Mặc
dù giáo lý của đạo Phật không đề cập đến mục đích
chính trị xã hội, nhưng quan tâm đến hạnh phúc nhân sinh.
Qua lý tưởng từ bi, bình đẳng, vị tha đạo Phật góp phần
ổn định xã hội và rèn luyện nội tâm trở thành một nhân
cách hoàn mỹ ở mỗi con người.
Trong
quá trình du nhập, đạo Phật luôn biến chuyển và thích nghi
với từng điều kiện xã hội ở mỗi dân tộc. Bằng cách
đó, đạo Phật Việt Nam đã có nhiều thiền sư, danh tăng
đóng góp rất lớn vào sự nghiệp giữ nước, dựng nước
và củng cố pháp quyền quốc gia, khiến đất nước một
thời hưng thịnh. Và ảnh hưởng đó đã gắn chặt tư tưởng
Phật giáo vào hệ chính trị xã hội nước ta, để rồi đạo
Phật đã trở thành một tôn giáo của dân tộc đi đôi với
vận mệnh lịch sử của đất nước qua bao thăng trầm.
Thể
hiện tính chất đặc thù ấy là vai trò các tăng sĩ thiền
sư, những người đã góp phần cho sự nghiệp dân tộc vào
các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần: một thời đại
độc lập tự chủ của đất nước và cũng là đỉnh cao
của đạo Phật. Đạo Phật đã tham gia hầu hết các mặt
văn hóa, chính trị xã hội và giữ hình thức cao nhất là
chức Quốc sư tức lãnh đạo tinh thần và cố vấn triều
đình của một số tăng sĩ nổi tiếng.
Trong
mục đích đời sống của các vị tăng sĩ ấy, ta thấy họ
đã quan niệm rằng Phật nơi tự tâm con người, cần phải
biến thành hiện thực. Điều này nếu biết kết hợp hài
hòa giữa trí tuệ và từ bi, giữa tri thức và hành động,
sẽ đưa đến kết quả một xã hội tự do hạnh phúc ở
đỉnh cao của nhân bản, cải tạo đất nước hùng
cường, độc lập, kỷ cương, luật pháp hợp lòng người.
Đó
là hoài bão của các tăng sĩ đã ra giúp nước, tham gia chính
sự, góp phần ổn định xã hội Việt Nam trong suốt bốn
triều đại rực rỡ nhất của lịch sử.
I.
VAI TRÒ TĂNG SĨ Ở CÁC TRIỀU ĐẠI ĐINH LÊ LÝ:
1.Tổng
quan về Phật giáo và xã hội thế kỷ X- XII:
Chiến
thắng Bạch Đằng oanh liệt năm 938 đã chấm dứt thời kỳ
nghìn năm Bắc thuộc, mở ra một kỉ nguyên mới trong
lịch sử Việt Nam: kỉ nguyên độc lập và phát triển.
Trong
thế kỉ thứ X, nhà nước độc lập mới được xây dựng,
đang dần dần tự củng cố, vừa phải chuẩn bị đương
đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược từ bên
ngoài, vừa phải đối phó với những yếu tố phân tán
cát cứ ở bên trong. Trong bối cảnh đó, tất nhiên bạo lực
và quân sự là ứng xử trội của các ông vua và bộ máy
nhà nước. Song cũng thật kì lạ, đó cũng là bước đầu
thời kì phát triển mạnh mẽ của Phật giáo. Chính những
ông vua từng “Đặt vạc dầu giữa sân, nuôi hổ báo trong
cũi” để trấn áp mọi chống đối, lại ủng hộ Phật
giáo. Có hiểu được cái tình thế dường như mâu thuẩn
đó, chúng ta mới thấy rõ được đặc điểm của Phật giáo
Việt Nam trong thế kỉ thứ X.
Từ
cuối thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo đã lan rộng khắp mọi
miền của xứ “An Nam đô hộ phủ”, tức đất nước ta
ngày ấy. Đã xuất hiện một lớp cao tăng người Việt, trong
đó nhiều người đã đến Trung Quốc, xuống Nam Dương, sang
Ấn Độ, hiểu rộng, biết nhiều, kiêm thông Hán Phạn,
có thể coi là những trí thức đương thời. Và lực lượng
Phật giáo các nhà sư và các tín đồ, đã thực sự tham gia
vào cuộc vận động giải phóng dân tộc, đứng vào hàng
ngũ nhân dân chống áp bức, giành lại nền độc lập cho
đất nước[1]
Khi
đất nước đã được độc lập, cũng là lúc uy tín và vai
trò xã hội của lực lượng Phật giáo được khẳng định.
Nhà nước độc lập non trẻ lại đang cần 1 điểm tựa về
ý thức, một công cụ tinh thần để xây dựng và quản lý
đất nước. Các vua đã chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng
chính thống, dễ được lòng dân hơn là Nho giáo của phương
Bắc có nguy cơ đồng hóa dân tộc thành Bắc thuộc lần nữa.
2.
Hành trạng một số tăng sĩ tham gia vào chính trị xã hội:
Thiền
sư KHUÔNG VIỆT
(933-
1011)
Sư
tên là Ngô Chân Lưu, quê ở hương Cát Lị, huyện Thường
Lạc, tu ở chùa Phổ Đà[2] (nay là Hà Bắc). Sư được vua
Đinh Tiên Hoàng ban danh hiệu Khuông Việt vào năm 971 hàm ý
nghĩa tích cực: giúp đỡ nước Việt. Ngoài ra ông được
phong chức Tăng thống, chính thức là giai cấp Tăng lữ hoạt
động trong Triều chính, ổn định xã hội bằng đường lối
Phật giáo. Ông giúp vua Lê Đại Hành với vai trò cố vấn
ngoại giao trong vấn đề bang giao với nước Tống.
Ông
là người phân tích các bài thơ văn của sứ thần nhà Tống
là Lý Giác đưa sang phong vương, nhận định cách đáp trả
khiến sứ thần nước Tống bái phục người Nam quốc. Đặc
biệt vào năm 980, vua Lê Đại Hành sai ông làm bài văn hát
để tiễn chân sứ thần Lý Giác:
Tường
quang phong hảo cấm phàm trương
Dao
vọng thần tiên phục đế hương
Vạn
trùng sơn thủy thiệp thương lương
Cửu
thiên qui lộ trường
Nhân
tình thống thiết đối ly trường
Phan
luyện sử tinh lang
Nguyện
tương thâm ý vị nam cương
Phân
minh tấu ngã hoàng.
Dịch:
Gió
xuân đầm ấm cánh buồm giương.
Trông
vị thần tiên về đế hương.
Muôn
lần non nước vượt trùng dương,
Đường
về bao dặm trường.
Tình
lưu luyến chén đưa đường,
Nhớ
vị sứ lang.
Xin
lưu ý đến việc biên cương,
Tâu
rõ lên Thánh Hoàng”[3]
Khả
năng tài trí của ông đã giúp vua Lê bang giao tốt đẹp với
nước Tống và nhà Tống khâm phục cách ứng phó đầy trí
thức của người An Nam.
Ông
mất năm Thuận Thiên thứ hai đời Lý (1011).
Thiền
sư
ĐỖ
PHÁP THUẬN
(924-990)
Trong
đời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành thường mời Sư Pháp Thuận
vào triều để trao đổi ý kiến về quốc sự, như chính
trị và ngoại giao, đặc biệt là Vua còn nhờ thiền sư soạn
thảo các văn kiện ngoại giao.
