Giáo
hội Phật giáo Việt Nam mới, phải là một giáo hội đủ
mạnh về tiếng nói ở trung ương, có sức thuyết phục các
tổ chức khác qui tụ về mình, đủ quyền lực với cơ sở
Phật giáo hạ tầng, để làm lợi ích cho nhân sinh xã hội
và đem lại an lạc giải thoát cho Phật giáo đồ.
1.
Sự trao đổi sinh viên giữa các miền để giao lưu kiến
thức và học tập lẫn nhau.
Bối
cảnh là trường đại học Phật giáo đầu tiên năm 1936 tại
Phật học đường Tây Thiên Di Đà do Sơn môn Tăng già Huế
tổ chức, Hòa thượng Phước Huệ chủ giảng. Khóa học này
có sự trao đổi sinh viên đầu tiên của ba miền. Miền Bắc
có các vị Tâm Ấn, Tâm Chính, Tâm Thông, Thanh Thùy, Tố Liên…
Miền Nam có các vị Thiện Hòa, Thiện Hoa, Bửu Ngọc, Trí
Tịnh, Hành Trụ… Chính sự trao đổi sinh viên đầu tiên
này, mà các vị tăng tài xuất chúng lãnh đạo giáo hội ngày
nay đều ra trường từ lớp đại học đầu tiên của thời
kỳ chấn hưng Phật giáo đó.
Sau
khi tham cứu các chương trình Phật học ở Huế về, Ngài
Tố Liên đã viết: “Tôi nghe nói trường Phật học ở Huế
có cả triết học Đông Tây, nếu ngoài Bắc ta có mở trường
Phật học cũng nên theo chương trình Phật học ở Huế, rồi
tùy cơ châm chước mà giáo huấn thì Phật học hiện hữu
mới được tiến đạt” (Đuốc Tuệ số 40 ngày 20.9.1936).
Từ bối cảnh ngày xưa mà nhìn về sự nghiệp đào tạo tăng
tài ngày nay. Ta thấy cần rút ra những điều để học tập:
- Hiện
cả nước có 4 trường đại học Phật giáo, trải dài cả
ba miền Bắc Trung Nam và mới đây là trường đại học Phật
giáo Cần Thơ dành cho chư tăng Nam Tông Khmer, nhưng chương
trình giảng dạy còn chênh lệch nhau khá xa. Tại sao ta không
tổ chức trao đổi giáo trình cho thống nhất? Tại sao ta không
cho sinh viên tự do lựa chọn trường để học? Tại sao ta
không trao đổi giảng viên giáo thọ để giá trị đào tạo
của trường ngày một nâng cao? Ngài Tố Liên đã đi trước
chúng ta một bước về mặt giao lưu hội nhập, đó là nền
tảng cho sự thống nhất Phật giáo lâu dài.
- Sự
phát triển tất yếu của khoa học và nhu cầu tiếp cận văn
hóa giáo dục phổ thông của xã hội, đòi hỏi hệ thống
giáo dục Phật giáo phải cập nhật hóa chương trình đào
tạo, sao cho ngang tầm thời đại và bắt kịp các lĩnh vực
nhạy cảm của nhu cầu xã hội đặt ra cho tôn giáo. Ngài
Tố Liên thời đó là một thanh niên Tăng, đã có những trăn
trở và ước vọng về xã hội hóa Phật giáo. Mà muốn xã
hội hóa Phật giáo, trước hết hàng ngũ thanh niên Tăng phải
cập nhật được kiến thức xã hội, mới có thể bước
chân ra khỏi đại dương mà hội nhập vào thế giới. Ta thấy
qua các bài viết của ngài đăng trong Đuốc Tuệ số 34 “Thanh
niên Tăng chúng tôi với Phật học”; số 42 “Cái buồn chung
của Tăng giới thiếu niên trụ trì”. Chính vì nỗ lực cho
mục đích ấy, mà sau này ngài được các tổ chức Phật
giáo Việt Nam cử làm đại biểu đi tham dự Hội nghị Phật
giáo thế giới tổ chức tại Colombo, đem về lá cờ Phật
giáo cho nước ta với tư cách thành viên quốc tế.
2.
Lá cờ Phật giáo và pháp nhân của Phật giáo Việt Nam
trên trường thế giới.
