Sự
thật đức Phật Thích Ca chứng ngộ chân lý lúc Thành đạo
chính là sự thật Duyên sinh vô ngã. Chính sự thật Duyên
sinh vô ngã này, nó quy định toàn bộ đặc trưng hệ thống
giáo lý đức Phật được kết tinh trong Tam Tạng kinh điển.
Nó cũng chỉ ra con đường giác ngộ được thực thi theo một
phương pháp giáo hóa, giáo dục với tinh thần theo lý Duyên
sinh vô ngã mà không có ở bất kỳ một nền văn hóa giáo
dục nào được thiết lập theo hướng tư duy hữu ngã trước
đó. Cụ thể, đạo Phật chủ trương tùy theo căn cơ, từng
thời mà có phương thức, kỹ năng trao truyền giáo pháp thích
ứng cho mỗi đối tượng, mỗi hội chúng với một nội dung
thích hợp để người học đạo tiếp nhận. Nói cách khác,
tổ chức Phật giáo, với đặc trưng duyên khởi tính mà nó
thể hiện “Tính năng động của Phật giáo trong quá trình
hội nhập” để đáp ứng các nhu cầu lịch sử đặt ra
cho dân tộc, trong đó có Phật giáo.
1.
Tính năng động đầu tiên của Phật giáo thể hiện trong
quá trình hội nhập cần được đề cập đến là Phật giáo
của cộng đồng người Việt kể từ thời du nhập cho đến
thời đất nước độc lập, bao giờ nó cũng đặt sự tồn
vong, phát triển của mình trong sự tồn vong và phát triển
chung của dân tộc. Điều đó có nghĩa đời sống sinh hoạt
Phật giáo luôn song hành với đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa, giáo dục của đất nước. Dân tộc Việt đã mất
1000 năm đấu tranh để chống lại sự đồng hóa phương Bắc,
và Phật giáo đồng hành cùng cả dân tộc để bảo vệ sự
tồn vong chính mình. Đến khi nước nhà độc lập, ý thức
tự chủ của dân tộc càng được phát huy thì Phật giáo
càng có điều kiện phát triển và ảnh hưởng sâu rộng trong
quần chúng. Do đó, Phật giáo thời Đinh, Lê, Lý, Trần không
chỉ bó hẹp trong khuôn viên nhà chùa lo truyền đạo mà còn
đóng góp nhiều công sức trong công cuộc kiến thiết đất
nước.
2.
Tính năng động thứ hai mà Phật giáo thể hiện trong quá
trình hội nhập cần được bàn đến là mối quan hệ giữa
Phật giáo và nhà nước qua các triều đại, qua các thời
kỳ, bao giờ cũng song hành cùng nhau tồn tại và phát triển.
Các nhà lãnh đạo Phật giáo sau này, nhất là thời Lý Trần
đã kế thừa và vận dụng tinh thần này một cách triệt
để nên không bao giờ có sự tranh chấp giữa giáo quyền
và thế quyền. Tinh thần vô ngã đã cung cấp cho người Phật
tử một cái nhìn duyên sinh trong tiến trình vận hành bao la
của vũ trụ, kể cả cuộc đời con người. Đây chính là
cơ sở, động lực mà giới Phật tử Đại Việt làm nên
hào khí Đông A hào hùng bấy giờ, thúc đẩy sự phát triển
đất nước.
3.
Tính năng động thứ ba trong quá trình hội nhập mà Phật
giáo thể hiện là đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa
dân tộc. Tại đây, nó không chỉ cho ta cái nhìn về văn hóa
Đại Việt từ trong quá khứ mà còn từ nền văn hóa quá
khứ ấy để xây một nền văn hóa mới đậm đà bản sắc
dân tộc, thích ứng với xu hướng hội nhập toàn cầu. Cụ
thể, một nền văn học dân tộc tiếp tục vận hành theo
sự biến chuyển dòng mạch lịch sử dân tộc qua những áng
văn chương mà chủ yếu của các thiền sư Phật tử sáng
tác. Và nếu yêu nước và nhân đạo là hai nội dung lớn,
hai tư tưởng lớn, hai chủ đề xuyên suốt của văn học
Việt Nam từ xưa đến nay thì văn học Phật giáo Lý Trần
được vinh dự là một bộ phận văn học góp phần đặt
nền móng vững chắc cho hai nội dung, tư tưởng, chủ đề
nói trên.
