Dẫn
nhập
Trên
2500 năm nay tôn giáo của Sĩ-đạt-ta Gotama, một vị thánh
xuất thân từ giai cấp chiến sĩ thuộc dòng họ Thích-ca ở
Bắc Ấn mà thế giới đã biết đến; tôn giáo này một cách
hòa bình đã lan tỏa vào nhiều vùng đất xa xôi của châu
Á. Từ trước thế kỷ thứ 12, Phật giáo đã hòa nhập vào
nền văn minh Á châu, đến ngày nay đã có hàng trăm triệu
người trên thế giới theo Phật giáo, từ những hải đảo
xa xôi của Nhật Bản, Bắc Hàn và Nam Hàn, Trung Quốc, Mông
Cổ đến những quốc gia Nam Á và Tích Lan. Số lượng Phật
tử ở những quốc gia Phương Tây như Hoa Kỳ, Canada, những
quốc gia Âu Châu càng lúc càng tăng theo thống kê hàng năm.
Một
điểm độc đáo của Phật giáo là không có vị trí dành
cho Thượng đế, đấng Sáng tạo tối thượng. Hệ thống
giáo lý của đạo Phật dựa trên quan niệm về một nền
đạo đức vũ trụ trong đó mỗi cá nhân đều tiềm tàng
năng lực phát huy đạo đức và trí tuệ đến chỗ hoàn thiện
bằng chính nổ lực của mình.
Tuy
nhiên Phật giáo không phải là một tôn giáo nhất thể, ngược
lại Phật giáo rất đa dạng và ngay cả trong một dòng truyền
thừa đã có thể có những cách lý giải và hành trì khác
nhau của các chi phái. Để tu tập sự bình an cho bản thân
và xã hội điều cần thiết là hành giả phải nhận thức
được thế giới quan độc đáo của Phật giáo.
Thế
giới quan Phật giáo
Đức
Phật miêu tả vũ trụ là một không gian lớn, xung động nhưng
không do ai sáng tạo gồm hàng ngàn thái dương hệ, mỗi thái
dương hệ có mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao, và cảnh
giới của chư thiên, ma quỷ thuộc nhiều chủng loại khác
nhau. Như vậy thì quả địa cầu không phải là hành tinh duy
nhất có loài người, thú vật và cây cỏ. Nhiều lần và
nhiều lần mỗi sinh thể được sinh ra và chết đi trong vòng
chuyển kiếp bất tuyệt gọi là samsara. Cách nhìn không lấy
địa cầu làm trung tâm là cách nhìn phổ biến, thể hiện
trong nhiều tông phái Phật giáo. Theo mỗi thời kỳ lớn đều
có một sinh linh khi tích tập đầy đủ đức hạnh và trí
tuệ mà trở thành bậc giác ngộ, một vị Phật. Vị Phật
này sẽ tuyên bố giáo pháp và thành lập hội chúng tu học
như Đức Phật lịch sử Thích-ca Gotama đã làm. Bất cứ thời
kỳ nào nào cũng có nhiều vị Phật hóa độ ở nhiều quốc
độ khác nhau trong vũ trụ mênh mông này. Một số bộ phái
Phật giáo không tín ngưỡng Đức Phật Thích-ca của lịch
sử bằng những vị Phật trong vũ trụ, đặc biệt là Tông
Tịnh độ, tông phái tín ngưỡng Đức Phật Vô lượng thọ
(hay Vô lượng quang). Vị Phật này đã tạo lập quốc độ
riêng ở phía Tây của địa cầu làm trung tâm của niềm tin
Phật giáo.
Cùng
với Đức Phật Thích-ca của lịch sử, tất cả những tông
phái Phật giáo đều hoàn toàn đồng ý rằng một cá nhân
cuối cùng có thể sáng suốt như một vị Phật. Một chúng
sinh quyết định thành tựu trạng thái sáng suốt cao nhất
trong kiếp sống sau cùng của mình được gọi là bồ-tát.
