Cuộc
chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn
hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và
sẽ bắt đầu tại VN. Những ai sẽ là người có công trong
cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự
đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công
lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go
không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực
mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ
có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn
cho những hoạt động của PG sắp tới.
Kính
thưa chư vị tôn túc và các vị khách quý,
Vào
những thập niên 20 và 30, phong trào chấn hưng Phật giáo đã
dần dần hình thành rõ nét, được cho là bắt đầu ở miền
Nam với nhân vật tiên phong là hòa thượng Khánh Hòa của
chùa Tiên Linh, Bến Tre. Miền Trung nối bước, rồi sau đó
là miền Bắc cũng đi theo. Tuy nhiên, khi đánh giá lại sự
chấn hưng PG của VN, nhiều nhà sử học đã công nhận rằng
tuy miền Bắc khởi sự chấn hưng sau, nhưng đã nhanh chóng
đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, có khi còn hơn cả
2 miền kia nữa. Kết quả đó có được cũng là do công lao
đóng góp của một danh tài PG kiệt xuất là thầy Tố Liên,
khi ấy hãy còn khá trẻ.
Tuy
nhiên trước khi nói về những dấu ấn đặc biệt mà thầy
Tố Liên đã tạo nên trong cuộc chấn hưng PG, ta hãy làm một
cuộc lãng du quay ngược thời gian thêm một chút để nhìn
thấy một nhân vật Nghệ An đã là tác nhân âm thầm cho cuộc
chấn hưng PG của hòa thượng Khánh Hòa, đó là cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Huy.
Nghệ
An đã từng là đất Phật với hàng trăm ngôi chùa, và những
cuộc trỗi dậy chống Pháp từ trong những ngôi chùa đó,
ví dụ như cuộc nỗi dậy của tăng sĩ Vương Quốc Chính
ở Hà Nội có lực lượng tham gia rất đông đảo của PG
Nghệ An. Cụ Nguyễn Sinh Huy, cùng với những bạn bè đồng
chí như Phan Bội Châu, sau này có thêm Phan Chu Trinh, cũng đều
là những người uyên thâm kinh Phật, và đều chủ trương
dùng PG trong công cuộc đấu tranh với Pháp. Sở dĩ các cụ
có tư tưởng đó vì các cụ đã nhận ra vai trò của Ki tô
giáo trong việc xâm chiếm và cai trị VN của Pháp. Vì thế
muốn chống lại sự cai trị của Pháp thì ta cũng phải chấn
hưng lại nền PG nước nhà để gọi là “giữ lại linh hồn”
cho đồng bào trước sự xâm lăng về tín nguỡng của thực
dân Pháp.
Sau
này vào Nam, cụ Nguyễn Sinh Huy đã đến gặp gỡ rất nhiều
các bậc cao tăng để bàn về việc chấn hưng PG. Cụ đã
ghé thăm hòa thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, Bà Rịa; hòa
thượng Chí Thành chùa Phi Lai, Châu Đốc; hòa thượng Khánh
Hòa chùa Tiên Linh, Bến Tre, vân vân… Cụ mất sớm vào năm
1929, nhưng từ đó hòa thượng Khánh Hòa đã phát động cuộc
chấn hưng PG rất thành công. Dĩ nhiên không phải chỉ vì
một cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy hay một hòa thượng Khánh
Hòa có thể tạo nên cuộc chấn hưng PG mạnh mẽ khắp 3 miền
như thế. Chính rất nhiều vị cao tăng tu hành âm thầm rải
rác khắp đất nước đã nuôi dưỡng Phật chất cho các đệ
tử của mình để chờ ngày các vị này đủ duyên đứng
lên gánh vác sứ mệnh chấn hưng PG. Nhưng dù sao cũng đã
có một cái vòng tròn độc đáo từ Nghệ An với Nguyễn Sinh
Huy, Phan Bội Châu, đến Quảng Nam với Phan Chu Trinh, và nổi
lên với Khánh Hòa ở Bến Tre. Rồi từ miền Nam như thế,
phong trào chấn hưng lại chạy ngược ra Huế và các tỉnh
miền Trung, rồi trở ra Hà Nội, để cho một Tố Liên dẫn
đầu đoàn PGVN đi dự đại hội thành lập Hội Liên Hữu
Phật Giáo Thế Giới năm 1950.
Bài
tham luận này không kể lại các hành trạng đặc biệt của
ngài Tố Liên nữa, mà chỉ nhân dịp tưởng nhớ về Ngài,
xin có vài suy nghĩ về vai trò của Giáo hội, Sư tăng và người
tại gia cư sĩ Phật tử trong thời đại hôm nay.