4.
Tính năng động thứ tư của Phật giáo trong quá trình hội
nhập là sự thể nhập vào đời sống thực tiễn trên mọi
lĩnh vực. Tinh thần nhập thế của Phật giáo trong sự đồng
hành cùng dân tộc đã bảo vệ và xây dựng đất nước qua
từng thời đại. Từ thời du nhập, Phật giáo, trong đó các
nhà sư, Phật tử đã tích cực cùng toàn dân chống lại đô
hộ của phương Bắc, chống lại nền văn hóa nô dịch. Mô
hình kiến lập quốc gia được thiết lập theo kết cấu “Đất
vua – Chùa làng – Phong cảnh Bụt” được giới giới lãnh
đạo Quốc gia và Phật giáo nỗ lực xây dựng nhằm bảo
vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ đạo pháp, văn hóa nước
nhà. Khi đất nước độc lập, hướng đi Phật giáo hẳn
phải thay đổi mới đáp ứng nhu cầu lịch sử đặt ra. Từ
một nền Phật giáo chức năng, dần dần đã chuyển sang một
nền Phật giáo thế sự. Cụ thể, Phật giáo đã cùng các
triều đại thực thi việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Thăng
Long, ban hành luật Hình thư, lập trường Quốc Tử Giám, khai
sinh ra nền Đại học Việt Nam, ba lần chiến thắng quân Nguyên
Mông, mở mang bờ cõi, lập thiền phái Thảo Đường, hình
thành Phật giáo Nhất Tông. Trong đó, sự ra đời Thiền phái
Trúc Lâm với tinh thần nhập thế đã góp phần giải quyết
một loạt vần đề đặt ra cho Phật giáo Đại Việt, đáp
ứng các nhu cầu đòi hỏi của dân tộc.
5.
Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập
vào nền kinh tế thị trường. Đời sống sinh hoạt của Phật
giáo cũng theo xu hướng toàn cầu hóa mà vận hành. Vấn đề
là trong quá trình hội nhập, Phật giáo vẫn giữ sắc thái
riêng của Phật giáo, nhưng đồng thời cũng mang những tính
chung của cộng đồng quốc tế, nhân loại. Bản chất của
nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tư duy sáng tạo, cạnh
tranh công bằng, lợi nhuận. Ưu việt của nền kinh tế thị
trường sẽ tạo ra động lực sáng tạo của mỗi cá nhân,
làm đòn bẩy cho xã hội phát triển. Do đó, khi kinh tế đất
nước hưng thịnh thì Phật giáo ắt hẳn phát triển. Bởi
tiềm lực của Phật giáo không chỉ nằm trong giới xuất
gia mà còn ở khối quần chúng Phật tử. Giáo lý Phật giáo
là giáo lý thể hiện tính năng động trên tinh thần duyên
khởi. Trách nhiệm người Phật tử là tích cực học đạo,
hành đạo tùy theo từng thời đại, hoàn cảnh với tính đa
dạng của nền kinh tế thị trường mà tham gia tích cực đóng
góp cho tự thân, gia đình và xã hội. Tính đa dạng của nền
kinh tế thị trường vốn chẳng xa lạ gì giáo lý Phật giáo.
Người Phật tử đã nắm rõ nguyên lý duyên khởi, vô thường,
thì họ sẽ dễ dàng thích nghi và tiếp cận chuyển hóa.