VỚI
HÀNH TRANG GÌ CỦA QUÁ KHỨ ?
Dù
với ý niệm không-thời-gian nào : quá khứ, hiện tại, vị
lai – dĩ nhiên là phải đặt vào bối cảnh của Phật Giáo
Việt Nam – thì mặc cho vừa mới bước vào thiên niên kỷ
thứ 3, Phật-giáo-đồ Việt Nam gồm cả hai giới xuất gia
và cư sĩ, đủ mọi tông phái trên địa bàn cả nước và
hải ngoại, tất cả đều phải đối diện với một câu
hỏi lớn :
PHẬT
GIÁO VIỆT NAM ĐI VÀO THỜI ĐẠI MỚI VỚI HÀNH
TRANG
GÌ CỦA QUÁ KHỨ ?
Đi
vào thời đại mới với hành trang gì của quá khứ ? là một
câu hỏi lớn, một tiền đề có tính liên kết trách nhiệm,
liên tục lịch sử, vừa có tính thực dụng thời đại, làm
cho mỗi và mọi Phật tử Việt Nam không thể nào không hết
sức quan tâm.
Cùng
với vận nước nổi trôi, đầy biến động lớn lao và ác
liệt, với những thách đố nghiệt ngã và toàn diện trong
gần 80 năm qua, Phật GiáoViệt Nam kể từ ngày có phong trào
Chấn Hưng ra đời từ năm 1929 cho đến nay, đã chưa một
lần nhìn lại quá khứ của chính mình một cách quy mô, chưa
kết tập kinh nghiệm một cách chính thức hay không chính thức
trên con đường dài 80 năm ấy.
Thật
vậy, trong 80 năm phát triển, PGVN đã trải qua 4 giai đoạn
hết sức phong phú về giá trị lịch sử từ sơ khai mở đường
dưới thời thực dân phong kiến với luồng gió chấn hưng
Phật Giáo từ Trung Quốc thổi sang, tiếp nối với giai đoạn
noi gương Phật tử đời Trần, tứ chúng xếp lam y tham gia
kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược; rồi đến
thời kỳ chịu thử thách hung hản nhất, ác liệt nhất dưới
thời chính quyền Thiên Chúa giáo bản địa trong cuộc chiến
tranh mang tính đối đầu ý-thức-hệ “Quốc-Cọng”, và
sau cùng là giai đoạn đất nước được độc lập, thống
nhất và hoà bình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mà chính
sách và sách lược của Đảng/chính quyền đối với tôn
giáo vẫn còn bị chi phối bởi chủ thuyết Mác-Lénin-Stalinit.
Có thể nói từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho đến
nay-trải dài theo dòng sinh mệnh của dân tộc đến cuối thế
kỷ 20 - chưa có thời nào mà PGVN đã trải qua một giai đoạn
cực kỳ đặc biệt như vậy.
Cố
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, cựu Viện Trưởng Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam ở Huế, trong thư góp
ý với tác giả vào năm 1998, theo ý ngài đã chia ra thành bốn
giai đoạn cụ thể như sau : (có bản sao bức thư kèm theo)
Từ
1930 đến 1951( 21 năm) : giai đoạn bắt đầu phục hưng : tổ
chức hội Phật Giáo ba miền, (1929, ở miền Bắc, 1931, ở
miền Trung và 1932, ở miền Nam) - từ trung ương lan dần đến
làng xã, xuất bản các tạp chí Phật Giáo và mở trường
đào tạo tăng tài ở cả ba miền .
Từ
1951 đến 1963 (12 năm) : giai đoạn lập Tổng hội Phật Giáo
Việt Nam toàn quốc gồm đại biểu của cả ba miền, và là
tiền thân của Giáo Hội PGVN Thống Nhất sau này; chuyển Gia
Đình Phật Hoá Phổ thành Gia Đình Phật Tử Việt Nam; mở
Trường Tư Thục Bồ Đề.
Từ
1963 đến 1975 (12 năm) : giai đoạn mang tính nhập thế nhiều,
Phật giáo tác động mạnh vào các tầng lớp dân chúng.