Kính
thưa quý vị,
Sau
khi chứng kiến những việc làm chấn hưng PG rất tốt đẹp
của miền Nam và miền Trung, năm 1934, một số thượng tọa
ở miền Bắc tiêu biểu như sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo
đã đi từ Hà Đông về Hà Nội để vận động thành lập
một hội Phật giáo cho miền Bắc. Các vị tiếp xúc với
các học giả, nhà văn Phật tử có uy tín thời bấy giờ
trước khi phối hợp với các Sư Tăng. Những cư sĩ có tiếng
tăm thời đó như Nguyễn Hữu Kha (hiệu là Thiều Chửu), Nguyễn
Năng Quốc, Trần Trọng Kim (sau này làm thủ tướng thời gian
ngắn), Bùi Kỷ, Cung Đình Bính, Trần văn Giáp, Dương Bá Trạc
(hiện có tên đường ở tpHCM), Nguyễn văn Tố, Nguyễn văn
Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật (Đồ Nam)… đã
tham dự những buổi bàn bạc đầu tiên để đồng ý thành
lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội. Điều đặc biệt là hầu hết
những chức vụ nòng cốt đều do cư sĩ đảm nhiệm, ví dụ
ông Nguyễn Năng Quốc là Hội trưởng, Nguyễn Văn Ngọc và
Nguyễn Quốc Thanh là hội phó… Mặc dù sự vận động ban
đầu là do quý thượng tọa sư tăng, nhưng chức vụ thì lại
do cư sĩ, tuy hòa thượng Thanh Hanh vẫn được bầu làm thiền
gia pháp chủ nhưng chỉ để chứng minh. Hội PG miền Bắc
khác hơn hai miền kia chính là chỗ cư sĩ đảm đương chức
vụ hầu hết. Còn tại miền Trung và miền Nam thì tỉ lệ
giữa sư tăng và cư sĩ là không chênh lệch mấy. Ta có cư
sĩ Lê Đình Thám ở miền Trung, Mai Thọ Truyền ở miền Nam,
và nhiều vị cư sĩ đặc sắc cũng đã góp phần trong những
ngày đầu chấn hưng PG. Như cư sĩ Lê Văn Định làm hội
trưởng Hội VN Phật học ở Huế từ ngày đầu tiên đến
3 niên khóa liên tiếp. Hoặc bác sĩ Nguyễn văn Khỏe làm hội
trưởng Hội Phật học Nam Việt từ khi thành lập năm 1950
cho đến năm 1952 thì giao lại cho thượng tọa Quảng Minh.
Đến năm 1955 thì ông Mai Thọ Truyền lại đảm nhiệm hội
trưởng cho đến khi mất năm 1973.
Sau
này, vì cảm thấy việc cư sĩ lãnh đạo Hội PG có vẻ bất
tiện nên năm 1949 thượng tọa Tố Liên đã vận động thành
lập Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt để dành riêng cho
sư tăng bên cạnh Hội Phật Giáo chung cả sư tăng và cư sĩ
do cụ Bùi Thiện Cơ làm hội trưởng. Đến năm 1951 thì thượng
tọa Mật Ứng được suy tôn làm Thiền gia Pháp chủ của
Hội Tăng Già Bắc Việt. Ở trong miền Nam và miền Trung, sự
lãnh đạo các tập đoàn PG cũng chuyển dần sang các vị xuất
gia một cách tương tự.
Hiện
nay thì hầu hết các chức vụ lãnh đạo trong Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam đều do Sư Tăng đảm trách, rất khác với những
ngày ban đầu chấn hưng PG. Người bây giờ khó hình dung được
tại sao lại có cái thời mà cư sĩ làm hội trưởng PG như
thế. Nhưng việc gì cũng có cái lý do của nó.
Sở
dĩ cư sĩ lại nhận những chức vụ nòng cốt trong buổi đầu
thành lập Hội Phật Giáo chỉ bởi vì ai cũng nhận thấy
rằng đó là những cư sĩ nhiệt thành, có đạo đức, có
trình độ, có kiến thức Phật học, có uy tín, và nhất là
có kinh tế gia đình ổn định. Trong khi đó sư tăng thì ít
người, chỉ quen ẩn tu, chưa quen xông xáo đối mặt với
chính quyền, luật pháp và xã hội…, thậm chí sư tăng cũng
ít có trình độ uy tín thuộc về xã hội. Nếu nói theo phạm
trù Phật giáo thì sư tăng có thể có đức hơn cư sĩ, nhưng
cư sĩ đã có phúc hơn sư tăng, ít ra trong giai đoạn như thế.
