Bài
viết này tập trung giới thiệu những đóng góp của ông trong
việc thống nhất tổ chức Phật giáo Việt Nam, cụ thể là
sự kiện thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951
và Giáo hội Tăng già Việt Nam năm 1952.
1.
Hoà thượng Tố Liên thế danh là Nguyễn Thanh Lai, sinh năm
1903 tại làng Quỳnh Lôi, tổng Kim Liên, huyện Hoàn Long, tỉnh
Hà Đông. Năm 13 tuổi, ông xuất gia làm đệ tử của Tổ
Thanh Tích (chùa Hương Tích, tỉnh Hà Tây). Mặc dù được
chọn làm trưởng pháp tử kế vị chùa Hương Tích, nhưng
với những phẩm chất của một người có chí lớn, ngay từ
khi còn là một thanh niên tăng, ông đã tham học ở nhiều
đạo tràng danh tiếng của xứ Bắc như Đào Xuyên, Tế Xuyên,
Bằng Sở, Vĩnh Nghiêm… Ông cũng từng trụ trì các chùa Côn
Sơn, Thanh Mai([1]).
Hoà
thượng Tố Liên là một trong những người tham gia tích cực
và có đóng góp với sự nghiệp chấn hưng Phật giáo ở Việt
Nam trên nhiều phương diện như: xây dựng cơ sở vật chất,
đào tạo tăng tài, thuyết giảng Phật pháp, cứu tế xã hội,...
Tuy nhiên, bài viết này tập trung giới thiệu những đóng
góp của ông trong việc thống nhất tổ chức Phật giáo Việt
Nam, cụ thể là sự kiện thành lập Tổng hội Phật giáo
Việt Nam năm 1951 và Giáo hội Tăng già Việt Nam năm 1952.
Ngược
dòng lịch sử, như chúng ta đã biết, cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX, Phật giáo ở hầu hết các nước châu Á, trong
đó có Việt Nam, ở trong tình trạng bị suy thoái. Theo Đại
sư Thái Hư - một trong những thủ lĩnh của phong trào chấn
hưng Phật giáo không những của Trung Quốc mà còn của thế
giới, trước khi diễn ra phong trào chấn hưng, có hai “khuyết
điểm” căn bản trong việc phổ cập Phật pháp trong nhân
gian, đó là: tổ chức và truyền bá. Do đó, để phát triển
sâu rộng, Phật giáo nên học theo cách tổ chức và lối truyền
bá của đạo Công giáo([2]).
Ở
Việt Nam, rõ ràng việc chấn chỉnh và thống nhất tổ chức
Phật giáo là một trong những vấn đề trọng yếu mà những
người chủ trương chấn hưng Phật giáo sớm ý thức được
và tiến hành cải cách trước tiên nhằm khắc phục hình
thức tổ chức truyền thống được cho là đã góp phần làm
suy yếu Phật giáo nước nhà.
Ý
tưởng thống nhất Phật giáo toàn quốc xuất hiện ngay từ
đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX. Ở miền Nam, vào ngày 19/9/1923,
nhân giỗ Tổ tại chùa Long Hoà (Trà Vinh), chư tăng đã lập
“Hội Lục Hoà Liên Hiệp” với mục đích xây dựng tình
đoàn kết trong nội bộ nhằm tiến tới lập Giáo hội Phật
giáo cho toàn Việt Nam([3]). Ở miền Bắc, ngay từ năm 1924,
ý tưởng tương tự cũng đã xuất hiện trong suy nghĩ và việc
làm của nhà sư Thích Trí Hải và nhóm thanh niên tăng vùng
Hà Nam và một số tỉnh thành khác ở khu vực đồng bằng
Bắc Bộ. Để làm tiền đề cho việc lập Hội Phật giáo
chung cho toàn quốc, sau 6 năm vận động, nhóm đã thành lập
tổ chức “Lục Hoà Tịnh Lữ” (1929)([4]). Chúng ta cũng không
thể không nhắc đến những ý tưởng chấn hưng và thống
nhất Phật giáo Việt Nam thể hiện một cách sôi nổi và
rộng khắp trên báo chí năm 1927 và đầu năm 1928 với sự
tham gia tích cực của hai nhà sư trẻ là Thích Tâm Lai (miền
Bắc) và Thích Thiện Chiếu (miền Nam)([5]),v.v...
Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau,
nên việc thống nhất tổ chức Phật giáo chung cho toàn quốc
đã không thực hiện được. Do vậy, các hội Phật giáo lần
lượt được thành lập ở 3 miền, bắt đầu từ Nam Kỳ
với Hội Nghiên cứu Phật học Nam Kỳ (1930), ở Trung Kỳ
với Hội Phật học An Nam (1932) và ở Bắc Kỳ với Hội Phật
giáo Bắc Kỳ (1934).
Từ
đây, Phật giáo ở các vùng miền trong cả nước hình thành
một tổ chức theo lối mới, với nhiều điểm khác với lối
tổ chức truyền thống. Chúng tôi tán đồng với ý kiến
của học giả Nguyễn Quốc Tuấn rằng, trước thế kỷ XX,
Phật giáo Việt nói chung không tổ chức thành một "giáo hội"
có thứ bậc theo mô hình nhà nước thế tục: cấp trên cai
quản cấp dưới, tổ chức thứ cấp phụ thuộc vào tổ chức
cao cấp và trung ương. Tổ chức Phật giáo truyền thống tự
tổ chức Tăng đoàn theo tổ đình và sơn môn. Điều này có
nghĩa là có sự bình đẳng trong tu học và thực hành đời
sống đạo. Mỗi tổ đình và sơn môn đào tạo tăng tài riêng
rẽ và có giá trị như nhau. Tất nhiên, vẫn có sự liên hệ
giữa các sơn môn, nhưng đó là sự liên hệ của những đồng
tu, không có sự chỉ đạo nhất quán từ một trung tâm trung
ương. Trong lịch sử nước ta, các triều đình phong kiến,
từ triều Đinh đến triều Nguyễn, đã sắc phong, đặt ngạch
cai quản tôn giáo đối với các vị tu sĩ Phật giáo. Những
nhà sư được phong Tăng Thống, Tăng Cang, hay những cơ quan
như Tăng Lục, tuy nằm trong ngạch hành chính của các nhà
nước quân chủ, nhưng không có nghĩa đó là một trung tâm
đầu não. Những người được phong vẫn chỉ là người đại
diện của giới tu sĩ Phật giáo đối với triều đình, không
phải là người đứng đầu tổ chức giáo hội([6]).
Nhưng
với sự ra đời của các tổ chức Phật giáo ở Việt Nam
đầu thế kỷ XX, mà tiêu biểu nhất là Hội Phật học An
Nam, thì một lối tổ chức giáo hội mới học tập theo mô
hình của đạo Công giáo như Hòa thượng Thái Hư thừa nhận,
đã xuất hiện và làm tiền đề hình thành tổ chức giáo
hội Phật giáo chung cho toàn Việt Nam vào năm 1951.
2.
Nhu cầu thống nhất tổ chức Phật giáo trong toàn Việt Nam
tiếp tục được vận động sau năm 1945. Sự thống nhất
một tổ chức cho toàn quốc là ý thức và là niềm mong mỏi
chung của Phật giáo cả ba miền. Tuy nhiên, nhu cầu thiết
tha này rõ ràng chỉ được đặt ra và tiến hành có hiệu
quả sau hội nghị lần thứ nhất của Phật giáo thế giới
tại Colombo (thủ đô Sri Lanca), từ ngày 26/5 đến ngày 7/6/1950,
thành lập “Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới” (World Fellowship
of Buddhists), mà Việt Nam trở thành trung tâm điểm Phật giáo
địa phương (thành viên chính thức), với những đóng góp
đáng kể của Hoà thượng Tố Liên. Nói cách khác, bên cạnh
một số điều kiện thuận lợi khách quan đương thời, có
thể khẳng định, Hội nghị Phật giáo thế giới lần đầu
tiên là cú hích quan trọng trong việc xúc tiến thành lập
một tổ chức chung của Phật giáo Việt Nam. Bởi vì, Hiến
chương của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới đã nêu rõ:
“Mỗi trung tâm điểm địa phương được lập nhiều chi
nhánh hay thâu lập nhiều tổ chức trong phạm vi địa hạt
của mình, và nhận làm hội viên từng cá nhân một hay toàn
một tổ chức… Bất luận Tăng già hay cư sĩ tại gia đều
được xin gia nhập làm hội viên của trung tâm điểm địa
phương… Tổng hội có thể lập những trung tâm điểm địa
phương ở các nước khác hay là công nhận một tổ chức
hiện hữu nào đó là trung tâm điểm địa phương của một
nước nào đó, nếu xét là hợp nghi, nhưng mỗi nước không
được có hai trung tâm điểm địa phương”(LTĐ nhấn mạnh)([7]).