Lá
cờ ngũ sắc của Phật giáo đã là một biểu tượng chung
cho tất cả các quốc gia Phật giáo trên toàn thế giới, kể
từ ngày 7 tháng 6 năm 1950 với 26 nước thành viên, mà Việt
Nam là một thành viên sáng lập với chức danh đầu tiên là
Phó Chủ tịch hội Phật giáo thế giới của ngài Tố Liên.
Điều đáng tự hào ở đây, chính ngài Tố Liên là người
soạn thảo chương trình trù bị cho hội nghị, khíến cả
hội nghị đều kính nể đại biểu Việt Nam ăn nói hoạt
bát hơn hết (1). Ngày lịch sử của giáo kỳ Phật giáo thế
giới lần đầu tiên treo phất phới tại chùa Quán Sứ là
vào ngày lễ Phật đản mồng Tám tháng Tư năm Tân Mão (13.05.1951).
Chúng
ta thấy rằng, lá cờ Phật giáo ấy đã được Phật giáo
nước ta chấp nhận kể từ ngày ấy, trước khi Tổng hội
Phật giáo Việt Nam được chính thức thành lập ngày 09. 05.
1951 gồm 51 đại biểu khắp cả ba miền Bắc Trung Nam. Thế
thì, giáo kỳ này đã đương nhiên đã là giáo kỳ của các
tổ chức Phật giáo Việt Nam từ đó trở về sau, chứ không
phải là của riêng một tổ chức Phật giáo nào khác ngoài
lãnh thổ Việt Nam tự nhận đó là của riêng mình hoặc phủ
nhận nó không là của mình. Lịch sử đã chứng minh sự kiện
này bởi công lao của ngài Tố Liên, đem về một điểm son
rạng rỡ cho lịch sứ Phật giáo Việt Nam kể từ ngày ấy.
Thế
thì có gì là trở ngại mà khiến một thời gian dài, lá cờ
này lại bị vắng bóng ở nơi địa phương đã treo nó đầu
tiên? Mọi việc dẫu đã qua rồi theo thời gian do ý thức
hệ khác nhau, nhưng giờ đây là lúc tất cả chúng ta những
người con Phật tìm đường quay về nguồn cội, chúng ta tìm
thấy trong bối cảnh của ngài Tố Liên thuở ấy một bài
học lịch sử vẫn sáng giá cho sự đoàn kết dân tộc, đoàn
kết Phật giáo, lấy yếu tố thống nhất ý chí hạnh nguyện
của những người con Phật khắp năm châu dưới một lá cờ
ngũ sắc Phật giáo, tựa như chúng ta có đồng một bản thể
là Phật tánh vốn không thể phân chia xưa nay, trong ngoài,
xa gần vậy.
3.
Mô hình Tổng hội ngày xưa, có thể là mô hình của Phật
giáo phát triển ngày mai?
A.
Phật giáo Việt Nam qua những chặng đường thống nhất
- Chặng
đường thống nhất đầu tiên là sự thành lập các hội
Phật giáo của giai đoạn Chấn hưng 1930 - 1945. Trong giai đoạn
này, Phật giáo đã có những cuộc tập họp đầu tiên, khơi
nguồn cho các Hội Phật giáo ở khắp ba miền đất nước
được thành lập. Ngài Tố Liên đã tích lũy kiến thức từ
các Phật học đường để hoài bão cho công cuộc thống nhất.
- Chặng
đường thứ hai, là việc tập họp thành một khối thống
nhất cả nước, thông qua việc thành lập Tổng hội Phật
giáo Việt Nam năm 1951 và Giáo hội Tăng Già toàn quốc năm
1952. Hai tổ chức Phật giáo này là sự đồng thuận đầu
tiên cho quá trình phục hưng Phật giáo Việt Nam, đặt nền
tảng cho sự pháp triển Phật giáo sau này. Chính chặng đường
này, ngài Tố Liên là một trong những nhân tố chủ chốt
của cuộc vận động thống nhất Phật giáo thời bấy giờ
với phương châm “bước đầu là Tổng hội, bước hai là
Giáo hội”. Rất tiếc rằng việc thống nhất trên nền tảng
liên hiệp các tổ chức Phật giáo của ngài Tố Liên mới
làm được bước đầu, chưa thể đi xa hơn do cuộc chiến
tranh Việt Pháp đã làm lu mờ vai trò của Tổng hội và bị
đứt đoạn bởi sự chia đôi đất nước.