Ta
cũng dễ thấy những điều tương tự khi có người cư sĩ
nào đó thân tình với chùa, chăm lo cho chùa, có uy tín với
bổn đạo, lâu ngày cũng được giao cho các nhiệm vụ quan
trọng trong chùa như Thủ quỹ, giữ kho, thư ký, tri khách,
trưởng ban hộ tự, vân vân… Ngày đó cũng vậy, chính hoạt
động đầy hiệu quả từ trước của các cư sĩ với chùa
và với xã hội đã khiến cho sư tăng cũng phải chấp nhận
cho cư sĩ giữ chức vụ cao hơn mình trong Hội PG như thế.
Tình
trạng đó không kéo dài được lâu vì khi sư tăng bước vào
hoạt động tận tâm thì bỗng nhiên mọi người lại nhận
ra rằng thực sự đã có những vị sư tăng đầy đủ tài
đức có thể lèo lái con thuyền PG tiến tới một cách vững
vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta chính là một trong những
hình ảnh đẹp ngời như thế.
Những
bài viết liên tiếp trên báo Đuốc Tuệ đã dần dần định
hướng cho đường lối hoạt động của Phật Giáo VN, chuẩn
bị cho một cuộc bùng phát mạnh mẽ của PG trên nhiều phương
diện. Khi nhiều người say đắm các kinh Đại thừa với tư
tưởng Chân Không, thầy Tố Liên đã nhắc nhở họ về ý
niệm Nhân Quả như là sự cân bằng giữa Không và Hữu; khi
nhiều người quen niệm Phật cầu vãng sinh thì Thầy lại
nhắc nhở hạnh nguyện dấn thân phụng sự cho đời, và xem
niệm Phật cũng là cách để nhiếp tâm như Thiền vậy; khi
mà các tự viện chỉ biết hướng về sơn môn tổ đình của
riêng mình thì Thầy lại nhắc nhở tất cả hãy hướng về
một Hội Phật Giáo chung để tập hợp sức mạnh chấn hưng
PG.
Thầy
đã vào Huế đàm đạo với các vị tôn túc và cư sĩ Lê
Đình Thám nhằm học hỏi ở chư Tăng Huế những điều cần
thiết áp dụng vào miền Bắc, trong đó Thầy đã ủng hộ
việc thành lập đoàn thể Gia Đình Phật Hóa Phổ như một
môi trường tập hợp lớp trẻ Phật tử để giáo dục dần
dần. Rất nhiều rất nhiều những hoạt động của Thầy
về từ thiện xã hội, cứu đói năm 1945, giáo dục bình dân,
nuôi dưỡng trẻ mồ côi, hoặc giáo dục Tăng Ni, mở rộng
Hội Phật giáo về các tỉnh đều khiến cho uy tín của sư
tăng ngày càng nổi trội so với cư sĩ. Vì thế, theo luật
Nhân Quả, từ đó vai trò của sư tăng cũng đương nhiên vượt
lên cao hơn rất nhiều trong mắt mọi người.
Nhưng
không vì thế mà Thầy xem nhẹ vai trò của cư sĩ. Những công
tác Phật sự tiếp theo, ngay cả những chuyến đi xuất ngoại
họp với Phật giáo Thế giới, Thầy vẫn đề nghị danh sách
cư sĩ tham dự với tỉ lệ cao. Điển hình là trong chuyến
đi năm 1952 đến Tokyo Nhật Bản, Thầy đã lập danh sách xin
phép xuất cảnh với chỉ 03 sư tăng là Tố Liên, Trí Quang,
Quảng Minh, nhưng với 08 cư sĩ đi kèm.
Như
ta biết, theo định nghĩa về Sangha, Tăng già, đó là một
cộng đồng của những người xuất gia theo Phật, sống hiền
lành thương yêu nhau để cùng tu hành cho lý tưởng giác ngộ
giải thoát.
Định
nghĩa như vậy thích hợp cho những cộng đồng nho nhỏ vừa
phải, ở chung một địa điểm. Còn khi nhiều cộng đồng
sư tăng ở nhiều nơi muốn tạo mối quan hệ mật thiết với
nhau để hỗ trợ nhau, để giữ giềng mối Phật Pháp đồng
nhất khắp nơi thì buộc ta phải phát triển thành một Giáo
Hội Congregation, hoặc ta phải hiểu Sangha theo một khái niệm
lớn hơn nữa.