Từ
1975 đến nay (trên 30 năm) : tiếp tục các Phật sự trên -
thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam bao gồm đầy đủ
các hệ phái PG ba miền; mở nhiều trường Trung cấp, Cao cấp
cho tăng ni trẻ; dịch Đại Tạng Kinh từ chữ Pali, chữ Hán
thành Đại Tạng Kinh Việt Nam
Cả
hai lối chia giai đoạn trên đây, tuy có xê dịch cách nhau
năm ba năm, xem ra chẳng có gì mâu thuẫn mà có thể bổ túc
lẫn nhau trong việc Tập kết Kinh nghiệm 80 năm của PGVN,
và nhờ vậy sẽ giúp đi sát với những biến động chính
trị lớn của Đất nước và sự phát triển của chính tự
thân PGVN trong khung cảnh chính trị và xã hội ở tầm quốc
gia ấy.
Hiện
nay, chúng ta đã thực sự bước vào thế kỷ 21, đã đi vào
thiên niên kỷ thứ ba, vào thời đại mới, nhưng vẫn mang
nặng những di sản của một quá khứ chưa được kiểm điểm,
xem xét, đánh giá đúng mức, chưa tiến hành được việc
tổng kết kinh nghiệm của 80 năm qua. Và như thế, có thể
nào chúng ta chẳng đếm xỉa gì đến kinh nghiệm của
quá khứ ?
Đại
Pháp nạn năm 1963 đã để lại cho chúng ta và cho hậu thế
những bài học gì? Đến nay ta vẫn chưa nhìn thấu cội nguồn
của hiện tượng hai Giáo Hội Ấn Quang và Quốc Tự mà tác
động sâu đậm và di lụy dài lâu của nó vẫn còn đó; hiện
tượng ấy ngày nay được tiếp diễn với hai cái tên khác
là “Quốc Doanh “và “Thống Nhất” với những sự kiện
còn đang phân chia đôi bờ, lúc âm ỉ, lúc bộc phát ở trong
nước, không ngừng hâm nóng ở Cali và Úc châu, và đặc biệt
ở Paris với Phòng Thông Tin Văn Hoá Phật Giáo Quốc Tế là
nơi khởi xuất mọi giáo lệnh hành động do một Phật tử
thuộc GHPGVNTN cầm đầu và được tài trợ hằng năm của
một bộ phận ngoại vi của CIA Mỹ.
Nếu
không tập kết kinh nghiệm thì làm sao chúng ta thấy rõ bàn
tay của các thế lực chính trị và tôn giáo quốc tế mà
trong suốt quá trình gần 100 năm xâm lược, cai trị và bành
trướng của họ ở đất nước ta, họ đã vận dụng mọi
phương tiện với nhiều đòn phép xảo quyệt, tinh vi, thực
hiện chính sách “chia để trị”ï ở mọi địa hạt chính
trị, hành chánh, quân sự, kinh tế, xã hội, ngoại giao, tôn
giáo v.v... …và trong thời điểm 1963-1967, chính sách chia để
trị được ứng dụng là nhằm chia rẽ lực lượng Phật
Giáo để hòng cứu nguy chế độ chính trị đương thời.
Đông
Tây, kim cổ và ở thời nào cũng vậy, chính sách chia để
trị thường được giới cầm quyền sử dụng để bảo vệ
quyền lực và bảo tồn quyền lợi thiết thân của họ. Ngày
nay, sau 40 năm, sách lược chính trị cổ điển ấy vẫn
còn đang được dùng sờ sờ ra đó. Các giới Phật tử
VN, cả trong lẫn ngoài nước- với tinh thần phản quan tự
kỷ, trứớc hết là tự xem xét mình và với trí tuệ Bát
Nhã, có thể nhìn thấu suốt được nguồn cội của vấn
đề để tự mình tĩnh thức và có hành động đúng để
tự sửa sai và giúp đưa giáo hội PGVN đến thống nhất và
đoàn kết thực sự. Chẳng nhẽ, là Phật tử mà chúng ta
lại không đủ cảnh giác, để bị rơi vào cạm bẩy
chia rẽ và xa rời Phật tính hay sao ?