Tiếp
đến năm 986, nhà Tống cử Lý Giác sang nước ta để phong
tước hiệu cho vua Lê Đại Hành. Vua phái ông cải trang làm
người lái đò để đón tiếp sứ thần Lý Giác. Trên sông
nhận thấy có đôi ngỗng đang bơi, Lý Giác bèn ứng khẩu
đọc hai câu thơ :
Nga
nga lưỡng nga nga
Ngưỡng
diện hướng thiên nha
Đỗ
Thuận đang chèo, đọc tiếp hai câu ứng đối tiếp vế thơ
trên :
Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba
Dịch:
Song
song ngỗng một đôi
Ngửa
mặt ngó ven trời
Lông
trắng phơi dòng biếc
Sóng
xanh chân hồng bơi[4]
Lý
Giác cảm phục, sau khi về nước, vị sứ thần đã làm một
bài thơ tặng ông. Ông đem dâng Vua, Vua cho gọi nhà sư Khuông
Việt đến xem. Khuông Việt nói : “Thơ này có ý tôn trọng
bệ hạ không khác gì vua Tống” [5] .
Sau
đó, Vua hỏi ông về vận nước được ngắn dài thế nào,
ông đã trả lời bằng một bài kệ :
Quốc
tộ như đằng lạc
Nam
Thiên lý thái bình
Vô
vi cư điện các
Xứ
xứ tức đao binh
Dịch
:
Vận
nước thật vững bền
Trời
Nam hưởng thái bình
Thoải
mái trong triều chính
Khắp
nơi dứt chiến tranh.
Sách
Thiền Uyển Tập Anh chép: “Khi nhà Tiền Lê mới sáng lập,
sư vận trù kế hoạch rất đắc lực. Đến khi trong nước
thái bình, sư không nhận phong thưởng của nhà Vua, nên vua
Đại Hành càng kính trọng, thường chỉ gọi là Đỗ Pháp
sư chứ không dám gọi tên và giao cho sư giữ việc văn hàm”[6]
.
Ông
là một cố vấn quan trọng của đời Tiền Lê trong lĩnh vực
bảo vệ danh dự quốc gia và làm rạng rỡ chủ quyền dân
tộc truớc nhà Tống.
Thiền
sư VẠN HẠNH
(?
– 1018)
Sư
là một vị cao tăng học hành uyên bác, đạo lực tinh
thâm, quán triệt cả Tam giáo Phật, Lão, Khổng, được vua
Lê Đại Hành rất mực kính trọng.
Vào
năm 980, Nhà Tống đem quân sang đánh nước ta. Do đó, Vua mới
hỏi Ông: “Quân ta thắng bại thế nào?”. Ông đáp: “Chỉ
trong 3 ngày đến 7 ngày, giặc sẽ lui”, sự việc xảy ra
đúng như tiên đoán của ông.
Đến
đời bạo chúa Lê Long Đỉnh, nhân dân đều oán ghét. Bởi
thế sư Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc đã sắp xếp thành công
mọi việc để suy tôn vua Lý Thái Tổ lên ngôi, lập nên nhà
Lý sau khi Lê Long Đỉnh chết. Sự việc này xảy ra, cũng đúng
như lời tiên đoán và khuyến khích toàn dân của Ông :
“Tật
Lê trầm bắc thủy
Lý
tử thụ nam thiên
Tứ
phương can qua tĩnh
Bát
biếu hạ bình yên “
Dịch:
Vua
Lê chìm biển Bắc
Nhà
Lý trị trời Nam
Bốn
phương dứt chinh chiến
Tám
hướng hưởng bình an[7]
Sư
Vạn Hạnh trong suốt 3 triều đại Đinh, Lê, Lý đã đem tài
trí của mình cống hiến cho 3 vị vua lỗi lạc, và trở thành
vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp giữ gìn độc lập dân
tộc, đồng thời giúp các triều vua về quốc sách trị
nước có hiệu quả nhất.
Thiền
sư VIÊN THÔNG
(1080-1151)
Được
phong Quốc sư và hai lần được trao toàn quyền lãnh đạo
việc nước, ông đã dứt khoát từ chối. Tuy nhiên, vào năm
1130, vua Lý Nhân Tông mời ông vào cung điện để hỏi việc
trị loạn, mất, còn của đất nước ra sao, ông liền đáp
:
“Thiên
hạ ví như món đồ dùng, đặt vào chỗ yên thì yên, đặt
vào chỗ nguy thì nguy, chỉ cốt ở đức Nhà Vua thực hành
khác nhau mà thôi. Đức hiếu sinh của Nhà Vua thấm nhuần
đến nhân dân thì nhân dân yêu mến Vua như cha mẹ, tôn kính
Vua như mặt trời, mặt trăng, thế tức đặt thiên hạ vào
chỗ yên vậy.”
Về
trị loạn, ông trả lời như sau:
“Việc
trị loạn còn cần ở các quan, được lòng người thì trị
an, mất lòng người thì loạn lạc. Tôi đã xem các đế vương
thời trước: chưa từng không dùng người quân tử mà được
hưng thịnh,vì dùng tiểu nhân mà bị suy vong. Xét lý do như
thế, thì không phải tại một sớm, một chiều, mà nguyên
nhân của nó đã phát sinh lần lần từ lâu vậy. Trời đất
không thể làm nóng lạnh ngay mà phải dần dần từ xuân sang
thu. Nhà Vua không thể làm trị loạn ngay, mà phải dần dần
từ việc thiện, việc ác. Các Thánh vương đời xưa biết
thế, nên đã bắt chước trời để tu đức, sửa mình, bắt
chước đất để chăm lo tu đức, an dân. Sửa mình là cẩn
trọng bên trong, sợ hãi như đi trên lớp băng mỏng. Yêu dân
là kính cẩn công chúng, nơm nớp như cầm roi, nắm cương
ngựa. Được như thế, thì đâu mà chẳng hưng thịnh, trái
lại, thì đâu mà chẳng suy vong. Đó là lý do hưng – vong
dần dần như vậy.”[8]
Thiền
sư
NGUYỄN
MINH KHÔNG
(TK
12)
Vào
năm 1130, Vua Lý Thần Tông mắc bệnh kỳ quái, tâm hồn rối
loạn, miệng thường gầm thét, và thân thể mọc đầy lông
lá như lông cọp. Thời gian ấy, tất cả lương y đều chịu
bó tay. Một hôm, nghe trong dân gian có bài đồng dao do trẻ
em hát rằng:
Tập
tầm vông, tập tầm vông
Có
ông Nguyễn Minh Không
Chữa
được bệnh Thiên Tư û
Ngay
sau đó, các quan trong triều đình cho đi dò hỏi, tìm mời
ông về Triều chữa bệnh cho vua.
Tới
cung điện, ông yêu cầu nấu một vạc nước sôi, bỏ 100
cái kim trong đó và mang Vua ra gần nơi đó. Khi thăm bệnh Vua,
ông lớn tiếng hét rằng: “ Bậc đại trượng phu đứng
đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại làm cách cuồng loạn
như thế?”
Sau
đó, ông trị bệnh Vua bằng cách châm kim vào các huyệt, Nhà
Vua bình phục như xưa và tánh tình thay đổi khác xưa, trở
nên hiền lành, tin vào đạo Phật, và phong cho Ông làm chức
Lý Triều Quốc Sư .