Một
hình thức Sangha tự phát theo dòng phái sơn môn vẫn luôn luôn
tồn tại, theo đó, từ một vị thầy có uy tín, nhiều đệ
tử nối tiếp tỏa ra nhiều nơi để trụ trì và giáo hóa,
nhưng vẫn giữ mối quan hệ sơn môn khắng khít với nhau.
Việt Nam tồn tại rất nhiều hình thức Sangha sơn môn như
vậy. Tuy nhiên, Sangha sơn môn kiểu này không ổn định vì
tùy thuộc vào uy đức để lại của vị tổ ban đầu. Có
những dòng phái truyền thừa rất lâu như phái Liễu Quán
phát tích từ Phú Yên; nhưng cũng có những dòng phái tắt
sớm vì không có đệ tử xuất gia tiếp nối.
Nhiều
dòng phái sơn môn kiểu đó, nếu không được tổ chức lại
thì gây nên sự phân hóa cho toàn bộ Phật giáo. Những ai
có lòng với cơ đồ chung của Phật giáo đều phải trăn
trở cho sự hợp nhất tổ chức tất cả sư tăng thành một
mối của Giáo Hội, mà những bậc tôn túc ngày đầu chấn
hưng PG đều nhắm đến. Thầy Tố Liên cũng là người đau
đáu vận động tổ chức cho sự hợp nhất toàn bộ sư tăng
PG như thế.
Đến
đây ta lại phát hiện ra một quy luật khác. Hầu như tổ
chức giáo hội thì lấy địa phương hành chính làm đơn vị,
chia ra từng tỉnh, huyện; nhưng sơn môn dòng phái thì lấy
chùa làm đơn vị, mà chùa của sơn môn thì chạy khắp chỗ
theo duyên, chẳng có theo trật tự hành chính gì cả. Thế
là từ khi có Giáo hội, ta có 2 tổ chức song song tồn tại,
một theo đơn vị hành chính quốc gia, một theo sơn môn dòng
phái. Các chùa vẫn vui vẻ chấp nhận mình được quản lý
bởi cả hai hệ thống như thế, một bên là Giáo hội chung
lớn lao hơn, một bên là tình nghĩa tổ thầy. Các chùa vẫn
vui vẻ làm các bổn phận mỗi khi có sự yêu cầu từ các
hệ thống quản lý đó.
Theo
quy luật của Nhân Quả và cuộc sống, ta thấy rõ ai là người
ban bố giúp đỡ thì tất nhiên sẽ đứng vai trò cao hơn.
Mối tương quan giữa sư tăng và cư sĩ cũng chịu sự chi phối
của quy luật đó.
Cư
sĩ là người giúp đỡ về tài vật cho sư tăng nên rất dễ
trở nên có tiếng nói nhiều ảnh hưởng đối với sư tăng,
nếu, ta nhấn mạnh chữ nếu, nếu sư tăng không có đạo
lý gì để ban bố làm gương trở lại cho họ. Từ một số
sư tăng âm thầm lặng lẽ rải rác trong các tự viện xa xôi
không gây ảnh hưởng gì nhiều cho quần chúng, bất ngờ,
qua cuộc chấn hưng PG, một số vị xuất sắc bước ra và
trở thành sáng chói, thu phục được sự nguỡng mộ của
quần chúng. Thế là, từ một PG với vai trò cư sĩ nổi trội
đã biến thành một Hội PG với vai trò sư tăng lãnh đạo
vững vàng. Chính thầy Tố Liên mới 47 tuổi đã được đưa
lên làm chủ tịch Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt năm 1949
cũng bởi vì bản lĩnh trí tuệ của Người thật sự chinh
phục lòng kính nể của đại chúng.
Sau
này nhiều Tăng Ni được học hành đàng hoàng nên nhân sự
cho Giáo hội không thiếu, và Giáo hội hầu như được điều
hành bởi Tăng Ni. Ai cũng cho như vậy là ổn định cả nên
không thắc mắc gì. Nhưng nếu xét xa hơn một chút ta sẽ
thấy vấn đề không đơn giản.
Kể
từ cuộc chấn hưng PG miền Bắc cho đến tận ngày hôm nay,
ta vẫn hoàn toàn không nghe nhắc đến PG khu vực Tây Bắc.