Đặc biệt truyền thống Bắc truyền hầu như xác lập rằng
tất cả mọi người đều phải dũng mãnh phát nguyện to lớn
như vậy trong khi truyền thống Nam truyền gìn giữ quan điểm
cho rằng người ta có thể khác biệt nhau và vì vậy có quyền
quyết định sự giải thoát tối hậu theo ý của mình.
Theo
Đức Phật thì không có sự trừng phạt vĩnh viễn dù tội
nhân phạm phải tội lỗi nghiêm trọng như thế nào đi nữa.
Tuy nhiên một người có thể phải chịu quả báo đau khổ
và rất là lâu dài trong những cảnh giới giải nghiệp để
đền trả những tội ác mà mình đã gieo tạo, có thể rơi
vào những cảnh giới bất hạnh trong kiếp sống sau này. Tuy
nhiên sau khi đền trả tất cả những tội lỗi do mình gây
ra người ấy được sinh trở lại vào cảnh giới loài người.
Niết bàn chỉ là một trạng thái tịch tĩnh vĩnh hằng, là
một thực tại khi tất cả những nghiệp quả của một người
được đền trả hoàn mãn.
Đức
Phật từ chối thảo luận vấn đề nguyên nhân đầu tiên,
ngày tận thế, và sự hiện hữu của một cái ngã sau trạng
thái niết bàn chỉ vì lý do là những vấn đề này vượt
ngoài tầm nhận thức của con người và vì vậy không thể
chứng minh. Tuy nhiên Phật xác nhận rằng pháp mà Đức Phật
tìm ra là khả chứng và dành cho tất cả mọi người tự
chứng nghiệm. Một khi đã giải thoát rồi thì tâm thức con
người sẽ được tự do để mặc sức tìm tòi những bí
ẩn của vũ trụ. Sự sáng suốt của Phật về phương thức
chứng đạt thì một người có thể truyền dạy và người
khác có thể học tập. Vì vậy theo Đức Phật tôn giáo không
phải là để tin mà là để thể nghiệm và tự chứng nghiệm
ngang qua những nổ lực của bản thân.
Những
cách biện giải khác nhau trong Phật giáo Nam Truyền
Những
vị chuyên tu và giảng sư thuộc Phật giáo Nam truyền đã
có những quan điểm khác nhau về thứ bậc quan trọng của
giới luật và các pháp thực hành trong việc tu tập theo Phật
giáo. Những người tin Phật đứng trên lập trường xem Phật
giáo là giáo thuyết của giải thoát tâm linh thì sẽ đặt
nặng việc chứng đạt giải thoát niết bàn vì vậy mà xuất
hiện danh xưng ‘Phật giáo của Niết-bàn’. Phật giáo của
Niết bàn có mục tiêu duy nhất của kiếp sống là giải thoát
tâm linh mà thôi; giải thoát tâm linh được thực hiện ngang
qua con đường Thánh đạo tám nghành, thành phần của Bốn
thánh đế. Như vậy họ cho rằng cuộc sống đầy những đau
khổ và con đường duy nhất để thực sự tiến hóa trong
cuộc sống là không chấp thủ bất cứ điều gì, kể cả
phước và không phải phước, vì mục tiêu của những vị
này là không còn phải tái sinh dù là sinh vào cảnh giới nào
đi nữa.
Tuy
nhiên một nhóm Phật tử khác lại tranh luận rằng chí hướng
như trên có thể là khiếm khuyết và cho rằng năng lực của
nghiệp chi phối tất cả. Theo đó, mục tiêu cuộc sống của
những vị này là tích tạo tối đa phước nghiệp để đạt
được thành tựu lớn cho kiếp này và những kiếp sau. Phước
và tội chính là tài sản tâm linh mà thật sự người ta có
thể mang qua kiếp sau và vì vậy ý nghĩa cuộc sống là tích
tạo phước đức cho mình. Hầu hết những Phật tử thuộc
hệ thống tư tưởng này thích giới hạn ruộng phước trong
phạm vi Tăng bảo chớ không phải là người nghèo khổ hay
người thiếu thốn; người nghèo thiếu không phải là ruộng
phước tốt nhất.