Không
tập kết kinh nghiệm làm sao chúng ta có thể thấy được
chỗ mạnh, chỗ yếu của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, từ
năm 1981 trở đi, với một cơ chế toàn quốc tập họp đầy
đủ 9 hệ phái trong cả nước, sau 25 năm có mặt trong điều
kiện đất nước độc lập, thống nhất và hòa bình, đã
góp phần gì vào việc tái võ trang tinh thần, rèn luyện đạo
đức, tô bồi lại tình tự dân tộc sau mấy chục năm dài
chiến tranh ? Lià xa những mục tiêu nầy thì còn đâu là vai
trò của Phật Giáo Việt Nam ! Hoặc giả có nhìn thấy
vấn đề mà không giải quyết được, thì tại sao? vì lý
do gì? Và ai chịu trách nhiệm ?
Không
tập kết kinh nghiệm làm sao chúng ta thấy được tổ chức
cơ cấu của giáo hội ở trung ương và nhất là ở hạ tầng
cơ sở, tổ chức vi mô của giáo hội đã đưa đượïc giáo
lý của Đức Như Lai đến cho đại chúng ở nông thôn và
ven biên các thành phố như thế nào ? Nói gì đến các vùng
rẻo cao, các vùng đồng bào thiểu số dọc theo Trường Sơn,
ở Tây Nguyên và các vùng biên giới Việt-Trung? Hay cứ tạm
thời thỏa mãn với những kết quả Phật sự bề nổi ở
các thành phố lớn hiện nay?
Làm
sao cho tỷ lệ 80% dân Việt Nam mà thường hay cho là theo đạo
Phật thực sự thấm nhuần giáo lý Phật Đà để mỗi người
tự mình chuyển hóa, ít nhất là thực hành ngũ giới căn
bản trong đời sống hằng ngày, mọi nơi, mọi lúc, rồi tiến
dần lên cao hơn là thực hành thập thiện để tạo nền nhân
bản tốt đẹp và vững vàng cho một xã hội có nếp sống
mới an lạc, dân chủ và hòa bình - một xã hội dân sự Phật
giáo? Câu hỏi đặt ra là : trong 80% dân số ấy, có bao
nhiêu Phật tử thực sự thực hành giáo lý Đạo Phật? Nếu
tỷ lệ ấy còn quá thấp thì tại sao và làm thế nào để
nâng dần tỷ lệ ấy cao lên ? Tổ chức và sự lãnh
đạo của giáo hội mà không đưa đến việc giúp cho các
giới Phật tử hiểu Đạo và thực hành giáo lý nhà Phật
là đi ra ngoài mục tiêu của Giáo hội. Tập kết kinh nghiệm
80 năm qua chúng ta sẽ phải tìm ra đúng đường lối tu học
và hành Đạo đường dài của Phật tử VN ấy.
Qua
80 năm phát triển trong nhiều điều kiện khác nhau, tứ chúng
Phật tử Việt Nam, tùy theo cương vị và môi trường của
mình đã học Đạo, hiểu Đạo và hành Đạo như thế nào
? đã vận dụng giáo lý Phật Đà vào đời sống của mỗi
người và góp phần xây dựng Giáo Hội, Đất nước ra sao
? Không kiểm điểm, không tập kết kinh nghiệm thì làm
sao mỗi người thấy rõ được vấn đề để sửa
sai và cải tiến ?
Không
tổng kết kinh nghiệm, không tiến hành điều nghiên, kiểm
điểm một cách nghiêm túc thì làm sao chúng ta có thể củng
cố được giáo hội về cả hai mặt tổ chức và lãnh đạo
để kịp thời thoát ra khỏi những yếu kém, những sơ sót
được huân tập từ hàng chục năm qua mà ngày nay cần phải
đổi thay, cập nhật nhận thức, quan điểm, canh tân đường
lối và phương pháp vì không còn thích hợp với nhu cầu,
đòi hỏi và điều kiện xã hội mới nữa.