Ta đã bỏ trống khu vực đó quá lâu. Một số tôn giáo nguy
hiểm đang ráo riết truyền bá lôi kéo tín đồ ở đấy và
đe dọa an ninh chính trị cả khu vực. Bây giờ có muốn phát
triển PG về hướng đó, ta cũng không đủ Tăng Ni đảm đương
công việc. Một vài Tăng Ni có phát tâm về vùng xa thì không
được các vị tôn túc của Giáo hội động viên giúp đỡ
nên hiệu quả chưa cao. Chùa ở đô thị hay vận động tài
chánh để trùng tu xây cất lớn, nhưng ít có vị nào vận
động tài chánh để ủng hộ cho Tăng Ni đang hoằng hóa ở
vùng xa.
Không
khác gì Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên Trung Bộ cũng đang thiếu
Tăng Ni dấn thân hoằng hóa. Một vài vị phát tâm về vùng
xa thì lại không được cả Giáo hội lẫn chính quyền địa
phương nâng đỡ nên gặp rất nhiều khó khăn đến nỗi có
người phải bỏ về lại thành thị.
Nói
chung, PG chưa “phủ sóng” toàn bộ mọi miền đất nước,
và trách nhiệm trước hết thuộc về Giáo Hội. Cuộc chấn
hưng PG thời bấy giờ chưa đặt nền tảng đầy đủ cho
sự phát triển PG đến tận những biên giới xa xôi. Ta không
thể trách các vị tôn túc thời đó được vì hoàn cảnh
đất nước ta khi đó chưa cho phép, mặc dù các vị đã tận
tâm toàn ý cả, mặc dù các vị đã rất bản lĩnh vững vàng.
Thầy Tố Liên của chúng ta ngoài việc phải lo xây dựng Giáo
hội buổi đầu, phải lo liên kết với PG hai miền trong kia,
phải lo thêm công việc đối với Phật Giáo Thế Giới, phải
lo hoạt động từ thiện xã hội, phải lo ủng hộ cuộc kháng
chiến của cả dân tộc… Nói chung Người đã quá tận tụy,
đã quá tuyệt vời, ta không thể đòi hỏi gì thêm nữa.
Bây
giờ ta phải đòi hỏi chính chúng ta. Ta phải làm gì để
nối tiếp công lao của các vị tôn túc thời đó đã khổ
công làm công cuộc chấn hưng PG như thế? Ta phải làm gì
để con cháu ta sau này được hưởng một nền Phật Pháp
tốt đẹp nhất?
Trong
các vấn đề ta đặt ra, có vấn đề nhân sự là cơ bản
nhất. Thiếu yếu tố con người là thiếu tất cả. Không
có người lo việc cho Giáo Hội thì Giáo Hội là vô nghĩa.
Muốn có nhân sự đầy đủ thì ta phải chăm lo việc giáo
dục, hoằng pháp, song song với việc tổ chức thực hành tu
tập cho mọi người từng bước chiến thắng tham sân si trong
tâm hồn mình. Có học đạo lý rồi, có được tu tập rồi,
ta còn phải tạo điều kiện cho người được bắt tay làm
các công đức để tăng trưởng phúc duyên nữa.
Ba
điều đó, học, thực hành, và gây tạo công đức khiến
cho một người lớn mạnh trưởng thành đúng nghĩa trong giáo
pháp của Như Lai. Từ đó ta mới có nhân sự giỏi để chung
lo việc Phật Pháp.
Nhân
sự ta muốn nói ở đây là cả sư tăng lẫn cư sĩ. Chuyện
Phật Pháp mênh mông, Tăng Ni không đủ để đáp ứng toàn
bộ, mà phải trông cậy rất nhiều vào lực lượng cư sĩ.
Nhưng muốn cư sĩ tham gia gánh vác chuyện Phật Pháp thì ta
phải quan tâm một số điều.
Cư
sĩ rất bận rộn lo việc gia đình và xã hội nên chỉ những
cư sĩ nào rất có tâm, rất có điều kiện mới có thể tham
gia hoạt động Phật sự. Cái Tâm nhiệt thành đó có được
là do hiểu sâu đạo lý. Ai hiểu sâu đạo lý của Phật rồi
đều sẽ trở nên nhiệt thành lo cho Phật Pháp cả. Giúp cho
cư sĩ hiểu sâu đạo lý là trách nhiệm muôn đời của Giáo
Hội Tăng Ni.