Ta
có thể thấy qua câu truyện thần thoại Ông Vua hóa hổ, Nguyễn
Minh Không đã dùng chước hay để triều thần phải mời ông,
thức tỉnh vua bằng câu nói hét lên mà nếu bình sinh không
ai có thể dám khuyên bảo huống chi lại lớn tiếng. Và ý
nghĩa trong câu nói ấy là sự thức tỉnh vua về chính sự
có thể nhiễu nhương bởi quần thần bất lực. Cũng từ
đó, khi vua lành bệnh, ông đã trở thành một “Lý Triều
Quốc Sư” cố vấn cho vua và quần thần trong mọi việc lớn
nhỏ của đất nước.
Trên
đây là một số điển hình cụ thể về các tăng sĩ tham
gia Quốc sự ở 3 triều đại Đinh, Lê, Lý. Tiếc rằng các
sử gia phong kiến chỉ nói đến vua quan quí tộc ở triều
đại, nên sách sử chỉ ghi lại các sự kiện rất ít, mà
chỉ nêu tên và chức vụ của các Tăng sĩ tham chính bằng
cách được vua vời hỏi việc đạo việc nước mà phong làm
Quốc sư, cố vấn như:
SÙNG
PHẠM (mất 1087), THẢO ĐƯỜNG QUỐC SƯ (1054 – 1105), KHÔ
ĐẦU, KHÔNG LỘ, THÔNG BIỆN, VIÊN CHIẾU, MÃN GIÁC, CHÂN KHÔNG,
GIÁC HẢI, HUỆ SINH.
3/
Đặc điểm vai trò chính trị của các Tăng sĩ:
Ta
thấy có nhiều lý do để họ tham dự chính trị. Thế kỷ
thứ mười là thế kỷ Việt Nam bước đầu thực sự giành
được quyền tự chủ. Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa
Mỹ nối nhau dấy nghiệp, rồi Ngô Quyền phá quân Nam Hán.
Tiếp đến Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, lập ra nước
Đại Cồ Việt độc lập. Chính trong thế kỷ này Đạo Phật
tích cực đóng góp vào việc dựng nước. Năm 971, vua Đinh
Tiên Hoàng định giai cấp cho Tăng sĩ và ban chức Tăng Thống
cho Ngô Chân Lưu hiệu là Khuông Việt Thái Sư, chính thức
nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính
sự. Cũng trong thế kỷ này mà vua Lê Đại Hành mời Thiền
sư Pháp Thuận và Vạn Hạnh làm cố vấn chính trị. Các Thiền
sư Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh cũng đã tiếp tục
giúp vua Lý Thái Tổ trong thế kỷ kế tiếp.
Các
tăng sĩ tham dự chính sự nhưng không tham dự chính quyền.
Họ chỉ tới giúp ý kiến và công việc, rồi trở về chùa.
Lý do nào mà họ góp phần vào chính sự? Lý do thứ nhất:
Họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống
gần gũi với quần chúng và biết được những khổ
đau của dân tộc bị một chính sách đô hộ hà khắc bóc
lột. Lý do thứ hai: Họ không có ý muốn tranh ngôi của vua,
không giành quyền bính và địa vị ngoài đời, nên vua tin
họ. Lý do thứ ba: Họ không cố chấp vào thuyết trung quân
(chỉ biết giúp một vua mà thôi) như các nhà Nho, nên họ
có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào có thể đem
lại hạnh phúc cho dân. Lý do thứ tư: Các vua cần sức học
của họ, nhất là trong đời Đinh, Lê, các vua đều không
phải thuộc giới trí thức. Nho sĩ thì chắc đã không có
mấy người, mà lại chỉ trung thành được với một triều
đại.
Trong
phần nói về hành trạng của các Thiền sư Ngô Chân
Lưu, Pháp Thuận và Vạn Hạnh, ta đã thấy hành động của
họ đóng góp nhiều trong lĩnh vực chính trị. Danh hiệu “
KHUÔNG VIỆT” đủ nói lên tầm quan trọng về công tác
của ông. Năm 986, khi sứ thần nhà Tống là Lý Giác qua, vua
Đại Hành nhờ ông ra ứng đối, bởi vì ông là người có
khả năng nhất lúc bấy giờ. Chắc hẳn công trình của Khuông
Việt trong chính sự khá lớn, cho nên sách Thiền Uyển Tập
Anh mới chép: “Vua Lê Đại Hành rất kính trọng, phàm những
việc quân quốc trong triều đình đều đưa cho Ngài cả”
(Lê Đại Hành hoàng đế vưu gia lễ kính, phàm triều đình
quân quốc chi sự, sư giai dữ yên)[9].
Tuy
giúp nhà Tiền Lê, nhưng khi thấy tình trạng tệ hại do Lê
Long Đỉnh tạo ra, Thiền sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại
ủng hộ Lý Công Uẩn trong việc chấm dứt chế độ dã man
này. Sau khi Lê Đại Hành mất, con là Long Việt lên ngôi mới
được có 3 ngày thì bị Long Đỉnh giết. Biết trước Long
Đỉnh sẽ rất tàn bạo, Lý Công Uẩn đã ôm xác Long Việt
mà khóc. Vạn Hạnh cũng thấy rõ nguy cơ ấy nên bắt đầu
mới nuôi ý đưa Lý Công Uẩn lên chính quyền, qua sự kiện
lời phù sấm ở cây gạo bị sét đánh làng Cổ Pháp, Ông
đã tỏ rõ ý nầy và bộc lộ tài thông thái, quyền biến
sắp đặt nên sự việc. Sau đó phối hợp với Đào Cam Mộc
làm nên việc lật đổ triều Lê, đưa nhà Lý lên ngôi và
ổn định triều thần, nhân dân bằng uy tín của mình[10]
Các
vua đời Lý so sánh với các vua Đinh, Lê thì giỏi hơn rất
nhiều về phương diện học thức. Sự sùng Phật của các
vua Lý cũng có tính cách tâm linh và trí thức hơn. Họ đều
có học Phật và thường mời các Thiền sư đến để đàm
luận về giáo lý. Trong triều đã xuất hiện nhiều người
Nho học, trong số nầy có nhiều người do các Thiền sư đào
tạo. Vì vậy các Tăng sĩ chỉ đóng góp về mặt chỉ đạo
tinh thần và cố vấn quốc sự chứ không phải trực tiếp
làm những việc tiếp sứ, thảo chiếu dụ và văn thư. Lúc
này họ là người đưa sách lược về kinh tế và chính trị.
Thuở
ban đầu lập quốc của 3 triều đại này, các Thiền sư đã
mở những cuộc vận động gây ý thức quốc gia, đã sử
dụng những môn học phong thủy và sấm vĩ trong cuộc vận
động ấy, đã trực tiếp thiết lập kế hoạch, thảo văn
thư, tiếp ngoại giao đoàn, bàn luận về cả những vấn đề
quân sự. Sau khi triều đình đã có đủ người thay thế họ
lo các việc đó, thì họ trở về giữ vai trò hướng dẫn
tinh thần và cố vấn đạo đức cho triều đình và cho mọi
tầng lớp nhân dân. Có những Tăng sĩ thường đi lại cửa
khuyết, nhưng nhiều người lại từ chối về kinh khi có chiếu
mời. Ngay cả Vạn Hạnh là người có tham dự chính sự nhiều,
trong khi làm việc vẫn giữ phong cách xuất thế của mình,
xong việc thì rút lui về chùa. Triết lý hành động của Vạn
Hạnh tiêu biểu cho thái độ chung của các Thiền sư: làm
thì làm vì đất nước, nhưng không mắc kẹt vào công việc,
không nương tựa vào danh thế, địa vị, mà cuối cùng họ
cũng trở về với việc tu hành yên lặng, tịnh tĩnh của
đạo Phật.