Trước
hết, xin thử xem xét đến phần tổ chức của Giáo Hội Phật
Giáo VN ra đời từ năm 1981 ở trong nước và Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất được khai sinh ở San Jose, Hoa Kỳ
năm 1992. Tuy thời gian, địa điểm, mục đích và thành phần
lãnh đạo khác nhau nhưng cả hai giáo hội đều có cùng một
mô thức tổ chức giống nhau, đó là mô thức hình Kim tự
tháp, có vẽ chặt chẽ ở thượng tầng kiến trúc với các
hội đồng chứng minh, hội đồng trị sự, và các tổng vụ
trưởng phụ trách các ngành v.v.. nhưng ở hạ tầng cơ sở
của mỗi Giáo hội, tức là nói đến hội viên nam nữ Phật
tử là thành phần nòng cốt đông đảo, nền móng của Giáo
hội, thì lại rất lỏng lẻo, kém tổ chức nếu không muốn
nói là vô tổ chức. Cho nên nếu ta nhìn vào chiều
sâu thì mỗi Giáo hội đều không có nền tảng vững chắc
vì thiếu tổ chức ở ngay chính cơ sở hạ tầng, do đó mà
rất mỏng manh, chẳng có thực lực bao nhiêu, không tạo nên
hay chưa tạo nên được nền tảng cho một xã hội dân sự
Phật giáo thật sự.
Trong
thực tế thì Giáo Hội PGVN ở trong nước là kết quả
quy tụ của 9 hệ phái Phật giáo khác nhau, còn ở hải
ngoại với GHPGVNTN là sự tập họp một số chùa, tự
viện v.v. . cùng hệ phái hoặc tùy thuộc vào quan hệ tốt
xấu giữa vị trú trì với các vị cầm đầu giáo hội, mà
quan hệ đó một khi được đặt trên cơ sở tình cảm và
nhất là xu hướng chính trị của cả đôi bên, thì dễ .
. tùy thời biến động, thay đổi một cách dễ dàng chứ
chẳng có gì ràng buộc, gắn bó dài lâu như ta đã thấy.
Ta
thử xem xét nội dung tạo nên sự kết hợp các thành viên
của Giáo hội – 9 hệ phái Phật giáo (ở trong nước) và
các chùa, các tự viện v.v.. (ở hải ngoại) đãø dựa vào
những yếu tố, những nguyên tắc gì ? hẳn là không ngoài
những điều căn bản dưới đây :
Vì
Đạo Pháp và Dân Tộc
Vì
Giáo Lý ràng buộc
Vì
Giáo Chế bắt buộc phải phụng hành
Do
quan hệ dựa vào cảm tính, thầy trò, hệ phái nên “tốt
thì ở, dở thì lui”.
Cùng
xu hướng chính trị nên dễ ăn ý, bắt tay.
Do
tác động, áp lực chính trị từ bên ngoài nên không làm
khác đi được.
Vì
một số yếu tố khác v.v…
Có
một điều đặc biệt là cả hai giáo hội, dường như đã
xem thường vấn đề Giáo Luật –nên không có Hội đồng
Giám Luật hoặc nếu có thì Hội Đồng Giám Luật chẳng thấy
hoạt động, không lên tiếng, chẳng có thực quyền, nên đã
dẫn tới tình trạng dù không ở trong hàng giáo phẩm được
trao trọng trách phát ngôn viên của giáo hội hay cả những
tăng sĩ bình thường chẳng có trách nhiệm gì, ai muốn tuyên
bố hay hành động thế nào tùy thích mà Giáo hội chẳng có
biện pháp gì ngăn ngừa, đính chính, hoá giải hay thi hành
kỷ luật.
Đây
là một vấn đề từ lâu nay đã xảy ra khá nghiêm trọng
: gây chia rẽ nội bộ, (hai giáo hội trong ngoài đối chọi
nhau), đối đầu với chính quyền (liên tôn chống Cọng,
đòi Tự do tôn giáo, đòi nhân quyền, đòi giáo sản, v.v..)ä,
làm mất uy tín đối với Phật tử và quần chúng. Tập kết
kinh nghiệm sẽ đi sâu tìm nguyên nhân cội rễ của vấn đề
để có giải pháp chấn chỉnh thích đáng.
Có
điều chắc chắn là bất kỳ giáo hội nào, dù với tên tuổi
gì, có đông hay ít Phật tử, mới thành lập hay đã có mặt
lâu năm, ở trong hay ngoài nước, nếu lìa xa mục tiêu Đạo
Pháp và Dân tộc, không giữ vững bản sắc Phật giáo, để
dính vào chính trị, bị chính trị lôi cuốn, tác động và
khống chế thì giáo hội ấy khó mà giữ được sự bền
vững nếu không muốn nói là dần dần chỉ còn danh tướng,
không tránh khỏi đi đến sự lỏng lẻo, rệu rã mà chẳng
đem lại được lợi ích gì cho chúng sanh và xã hội, làm
mất uy tín của Phật giáo.