Còn
cái điều kiện mà ta nêu ra chính là thời gian, trí tuệ và
tài vật. Nhưng ta cũng muốn nói về tài vật nhiều hơn. Cư
sĩ có thoải mái về kinh tế thì mới giúp chuyện Phật Pháp
được. Ta sẽ đổ thừa cho Nghiệp Duyên đời trước nên
bây giờ người ta phải chịu nghèo hay giàu như thế. Thật
ra nếu tất cả Phật tử biết giúp nhau làm ăn thì kinh tế
ai cũng sẽ khá lên cả. Và cơ hội để góp sức cho hoạt
động Phật sự sẽ có nhiều hơn. Muốn cho tất cả Phật
tử biết tử tế giúp nhau sinh kế thì lại cũng là trách
nhiệm của Giáo Hội Tăng Ni. Tăng Ni phải giáo dục cho Phật
tử biết giúp nhau làm ăn, làm giàu, vì đó là thiện nghiệp
rất lớn sẽ đem đến quả phúc rất bền bĩ.
Rốt
cục lại, để cho cư sĩ có tâm và có điều kiện cũng đều
phải do Tăng Ni giáo hóa cả.
Khi
cư sĩ có thể tham gia rồi thì vấn đề còn lại là công
việc tổ chức, phân công, tập huấn, kiểm tra, điều chỉnh,
khen thưởng vân vân…
Ta
sẽ phân ra làm hai hạng cư sĩ trong đạo Phật. Một hạng
cư sĩ quy y Tam Bảo nhưng không gắn bó với Giáo Hội để
làm Phật sự. Một hạng cư sĩ gắn bó với Giáo Hội để
tham gia Phật sự, chịu khuôn phép, biết vâng lời, gắng tu
tập.
Chính
hạng thứ hai này là chỗ dựa rất đắc lực cho Giáo Hội.
Giáo hội phải có một chính sách thích hợp để tập hợp
những cư sĩ ưu hạng này, để phát huy năng lực của hạng
cư sĩ này trong việc hoạt động Phật sự và truyền bá chính
pháp. Khi cư sĩ qua một thời gian “thử việc”, có thể
gắn bó lâu dài với Giáo Hội để làm Phật sự, biết vâng
lời, có đạo đức, chịu khuôn phép, họ cũng phải được
cấp thẻ Cư sĩ Hộ đạo chính thức, giống như Tăng Ni được
cấp Giấy Tăng Tịch (Chứng nhận Tăng Ni). Hoặc là họ được
thầy trú trì tại chùa bảo đảm để được Giáo Hội cấp
giấy, hoặc là họ được chức sắc của Giáo Hội bảo đảm
cho cấp giấy. Những ai có thẻ Cư sĩ Hộ đạo này thì cũng
được quyền bỏ phiếu bầu trong những kỳ bầu cử của
Giáo Hội. Giáo Hội có thể tổ chức thi cử kiểm tra trước
khi cấp thẻ, giống như phần sát hạch Tăng Ni giới tử trước
khi quyết định cho đăng đàn thọ giới vậy. Họ cũng phải
dự lễ phát nguyện dõng mãnh trước Phật để làm một Cư
sĩ Hộ đạo chân chính suốt đời, với bao nhiêu lời nguyện,
bao nhiêu quy luật mà Giáo Hội đưa ra.
Phật
giáo VN không thích hợp có hình thức Tân Tăng, nhưng rất
thích hợp có hình thức Cư sĩ đặc biệt này cùng tham gia
gánh vác Phật sự và hoằng truyền chính pháp. Con số Cư
sĩ đặc biệt này cần phải đông gấp 10 lần Tăng Ni, hoặc
nhiều hơn càng tốt. Sở dĩ ta đưa ra con số này vì dựa
trên ý nghĩa Tăng Ni là người chỉ đạo tổng quát, còn Cư
sĩ là người thực hiện. Một người xuất gia có thể lãnh
đạo mười người Cư sĩ như thế, tính theo tỉ lệ trung
bình.
Hiện
nay Giáo Hội chưa đủ sức cúng dường cho Tăng Ni hàng tháng
để hỗ trợ việc tu học và làm Phật sự của Tăng Ni, nên
cũng chưa đủ sức trợ cấp sinh hoạt phí cho Cư sĩ. Ai cũng
đang phải nỗ lực tự thân để vừa lo cho mình vừa lo cho
việc chung, thậm chí nhiều Cư sĩ vừa tham gia hoạt động
Phật sự vừa còn phải lấy tiền cúng dường cho chùa nữa.
Tấm lòng đó thật đáng ca ngợi; công đức đó chắc chắn
được Tam Bảo chứng minh. Nhưng ta vẫn mơ ước ngày kia Giáo
Hội có được ngân quỹ dồi dào để có thể cung cấp cho
các chùa, có thể trợ cấp cho các Cư sĩ đã dành hầu hết
thời gian lo cho Đạo.