II.
VAI TRÒ của
PHẬT
GIÁO ĐỜI TRẦN:
1.
Khái quát về đặc điểm của Phật giáo đời Trần
Ở
đây chúng tôi không kể đến hành trạng của các Tăng sĩ
nữa, vì lẽ đời Trần Phật giáo đã đi vào đỉnh cao nhất
và đi sâu vào chính sự qua những con người cụ thể lãnh
đạo triều đại, các vị vua nhà Trần đã là Tăng sĩ hay
đang trị vì cũng đã uyên thâm Phật học. Các vua luôn được
sự cố vấn của các Tăng sĩ Quốc sư trong mọi việc triều
chính an dân như:
- TRẦN
THÁI TÔNG (1218-1277)
-
TRÚC LÂM QUỐC SƯ
-
ĐẠI ĐĂNG QUỐC SƯ
-
TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
-
TRẦN THÁNH TÔNG
-
TRẦN NHÂN TÔNG tức TRÚC LÂM ĐẦU ĐÀ
-
TRẦN ANH TÔNG
-
TRẦN MINH TÔNG
-
Thiền sư HUYỀN QUANG
-
Thiền sư PHÁP HOA
-
BẢO PHÁC Quốc sư
-
TÔNG CẢNH Quốc sư
-
LÃM SƠN Quốc sư
Qua
các hành trạng của các vị tiêu biểu trên đây mà sử sách
có chép lại đầy đủ [11] chứng minh rằng Phật giáo đời
Trần, tức Phật giáo Trúc Lâm, một Thiền phái đặc biệt
phát triển do vua Trần Nhân Tông lãnh đạo trở thành một
hệ thống tư tưởng triết lý Phật giáo gắn chặt vào dân
tộc. Phong trào Phật giáo nhập thế do Trúc Lâm Trần Nhân
Tông xây dựng đã được toàn dân tham gia. Đạo và tục không
còn ranh giới như ở triều đại nhà Lý, lãnh đạo Giáo hội
có lúc là Thiền sư, có lúc là các vua đã lên làm Thái Thượng
Hoàng. Đặc biệt đời Trần, các vua hầu như truyền ngôi
lại rất sớm để bước vào lãnh vực Tăng sĩ tuy vẫn giữ
vai trò chủ đạo trong triều chính bằng ngôi Thái Thượng
Hoàng. Như vua Trần Thái Tông làm Thái Thượng Hoàng 20 năm,
vua Trần Nhân Tông, vị Vua từng đánh bại cuộc xâm lăng
nhà Nguyên, xuất gia năm 1299, là vị Sư tổ phái Trúc Lâm
Yên Tử, với tài chiến lược cao, Ông lấy đỉnh Yên tử
làm nơi tu hành nhưng là vị trí chiến lược hàng đầu để
quan sát mọi tình thế, thế trận chống quân thù
khi có giặc xâm lăng phương Bắc tràn qua.
Tháng
Ba năm 1301, Trúc Lâm Đầu Đà đi Chiêm Thành để quan sát
miền trong với tư cách du Tăng, có một số tu sĩ tùy tùng.
Vua đã lưu lại đây cho đến tháng 11 mới về. Trong thời
gian ở Chiêm Thành, ông đã gặp vua Chế Mân để quan hệ
bang giao và hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chàm gây tình
hòa hữu đổi lấy hai Châu Ô và Châu Lý mở rộng bờ cõi.
Chính sự kiện đó, sau khi Trúc Lâm mất 3 năm, tháng Chạp
năm 1311 vua Anh Tông cất binh đi đánh Chiêm Thành. Một chiến
lược mở rộng bờ cõi lâu dài, một cơ đồ vĩ đại mà
Sư Trúc Lâm tức vua Nhân Tông đã vạch ra, được thực hiện
cho nhiều thế hệ nhà Trần đi đến thành công. Tuy nhiên,
chính cuộc chiến dai dẳng với Chiêm Thành này đã làm nhà
Trần suy yếu về sau.
2/
Vai trò chính trị của Phật giáo đời Trần
Đặc
tính của Phật giáo Trúc Lâm là nhập thế, đạo Phật phụng
sự cho đời sống tâm linh cũng như đời sống xã hội. Quốc
sư Viên Chứng đã nói rõ về những nguyên tắc hướng dẫn
đời sống của một nhà chính trị Phật tử: “Đã làm người
phụng sự dân thì phải lấy cái muốn của dân làm muốn
của mình, phải lấy ý dân làm ý mình, trong khi đó không
xao nhãng việc tu học của bản thân”[12] Trần Thái
Tông nói rằng: “Nhà chính trị phải thực hiện đạo Phật
trong xã hội”[13]. Trần Nhân Tông đi khắp thôn quê phá trừ
các dâm từ, khuyên dân thực hành thập thiện… Những tự
viện ẩn cư trên núi nhưng vẫn có liên hệ đến đời sống
văn hóa xã hội và chính trị quốc gia.
Tăng
sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính
trị nhưng Phật giáo đã là một yếu tố liên kết nhân tâm
quan trọng. Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà chính
trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân
và dân chủ. Năm 1284, trước thế xâm lăng vũ bão của quân
Nguyên, Nhân Tông đã triệu tập hội nghị Diên Hồng. Tới
dự hội nghị không phải là các vương tôn công thần mà
là các bô lão đáng kính trong dân gian. Vua Nhân Tông khi đi
ngoài đường gặp gia nhân các vương thần thì hay dừng lại
để hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Vua nói: “Lúc
thái bình nhờ có thị vệ tả hữu, mà lúc nước nhà lâm
hoạn nạn, thì chính những người gia nhân ấy đi theo bảo
vệ”.
Ta
hãy nhớ chuyện Hoàng Cự Đà không ăn được xoài và chuyện
vua Thánh Tông đốt tài liệu xin hàng của các quan để thấy
thái độ “từ bi chính trị” trong đối sách của các vua
Trần.