Tập
kết kinh nghiệm 80 năm PGVN sẽ giúp ta tìm ra con đường kết
hợp chính thống, giữ vững bản sắc PG, củng cố được
Giáo Hội, phục vụ được Dân tộc.
Không
tập kết kinh nghiệm làm sao ta thấy rõ những vấn đề cấp
thiết của Giáo hội cần phải nhanh chóng bổ túc, củng cố,
canh tân về mặt lãnh đạo và quản trị, cần tùy duyên
biến hóa để theo kịp với bước tiến mới thời đại,
cần cập nhật hoá mọi mặt để đáp ứng đúng nhu cầu
phát triển của giáo hội và Đất nước.
Nếu
về lãnh đạo, một mặt nhất thiết cần bảo vệ và duy
trì truyền thống công cử những vị đạo cao đức trọng
vào vị trí lãnh đạo tối cao – Tăng thống - để trang nghiêm
giáo hội thì mặt khác cũng xin dành cơ hội cho tất
cả các vị đứng đầu các hệ phái khác (VN có đến 9 hệï
phái) có dịp biểu đóng góp tài lãnh đạo và thể hiện
tinh thần bình đẳng của Phật giáo.
Đó
là việc cần dành cho giới cư sĩ nam nữ được tham gia đầy
đủ, đông đảo và mạnh mẽ hơn về cả ba mặt : tổ chức,
lãnh đạo và quản trị giáo hội - đặc biệt là lãnh vực
quản trị tài chánh mà giới xuất gia thường thiếu kinh nghiệm
do ít am tường và vì giới luật không cho phép tăng sĩ động
chạm đến tiền bạc.
Không
tập kết kinh nghiệm làm sao chúng ta thấu hiểu ngọn ngành
nội dung, phương pháp, cách thức đào tạo tăng tài ngày xưa
có còn phù hợp, còn hiệu quả với điều kiện tâm lý và
môi trường xã hội mới và quần chúng ngày nay không?Vì sao
số lượng tốt nghiệp từ các Trường đào tạo thì
khá nhiều mà lại thấy vắng bóng tăng ni trẻ ở các vùng
nghèo khó, các vùng Tây nguyên, rẻo cao Trường Sơn hay biên
giới Việt-Trung, Việt- Miên- Lào? Có lớp tăng ni tốt nghiệp
nào đã tiếp cận với giới thương bệnh binh bất kể căn
cước “Quốc gia” hay “Cọng sản” ?, với lớp trẻ con
mồ côi, lang thang đầu đường xó chợ, với giới thanh niên
nam nữ mà khả năng Việt ngữ và ngoại ngữ đã khiến
cho họ lìa xa các buổi thuyết pháp mà họ chẳng hiểu mô
tê gì ? v.v.. và v.v..
Vấn
đề Phật giáo đến với quần chúng chứ không phải quần
chúng phải đến với Phật giáo hiện ra quá rõ ràng, do đo,ù
từ cái nhìn, quan điểm, nhận thức cho đến thực hành đều
cần phải xem xét lại trong công tác đào tạo và phương hướng
hành đạo của toàn giáo hội.
Tập
kết kinh nghiệm 80 năm PGVN sẽ dẫn đến sự khẳng định
cần có sựï thay đổi lớn lao ấy.
Và
cuối cùng, không tổng kết kinh nghiệm 80 năm PGVN thì
làm sao chúng ta có thể rút ra những bài học quý báu từ
việc xây dựng Gia Đình Phật Tử, một điểm son về tổ
chức của PGVN đã có từ thời đầu phong trào chấn hưng
Phật giáo, một tổ chức đã chứng minh giá trị sự hiện
hữu nhất định cuả nó trong mấy chục năm qua – đó là
xây dựng và rèn luyện nên hàng hàng lớp lớp thanh niên trưởng
thành từ tuổi oanh vũ, với tinh thần Bi-Trí-Dũng- để làm
rường cột xây dựng của một xã hội dân sự Phật Giáo.
Tất
cả những lý do chính yếu trên đây đã khiến cho việc
đặt vấn đề tập kết kinh nghiệm 80 năm PGVN trở nên
cấp thiết, một đòi hỏi chính đáng và đáng được
đặt lên hàng đầu của mọi nghiên cứu vì nhu cầu tiến
hóa của PGVN. Nghiên cứu và nắm vững tình hình là điểm
khởi đầu của mọi phương pháp luận và mọi thiết
kế .