Vào
những ngày đầu của công cuộc chấn hưng PG, bác sĩ Lê Đình
Thám cùng với các cộng sự của mình có lập ra hình thức
Gia Đình Phật Hóa Phổ để tập hợp giáo dục các thanh thiếu
niên Phật tử, sau này gọi là Gia Đình Phật tử. Chính thầy
Tố Liên của ta cũng khen ngợi hình thức này và cho triển
khai ở Hà Nội, Hải Phòng. Tổ chức GĐPT này đã làm nên
nhiều công lao đối với sự nghiệp chung của Phật giáo VN.
Tuy nhiên, chính hệ thống dọc với các cán bộ huynh truởng
độc lập đã làm cho tổ chức này dần dần trở nên xa rời
Giáo Hội và Tăng Ni, thậm chí các giáo trình giảng dạy của
Tổ chức đã yêu cầu các đoàn sinh phải vâng lời huynh truởng
hơn cả Tăng Ni, và cũng tự ý so sánh cấp hàm của mình tương
đương với giáo phẩm thượng tọa, hòa thượng. Những khuynh
hướng kiêu mạn ngấm ngầm đó bây giờ để lại di chứng
khó chịu đối với toàn bộ nền Phật Pháp chung.
Rút
kinh nghiệm về GĐPT trên, ta sẽ tổ chức lực lượng Cư
sĩ Hộ đạo không có hệ thống dọc riêng biệt, Cư sĩ nào
có duyên với chùa nào thì sẽ chịu sự lãnh đạo của chùa
đó. Trụ trì sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động của
Cư sĩ do mình lãnh đạo. Chức sắc nào bảo đảm cho Cư sĩ
tham gia hoạt động thì sẽ chịu trách nhiệm về Cư sĩ đó.
Muốn
cho Cư sĩ hoạt động ổn định lâu dài, Giáo hội và các
chùa cũng phải sắp xếp cho Cư sĩ được tu và học có chiều
sâu dần dần. Không ai có thể làm việc Phật mà thiếu đạo
lực được. Thiếu đạo lực tu hành, ta sẽ làm Phật sự
với đủ thứ tham sân si, hơn thua, mưu tính, danh lợi, hiềm
hận, bè phái, bị mua chuộc vân vân… Ngay cả Tăng Ni mà
thiếu tu thiếu học thì cũng sẽ giống như vậy mà thôi.
Định
nghĩa lại cho chính xác thì Giáo Hội chính là môi trường
để đệ tử Phật nương tựa nhau, giúp đỡ nhau tu hành và
truyền bá chính pháp. Giáo Hội chỉ là phương tiện cho một
cứu cánh cao hơn, đó là tu hành và hoằng hóa. Nhưng trong
thực tế, sau nhiều công sức vất vả để tổ chức được
Giáo Hội, nhiều vị đã xem Giáo hội là cứu kính mà bỏ
quên mất cứu kính thật sự chính là tu hành và hoằng hóa.
Thế rồi hàng loạt các sai lầm xuất hiện khi các ngài phân
biệt giáo hội, cố chấp chức vụ của giáo hội, sẵn sàng
nghe theo sự xúi giục của ngoại bang nếu họ hứa hẹn ủng
hộ giáo hội của các ngài, thậm chí các ngài hành xử y
như thế gian với đủ thủ đoạn thêu dệt, gian dối, vu khống…
Khi
bắt tay chấn hưng PG, buộc các vị tôn túc phải tổ chức
giáo hội vì có giáo hội rồi thì Tăng Ni và Phật tử mới
có môi trường tu hành, làm việc, học tập, và có tiếng
nói đáng kể với xã hội. Nhưng rồi không khéo Giáo hội
sẽ trở thành một sự cố chấp mới, một trở ngại mới
nếu chúng ta quên đi ý nghĩa đích thực của giáo hội là
gì. Ngày nay có một số vị chức sắc cũng lợi dụng chức
vụ của mình để tham nhũng gây phiền hà cho các chùa. Họ
quên mất Giáo hội chỉ là công cụ cho mục tiêu tu hành hoằng
hóa. Nếu nhớ rằng giáo hội chỉ là công cụ, là môi trường
cho một mục đích cao cả hơn, đó là giúp nhau tu hành và
hoằng hóa thì các vị chức sắc lãnh đạo Giáo hội phải
ra sức giúp đỡ Tăng Ni và Phật tử đi theo mục đích đó,
giúp cho Tăng Ni Phật tử cảm nhận được tình thuơng yêu
đồng đạo ấm áp thân thương. Cũng như Giáo hội sẽ đứng
vai trò trung gian điều phối các chùa giúp đỡ hỗ trợ nhau
trong việc tu hành hoằng hoá, khiến cho Phật giáo trở nên
gắn bó hòa hợp đúng như lời Phật dạy.