Vua
Thái Tông một hôm cho các quan hầu cận ăn xoài, Hoàng Cự
Đà không được ăn. Đến khi quân Nguyên đến bến Đông,
Cự Đà ngồi thuyền nhẹ trốn đi. Đến Hoàng Giang, gặp
Hoàng Thái Tử đi thuyền ngược lên, Cự Đà tránh sang bờ
sông bên kia, thế thuyền đi rất gấp, quan quân hô to hỏi
quân Nguyên ở đâu? Cự Đà trả lời không biết, hãy
hỏi bọn được ăn xoài ấy! Sau khi phá được giặc, Thái
Tử xin trừng phạt Cự Đà để răn đe những kẻ làm tôi
bất trung. Vua nói: “Cự Đà tội đáng giết cả họ,
song đời xưa có việc Dương Châu không được ăn thịt dê
đến nỗi làm quân nước Trịnh bị thua. Việc Cự Đà là
lỗi của ta, tha cho tội chết, cho đánh giặc để chuộc tội”[14]
Khi
quân Nguyên đang mạnh, triều thần lắm kẻ hai lòng có giấy
tờ giao thiệp với giặc. Sau giặc thua chạy về Bắc, triều
đình bắt được một tráp biểu hàng của các quan. Đình
thần muốn lục ra để trị tội, nhưng Thượng Hoàng nghĩ
rằng làm tội những kẻ tiểu nhân cũng vô ích, bèn sai đem
đốt cả tráp đi, cho yên lòng mọi người.[15]
Một
hôm có người dâng sớ báo cáo với Vua Minh Tông là trong dân
gian có những người lang thang tới già cũng không có tên trong
sổ, không chịu thuế dịch, sai phái tạp dịch thì không chịu
đến. Vua nói: “Nếu không có người như thế thì sao có
thể gọi là Thái bình? Ngươi muốn trách phạt họ thì có
được gì không?”. Những năm mất mùa, nhiều người bệnh
tật, triều đình hay khuyến cáo những nhà giàu dâng thóc
gạo.Triều đình còn sai người chế thuốc để phát cho người
bệnh. Năm 1362, Vua ngự ở phủ Thiên Trường, nhân dân ai
đói và bệnh có thể đến đấy để xin hai viên thuốc Hồng
Ngọc Sương, hai tiền và hai thăng gạo.
Chính
Nhân Tông- Trúc Lâm đã sử dụng được tiềm năng của Phật
giáo để phục vụ chính trị. Sự kiện xuất gia của vua,
cũng như những năm hành đạo trong dân gian của vua, đã khiến
Giáo Hội Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng
mạnh yểm trợ cho triều đại.
Anh
Tông sau khi nhượng ngôi cho Minh Tông cũng đã có ý định
xuất gia để nối tiếp sự nghiệp của Nhân Tông, nhưng chưa
thực hiện được thì đã mất.
Một
điều ta ghi nhận là những ông vua ấy muốn sử dụng tiềm
lực Phật giáo để liên kết nhân tâm, nhưng không phải vì
vậy mà giả danh Tăng sĩ, Phật tử. Họ là những Phật tử
chân chính và có ý nguyện phụng sự đao Phật một lần với
sự phụng sự quốc gia và triều đại của họ[16].
Qua
hai cụm triều đại Đinh Lê Lý và nhà Trần, đó là giai đoạn
đánh dấu nền tự chủ độc lập đầu tiên của lịch sử
dân tộc, cũng là giai đoạn mà Phật giáo phát huy mọi tác
dụng trong đời sống xã hội - chính trị của các thời đại.
Xét theo mối tương quan nhân quả, thì sự ổn định, hưng
thịnh, bắt nguồn từ ý thức hệ nội tâm. Tâm an thì ngoại
cảnh sáng, dựa trên triết lý đạo Phật chi phối.
Từ
giai đọan đầu trợ giúp quốc gia bằng tài trí đối ngoại
trong bang giao, đến đỉnh cao là hội nhập vào xã hội và
chuyển hóa, các nhà vua áp dụng việc trị nước trên tinh
thần Phật giáo. Đạo Phật nói chung và giới Tăng sĩ đã
đóng vai trò lớn lao ở mọi mặt cho giai đoạn lịch sử
vàng son nhất của dân tộc ./.
Tài
liệu tham khảo:
HÁN
VĂN :
1.
Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục – Thông Biện
2.Trùng
Khắc Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục- Phúc Điền
hiệu khảo và san khắc.
3.
Khóa Hư Lục – Trần Thái Tông.
4.
Đại Việt Sử ký – Lê văn Hưu.
5.Đại
Nam Nhất Thống Chí, Cao Xuân Dục.
6.
Đại Việt Thông Sử – Lê Quí Đôn.
QUỐC
VĂN :
7.
Đại Việt Sử ký toàn thư, Cao Huy Giu và Đào Duy Anh,
NXB Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1971.
8.
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Nguyễn Tài Thư chủ biên, Viện
Triết Học- NXB Khoa Học Xã Hội xuất bản- Hà Nội- 1991.
9.
Phật Giáo Việt Nam Sử Luận Tập I, Nguyễn Lang, NXB Văn
Học xuất bản, Hà Nội- 1994
10.Đạo
Phật Việt Nam, Thích Đức Nghiệp, NXB TP. Hồ Chí Minh - 1994.
11.
Việt Nam Phật Giáo sử lược, Mật Thế, Hà Nội- 1942.
12.
Phật Giáo Việt Nam, từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII,
Trần Văn Giáp và Tuệ Sĩ dịch, Sài Gòn-1968.
13.Tam
Tổ hành trạng, Trần Tuấn Khải dịch, Sàigòn - 1971.
14.
Văn Học đời Lý. Ngô Tất Tố, Sài Gòn – 1960.
15.
Việt Nam Cổ văn học sử, Nguyễn Đổng Chi, Hà Nội – 1942.
16.
Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Hà Nội –
1928.
CHÚ
THÍCH
1 Lịch
sử Phật giáo Việt Nam- Viện Triết học- NXB Khoa học xã
hội tr. 128
2
Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, Q.I, tr.7b
3
Sách đã dẫn , Q.I, tr 172
4
Phật Giáo Việt nam sử lược – Thích Mật Thế
5
Đaị Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ, Q.I, tr. 272
6
Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục , Q. thượng
7
Đạo Phật Việt Nam – Thích Đức Nghiệp , Tr .138
8
Thiền Uyển Tập Anh , Q. Hạ
-
Lịch sử Phật giáo Việt Nam – Tr.161, Viện Triết học XB,
Hà Nội 1991
-
Đạo Phật Việt Nam, Tr .140, Thích Đức Nghiệp.
9
Phật Giáo Việt Nam sử luận – Nguyễn Lang – Tập I, Tr.
233
10
Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ, Q.I, Tr. 187 NXB Khoa
học Xã hội 1967
11
Đại Việt sử ký toàn thư – Thiền Uyển Tập Anh – Phật
Giáo Việt Nam sử luận – Lịch sử Phật Giáo Việt Nam và
các sách đã dẫn.
12
Phật Giáo Việt Nam sử luận – Nguyễn Lang tập I, Tr 500
13
Tựa quyển Thiền Tông Chỉ Nam – Trần Thái Tông
14
Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ , Q. 5, Tr . 30
15
Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ , Q. 5, Tr . 71
16
Phật Giáo Việt Nam sử luận – Nguyễn Lang Tập I, Tr .507
THE
SANGHA'S POLITICAL ROLE in LY- TRAN DYNASTIES
THICH
DONG BON
Buddhist
doctrines never mention an aim of politics they are concern with human
beings’ happiness. Through compassion, fairness, and selflessness they
contribute to stabilizing society and training people in good character.
In
the process of its introduction Buddhism has always changed
and adapted to the situation of every society in each country. Such was
Vietnamese Buddhism that created the Zen masters, eminent monks who greatly
contributed to establishing, defending, and consolidating the country,
and bringing prosperity at the same time. The effect resulted
in Buddhist ideology being attached to the country’s politics. Then Buddhism
became a national religion going along with the ups and downs of the national
history.