VÌ
SAO CHO ĐẾN NAY VẪN CHƯA CÓ
MỘT
CUỘC TẬP KẾT KINH NGHIỆM NHƯ VẬY ?
Có
thể do mấy lý do chính sau đây :
Do
hoàn cảnh của đất nước biến chuyển qua ùmau lẹ, quá
dữ dội và hết sức phức tạp cho nên chưa có cơ hội nào
để cho Phật Giáo Việt Nam tiến hành một cuộc tập kết
kinh nghiệm toàn diện có qui mô cả nước và thực sự
có chiều sâu.
Ở
trong nước, kể trừ ngày có Giáo hội PGVN ra đời từ năm
1981 với cơ cấu tổ chức thống nhứt từ Trung Ương đến
địa phương và cứ 5 năm lại có đại hội toàn quốc một
lần và ở mỗi đại hội đều có tổng kết tình hình chung,
cho nên có thể vì thế mà Hội Đồng trị sự Trung Ương
thấy không cần thiết phải có một cuộc Tập kết Kinh Nghiệm
lịch sử như vậy.
Ở
hải ngoại, nơi hiện có đông đảo Phật tử VN với điều
kiện không, thời gian , vật chất và sự liên lạc khá thuận
lợi, nhưng có một số khá đông tu sĩ và cư sĩ co ùlẽ vì
đang có mối bận tâm giữa Phật giáo trong nước và ngoài
nước, hoặc vì nhiều lý do khác nên không lý tới một vấn
đề lớn đòi hỏi Chánh Kiến và Chánh Tư Duy có ảnh hưởng
rất sâu đậm đến Đạo pháp và Dân Tộc.
Dù
là giả thiết với cả ba trường hợp trên đây, thực tế
đã chứng minh và giúp ta đưa ra kết luận :
Chúng
ta xem thường lịch sư ûvà phớt lờ lịch sử. Một mặt
khác, vì chịu ảnh hưởng sâu đậm và di sản truyền thống
lâu đời của một nước ở vào một vị trí địa- lý chính
trị đặc biệt, với một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước
lâu đời cho nên chúng ta đang tiếp tục duy trì cung cách sống,
suy nghĩ và lề lối làm việc tới đâu hay tới đó, chưa
thoát ra được khỏi nề nềp xưa cũ dựa nhiều vào cảm
tính ấy. Một mặt khác, chúng ta thật sự chưa quen với lề
lối, cung cách và tác phong làm việc mới, hiện đại là phải
dựa vào dữ kiện, điều nghiên, phân tích và khoa học. Nhưng
điều rốt ráo hơn hết là chúng ta chưa thật sự đưa Đạo
vào Đời, chỉ chú trọng nhiều về Lý Thuyết chứ chưa mấy
vận dụng, thực hành Giáo Pháp Như Lai của toàn tứ chúng
để tạo nên một sự chuyển hóa xã hội bắt đầu
bằng sự chuyển hóa từ tự thân mỗi Phật tử, để nhờ
vậy, tạo nền vững chắc cho một xã hội dân sự Phật
giáo an lạc và hòa bình.
Nhìn
ra thế giới bên ngoài ắt có thể giúp chúng ta thêm suy nghĩ.
Từ hơn 10 năm trước, vào năm 1995 nhân dịp kỷ niệm
50 năm chấm dứt Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều nước trên thế
giới, từ các cường quốc cho đến các nước nhỏ, ở Liên
Hiệp Quốc và các cơ quan phụ thuộc, đâu đâu cũng tổ chức
kỷ niệm, kiểm điểm để tìm ra nguyên nhân và những biện
pháp ngăn ngưà một tai họa ghê gớm mới cho nhân loại.
Hiện
tượng chính trị đồng loạt và có tính phổ cập ấy của
toàn thế giới trong mấy năm qua phải chăng là kết quả gây
tỉnh thức từ một triết gia Mỹ gốc Tây Ban Nha, George Santayana,
đã từng cảnh báo thế giới như sau :
“Những
ai không đếm xỉa đến lịch sử sẽ lại vấp phải (những
thất bại của) lịch sử. Học từ quá khứ là con đường
trách nhiệm duy nhất để xây dựng lại tương lai, đặc biệt
khi cái quá khứ ấy là một chứng tích thất bại to lớn.”