Ta
có 2 cực đoan cần phải tránh trong quan niệm về Giáo hội.
Thứ nhất, quan niệm cho rằng mục tiêu chính là tu hành nên
nếu ai đủ sức tự tu thì không cần phải gắn bó với Giáo
hội. Thứ hai, cố chấp Giáo hội như là cứu cánh đến nỗi
không còn xem việc tu hành là quan trọng nữa.
Cực
đoan thứ nhất, không cần gắn bó với Giáo hội, lại cũng
là biểu hiện của sự yếu kém đạo lực. Nếu người tu
mà không thể sống hòa hợp với nhau được thì phải biết
có cái gì trục trặc trong kiến giải đạo lý tu hành. Một
trong những biểu hiện của đạo lực chính là sống hòa hợp
với nhau dễ dàng. Sống với nhau không vui vẻ hòa ái tức
là có cái gì sai với đạo lý Phật dạy, cần phải điều
chỉnh lại.
Cực
đoan thứ hai, xem Giáo hội là tất cả, lại là một cố chấp
khác, thường hiện hữu nơi những người có chức sắc của
giáo hội, tồn tại nơi những ai đã dày công xây dựng giáo
hội. Họ xem tổ chức giáo hội chính là tất cả Phật Pháp,
xem tên gọi giáo hội là cao quý hơn cả, cố chấp tẳn mẳn
tỉ mỉ từng quy định để bảo vệ sự thực hữu của giáo
hội. Đó cũng là biểu hiện của một nội tâm sai lệch đạo
lý, chưa thành tựu được công phu hàm dưỡng nội tại.
Công
cuộc chấn hưng PG của những vị tôn túc như Hòa thượng
Tố Liên từ những thập niên đầu thế kỷ 20 đã để lại
những dấu ấn mạnh mẽ trên sự phát triển của Phật Pháp
đến tận hôm nay, cả 3 miền Nam Trung Bắc, nhưng thật sự
thì đã có sự trở ngại chứ không phải là liên tục. Trong
miền Nam, qua thời kỳ Ngô Đình Diệm với chủ trương làm
suy yếu PG, rồi qua thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu vẫn nối tiếp
sách lược của Diệm (mà tác giả Đỗ Mậu đã cho rằng
Thiệu cũng chính là Diệm dù không có Diệm), PG đã bị cản
trở rất nhiều.
Riêng
miền Bắc với việc dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh giải
phóng thống nhất đất nước, đồng thời với hệ tư tưởng
Marxism thiên về Duy vật, cũng không thích hợp cho các sinh
hoạt của PG. Dù hòa thượng Tố Liên yêu nước và nhiệt
thành với đạo, với bối cảnh như thế Người cũng đành
phải lui về nghỉ ngơi, rồi thanh thản ra đi năm 1977.
Ngày
hôm nay bỗng nhiên hoàn cảnh biến đổi kỳ lạ. Đảng Cộng
Sản Việt Nam tiến hành đổi mới, đưa đất nước đi từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững an ninh chính
trị, nâng cao tăng truởng kinh tế, nâng cao vị thế uy tín
của VN trên trường quốc tế, phát triển dân chủ và đời
sống cho nhân dân, công nhận giá trị của đạo Phật đối
với văn hóa và tinh thần dân tộc, đã khích lệ cho PG một
sự tiến bộ mới… Rồi các tôn giáo với sách lược truyền
bá ồ ạt để thu hút quần chúng để có thể biến thành
lực lượng chính trị đã gây áp lực lên PG phải có một
cuộc chấn hưng lần thứ hai nếu không muốn bị gạt ra khỏi
đời sống xã hội.
Hai
yếu tố đó đã thúc đẩy PG phải chuẩn bị làm một điều
gì đó, rất kỳ diệu, để phát triển PG sang một tầm cao
mới, xứng đáng là một tôn giáo của nhân loại như Einstein
đã ca ngợi.
Cuộc
chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn
hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và
sẽ bắt đầu tại VN.
Những
ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ
hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ
tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc
chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì
các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không
muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi
để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của
PG sắp tới. Tuy nhiên ta có quyền hy vọng rất nhiều.
Xin
cám ơn chư tôn và quý khách đã chú ý theo dõi. Xin chúc quý
vị vô lượng an lạc.
Thích
Chân Quang
Phật
Tử Việt Nam
03-29-2007
08:56