This
significant characteristic was clearly present through the role of the
Sangha who contributed so much to the nation in the Dinh, Le, Ly, and Tran
dynasties. It was the time of Vietnam’s independence as well as the peak
of Vietnamese Buddhism. The Sangha mostly took part in the spheres of culture,
and social politics, and held the title of the National Teachers
who were responsible for spiritual tasks and were advisers of the imperial
court.
Their
aim in life was for people’s Buddha-nature to turn into a reality. If
wisdom could be cleverly coordinated with compasssion, and
knowledge with action, it would bring society happiness and freedom in
the best sense of humanity, and would make the country strong, lawful,
and independent. These were the ambitions of the Sangha who took part in
state affairs and contributed to stabilizing Vietnamese society throughout
the glorious reigns of the Kings Dinh, Le, Ly, and Tran.
I.
The
Sangha’s role in Dinh, Le, Ly dynasties.
1.
An
overview of Buddhism and society in X-XII century.
The
Bach Dang victory in 938 AD ended the period of one thousand years under
Chinese rule. It was the beginning of a new era in Vietnamese history:
the independent and developing era.
In
the 10th century a new independent government was established. Step
by step it consolidated itself. Not only did it get ready for
war with the northern invaders, it also counteracted civil wars. In these
cases, the kings and their authorities had to use violence and military
might to deal with them. However, strangely enough it was the beginning
of a period when Vietnamese Buddhism developed significantly. There was
a king who used to “keep a cauldron of boiled oil in the courtyard, and
a tiger in a cage” to suppress his opposition, but he was
still supporting Buddhism.
That
seemingly paradoxical situation can help us recognize and understand Vietnamese
Buddhism’s characteristics in that century.
At
the close of the period of domination by northern invaders, established.
Buddhism spread throughout An Nam Do Ho Phu, the name given to Vietnam
by the T’ang dynasty. At that time, there appeared supreme Vietnamese
monks, many of who went to China and India to widen their knowledge, and
to master Chinese and Sanskrit. They were considered contemporary intellectuals.
The monks and their lay-followers campaigned for liberation and stood in
the ranks of people to fight for independence.
As
soon as the country gained freedom the Sangha’s social role and prestige
were affirmed. The young government needed moral support in order to build
and control the country. The kings selected Buddhism as the main ideology,
which was more popular than Confucianism which would have put the country
again at risk of domination by northern invaders.
2.
The monks’ activities entering social politics
Zen
Master Khuong Viet
(933-1011)
His
given name was Ngo Chan Luu. He was born in Cat Li village, Thuong Lac
district, and lived in Pho Da pagoda. In 971 He was bestowed
by King Dinh Tien Hoang the title Khuong Viet, meaning “help Vietnam”.
In addition, he was appointed the Supreme Patriarch of the Sangha council
working officially for the imperial court and stabilizing society through
Buddhist doctrines.
He
assisted King Le Dai Hanh in the role of consultant on diplomacy with Sung
China.
He
analyzed the Sung’s conferred - kingship poem brought by Ambassador Li
Jue. His reply made the ambassador admired the Vietnamese. Especially,
in 980 he was asked by King Le Dai Hanh to write the Farewell poem for
the ambassador.
In
a warm spring wind, hoists a sail.
I
see my saint going back home,
An
arduous journey would be ahead,
And
your way would be long.
Being
attached, giving a farewell drink,
I
will miss you, my heavenly messenger.
For
our relationship,
Please
report skillfully to the King.
His
remarkable talent was what he used to assist King Le on diplomacy with
the Sung, and the Sung paid great compliments to the Vietnamese’s intellectual
faculties.
He
died in 1011.
Zen
Master
Do
Phap Thuan
(924-990)
In
the Earlier Le Dynasty, King Le Dai Hanh usually consulted Master Phap
Thuan about national affairs such as politics and diplomacy. Specially,
the king asked him to compile diplomatic documents.
In
986, the Sung sent Ambassador Li Jue to Vietnam to confer with King Le
Dai Hanh. He was required to disguise himself as a boatman to pick up the
ambassador. Crossing the river in a boat, Ambassador Li Jue saw a couple
of geese swimming, he suddenly improvised a pair of poetic sentences:
A couple
of geese side by side,
Look
up to the sky.
Rowing
the boat the Master immediately improvised a pair of parallel sentences:
Their
white plumage displays on the blue stream.
In
a green wave, their pink feet swim.
That
really made a strong impression on the ambassador. After turning back home
he sent the Master a poem that contained a meaning of his respect for King
Le Dai Hanh as his majesty.
When
the king asked how the nation’s destiny would be, he answered by a verse:
Like
woven canes the nation’s destiny stands
Peace
now adorns the Southern sky
If
mindful wisdom tends the Palace
All
warring stops, all strife withers.
(Quoted
from Zen Poems from Early Vietnam, General Editor Nguyen Duy – Saigon
Cultural Publishing House).
It
was noted in the Zen book under the title of Thien Uyen Tap Anh: “He
was very capable at researching and analyzing the plan in the beginning
of the Earlier Le Dynasty. When the country was in peace he refused to
receive any award. Therefore, King Le Dai Hanh respectfully called him
Do Phap Su, Master Do, and assigned him the responsibility of royal documents”.
In
this dynasty he was an important adviser that kept the nation’s honor
intact and made the Sung respect the nation’s sovereignty.
Zen
Master Van Hanh
(?
– 1018)
He
was an eminent monk, was a man of immense erudition, was well-versed in
doctrines, and mastered all ideologies of three religions: Buddhism, Taoism,
and Confucianism. He was greatly respected by King Le Dai Hanh.
In
980, Sung invaders came to Vietnam. The king asked him: “How about our
force, will we win or lose?” He said: “After only three or seven days
the enemy will withdraw”. The fact he had stated then happened.
In
the time of Le Long Dinh people utterly detested this tyrant, so the Master
and Dao Cam Moc had the foresight to raise Ly Cong Uan for the throne.
After the death of Le Long Dinh this plan was successful. The Ly dynasty
was founded from then. His prophecy was proven to be correct. He used verses
such as this to encourage people:
To
northern sea King Le sinks
Over
southern sky Ly reign rules
In
the four directions war stops
Everywhere
safeness adorns
Throughout
the Dinh, Le, and Ly dynasties, Master Van Hanh had devoted his knowledge
to all three eminent kings. He became a national hero who kept the nation
away from dependency and brought the kings the most effective policies.
Zen
Master Vien Thong
(1080-1151)
He
refused the title of National Teacher, having twice been given plenipotentiary
power in ruling over the country. However, in 1130 when he was asked about
the nation’s affairs by King Ly Nhan Tong, he said right away: “Whether
safe or dangerous people are like things that are predictable. It is a
virtue that a king must practice effectively to rule over his nation. The
king’s compassion should penetrate everyone. Then people will love him
as they love their parents, and respect him as they respect
the sun and the moon. That means that people are put in a safe place”.
He analyzed suppressing a rebellion as following: “It is the mandarins
who should win the people’s heart. The nation’s existence is based
on the people’s will. I know from experience that noble men bring a nation
prosperity while a mean person makes a nation decay. The nation’s life
or death has arisen step by step, not in an instant. The weather can hardly
be cold or hot immediately but it goes from Spring to Autumn. Like this,
a king is not able to suppress a rebellion right away but he is able to
improve things day by day. Holy kings had much experience of this natural
law, so they had to practice their virtue in order to rule over the nation
in peace. If the king can do that there is nothing to worry about the nation’s
future. If not, the nation can hardly avoid coming to decay.