Một
nhóm Phật tử khác nữa lại có niềm tin căn bản đối với
vị Phật thứ năm sẽ giáng trần trong tương lai, đức Phật
Di lặc. Trong Trường Bộ kinh Phật Thích ca đã thọ ký rằng
đức Di lặc sẽ chứng đạt giác ngộ khi thế giới này trải
qua một thời kỳ tai kiếp toàn cầu. Theo bản kinh này Di lặc
là danh hiệu Đức Phật thứ năm và cũng là Đức Phật cuối
cùng của thế giới này. Ngài sẽ giảng thuyết một giáo
pháp giống y như Đức Phật Gotama và sẽ làm cho thế giới
thật sự bình an khi thọ mạng của con người đạt đến
80 ngàn tuổi.
Những
người Phật tử này tin rằng tiến trình vận hành của thế
giới đã được định trước rồi và không có thay đổi.
Tuy nhiên mỗi cá nhân có thể ra công tìm kiếm một phương
dược ngỏ hầu giữ gìn sức sống để gặp Phật Di-lặc.
Cả
ba cách nhận thức đạo Phật trên đây đều có cơ sở từ
thánh điển Phật giáo Nam truyền. Cả ba cùng xem tam tạng
là nguồn tư liệu khả tín, cùng quy y một Đức Phật. Sự
khác biệt ở đây là do mỗi nhóm Phật tử chọn lựa, xem
trọng một bộ phận nào đó trong thánh điển để làm nền
tảng cho cách nhận thức của mình. Nhưng tất cả đều đồng
tình về tướng trạng của thực tại và những phẩm tính
của Đức Phật.
Theo
cách nhìn của Đức Phật: Căn bản thì mọi người đều
bình đẳng
Kinh
Aggannasutta, một trong những bài kinh chủ yếu và rất hàm
súc của Trường Bộ Kinh, là mảng tư liệu rất tốt khi nói
về nguồn gốc siêu nhiên của loài người. Từ cội nguồn
này loài người phát triển thành xã hội và hệ thống giai
cấp của nước Ấn Độ cổ đại. Nội dung ý nghĩa được
lồng vào mẫu đối thoại biểu trưng giữa Đức Phật và
hai vị Bà-la-môn đang có ý nguyện gia nhập vào giáo hội
tăng-già.
Theo
Đức Phật thì loài người là hậu duệ của một dạng thiên
thần phi giới tính và tự thân tỏa ra ánh sáng. Vì bị cám
dỗ mà những vị thiên thần mắc kẹt lại trần gian. Khi
đã đánh mất năng lực siêu nhiên, những thiên thần phải
chịu đựng hàng loạt những suy thoái của môi trường do
chính sự bất công đối với đồng loại mà tạo nên. Để
phòng ngừa những sa sút nặng hơn nữa họ bầu chọn ra vị
vua đầu tiên gọi là Mahasammata hay Người-được-dân-tuyển-chọn
để làm nhà cai trị cầm quyền bảo vệ công lý và trừng
phạt những người đáng trừng phạt. Người ta thấy rằng
bài kinh này tác động vào nền văn hóa Phật giáo qua chữ
sammata hình thức viết tắt của từ Người-được-dân-tuyển-chọn.
Ngày nay, trong ngôn ngữ Miến-điện từ sammata vẫn còn được
sử dụng để chỉ cho chức vụ tổng thống dân cử của
quốc gia.
Dựa
trên câu chuyện này thì tất cả những thành viên của nhân
loại đều bình đẳng và không có một độc quyền nào dành
cho nam giới đối với nữ giới hay ngược lại. Hơn nữa,
quyền lực của nhà vua hay của chính quyền đều do người
dân trực tiếp tạo dựng. Bất công dựa trên màu da thì không
thể chấp nhận vì bất công chính là nguyên nhân đã gây
nên nạn suy thoái môi trường và được xem là một trong những
tội lỗi đầu tiên mà tổ tiên của loài người đã phạm
phải.
