Bắc Bộ đề nghị “.... toàn cõi Việt Nam
mỗi chùa đều lập 1 trường BDHV, trường học đó lại là
trụ sở tuyên truyền báo chí, đó là một phương pháp cải
tổ nhân tâm rất giản dị mà có rất nhiều hiệu quả. Hầu
khắp nước Việt Nam, làng nào cũng có chùa, vị sư chủ chùa
nào cũng gắng gỏi cũng nhiệt liệt với công cuộc BDHV như
vậy thì chẳng cần phải bỏ bút mặc chiến bào mà vẫn
thành công tiễu trừ giặc dốt xóa cái nạn dân ngu như vậy
chả là một biện pháp cứu quốc có hiệu lực ư”. Chủ
trương của Ngài đã được các chùa ủng hộ, nhiều Tăng
Ni đã trở thành thày giáo góp phần tích cực vào công cuộc
xóa nạn mù chữ ở Bắc Bộ.
Tháng
10 năm 1948, Thượng toạ Tố Liên trở về chùa Quán Sứ, Hà
Nội cùng một số vị như Lê Toại, Trần Văn Đại, Nguyễn
Đình Dương, Văn Quang Thùy ... vận động tái thành lập Hội
và đề nghị thành phố giúp đỡ Phật sự. Nhận thấy nhiều
trẻ em Hà Nội thất học do thiếu trường sở, Thượng tọa
đã cùng các vị nói trên xin phép thị trưởng thành phố
thành lập Trường Bảo trợ giáo dục nhi đồng (BTGDNĐ) tại
chùa Quán Sứ, dạy theo chương trình thế gian.
Từ
1.2.1949, nhờ sự vận động của Thượng tọa Tố Liên, phủ
Thủ hiến Bắc Việt trợ cấp cho trường GDBTNĐ tại chùa
Quán Sứ mỗi tháng 5000 đồng. Từ 1.5.1949, mỗi tháng phủ
Thủ hiến Bắc Việt trợ cấp cho trường BTGDNĐ của Hội
tại chùa Quán Sứ một vạn đồng.
Theo
sáng kiến của Hội trưởng Tố Liên và Thượng tọa Trí
Hải ngày 23.9.1949, trường Tăng học bậc tiểu học dạy
theo chương trình của Bộ Quốc gia Giáo dục mang tên Khuông
Việt được thành lập theo quyết nghị của Uỷ ban chấp
hành Hội Tăng Ni Bắc Việt đặt tại chùa Quán Sứ (trên
gác) do ông Nguyễn Ngọc Quỳnh là một vị hội viên làm Hiệu
trưởng. Hoà thượng Tuệ Tạng - Tâm Thi (tổ Cồn)
làm Đốc giáo đã làm lễ khai giảng.
Trước
sự phát triển của đội ngũ sư Ni, Thượng tọa Tố Liên
đã bàn với các vị trong Ban Quản trị nhanh chóng thành lập
trường Ni học. Nhờ sự quan tâm của Ngài và sự giúp đỡ
của Hội Phật học Trung Việt ngày 27.9.1949, Trường Ni học
cũng mang tên Khuông Việt đặt tại chùa Vân Hồ (nay thuộc
phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng) Hà Nội đã làm
lễ khai giảng. Trường do Ni sư Đàm Soạn làm Giám học
và Quản chúng (năm 1951 bà mời Ni sư Đàm Đậu thay mình
để bà chuyên lo việc giảng dạy). Hoà thượng Tuệ Tạng
và các Thượng toạ Tố Liên, Trí Hải đã được mời
làm giảng sư của trường, ngoài ra trường còn mời
một số Ni sư trong Huế ra dạy. Chương trình học ngoài
nội điển còn có tiếng Hán, khoa học phổ thông và tiểu
công nghệ.
Thượng
tọa Tố Liên là người đầu tiên khai thông việc cử tăng
sinh ra nước ngoài đào tạo cơ bản. Với tầm nhìn chiến
lược lâu dài phát triển Phật giáo nước nhà, tại hội
nghị bất thường Hội PGTG tại Colombo, Xri Lanka (19.2.1951)
nhân danh Đại diện Ban chấp hành Hội Phật giáo Thế giới
tại Việt Nam Thượng tọa đã yêu cầu Hội Phật giáo Thế
giới giúp đỡ cho các học sinh tăng Việt Nam được dễ dàng
sang học Phật Pháp tại Xri Lanka, Ngài dự định gửi ngay
3 Tăng sinh sang một lúc sau khi dàn xếp xong. Nguyên lão nghị
viên Justn Kotelawala hứa sẽ phát tâm cúng hàng tháng 75 Rupi
để cúng dàng 3 vị học sinh Tăng này về việc ăn học. TT
Tố Liên tỏ lời cảm ơn và ngài ước định gửi ngay số
Tăng học sinh ấy trong thời gian gần nhất.