- Chặng
đường thứ ba, sau khi đất nước chia đôi bởi hiệp định
Geneve năm 1954, miền Nam dưới sự cai trị độc tài của nhà
Ngô đàn áp Phật giáo, các giáo hội, giáo phái, hệ phái
ở miền Nam đã đoàn kết thành một khối đấu tranh chống
lại sự bất công của nhà Ngô, dẫn đến cuộc cách mạng
lật đổ chính quyền ngày 01.11.1963. Sau đó là sự ra đời
của một tổ chức Phật giáo mới tại miền Nam: Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Giáo hội này với sự chủ
súy của Ngài Trí Quang tiến hành trực tiếp bước đi thứ
hai là hợp nhất như phương châm ngài Tố Liên từng đề
xướng, nhưng yếu tố thống nhất toàn diện bằng cách đồng
hóa các hình thức Phật giáo, đã vấp phải sự bất hợp
tác của các giáo phái và sớm bị tan vỡ khối thống nhất
ngay sau khi thành lập không bao lâu, do việc các tổ chức Phật
giáo dần dần rút chân ra khỏi giáo hội này. Hội Phật học
Nam Việt là một thành viên nòng cốt trong phong trào đấu
tranh và hưởng ứng thành lập giáo hội, lại là thành viên
rút chân đầu tiên ngay sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất thành lập. Lý do vì giai đoạn quá độ từ hình
thức liên hiệp - tổng hội trong khối đoàn kết ở bước
một chưa thật sự chín mùi, và sự thống nhất mang màu sắc
triệt để đã làm tan vỡ khối thống nhất ấy. Cuối cùng,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tuy phổ cập ở
khắp miền Nam, nhưng cũng không thể đại diện cho các màu
sắc khác nhau của Phật giáo Việt Nam.
- Chặng
đường thứ tư, kể từ khi đất nước được thống nhất
năm 1975, Phật giáo hai miền Nam Bắc đã xúc tiến vấn đề
thống nhất về một mối trên tinh thấn thống nhất ý chí
và hành động nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc của sơn môn
hệ phái, nghĩa là chính thức đi vào bước hai của phương
châm ban đầu. Ban vận động thống nhất Phật giáo được
thành lập, cổ động khắp cả ba miền để đi đến Hội
nghị đại biểu Phật giáo tháng 11 năm 1981, thành lập ra
Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày hôm nay. Chặng đường thứ
tư này đã làm tốt sứ mệnh của nó trong 25 năm qua nhờ
các yếu tố thuận lợi là:
- Quốc
gia độc lập thống nhất không còn ngoại xâm.
-
Đặt trên cơ sở đồng thuận giữa các hệ phái, giáo phái.
-
Được chính quyền địa phương cho phép và tạo điều kiện.
-
Không áp dụng hợp nhất triệt để mọi hình thức bản sắc.
Tuy
nhiên, cũng không phải là giáo hội hiện nay với mô hình
thống nhất này không gặp phải những trở ngại trên bước
đường phát triển ngay từ đầu.
B.
Bài học từ những mô hình thống nhất trong lịch sử.
Qua
bốn chặng đường này, chúng ta rút ra được bài học gì
từ ý hướng thống nhất Phật giáo trong quá trình lịch sử?
Đó là hai mô hình tổ chức giáo hội.
1)
Mô hình thứ nhất, tôi tạm gọi là mô hình theo quan
điểm của ngài Tố Liên (vì phát xuất từ giai đoạn hoạt
động của ngài và còn có nhiều vị khác cũng đồng quan
điểm này) (2). Đây là mô hình kết hợp bước 1, liên hiệp
các tập đoàn Phật giáo để bầu ra một ban lãnh đạo tinh
thần, đại diện cho Phật giáo Việt Nam. Thế mạnh của mô
hình này là dễ dàng thuyết phục và dung nạp được tất
cả các tổ chức Phật giáo đồng lòng vào trong liên hiệp,
dựa vào nhau để tồn tại trong ngôi nhà chung, giống như
chính sách đại đoàn kết của Mặt Trận Tổ quốc, trở
thành lực lượng đông đảo dưới lá cờ Tổng hội. Mô
hình này cũng đã phát huy rực rỡ trong giai đoạn đấu tranh
của Phật giáo năm 1963, khi mà Tổng hội Phật giáo thành
lập ra Ủy Ban Liên Phái bảo vệ Phật giáo để đấu tranh
cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo đồ. Chính lúc
ấy, vai trò tổng lực của Phật giáo phát huy ở đỉnh cao
nhất. Nhược điểm của mô hình này là không có hệ thống
quản lý nhất quán, nên khó đạt được mục tiêu chung, thường
không đồng nhất trong hành động chỉ vì lợi ích riêng của
các tập đoàn.