Những
học giả về Phật giáo đã lý giải và xem câu chuyện trên
là một dị bản của bài tụng ca sáng thế ký nổi tiếng
trong RgVeda. Trong bài tụng ca này sáng tạo ra giai cấp được
xem là việc cơ bản trong công trình sáng tạo ra vũ trụ. Cơ
chế bầu chọn được ghi lại trong câu chuyện Sammata đã
được những thành viên của giáo hội tăng già vận dụng
và vì vậy mà ý kiến của mỗi thành viên đều được tôn
trọng ngang nhau. Nói chung toàn bộ câu chuyện Sammata đã được
biện soạn dựa trên nếp văn hóa tự viện Phật giáo và
giới luật của tăng sĩ. Về mặt lịch sử thì bài kinh Aggannasutta
cho chúng ta thấy phương thức mà những cộng đồng Phật
giáo xa xưa vận dụng để hóa giải những vấn đề mà họ
gặp phải, tức là, hóa giải thông qua những buổi họp mà
mỗi vị Tỷ-kheo đều có quyền như nhau trong việc trình bày
những ý tưởng của mình.
Tuy
nhiên, trong nền văn hóa Phật giáo thì lòng tín nhiệm đối
với kinh điển là rất lớn như trường hợp Miến Điện
nơi mà kinh điển là nguồn tư liệu được trích dẫn thường
xuyên nhất để nêu lên những nguyên lý dân chủ trong nền
văn hóa Phật giáo Nam truyền. Những nguyên lý trong kinh điển
cho chúng ta thấy do đâu mà người dân được bình đẳng
và do đâu mà chính quyền có quyền lực. Mặc dầu Đức Phật
không hề miêu tả mô hình của một xã hội lý tưởng của
những người tin Phật nhưng bài kinh vẫn ủng hộ cho quyền
bình đẳng của mỗi cá nhân đồng thời chống lại chủ
trương phân chia con người thành những giai cấp, hay thành
những tộc người. Thông điệp của Đức Phật nêu lên một
cách rõ ràng rằng thuở đầu chúng ta đều là thành viên
của cùng một chủng loại người và tất cả chúng ta đều
xứng đáng được tôn trọng và đương nhiên có những quyền
lợi như là một thành phần của thiên nhiên.
Hướng
đến một xã hội hòa bình: Xây dựng một xã hội của mọi
người
Mặc
dầu Phật giáo có phong phú những lời dạy về một nền
văn hóa hòa bình từ nội tâm và tự lực thăng hoa nhưng trong
tam tạng thánh điển Đức Phật chưa bao giờ đề cập đến
một cơ chế điều hành lý tưởng hay một mô hình xã hội
lý tưởng; chưa có những lý giải truyền thống dù theo dạng
Phật giáo niết bàn hay dạng Phật giáo phước nghiệp hay
dạng Phật giáo của thiên niên kỷ mới chú ý nhiều đến
những vấn đề xã hội và toàn cầu. Những người Phật
tử tu tập theo Phật giáo Nam truyền có chiều hướng lơ là
đối với những vấn đề xã hội và những xung đột phi
tôn giáo.
Vì
vậy tôi sẽ chuyển sang bàn thảo về một trong những bài
kinh cổ xưa tên là Mangalasutta hay bài cách ngôn về những
điềm lành. Tôi tin rằng bài kinh này nói chung có thể sử
dụng như một phương pháp khác để giảng thuyết về Phật
giáo và liên quan trực tiếp đến vấn đề xây dựng một
xã hội hòa bình. Theo truyền thống đây là bài kinh rất phổ
biến trong giới Phật giáo, là thành phần của bài kinh Paritta
mà các vị tăng ni thường đọc tụng trong những dịp cúng
kính, lễ hội cầu phúc trọng đại nhất.