Trở
về từ Hội nghị Colombo, Thượng toạ Tố Liên, với tư cách
là Trưởng đoàn Phật giáo Việt Nam, thành viên sáng lập
Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới([8]) đã tích cực tiến
hành nhiều hoạt động nhằm thống nhất tổ chức Phật giáo
toàn quốc([9]). Công việc này được tiếp sức thêm bởi
bức thư của ngài J.G. Fernando, Tổng Thư ký Hội Liên hữu
Phật giáo Thế giới (gửi kem theo bản Hiến chương Hội Liên
hữu Phật giáo Thế giới) cổ vũ và động viên Thượng toạ
Tố Liên đứng ra chủ trì việc thành lập trung tâm điểm
cho địa phương Việt Nam. Bức thư có đoạn: "Tôi tin nơi
sự trợ giúp của đại diện hiện có chân và những người
có cảm tình với Hội để thành lập trung tâm điểm địa
phương mau chóng. Bản Hiến chương này sẽ giúp Thượng toạ
trong công cuộc này và nếu cần điều chi rõ hơn, Thượng
toạ đừng ngần ngại mà hỏi ý kiến chúng tôi. Chúng tôi
sẵn sàng tiếp xúc hầu đem lại sự thịnh vượng và tiến
triển cho Hội Phật giáo Thế giới vì lợi ích chung cho nhân
loại"([10]).
Trong
một hội nghị của tổ chức Phật giáo Tăng già Bắc Việt,
Thượng toạ Tố Liên đã phát biểu: “Vì phải theo với
mục đích Hội Phật giáo Quốc tế là thống nhất lực lượng
Phật giáo theo đà tiến triển thì phải thống nhất lực
lượng từng xứ sở sẽ lại đi đến thống nhất toàn quốc
để gia nhập cơ quan thống nhất Phật giáo quốc tế”([11]).
Ngày
9/12/1950 (tức ngày 2 tháng 11 năm Canh Dần), nhân ngày giỗ
Điều Ngự Giác Hoàng - Đệ nhất Tổ Trúc Lâm, Thượng toạ
Tố Liên đã chiêu thỉnh chư tăng tôn đức và các nhà trí
thức tới chùa Quán Sứ để hành lễ và thảo luận chương
trình thành lập Trung tâm điểm Phật giáo thế giới tại
Việt Nam. Sau khi bàn thảo kỹ lưỡng, để công việc thống
nhất Phật giáo toàn quốc được thuận lợi, hội nghị quyết
định thành lập Tiểu ban Nghiên cứu Điều lệ. Trưởng tiểu
ban là Thượng toạ Phạm Đức Nhuận, hội viên gồm: Phạm
Gia Thụy, Phan Huy Quát, Tam Lang, Mai Ngọc Thiệu, Vũ Như Trác,
Lê Văn Thu và Viên Quang([12]).
Cùng
với những hoạt động trên, Thượng toạ Tố Liên đã cho
in bản Hiến chương Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới gửi
đến các tổ chức Phật giáo, các quan chức và đoàn thể
chính quyền, các nhà sư và những người nhiệt tâm với Phật
giáo để trưng cầu ý kiến và ước nguyện hợp tác chặt
chẽ trong việc thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, mà
trụ sở dự kiến đặt tại Hà Nội. Nguyện vọng chính đáng
này đã nhận được sự tán thưởng và ủng hộ từ nhiều
phía.
Về
phía các tổ chức Phật giáo, ở Nam Bộ, Tuyên cáo của Hội
Phật học Nam Việt (thành lập vào 19/9/1950) cho biết: “Đề
xướng việc lập Hội Phật học này (Hội Phật học Nam Việt-LTĐ),
chúng tôi còn có cái thâm ý đi đến chỗ Bắc, Trung, Nam sẽ
bắt tay nhau thành một khối Phật tử quảng đại và thống
nhất trên nguyên tắc cũng như trong hành động”([13]).