2)
Mô hình thứ hai, tôi cũng tạm gọi là mô hình theo quan
điểm của ngài Trí Quang (và cũng có nhiều vị khác cũng
đồng quan điểm này) (3). Đây là mô hình ở bước 2, thống
nhất tổ chức toàn diện, thống nhất hành động và tư tưởng
để trở thành một giáo hội có tính quản lý cao. Thế mạnh
của mô hình này là sự chặt chẽ trong hệ thống hành chính
và giáo quyền xuyên suốt, với tính nhất quán trong hoạt
động. Mô hình này dễ tạo ra các mệnh lệnh có hiệu lực
để thực hiện một chủ trương đường lối do lãnh đạo
đề ra. Ta thấy điển hình của mô hình này là Giáo hội
Phật giáo Việt Nam thống nhất và Giáo hội Phật giáo Việt
Nam hiện nay. Nhược điểm cố hữu của mô hình này, chính
là sự muốn gạt bỏ mọi giáo quyền riêng của các giáo
phái thành viên, Điều này đã khiến cho tính thống nhất
tuyệt đối không được bền lâu, bởi chỉ là một nên khó
thể dung nạp tất cả dị biệt hay giáo quyền riêng của
các tổ chức giáo phái khác.
Hai
mô hình này, tùy theo diễn biến của hoàn cảnh lịch sử,
ta thấy đã có lúc thành công nhưng cũng có khi vấp phải
sự bất đồng sâu sắc trong quá khứ và hiện tại. Với
giai đoạn lịch sử giành độc lập từ ngoại xâm hay đấu
tranh chống áp bức bất công, thì mô hình 1 của ngài Tố
Liên là cần thiết để kết đoàn tập họp. Với giai đoạn
lịch sử chính trị ổn định xây dựng nền tảng cơ sở
để phát triển, thì việc chọn mô hình 2 để thống nhất
về một mối là đúng đắn và hiệu quả. Như thế chúng
ta mới có được một giáo hội hợp nhất và đủ mạnh để
quản lý xuyên suốt từ trung ương đến địa phương. Đó
cũng là phù hợp theo diễn biến tất yếu của lịch sử nước
nhà trong giai đoạn cần thiết có sự quản lý chặt chẽ.
Tuy
nhiên, thế kỷ 21 là thế kỷ hội nhập, sau khi đất nước
chúng ta mở cửa bắt tay bè bạn với cả năm châu không phân
biệt ý thức hệ. Tôi nghĩ rằng sự phát triển tất yếu
của Phật giáo ở giai đoạn mở cửa này để đồng bộ
cùng đất nước, là chúng ta cần phải mở rộng vòng tay
giáo hội, dung nạp các tổ chức Phật giáo trong ngoài nước
về dưới ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam. Ở giai đoạn
này thì ta thấy mô hình 1 của ngài Tố Liên có những yếu
tố ưu việt để phù hợp với bước đi của thời đại.
Sở
dĩ tôi có quan điểm như thế, cũng không có nghĩa mô hình
liên hiệp - tổng hội là một bước lùi về quá khứ, càng
không phải là sự lập lại nguyên bản một hình thức trong
lịch sử, mà là chúng ta dựa trên nền tảng của mô hình
2 đã hình thành sẵn có, phát triển lên mô hình mới từ
sự chọn lọc có tính kế thừa của cả hai bước mô hình
đã có quá trình lịch sử.
Ví
như trong lĩnh vực kinh tế, từ hình thức những công ty riêng
lẻ (company) (A), người ta nối kết lại bằng hình thức liên
hiệp đi lên tổng công ty (head of company) (B), rồi từ tổng
công ty sẽ phát triển tiến lên thành tập đoàn (corporation)
(C). Tập đoàn không có nghĩa là hình thức khác của Tổng
công ty, vì nó có tính ưu việt và xuyên suốt trong lãnh đạo
nhưng hoạt động tài chính và kinh doanh vẫn độc lập. Nghĩa
là phải từ A đi đến B, rồi từ A + B sẽ phát triển lên
thành C. Trên cơ sở ví dụ này, ta thấy mô hình 1 từ thời
ngài Tố Liên (liên hiệp - tổng hội) không phải là sự lập
lại danh nghĩa, mà ngay tự thân tổ chức Giáo hội Phật giáo
Việt Nam hiện nay (mô hình 2) sẽ tiến lên là ngôi nhà chung,
chấp nhận và dung nạp các tổ chức Phật giáo khác trong
và ngoài nước để nâng lên thành một khối liên hiệp mà
thống nhất, tôn trọng sự quản lý riêng mà cũng nhất quán
trong lãnh đạo.