Trong
bài kinh Đức Phật đối thoại với một vị thiên. Vị thiên
đặt câu hỏi về bản chất của điềm lành, một vấn đề
gây tranh luận nhiều năm tại thế gian và trên thiên giới.
Nhân đó, Đức Phật giảng giải về 38 điềm lành; một cách
nhìn bao biện giúp cho chúng ta nhận thức được đạo đức
xã hội Phật giáo, nền tảng xã hội của mọi người.
Bài
kinh Mangalasutta
Từ
mangala vừa là từ Sanskrit vừa là từ Pali. Bài kinh này trực
tiếp nói đến một niềm tin từ lâu đã được lưu truyền
trong xã hội cho rằng những biến cố lớn trước khi xảy
ra thì phải có những điềm báo. Ngay cả trong đời sống
hiện đại, niềm tin này cũng rất phổ biến, tuy nhiên mỗi
hệ tín ngưỡng có mỗi cách giảng giải khác nhau về ‘điềm
lành’. Cụ thể một số cộng đồng người rất tin tưởng
vào màu sắc của y phục đang mặc, hay những đặc điểm
nhân tướng, hay vị trí và hướng nhà sẽ làm thay đổi tương
lai của chủ nhân.
Kinh
Mangalasutta ghi lại cuộc đối thoại bằng 12 bài kệ. Trong
bài kệ thứ nhất vị thiên nói lên mục đích của cuộc
tham vấn. Mười một bài kệ còn lại là phần trả lời của
Đức Phật, bắt đầu với việc không thân cận với người
ngu (điềm lành thứ nhất); thân cận với người trí (điềm
lành thứ hai); kính lễ bậc đáng kính (điềm lành thứ ba).
Mỗi câu kệ trừ bài kệ chót đều kết thúc bằng điệp
ngữ: “Đây chính là điềm lành tối thượng”
Tóm
tắt bài kinh Mangalasutta theo những câu kệ:
Kệ
1:
Câu
chuyện ngắn
Vị
thiên thưa hỏi Phật
Kệ
2:
Chớ
thân cận người ngu
Hãy
thân cận người trí
Kính
lễ người đáng kính
Kệ
3:
Sống
trong môi trường tốt
Đã
làm những việc phước
Có
định hướng đúng cho kiếp sống
Kệ
4:
Học
nhiều hiểu rộng
Biết
nghệ thuật, có tay nghề
Biết
tự chủ
Nói
lời đẹp
Kệ
5:
Phụng
dưỡng cha mẹ
Săn
sóc con cháu
Quan
tâm vợ/chồng
Vững
vàng nghề nghiệp
Kệ
6:
Biết
bố thí
Có
đức hạnh
Giúp
cho thân quyến
Hành
xử chu toàn
Kệ
7:
Tránh
xa điều ác
Tránh
xa tập nhiễm
Hoàn
thành nhiệm vụ
Kệ
8:
Biết
kính cẩn
Biết
khiêm cung
Biết
tự tại
Biết
ơn
Biết
nghe pháp
Kệ
9:
Biết
tự chế
Có
nhạy bén
Viếng
thăm người có tu tập
Đúng
thời bàn luận chuyện tu tập
Kệ
10:
Biết
sống đơn giản
Biết
sống cao thượng
Nhận
thức Bốn sự thật cao thượng
Chứng
đạt Niết-bàn
Kệ
11:
Không
giao động giữa thăng trầm
Không
bị sầu lo
Không
bị uế nhiễm
Tâm
hồn thanh thản
Kệ
12:
Người
đã thực hiện tất cả những điều trên sẽ vượt qua tất
cả, thành công trong mỗi lúc; đây là điềm lành tối thượng.