Ngày
20 tháng 11 năm 1950, Hội trưởng Lâm thời Hội Phật học
Nam Việt Nguyễn Văn Khỏe đã gửi thư cho Thượng toạ Tố
Liên biểu thị sự tán đồng chủ trương thống nhất Phật
giáo Việt Nam: “... Bao giờ chúng tôi cũng thiết tha mong cho
Phật tử nước nhà cũng như toàn thế giới đoàn kết thành
một khối chặt chẽ có hệ thống và quy củ… Chúng tôi
không dám quên công khó nhọc của Thượng toạ trong việc
xây đắp nền tảng cho Hội Phật giáo Thế giới và nhất
là trong việc làm rạng danh Phật giáo Việt Nam. Thượng toạ
nay có cái trọng trách tổ chức Trung tâm điểm địa phương
Việt Nam, tức là Hội Phật giáo Việt Nam toàn quốc, thì
việc đặt trụ sở của Trung tâm điểm ấy tại Hà Nội,
theo chúng tôi, là một việc dĩ nhiên trong giai đoạn phôi
thai này, vì Thượng toạ cần phải ở gần trụ sở ấy để
xếp đặt mọi việc. Vậy Hội chúng tôi tán thành ý kiến
của Thượng toạ và xin biểu đồng tình việc đặt trụ
sở Trung tâm điểm địa phương Việt Nam tại Hà Thành”([14]).
Còn
ở Trung Bộ, Hội Phật giáo Trung Việt đã gửi thư mời Thượng
toạ Tố Liên vào để thảo luận cụ thể công việc thống
nhất Phật giáo([15]). Tạp chí Viên Âm ra ngày 16/12/1950 đã
đăng bài “Hãy bước tới Phật giáo toàn quốc” mở đầu
có đoạn: “Phải bước tới Phật giáo toàn quốc, thống
nhất Phật giáo, đấy là nguyện vọng từ lâu, nguyện vọng
duy nhất của toàn thể Phật tử xuất gia cũng như tại gia…”.
Về
phía chính quyền, để thể hiện sự ủng hộ, ngài Thủ hiến
Bắc Việt đã phúc đáp Thượng toạ Tố Liên, trong thư có
đoạn: “Trân trọng đa tạ Thượng toạ và xin Thượng toạ
biết cho rằng các cơ quan chính phủ vẫn sẵn lòng ủng hộ
trong mọi trường hợp và về mọi phương diện các hội tôn
giáo theo đuổi mục đích hướng dẫn dân chúng theo chính
đạo”([16]). Ông Nguyễn Trọng Trạc, Giám đốc Sở Thông
tin Bắc Việt thì phát biểu: “Tôi xin dành tất cả sự nhiệt
tâm hưởng ứng và phụ lực vào công cuộc từ bi vô lượng
của Giáo hội và chân thành cầu nguyện cho Giáo hội nước
nhà ngày thêm hưng vượng, tiếng chuông cứu khổ sẽ từ
đất Việt Nam bay ra khắp đó đây”([17]).
3.
Khi nhân duyên đã hội đủ, điều kiện trong nước và quốc
tế đã chín muồi, việc trù bị đã sẵn sàng, ngày 10 tháng
4 năm 1951, các vị trưởng lão đại diện của Phật giáo
ba miền đã ra lời hiệu triệu kỳ họp đại hội đồng
để thành lập Hội Phật giáo thống nhất toàn quốc.
Theo
đúng thời gian trong lời hiệu triệu, hội nghị thống nhất
Phật giáo toàn quốc đã diễn ra trong 4 ngày, từ ngày 6/5/1951
đến ngày 9/5/1951 tại chùa Từ Đàm, Huế. Hội nghị đã
nhất trí thông qua bản Điều lệ, Nội quy của “Tổng hội
Phật giáo Việt Nam”, cũng như hệ thống tổ chức của một
loại hình giáo hội chung cho Phật giáo toàn quốc.
Tại
hội nghị thống nhất Phật giáo toàn quốc năm 1951, Thượng
toạ Tố Liên được bầu làm Uỷ viên Nghi lễ Ban Trị sự
Trung ương. Đến năm 1952, khi Giáo hội Tăng già Việt Nam được
thành lập, ông được cử làm Tổng Thư ký Ban Tổng Trị
sự Giáo hội Tăng già Việt Nam khoá đầu tiên.