Sau
ngày thành lập Giáo hội Tăng già Toàn quốc (14.9.1952) Thượng
tọa Tố Liên với tư cách là Tổng Thư ký GHTG Việt Nam đã
đề xuất với Hội Phật giáo Thế giới và các nước hội
viên chấp nhận các nhà sư trẻ Phúc Tuệ (Quảng Độ), Chân
Từ (Thanh Kiểm), Quảng Minh, Tâm Giác, Trí Không, Minh Châu...
sang Ấn Độ, Nhật Bản và Xri Lanca tu học Phật pháp. Sau
ngày tốt nghiệp về nước họ trở thành cầu nối Phật
giáo Việt Nam với Phật giáo quốc tế.
Ngày
12 tháng 10 năm 1952, đọc thông điệp tại Đại hội Phật
giáo Thế giới lần thứ hai tại Tôkyo, Nhật Bản trưởng
phái đoàn Việt Nam Thích Tố Liên kêu gọi: “Phật tử phải
thực hiện một sự lớn lao nữa trong địa hạt giáo dục,
vì những người thiếu giáo dục sẽ bị người đời coi
khinh. Riêng đọc sách không cũng chưa đủ. Người còn ngu
dốt, người công dân thiếu giáo dục sẽ là những gánh nặng
cho chủng tộc. hiện nay cần phải bành trướng nền phổ
thông giáo dục cho quảng đại quần chúng chứ không phải
chỉ riêng sự học chuyên nghiệp. Toàn thể dân chúng phải
được giáo hóa để nhận định những điều phải trái.
Trong sự giáo hóa quần chúng để đạt được kết quả mầu
nhiệm hơn cả phải là công cuộc hoằng dương Phật pháp.
Quảng đại quần chúng sẽ được giáo hóa để hiểu rõ
những bổn phận và trách nhiệm để tạo thành những cuộc
sống thực tế và hữu dụng. Dân chúng phải nhận định
rằng đức hạnh và văn hóa là một vấn đề chung. Những
sự mê tín làm bại hoại phong hóa và tổn hại tiền tài.
Chính vì thế chư Tăng Ni phải giáo hóa để giác ngộ dân
chúng. Nam nữ thanh niên phải được huấn luyện để hiểu
rõ về Giới luật, về Chính tư duy và Chính mệnh.
Phải
chăng đó là những lời tâm huyết về giáo dục Tăng Ni hoằng
dương Phật pháp của Đại lão Hòa thượng Tố Liên
- một cao tăng tài đức và tấm gương sáng cho đàn hậu tiến
chúng ta ngày nay.
1 Chấn
hưng Phật giáo nước nhà, Thiện Chiếu, Đông Pháp Thời báo
số 532, ra ngày 14.01.1927.
2
Nói về sự lập ra Phật gia công học hội, Tỷ khiêu tự
Lai, Khai Hóa Nhật Báo số 1657 ra ngày 12.2.1927
3
Biên bản số VII cuộc họp Ban Quản Trị và Ban Đạo sư Trung
ương ngày 14.12.1934, tập Kỷ yếu số 1 Hội Phật giáo Bắc
Kỳ ra tháng 5 năm 1935.
4
Biên bản số XII, cuộc họp Ban Quản trị Trung ương ngày
17.2.1935. tập Kỷ yếu số 1 Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Và Biên
bản số XXII, họp Đại hội đồng thường niên Trung ương
Hội Phật giáo Bắc Kỳ, ngày 10 tháng 5 năm 1935 tại chùa
Quán Sứ. Tập Kỷ yếu Hội Phật giáo Bắc Kỳ.
5
Đuốc Tuệ, số 62 ra ngày 15 tháng 6 năm 1937, tr.20.
1
Đi tham cứu trường Phật học ở Huế, Tố Liên, đăng trên
báo Đuốc Tuệ số 45 ra ngày 20.10.1936.
[1]
Biên bản kỳ hội đồng bất thường chư Tăng. Đuốc Tuệ,
số 72 ra ngày 1.11.1937, tr. 43-44; Công đức Thuyền học của
Hội Phật giáo Bắc Kỳ. Đuốc Tuệ, số 90, 1.8.1938, tr. 9
-10.
2 Tờ
trình của Phó Hội trưởng Bùi Thiện Căn tại Đại hội
đồng Hội Phật giáo Bắc Kỳ họp ngày 13.9.1942.
Nguyễn
Đại Đồng
Phật
Tử Việt Nam
04-02-2007
04:56:02