Triết
học của bài kinh Mangala sutta: Một mô hình phát triển tổng
thể
Kinh
Mangalasutta có lẽ là một bài giảng giải về Phật giáo có
hệ thống duy nhất. Bài kinh cho thấy mối liên hệ chặt chẻ
giữa những khái niệm và pháp tu tập trong Phật giáo để
đạt được sự thăng tiến tâm linh, đồng thời cũng cho
chúng ta thấy rằng Đức Phật đã sống một cuộc đời như
bài kinh và thực hành những điều mà Ngài giảng thuyết.
Mười
hai bài kệ trong kinh Mangalasutta chuyển tải một hình ảnh
tròn trịa của Phật giáo. Những điềm lành trong kinh không
phải bị sắp xếp một cách tùy tiện mà liên quan hệ thống
với nhau bắt đầu với những việc có tính vật chất và
ngoại vi nhất. Rồi dần dần bài kinh giới thiệu cho chúng
ta những nguyên lý đạo đức và những lời chỉ dạy về
nếp sống của một người tốt sau cùng là những phẩm chất
thanh cao nhất của tâm thức (một tâm thức không còn lo âu,
không còn uế nhiễm và an tĩnh).
Khái
niệm điềm lành có mối liên hệ trực tiếp với sự thịnh
vượng trong tương lai. Có một lý giải cho rằng bài kinh có
tính chất cách ngôn này là một dị bản đậm đà tính đạo
đức của một chuyện mê tín của người Ấn Độ; bài kinh
này từng bước phát triển khi những giáo đoàn tăng ni đầu
tiên dấn thân hòa nhập một cách tích cực vào nền văn hóa
địa phương.
Bài
kinh cũng cho chúng ta thấy mối liên hệ thực tế giữa một
nguyên lý này với một nguyên lý khác trong Phật giáo, cho
phép chúng ta thấy được toàn bộ tiến trình phát triển
tâm thức. Đồng thời mỗi một điềm lành khi chúng ta tu
tập được thì có thể dẫn dắt cho chúng ta đến việc tu
tập những điềm lành cao hơn. Có điềm lành có liên quan
đến đạo đức xã hội, cụ thể như trách nhiệm đối với
cha mẹ, con cháu, người hôn phối, bạn hữu và quyến thuộc
giúp chúng ta nhận thức được mối liên quan giữa mỗi thành
viên trong xã hội.
Vì
điềm lành có tác dụng nối kết giữa cuộc sống hiện tại
với cuộc sống tương lai ngay sau đó nên chúng ta có thể
thấy đạo đức cá nhân và đạo đức quan hệ có mối liên
quan với sự khang lạc chung của xã hội. Nói cách khác, những
cá nhân trong kinh Mangalasutta không hề tách biệt mà gắn bó
với nhau bằng chuẩn mực đạo đức; một chuẩn mực khi
được tu tập sẽ mang lại an vui chung cho tất cả mọi người.
Ngang qua lăng kính của kinh Mangalasutta thì sự tà ác trong xã
hội là một điềm không lành; nó sẽ làm suy thoái xã hội
và gây ra những vòng xoáy đổ vỡ. Trách nhiệm của mọi
thành viên trong xã hội là hành động và chuyển hóa điềm
không lành xấu thành điềm lành.
Cách
giảng giải này dựa theo mô thức duyên sinh. Cuộc sống của
chúng ta có tiền đề là những người khác, những thành công
và những thất bại của chúng ta có tiền đề là đạo đức
hành xử của chúng ta. Khi mà một điềm lành được thực
hiện thì điềm lành đó cũng sẽ tạo điều kiện cho một
điềm lành khác xuất hiện. Và khi mà tất cả điềm lành
đều được tu tập thì hạnh phúc và thành công trong cuộc
sống là điều chắc chắn. Vì vậy mà bài kinh có tính chất
cách ngôn này là hệ thống những lời dạy về đạo đức
xã hội của Phật giáo, mở ra cho chúng ta một chiều kích
khác trong không gian tương quan xã hội: hạnh phúc và thành
công trong cuộc sống dựa vào chuẩn mực đạo đức của
một cá nhân. Có đạo đức chung của những thành viên xã
hội rồi thì chắc chắn mỗi người trong xã hội đó đều
có hạnh phúc và thành công.