That
is the cause of the gradual decline or gradual prosperity of a nation”.
Zen
Master
Nguyen
Minh Khong
(12th
century)
In
1130, King Ly Than Tong had got a strange disease of the nervous system.
He roared all day. His body appeared to have as much fur as a tiger’s.
No physician could treat him. One day, some children sang a folksong:
Practice
with a thick bamboo
There
is a man called Nguyen Minh Khong
Who
can treat the king
Right
afterwards, some mandarins went to find him and took him to the Palace.
Arriving into the Palace he asked for a cauldron of boiled water that he
put 100 needles in. When examining the king he shouted at the king: “Why
does a nobleman, being a head of a nation, get mad?”
After
that he treated the king by acupuncture. When the king had recovered he
had changed into a nice man, and he turned to place his faith in Buddhism.
He conferred the title National Teacher Ly on the Master.
By
the myth of king-tiger, it is clearly to think that Nguyen Minh Khong used
the best way to be invited to the imperial court. He awakened the king
by his shout. In no one’s lifetime, had anyone ever dared to advise the
king, let alone shout at him. The meaning of his shout was to mention the
nation’s affairs that the king’s staff lacked the capability of running.
That is why, when the king recovered, the Master became the National Teacher
who could help the king to solve the nation’s problems.
The
above-mentioned are the specific activities of the monks who took part
in the nation’s affairs of three dynasties: Dinh, Le, Ly. Regretfully,
feudal historians only mentioned the kings and the mandarins in these reigns.
The facts were noted very little. There only remains the names and the
positions of monks that were advisers and national teachers such as: Sung
Pham (died In 1087), National Teacher Thao Đuong (1054 – 1105), Kho
Đau, Khong Lo, Thong Bien, Vien Chieu, Man Giac, Chan Khong, Giac Hai,
and Hue Sinh.
3.
The
characteristics of monks’ political role
There
are many reasons why the monks must take part in politics. The 10th century
is the first century that the nation really gained its independence.
The Khuc family rebelled continuously. Then King Ngo Quyen won against
the southern Chinese force. Next, King Dinh Tien Hoang suppressed the
rebellion of the 12 war lords, and founded an independent nation. It was
the century that Buddhism actively contributed to establishing the nation.
In 971, King Dinh Tien Hoang established the Sangha, bestowed the title
of Supreme Patriarch on Ngo Chan Luu, and also conferred the title of Khuong
Viet The Great Teacher on him. The king officially confirmed Buddhism as
a spiritually guiding principle of the imperial court’s tasks. And King
Le Dai Hanh appointed Zen Master Phap Thuan and Zen Master Van Hanh as
political advisers. The three Zen Masters have continuously helped King
Ly Thai To in the next century.
The
monks took part in the nation’s tasks but did not to expect their postions
with authority. They only came to give the king their advice then went
back to their pagodas.
Why
did they contribute to the nation’s tasks?
First,
they were knowledgeable, had national consciousness, lived close to people,
and understood the people’s sufferings when the nation had been under
the harsh policy of the northern invaders.
Second,
they never tried to usurp the throne or take any position in the government.
Therefore, the king trusted them.
Third,
unlike Confucian scholars, they did not follow the theory of loyal sentiments.
They were likely to cooperate with any king who would bring people happiness.
Fourth, the king needed their knowledge. Especially, in the Dinh and Le
dynasties the kings were not intellectuals. In addition, at that time there
were a few Confucian scholars but they had only served one dynasty.
Studies
about activities of the three Zen masters, Ngo Chan Luu, Phap Thuan, and
Van Hanh, show that they contributed a great deal to politics.
Titular
Khuong Viet, “Help Vietnam”, presented his important work. In 986 when
the Sung’s ambassador Li Jue came to Vietnam it was he that was asked
to deal with the ambassador, because he had the best capability at that
time. His work for the nation was so significant that it was noted in the
Zen book under the title of Thien Uyen Tap Anh: “He was greatly respected
by King Le Dai Hanh who always followed his advice”.
Although
Zen Master Van Hanh was helping the Earlier Le dynasty, he decisively ended
this reign because of Le Long Dinh’s cruelty. Then without hesitancy
he supported Ly Cong Uan to the throne.
After
King Le Dai Hanh died, his son Le Long Viet came to the throne. After only
three days he was killed by his brother, Le Long Dinh. Knowing Long Dinh’s
savagery, Ly Cong Uan held Long Viet’s corpse crying. Such was Van Hanh‘s
thinking that he nursed the feeling of raising Ly Cong Uan to the royal
throne. He showed his thoughts by his poem. He made a clever scheme to
support Ly Cong Uan to come to the throne with flying colors. By his prestige
he was able to stabilize the imperial court and the people.
Compared
with the kings of Dinh and Le, the kings of Ly were more erudite. Their
devotion to Buddhism was more spiritual and more intellectual. They all
studied Buddhist doctrines and usually discussed the doctrines with the
Zen masters. In the imperial court there appeared scholars, among them
many were trained by Zen masters. The Sangha only held moral leading positions
and held positions of advisors in the nation’s affairs such as economic
and political strategies. They did not take on diplomatic posts or compiled
royal documents.
In
the beginning of three dynasties, the Zen masters organized campaigns to
awaken people’s national consciousness by employing geomancy (divination
by means of figures, or lines, or geographic features) and the sibylline
utterances of women prophets. They directly made plans, compiled imperial
documents, received diplomatic delegations, and discussed military
strategy. Once the imperial court had been established, they only took
the position of consultants on morality. Some monks usually came to the
Palace, but others refused to come to the capital city even when having
been given invitation edicts by the kings. Master Van Hanh, who significantly
contributed to nation’s affairs, still kept his monk character.
After working at the Palace he always went back to the pagoda. His code
of conduct was typical of the other Zen masters’. They worked for the
sake of the nation, but never became attached to their work nor strove
to become famous. Finally, they turned back to cultivating their Buddhist
minds.
II.
The
Buddhism’s role in Tran dynasty.
1.
A
generalization of characteristic of Buddhism.
This
chapter does not mention monks’ activities because Buddhism
in the Tran dynasty came to the pinnacle and entered into the details of
nation’s affairs through the kings and their staff. The kings, who became
monks or were reigning were all profound students of Buddhist doctrines.
The kings were always given advice on ruling over the nation by National
Teachers or Zen Masters as follows:
- Tran
Thai Tong (1218-1277)
-
National Teacher Truc Lam
-
National Teacher Đai Đang
-
Tue Trung Thuong Si
-
Tran Thanh Tong
-
Tran Nhan Tong, Truc Lam Đau Đa
-
Tran Anh Tong
-
Tran Minh Tong
-
Zen Master Huyen Quang
-
Zen Master Phap Hoa
-
National Teacher Bao Phac
-
National Teacher Tong Canh
-
National Teacher Lam Son
Their
activities noted in history books show that Tran’s Buddhism, the Truc
Lam (Bamboo forest) Buddhism, which was a special Zen sect developed by
King Tran Nhan Tong, became a Buddhist ideology being attached to the people.