(Those
who ignore history are doomed to repeat it. To learn from our past is the
only responsible way to gird ourselves for the future, particularly when
that past is the record of a monumental failure.” George Santayana,
Spanish-American philosopher )
Lời
cảnh báo của triết gia George Santayana đâu có chỉ dành cho
hai lãnh vực quân sự và chính trị, cho các chính trị gia
và các tướng lãnh, ma øcho tất cả các mặt khác của đời
sống con người kể cả tôn giáo, của mọi dân tộc trên
toàn thế giới.
Đối
với Phật tử, chúng ta có một tấm gương sáng của Đức
Bổn Sư đầy tính thuyết phục. Đó là sự kiện mà ai cũng
biết là sau nhiều năm Ngài thực hành đường lối tu khổ
hạnh, Đức Phật đã kiểm điểm, suy nghiệm và nhận ra con
đường tu lúc ban đầu Ngài đã chọn và trải qua là sai lầm,
không đúng, không thể đạt đến giác ngộ. Và nhờ vậy,
Ngài đã đổi lại cách tu để cuối cùng Ngài đạt thành
đạo quả.
Kể
từ ngày Đức Phật nhập Niết Bàn, Phật Giáo có truyền
thống Tự Tứ sám hối hằng năm vào dịp lễ Vu Lan. Đó là
dịp chư tăng ni kiểm điểm việc gìn giữ giới luật, bồi
dưỡng giới đức, tinh tấn tu hanøh để nâng cao giá trị
Tăng Bảo nhằm làm chỗ tựa vững chắc cho toàn thể Phật-giáo-đồ.
Tinh thần tự tứ sám hối ấy đâu phải chỉ dành riêng cho
chư tăng ni mà cho toàn cả tứ chúng đấy chứù.
Đến
đây, việc TẬP KẾT KINH NGHIỆM 80 NĂM PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT
GIÁO VIỆT NAM đã trở nên rõ ràng là một vấn đề lớn,
một trách nhiệm lịch sử, một nhu cầu tiến hóa của Phật
Giáo Việt Nam.
Chúng
tôi ý thức rằng đây là một đại công tác, một dự
án lớn của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, của toàn thề
tăng tín đồ trong cả nước và hải ngoại, của chư tăng
ni và cư sĩ đủ mọi thế hệ. Một khi vấn đề được chính
thức đặt ra thì trí tuệ tập thể của PGVN sẽ bảo
đảm thành công mỹ mãn.
*****
“…Vấn
đề anh đưa ra hội thảo, quả thật ít người để ý đến.
Ít chứ không phải không có. Nhưng để ý một cách riêng
lẽ, phiến diện, âm thầm. Chắc khi nào vấn đề được
đưa ra công khai rộng rãi mới có nhiều người quan tâm
sâu rộng, xem đây là một giai đoạn lịch sử tốt của Phật
Giáo Việt Nam hiện đại.”
Từ
Đàm, 1-10-1998
Cố
Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, Cựu Viện Trưởng Viện Nghiên
Cứu PGVN, Huế)
Chúng
tôi xin mượn lời góp ý qúy giáù của Cố Hòa Thượng
Thích Thiện Siêu trên đây để kết thúc bài tham luận này
và hy vọng chư vị Tôn Túc, các vị Thiện Tri Thức tham
dự cuộc hội thảo lịch sử hôm nay sẽ chia xẻ quan điểm
và nội dung đã đưa ra và nếu quý vị đồng thuận với
tác giả, xin trân trọng đề nghị với qúy vị chuyển
đề tài tham luận này đến Hội Đồng Chứng Minh và Hội
Đồng Trị Sự Trung Ương GHPGVN để đưa vào chương
trình nghị sự của Đại Hội kỳ VI- GHPGVN sẽ được
tổ chức vào năm 2007.
Và
cuối cùng, vì nhiệt tình xây dựng Đạo Pháp và Dân Tộc
mà tác giả không tránh khỏi quá bộc trực trong trình bày,
kính xin chư vị Tôn túc và toàn thể quý vị tham gia hội
thảo từ bi hoan hỷ tha thứ.