Hình
ảnh đức Phật ngang qua lăng kính của bài kinh Mangalasutta:
tác nhân cho sự chuyển hóa của thế giới
Ngang
qua lăng kính của kinh Mangalasutta, Đức Phật có thể được
xem là mẩu mực lý tưởng, Ngài đã hoàn thiện tất cả những
điềm lành trong cuộc sống và thật sự là ân phước đầu
tiên của thế giới. Chuyện cổ Phật giáo kể lại rằng
Đức Phật trước kia là một vị Bồ-tát đã tích tập vô
lượng phước đức trong những kiếp quá khứ, đủ để Ngài
chứng đạt quả vị vô thượng trong điềm lành thứ năm
[đã làm những việc phước] của bài kinh có tính chất cách
ngôn Mangala.
Về
phương diện đạo đức, Ngài quyết định từ bỏ đời sống
của một thái tử chính là một phước lành giúp cho Ngài
hoàn thành chí nguyện tâm linh của mình. Đời sống của Đức
Phật cho chúng ta thấy tất cả 38 điềm lành mà Ngài đã
thực hiện trong những trường hợp khác nhau. Nơi Ngài, mỗi
một quyết định phước lành nào đều cũng góp phần xây
dựng cho những điềm lành khác. Tổng thể những điềm lành
khiến cho xã hội được chuyển hoá.
Giáo
đoàn Phật giáo đã được thành lập trong nổ lực hoằng
truyền những lời Đức Phật dạy nhằm thúc đẩy nền văn
minh tâm linh của nhân loại. Sự kiện Thái tử Sĩ-đạt-ta
ra đi tìm cầu giác ngộ cũng được xem là một điềm lành,
mặc dầu một số người có thể chỉ trích rằng Ngài không
phải là một người chồng tốt hay một người cha tốt. Thật
ra Đức Phật không hề hoàn toàn chối bỏ trách nhiệm người
chồng, người cha. Ngài đã trở về gia đình sau khi thành
tựu được mục đích của mình. Trong ý nghĩa này, Đức Phật
đã hoàn thành tất cả những điều lành mà Ngài đã giảng
giải trong bài kinh có tính chất cách ngôn Mangalasutta và những
nơi khác trong thánh điển Pali. Dựa trên nội dung của bài
kinh chúng ta khẳng quyết rằng Đức Phật thực hiện những
gì Ngài giảng thuyết và không hề hành động theo hướng
khác. Vì vậy Ngài là vị đạo sư tâm linh chân chánh, cuộc
đời của Ngài là biểu hiện cụ thể của những lời Ngài
giảng dạy.
Bài
kinh Mangalasutta và nền dân chủ
Mặc
dầu trong thánh điển Đức Phật chưa bao giờ nêu lên một
định nghĩa cho xã hội hay phác họa ra hình dáng của một
xã hội lý tưởng nhưng rõ ràng rằng khi mà những thành viên
trong xã hội thực hành những điềm lành thì họ đã tích
cực làm cho xã hội thăng tiến. Những lời Đức Phật dạy
không chỉ hướng đến niết bàn mà thôi mà còn đem đến
phước lạc chung cho mọi người trên đời vì xã hội được
cải thiện khi những thành viên trong đó dấn thân vào việc
làm giảm đi nỗi khổ đau hiện hữu.
Vì
những điềm lành là dấu hiệu báo trước tương lai, điềm
lành gợi lên trong chúng ta ý thức về tính chuyển biến và
tính năng động của xã hội. Xã hội thăng tiến hay suy thoái
tùy thuộc vào sự khang lạc chung của mọi thành viên trong
đó. Nói cách khác, xã hội chính là khối thịnh vượng chung
về đạo đức của những cá nhân. Phẩm chất đạo đức
mà một người đã thành tựu có tác dụng duy trì và thúc
đẩy xã hội theo chiều hướng tốt đẹp.