Như
vậy, sau nhiều cố gắng nỗ lực chung, trong đó có sự đóng
góp đáng kể của Hoà thượng Tố Liên, đến năm 1951, nhu
cầu thống nhất Phật giáo Việt Nam đã trở thành hiện thực.
Sự thống nhất này tuy chưa được triệt để vì một số
lý do nhưng chủ yếu là do nhiều vùng miền của đất nước
vẫn còn dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhưng đây
là tiền đề và tiền thân quan trọng cho những bước phát
triển Phật giáo Việt Nam các giai đoạn tiếp theo, nhất là
sự thống nhất một cách triệt để vào tháng 11 năm 1981
- sau khi đất nước nước hoàn toàn giải phóng - thành lập
ra một tổ chức duy nhất của Phật giáo Việt Nam là Giáo
hội Phật giáo Việt Nam.
(*)
Thạc sĩ Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Viện KHXH Việt Nam
[1]
Thích Đồng Bổn (chủ biên). Tiểu sử danh Tăng Việt Nam thế
kỷ XX. Tập 1. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh,
1995, tr. 527.
[2]
Hòa thượng Thích Khánh Anh (dịch). Phật Pháp. Trong: 25 bài
thuyết pháp của Thái Hư Đại Sư. Thành hội Phật giáo Thành
phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 23.
[3]
Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Biên niên sử Phật giáo Gia
Định-Sài Gòn-Thành phố Hồ Chí Minh. Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 2001, tr.74.
[4]
Xem: Thích Trí Hải. Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt
Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2004.
[5]
Xem cụ thể: Các bài viết về chủ đề "Chấn hưng Phật
giáo" đăng tải chủ yếu trên tờ Đông Pháp Thời Báo và
Khai Hoá Nhật Báo năm 1927 và đầu năm 1928.
[6]
Nguyễn Quốc Tuấn (chủ nhiệm). Đặc điểm và vai trò của
Phật giáo Việt Nam thế kỉ XX. Đề tài Khoa học cấp Bộ.
Hà Nội 2006, tr. 44.
[7]
Phương Tiện, số 30, Mùng 1 tháng 10 năm Canh Dần (1950), tr.
26.
[8]
Đến hội nghị lần thứ 2 họp tại Tokyo, Nhật Bản, với
uy tín và ảnh hưởng của mình, Thượng toạ Tố Liên được
bầu là Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Hội Liên hữu Phật giáo
Thế giới.
[9]
Thực ra, ngay từ cuối năm 1949, nghĩa là trước khi diễn ra
Hội nghị Phật giáo thế giới ở Colombo, Thượng toạ Tố
Liên, Hội trưởng Hội Tăng ni Bắc Việt, Phó Hội trưởng
Hội Phật giáo Việt Nam đã vào Sài Gòn rồi trở ra Huế
để vận động các tổ chức Phật giáo ở miền Nam và miền
Trung, cùng với các tổ chức Phật giáo ở miền Bắc, thành
lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, một tổ chức Phật giáo
duy nhất trên toàn quốc. Xem: Phương Tiện, số 8, mồng 1 tháng
1 năm Kỷ Sửu (1949).
[10]
Phương Tiện, số 30, mùng 1 tháng 10 năm Canh Dần (1950), tr.
16.
[11]
Phương Tiện, số 27, rằm tháng 8 năm Canh Dần (1950), tr. 37.
[12]
Phương Tiện, số 32-33, mùng 1 - rằm tháng 11 năm Canh Dần
(1950), tr. 40.
[13]
Phương Tiện, số 31, rằm tháng 10 năm Canh Dần (1950), tr. 17.
[14]
Phương Tiện, số 31, rằm tháng 10 năm Canh Dần (1950), tr. 15.
[15]
Xem: Phương Tiện, số 32-33, mùng 1 - rằm tháng 11 năm Canh Dần
(1950), tr. 39.
[16]
Phương Tiện, số 32-33, mùng 1 - rằm tháng 11 năm Canh Dần
(1950), tr. 41.
[17]
Phương Tiện, số 32-33, mùng 1 - rằm tháng 11 năm Canh Dần
(1950), tr. 42.
Lê
Tâm Đắc (*)
Phật
Tử Việt Nam
04-02-2007
04:56:02