Thế
thì, bài học từ bối cảnh hoạt động xưa của ngài Tố
Liên, chúng ta kết hợp với những gì hiện có phát triển
đi lên thành một tổ chức Phật giáo rộng rãi hơn, có tầm
nhìn hiện đại vượt ra thế giới vậy. Giáo hội Phật giáo
Việt Nam mới, phải là một giáo hội đủ mạnh về tiếng
nói ở trung ương, có sức thuyết phục các tổ chức khác
qui tụ về mình, đủ quyền lực với cơ sở Phật giáo hạ
tầng, để làm lợi ích cho nhân sinh xã hội và đem lại an
lạc giải thoát cho Phật giáo đồ.
Chỉ
có mạnh dạn chấp nhận bước đi như thế, chúng ta mới
gọi là mở rộng, là phát triển theo sự hội nhập của đất
nước để hòa nhập vào với Phật giáo thế giới. Tất cả
những người Việt Nam theo đạo Phật đã và đang sinh hoạt
trên khắp thế giới cũng đang trông chờ những tín hiệu
sự đổi mới đột phá từ nội tại tổ chức Giáo hội
Phật giáo Việt Nam, để họ có điểm tựa quay về cống
hiến hoạt động cho quê hương xứ sở, như là Tăng thân
Làng Mai của Hòa thượng Nhất Hạnh đang làm hiện nay vậy.
Từ
quan điểm tư tưởng tầm cỡ của ngài Tố Liên làm điển
hình tiêu biểu, chúng ta rút bài học ra từ ngay cuộc hội
thảo khoa học này, mạnh dạn đề xuất những quan điểm
đổi mới trong đường lối tổ chức vào ngay trong Đại hội
Phật giáo kỳ 7 tới đây. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ đi
đúng bước lịch sử có kế thừa phát huy, để làm rạng
rỡ ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam ở ngày mai.
TP.
Hồ Chí Minh, ngày 26. 02. 2007
Tỳ
kheo Thích Đồng Bổn
*
-Tiến sĩ, Giảng viên Học viện PGVN tại TP. HCM
- Phó Ban PGVN - Viện NCPH Việt Nam
Chú
thích:
(1)
Theo Lược khảo PG sử Việt Nam, chương Tổng hội PGVN ra đời,
trang 250.
(2)
Hầu như chư tôn đức bên Tăng già và cư sĩ đều có quan
điểm như ngài Tố Liên, tham gia Tổng hội nhưng vẫn giữ
lại tổ chức Phật giáo riêng của địa phương. Ở miền
Nam tiêu biểu là Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền.
(3)
Quan điểm của ngài Trí Quang rõ rệt trong việc hợp nhất
trong GHPGVNTN, khiến cho các tổ chức PG khác không đồng tình
mà rút lui khỏi giáo hội như Hội Phật học Nam Việt, Giáo
hội Thiền tịnh Đạo tràng, Hội Sư Sãi Tây Nam bộ, Thiên
Thai Giáo Quán Tông, Giáo hội Khất sĩ…..
Tài
liệu tham khảo:
-
Lược khảo Phật giáo Sử Việt Nam, Vân Thanh, Sài Gòn 1973.
-
Phật giáo Việt Nam Sử Luận tập III, Nguyễn Lang, Paris 1985.
-
Tư liệu chuẩn bị cho hội thảo về HT. Tố Liên, Nguyễn
Đại Đồng, Hà Nội 2006.
-
Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, HT. Trí Hải, Nxb
Tôn giáo 2004.
-
Tấm gương Tam quy, Tố Liên, Hội Việt Nam Phật giáo, Nhà
in Đuốc Tuệ, 1949.
-
Tiểu sử danh Tăng Việt Nam tập I, Thích Đồng Bổn (chủ
biên), TP.HCM, 1996.
-
Phương tiện bán nguyệt san, số 17 - 28, Hội Tăng Ni Bắc Việt,
Hà Nội 1950.
-
Tin tức Phật giáo, số 31 - 64, phụ trương Phương Tiện bán
nguyệt san, Hà Nội 1952.
Thích
Đồng Bổn
Phật
Tử Việt Nam
03-29-2007
08:56