Hơn
nữa, ba mươi tám điềm lành trong bài kinh không đề cập
riêng một giới tính nào hay giới hạn trong một vị thế
xã hội nào. Ba mươi tám điềm lành có thể áp dụng chung
cho mọi thành phần xã hội. Những điềm lành dành cho người
tại gia cũng vẫn tốt khi áp dụng cho người xuất gia, những
điềm lành cho người nam cũng vẫn tốt khi áp dụng cho người
nữ và ngược lại.
Ngang
qua lăng kính của bài kinh Mangalasutta, xã hội không phải là
một tập hợp gồm những cá nhân biệt lập và riêng lẽ;
mọi người đều tương quan với nhau và với môi trường
thiên nhiên. Một xã hội thường dân là một xã hội biết
tôn trọng luật pháp và trật tự, trong đó tất cả thành
viên là bạn tốt của nhau, tích cực dấn thân vào nhiều
nghành hoạt động, học đường, nghệ thuật và khoa học,
văn chương, triết học, tôn giáo... Mỗi người đều chịu
trách nhiệm với nhau, với môi trường sinh thái và sự khang
lạc chung của toàn xã hội.
Kết
luận
Tâm
của những cá nhân chưa giác ngộ thì có ‘dukkha’, có xung
đột và bất thỏa ý nội tại; nguyên nhân chính là ba loại
khao khát. Theo Đức Phật thì hòa bình nội tâm không phải
là do ân điển hoặc do tình cờ. Không ai có thể một mình
tiến bước trên con đường tịnh hóa nội tâm; chúng ta phải
dựa vào những người khác và môi trường chung quanh. Con đường
này yêu cầu chúng ta phải có ý muốn cống hiến và có nguồn
cảm hứng hoạt động với niềm tin rằng đời sống có nhiều
chiều kích khác nhau; những chiều kích này có thể được
cải thiện và thăng tiến dần dần và đồng bộ thông qua
việc xây dựng một hệ thống khái niệm cốt lõi để bản
thân và xã hội cùng phát triển.
Phật
giáo đã đề cập đến bản chất siêu thoát và bản chất
bình đẳng trong từng thành viên loài người, đồng thời
đề cập đến việc bầu chọn ra nhà cầm quyền đầu tiên
của thế giới với chức danh là Người-được-dân-chọn-lựa.
Đây chính là nền tảng vững mạnh để xây dựng nền dân
chủ ở những nước Phật giáo.
Theo
bài kinh Mangalasutta, một cá nhân không hề độc lập đối
với xã hội mà phải tiến triển trong vị trí là một phần
tử của xã hội. Ngang qua tình thân hữu và những lời khuyên
hữu ích mà một người có thể có được những hiểu biết
tốt hơn về thế giới và tiếp nhận được trí tuệ cao
hơn ngang qua những cuộc đối thoại một cách nghiêm túc với
môi trường, với gia đình và thân hữu, với nền giáo dục,
nghệ thuật, văn hóa, pháp luật và kỷ cương, với những
người có tu tập cho đến khi tâm thức trở nên an tĩnh và
thanh lọc được tất cả những cấu uế.
Trong
kinh Mangalasutta, cũng như trong tất cả những dòng truyền thừa
Phật giáo, sự chuyển hóa luôn luôn khởi động từ ý thức
của con người, ý thức đầy đủ rằng mình cần phải tiến
hóa, cần phải liên tục tự cải thiện ngang qua tình thân
hữu và những mối quan hệ sáng tạo đối với môi trường
và con người. Khi một người sống theo điềm lành thì cuộc
sống của người ấy chính là hiện thân của điềm lành.
Sự tiến hóa mang tính song phương và toàn phương. Xã hội
tiến bộ ngang qua sự tiến bộ của những con người. Phúc
lợi của xã hội gia tăng với sự gia tăng lợi lạc nơi những
con người. Những điềm lành có tác dụng đối với cả hai:
cá nhân và xã hội.
Thích
Minh Thành dịch