The mass Buddhist Movement, built by the king, was participated in by all
the people. In a different way in the Ly dynasty, the monk’s lives and
the people’s lives were spiritualy and temporally linked together in
the Tran dynasty. A head of a Buddhist Congregation was sometime a Zen
master, and at other times a king’s father. Especially, in these dynasties
the kings were likely to hand over the throne to their sons very early
in order that they could become a monk. However, they still held a position
of leadership in the imperial court. King Tran Nhan Tong who won against
the Yuan invaders, became a monk in 1299. He was the founder of the Bamboo
Forest Zen sect. With his remarkable talent for the art of war he turned
the top of Yen Tu mountain into his pagoda. From this position on the top
he had a good view of the battlefield whenever northern invaders came.
In
March 1301, King Tran Nhan Tong (Truc Lam Dau Da) in his capacity as a
wandering monk, and his staff went to Champa in order to watch
Southern regions. He spent eight months there. During his stay he made
a good relationship with King Che Man and a promise to give his daughter,
Princess Huyen Tran, in marriage to the king in exchange for two districts.
The fact was that King Tran Anh Tong invaded Champa in 1311, three years
after King Nhan Tong died. It was an expansionist strategy, a great plan
that King Nhan Tong made for his successors to carry out until it succeeded.
However, it was the lasting war that made the Tran reign weaken later on.
2.
The
Buddhism’s political role in Tran dynasty.
A characteristic
of Truc Lam Buddhism was to enter everyday life. It was a form of Buddhism
devoted to the material and spiritual well-being of the people.
Regarding
this leading principle National Teacher Vien Chung said: “When you decide
to devote yourself to people, you should consider the people’s wishes
and thinking as being your own. However, you should be never neglecting
your personal cultivation of Buddhism”.
King
Tran Thai Tong said: “A politician should bring Buddhism to society.”
King
Tran Nhan Tong wandered all the villages to destroy false doctrines and
heresies, and advised the people on how to do ten-fold good.
The
pagodas in the mountain still had contact with people’s lives
and the nation’s politics.
Tran’s
monks did not directly take part in politics, but Buddhism was an important
factor that linked people’s minds. The Buddhist spirit made
kings employ a golden means to govern the nation.
In
1284, meeting with the violent forces of the Yuan, King Tran Nhan Tong
called the Dien Hong Conference to discuss the problem. The participants
were not members of the aristocracy but were the oldest persons. Whenever
the king met a mandarin’s servants he always inquired after them, and
kept them away from his escorts’ threat. He said: “When living in peace
we have imperial guards to protect us. If the nation gets into trouble,
it is the servants that will protect us”.
The
tale of Hoang Cu Da not being given a mango and the tale of King Thanh
Tong burning a list of the mandarin’s capitulation to the Chinese show
that Tran’s dealing with politics was compassionate.
This
story recounts to us that once King Thai Tong gave mangoes to the mandarins,
but the servant Cu Da was not given any. When the Yuan invaders came
to the East Quay Cu Da flet by boat. Meeting the Crown Prince in the contrary
direction he stole away to the opposition bank. In a hurry, the imperial
troops cried out: “Where are the Yuan forces?” He replied: “I don’t
know. Ask the guys eating mangoes”. After victory in battle, the Prince
asked for the punishment of Cu Da in order to threaten other
unfaithful servants. The king said: “He deserves to be killed and all
his clan. But his doing was my fault. I pardon him from death penalty.
Let him fight the enemy to expiate his sin”. (The first Yuan invasion
of Vietnam in 1257).
When
the Yuan force was still strong, there were some unfaithful mandarins that
made a relationship with them. As soon as the Yuan force had been
defeated, a list of capitulation was found. The imperial court wanted to
find them guilty and to punish them, but King Thanh Tong thought that there
was no use punishing these mean individuals and he burned the list to reassure
everyone. (The second Yuan invasion of Vietnam in 1285).
Once,
a petition submited to King Minh Tong reported that there were many people
wandering here and there, without their names being listed, or paying taxes,
or working for public benefit. The king said: “If peace doesn’t adorn
our nation then there are no such persons. We have no need to punish them”.
In the years of bad harvest and during the spread of disease, the imperial
court called on the rich to give help. The king also asked the herbalists
to produce herbal remedies to give to the sick people. In 1362 the king
stayed in Thien Truong Palace, where people who were ill or hungry could
come to get medicine, money and rice.
It
was King Nhan Tong that employed the potential of Buddhism to serve politics.
His entering monkhood and his years of proselytizing all over the country
made the Truc Lam Zen sect strong It became a religious force to support
the dynasty.
After
having handed over the throne to Tran Minh Tong, King Anh Tong intended
to become a monk and follow his father’s work. Regretfully, he died before
carrying out his wish.
It
should be noted that although the kings employed Buddhist potential to
link up people’s hearts they were never in disguise. They were genuine
monks and Buddhists. They only wished to devote their abilities to Buddhism,
as well as to the nation and their reigns.
The
time of the Dinh, Le, and Ly dynasties, and of the Tran dynasty marked
a remarkable stage in the national history. It was the time of the first
independence of the nation.
It
was also the time when Buddhism strongly developed its effect on society
and politics. As regards the causality, the nation’s stabilization and
prosperity arose from the peaceful mind of the people. The Buddhist doctrines
show that when inner feelings are happy the surroundings are charming.
In
the beginning, with their talent in diplomatic relation, the Zen masters
and the kings devoted themselves to the nation. Then they came into society
in order to convert people to doing good. The kings applied Buddhist doctrines
to govern the nation. Buddhism in the masses and in the Sangha
remarkably contributed in every way to the golden ages in the national
history.
Translated
by:
VUONG
THI MINH TAM
Edited
by:
STEFAN
GORZULA PhD
Reference
materials:
Chinese:
1.
Thien Uyen Tap Anh Ngu Luc (A collection of asphorisms), written by Thong
Bien.
2.
Trung Khac Đai Nam Thien Uyen Truyen Đang Tap Luc (a collection of Zen
masters’ stories), edited by Phuc Đien.
3.
Khoa Hu Luc, written by Tran Thai Tong.
4.
A history of Dai Viet, written by Le Van Huu.
5.
A history of the unification of great Vietnam, written by Cao Xuan Duc.
6.
A general history of Dai Viet, written by Le Quy Don.
Vietnamese:
7.
A complete history of Dai Viet, written by Cao Huy Giu and Dao Duy Anh,
published by Social Sciences Publishing House, Hanoi 1971.
8.
A history of Vietnamese Buddhism, chief editor Nguyen Tai Thu, published
by Social Sciences Publishing House, Hanoi 1991.
9.
A treatise on Vietnamese Buddhism - volume 1, written by Nguyen Lang, published
by Literary Publishing house, Hanoi 1994.
10.
Vietnamese Buddhism, written by Thich Duc Nghiep, published by HCM city
Publishing House- 1994.
11.
A brief history of Vietnamese Buddhism, written by Mat The, Hanoi 1994.
12.
Vietnamese Buddhism- from the beginning to the XIII century, translated
by Tran Van Giap and Tue Si, Saigon 1968.
13.
The activities of the three Patriarchs, translated by Tran Tuan Khai, Saigon
1971
14.
Literature of the Ly dynasty, written by Ngo Tat To, Saigon 1960.
15.
An Early literary history of Vietnam, written by Nguyen Dong Chi, Hanoi
1942.
16.
A brief history of Vietnam, written by Tran Trong Kim, Hanoi 1928.
MỤC
LỤC
TIN
TỨC VÀ HÌNH ẢNH